TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài :
CHỦ NGHĨA DUY VẬT NHÂN BẢN CỦA
PHOIƠBẮC VÀ
VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA
TRIẾT HỌC MÁC
TP Hồ Chí Minh 12/ 2012
Học viên thực hiện : Trần Thanh Nhật
STT : 75
Nhóm 6
Lớp Đêm 1
Khóa K22
GVHD : TS. Bùi Văn Mưa
MỤC LỤC
Lời mở đầu
1
Chương 1. Những nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật nhân bản
Phoiơbắc
2
1.1 Giới thiệu về Phoiơbắc
2
1.1.1 Tiểu sử về Phoiơbắc
2
1.1.2 Con đường dẫn đến chủ nghĩa duy vậy nhân bản Phoiơbắc
2
1.2 Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc
3
1.2.1 Quan niệm về giới tự nhiên và con người
3
1.2.2 Quan niệm về nhận thức
4
1.2.3 Quan niệm về tôn giáo
5
1.2.4 Quan niệm về đạo đức
5
1.2.5 Quan niệm về chính trị - xã hội
6
Chương 2 : Những giá trị, hạn chế và vai trò của chủ nghĩa duy vật nhân bản
và vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mac
6
2.1 Những giá trị của chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc
6
2.2 Những hạn chế của chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc
8
2.3 Vai trò của chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc đối với triết học Mac
9
Kết luận 11
Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc
LỜI MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu
Triết học ra đời và phát triển cho đến nay đã có lịch sử gần 3000 năm. Sự phát
triển những tư tưởng triết học của nhân loại là một quá trình không đơn giản. Cuộc đấu
tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, và gắn với nó là cuộc đấu tranh giữa
các phương pháp nhận thức hiện thực – phương pháp biện chứng và phương pháp siêu
hình
Triết học Mác là một hệ thống triết học khoa học và cách mạng, chính vì vậy nó đã
trở thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học của giai cấp công nhân và nhân
loại tiến bộ trong thời đại mới. Vì triết học Mác đã kế thừa những tinh hoa của các nền
triết học trước đó, từ đó đưa ra những nguyên lý khoa học giúp con người nhân thức đúng
và cải tạo thế giới. Một trong những sự kế thừa của Mac, thì chúng ta phải kể đến triết
học cổ điển Đức
Triết học cổ điển Đức đã khôi phục lại quan niệm coi triết học là khoa học của mọi
khoa học. Các triết gia ra sức xây dựng các hệ thống triết học vạn năng, bao trùm mọi
lĩnh vực hoạt động của con người để làm cơ sở cho hoạt động đó. Triết học cổ điển Đức
đã đóng góp vào di sản văn hóa nhân loại nhiều lý luận có giá trị. Trong đó tiêu biểu là
Lútvích Phoiơbắc là một đại biểu lỗi lạc, nhà duy vật lớn nhất của triết học thời kỳ trước
Mác, nhà vô thần, bậc tiền bối của triết học Mác.
Vì vậy, để hiểu rõ thêm về Chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc cũng như
Mac đã kế thừa những thành tựu của Phoiơbắc như thế nào. Đây cũng chính là nôi dung
của đề tài “ Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc và vai trò của nó đối với sự ra đời của
Triết học Mac “ muốn phân tích và đề cập đến
2. Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu của đề tài này là trình bày những nội dung cơ bản xoay quanh chủ nghĩa duy vật
nhân bản Phoiơbắc sau đó tìm ra những hạn chế và giá trị của chủ nghĩa duy vật nhân bản
Phoiơbắc và vai trò của nó đối với triết học Mac
Trần Thanh Nhật – Lớp Đêm 1 – K22 - STT : 75 1
Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc
Chương 1: Những nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc
1.1. Giới thiệu sơ lược về Phoiơbắc
1.1.1 Tiểu sử về Phoiơbắc
L.Phoiơbắc sinh năm 1804- 1872 trong gia đình một luật sư nổi tiếng ở Đức, nhà
duy vật nổi tiếng của triết học cổ điển Đức. Là đại biểu cuối cùng của một trào lưu triết
học đặc sắc là chủ nghĩa duy vật nhân bản. Các tác phẩm triết học lớn của ông là "Những
nguyên lý cơ bản của triết học tương lai" (l843); "Bản chất của cơ đốc giáo", "lịch sử triết
học"….đã làm sống lại chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII-XVIII và làm sinh động thế giới
quan duy vật khoa học thời bấy giờ. Ông là người đã đem đến sự kết thúc đầy ý nghĩa
toàn bộ nền triết học phương Tây cổ điển nói chung, triết học cổ điển Đức nói riêng.
1.1.2 Con đường dẫn đến Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc:
Sau khi Hegel qua đời, những người theo học thuyết Hegel đã phân hoá thành hai
nhóm là "Hegel trẻ" và "Hegel già". Phái Hegel già thì bám lấy mặt bảo thủ của hệ thống
Hegel, bảo vệ chế độ nhà nước Phổ đã lỗi thời về mặt lịch sử. Trái lại phái Hegel trẻ lại
phát triển triết học Hegel về phía lập trường giai cấp tư sản cấp tiến, dân chủ, đòi cải cách
nhà nước Phổ theo hướng tư sản. Trong nhóm "Hegel trẻ" có cả Phoiơbắc, Mác và
Engels.
Thời trẻ, Phoiơbắc gia nhập phái Hegel trẻ, tin rằng tôn giáo, các khái niệm của
tinh thần tuyệt đối thống trị thế giới hiện thực.
Về sau, chịu ảnh hưởng của các nhà khai sáng pháp TK XVIII Phoiơbắc quay sang
phê phán Hegel, ngày càng ngả sang lập trường duy vật
• Là nhà triết học duy vật vì : ông khẳng định vật chất là tính thứ nhất, ý thức, tư
duy là tính thứ hai.
• Song là nhà duy vật nhân bản vì ông coi con người là sản phẩm cao nhất của thế
giới tự nhiên, vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại là vấn đề bản chất của con người, vì
thế đây là đối tượng duy nhất, phổ biến và cao nhất của triết học.
Vì vậy chủ nghĩa của Phoiơbắc là CN duy vật nhân bản.
Trần Thanh Nhật – Lớp Đêm 1 – K22 - STT : 75 2
Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc
1.2. Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc
1.2.1. Quan niệm về giới tự nhiên và con người :
Về giới tự nhiên :
Ông có quan niệm duy vật về giới tự nhiên, ông cho rằng vật chất không do ai
sáng tạo ra, nó tồn tại vĩnh viễn và vô hạn. Thế giới tự nhiên, thế giới vật chất có trước ý
thức, ý thức có sau vật chất, chỉ là một thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức đặc
biệt là bộ óc con người. Thế giới tự nhiên đương đại là kết quả tiến hóa theo quy luật vốn
có của nó. Theo ông phải tìm nguyên nhân của thế giới tự nhiên ở chính trong thế giới tự
nhiên, sự sống và con người cũng là kết quả tiến hóa hết sức lâu dài của chính giới tự
nhiên.
Ông cũng có quan điểm duy vật về không gian và thời gian. Theo ông không có
vật chất ngoài không gian và thời gian, không gian và thời gian chỉ là những hình thức
tồn tại của vật chất. Nhìn chung ông có quan điểm duy vật về thế giới, nhưng còn thô sơ
và siêu hình. Bởi lẽ, vật chất theo ông mới chỉ là những gì cảm giác được. Hay là khi đấu
tranh chống chủ nghĩa duy tâm nói chung, chủ nghĩa duy tâm của Hêghen nói riêng, ông
đã không thấy được “hạt nhân hợp lý” trong triết học của Hêghen và đã phủ định một
cách tuyệt đối, như “hất chậu nước tắm và cả đứa trẻ trong đó”.
Về con người :
Con người là vấn đề trung tâm trong triết học của ông và về cơ bản ông giải quyết
vấn đề con người trên tinh thần duy vật. Vì vậy, triết học của ông còn được gọi là “chủ
nghĩa nhân bản”.
Con người theo ông là một bộ phận của thế giới tự nhiên, gắn liền với tự nhiên.
Phoi obac cho rằng không thể tách con người ra khỏi giới tự nhiên, vì con người là sản
phẩm tất yếu cao nhất của giới tự nhiên, còn giới tự nhiên là cơ sở không thể thiếu của
đời sống con người. Con người là một sinh vật có hình thể vật chất ở trong không gian và
thời gian, vì vậy, con người có khả năng quan sát, suy nghĩ. Con người có ngôn ngữ, tư
duy, có những nhu cầu, ham muốn, có niềm vui, nỗi buồn, sự suy tư, trăn trở Do đó,
Trần Thanh Nhật – Lớp Đêm 1 – K22 - STT : 75 3
Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc
theo Phoiơbắc con người vừa mang bản tính cá nhân, và con người – cá nhân cũng mang
bản tính cộng đồng :
• Do mang tính cá nhân, mà mỗi con người là một cá thể, sinh học đặc biệt có lý trí,
có ý chí, có trái tim…của riêng mình để nhận thức, để khát vọng đam mê, để rung động
cảm xúc…. Với bản tính đó, mỗi con người tiềm tàng một năng lực sáng tạo kỳ vĩ, năng
lực này bắt nguồn từ trong cá tính cá nhân của mỗi con người, chứ không phải xuất phát
từ Thượng đế
• Do mang bản tính cộng đồng, mà mỗi con người cá nhân bị ràng buộc với những
người khác. Hạnh phúc của mỗi cá nhân không là hạnh phúc đơn độc của mỗi con người
mà là hạnh phúc được kiếm tìm trong sự hòa hợp với mọi người, trong cộng đồng. Với
bản tính đó, mỗi con người tiềm tàng một tình yêu mênh mông dành cho con người, tình
yêu cũng tuôn trào từ bản tính cộng đồng của con người chứ không phải bắt nguồn từ
thượng đế
• Bản tính vừa cá nhân vừa cộng đồng của con người, theo Phoiơbắc, là cơ sở của
tính ích kỉ hợp lý - thống nhất tính ích kỉ cá nhân với tính ích kỉ cộng đồng xã hội.
Phoiơbắc cho rằng tình yêu giữa con người với nhau vừa là phương tiện vừa là mục đích
của sự hòa hợp xã hội, và hơn thế nữa nó là động lực của tiến bộ xã hội, bởi vì nó thể
hiện rõ nhất bản chất người trong mỗi con người. Đối với Phoiơbắc con người và tình
yêu chỉ là một, không thể tách rời nhau. Phoiơbắc coi bản chất con người là tổng thể các
nhu cầu, khả năng , khát vọng, ham muốn…Bản chất đó được biển hiện sâu sắc khi mỗi
cá nhân con người được sống trong sự thỏa mãn nhu cầu tự nhiên và sự chan hòa với
nhau trong cộng đồng xã hội
1.2.2. Quan niệm về nhận thức:
Ông là người có công lớn trong việc phát triển lý luận nhận thức duy vật. Ông cho
rằng, thế giới khách quan là đối tượng của nhận thức và con người có khả năng nhận thức
được thế giới khách quan, khả năng nhận thức của con người là vô tận. Ông kiên quyết
chống lại thuyết không thể biết của I.Cantơ
Trần Thanh Nhật – Lớp Đêm 1 – K22 - STT : 75 4
Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc
Nhận thức theo ông gồm hai giai đoạn: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính
• Cảm giác là giai đoạn đầu của nhận thức, là kết quả của sự tác động của thế giới
khách quan lên giác quan của con người. Ông đề cao cảm giác nhưng không tuyệt đối
hóa nó.
• Ông cũng là người chống lại sự tuyệt đối hóa vai trò của tư duy lý tính, tuy nhiên,
ông cũng không hạ thấp nó. Vai trò của tư duy lý tính, theo ông là gắn kết những tri thức
rời rạc do cảm giác đem lại.
1.2.3. Quan niệm về tôn giáo:
L.Phoiơbắc là người phê phán tôn giáo kịch liệt, ông đã cố gắng chỉ ra nguồn gốc
nhận thức luận của tôn giáo.Ông đã vận dụng khái niệm “tha hóa” để phân tích tôn giáo.
Ông cho rằng không có tình cảm tôn giáo bẩm sinh, chính tôn giáo là sản phẩm sáng tạo
của con người, tôn giáo là một phương thức thỏa mãn nhu cầu hư vô của con người.
Chính con người đã sáng tạo ra thượng đế. Thượng đế chỉ là con người “tha hóa” với
những phẩm chất tốt đẹp nhất.
Dù Phoiơbắc đã phê phán mạnh mẽ tôn giáo, đặc biệt là Cơ đốc giáo, nhưng càng
phê phán tôn giao ông càng nhận thức được rằng nếu thiếu tôn giáo con người sẽ khó
sống, bởi ì con người cần niềm tin an ủi. Vì vậy, ông ra sức xây dựng một thứ tôn giáo
mới đó là tôn giáo của tình yêu vĩnh cữu phổ quát giữa con người, trước hết là tình yêu
nam nữ dựa trên tính nhân bản. Trong tôn giáo mới đó, tình yêu vừa là cơ sở, vừa là cứu
cánh của con người để con người thật sự sống đúng bản tính của mình.
1.2.4 Quan niệm về đạo đức:
Xuất phát từ tinh thần nhân bản nên quan niệm về đạo đức của ông cũng đầy tính
nhân bản, với ông khát vọng hạnh phúc là cơ sở của mọi hành vi của con người. Về bản
chất con người cố gắng đạt cái mà mình cho là tốt, tránh cái mà mình cho là không tốt.
Cũng vì đứng trên lập trường nhân bản nên ông gắn cảm giác với đạo đức, bởi lẽ,
theo ông điều tốt đem lại cho con người cảm giác vui, hạnh phúc, thỏa mãn; ngược lại,
Trần Thanh Nhật – Lớp Đêm 1 – K22 - STT : 75 5
Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc
điều xấu đem lại cảm giác đau đớn, xót xa, dằn vặt Ông khuyên răn con người không
nên tham lam, ích kỷ Quan niệm về đạo đức của ông về cơ bản có tinh thần nhân văn, vì
con người.
Trong vấn đề đạo đức, Phoiơbắc cho rằng lòng mong muốn hạnh phúc là bẩm sinh
của con người, do đó nó phải là cơ sở của hạnh phúc. Và để thực hiện lòng mong muốn
hạnh phúc đó, Phoiơbắc đòi hỏi phải có sự tự hạn chế hợp lý bản thân mình và tình yêu
giữa người với người lại trở thành những quy tắc cơ bản của đạo đức. Bằng sự bóc lột
giai cấp trong xã hội có đối kháng giai cấp và sự bất bình đẳng xã hội.
1.2.5 Quan điểm chính trị - xã hội :
Vào lúc bấy giờ, thế kỷ XVIII, chủ nghĩa tư bản đã được thiết lập ở một số nước
như Anh, Pháp, Ý …nhưng ở Đức vẫn duy trì chế độ phong kiến lạc hậu. Ông là người
có tư tưởng dân chủ cấp tiến, căm ghét nhà nước quân chủ Phổ phong kiến, ông gọi nó là
vô đạo đức, đòi thay nó bằng nhà nước cộng hòa tư sản.
Theo ông con người nên có của riêng, nhưng có ở mức độ vừa phải. Tuy nhiên
ông đề cao chủ nghĩa vị kỷ thông minh, nghĩa là lợi ích cá nhân, lợi ích xã hội không
được mâu thuẫn với nhau.
Ông cho rằng con người về bản tính là bình đẳng nên phải xóa bỏ bất công xã hội.
Ông căm ghét thói đạo đức giả, phê phán nó và muốn xây dựng một xã hội “cộng
đồng chung” mà ở đó có sự thống nhất về dân chủ và công bằng.
Chương 2: Những giá trị, hạn chế và vai trò của chủ nghĩa duy vật Phoiơbắc
đối với triết học Mác
2.1. Những giá trị của chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc
CN duy vật nhân bản của Phoiơbắc đóng góp, to lớn vào cuộc đấu tranh chống lại
việc giải thích duy tâm, nhị nguyên luận, thậm chí cả CN duy tâm tầm thường về vấn đề
con người trong việc tách đôi thể xác và tinh thần, tồn tại và tư duy. Tư duy xuất phát từ
tồn tại, chứ không phải tồn tại xuất phát từ tư duy, cơ sở của tồn tại nằm ngay trong tồn
Trần Thanh Nhật – Lớp Đêm 1 – K22 - STT : 75 6
Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc
tại, tồn tại chính là cảm tính, là nguyên lý, trí tuệ, là sự tất yếu và chân lý; bản chất của
tồn tại với tư cách một tồn tại chính là bản chất của giới tự nhiên
Nguyên lý nhân bản được Phoiơbắc vận dụng vào học thuyết luân lý của mình,
Phoiơbắc đã mở cửa cho tình yêu, cho cái thiện đi vào suy tư của ông về văn hóa và con
người
L.Phoiơbắc đã tìm hiểu sâu hơn bản chất tự nhiên – sinh học của con người ông
muốn chứng minh rằng, bản chất chung của con người là tổng hoà mọi khát vọng chính trị,
mọi năng lực nhận thức và nhu cầu tự nhiên – sinh học trong quá trình phát triển lịch sử lâu dài
của con người.
Mong muốn chính trị, khát vọng tự nhiên của con người, theo quan điểm của
L.Phoiơbắc, không phải xuất phát từ tư tưởng thuần tuý, mà chúng phản ánh đời sống
hiện thực và do đời sống đó quy định. Đây là luận điểm mới so với đương thời, nhấn
mạnh điều kiện sinh hoạt vật chất quy định suy nghĩ và tư tưởng của con người.
L.Phoiơbắc đã truy tìm bản chất của tôn giáo trong bản chất của con người "Bản
chất thần thánh không là cái gì khác như là bản chất con người, bản chất đó đã được gột
rửa, được giải phóng khỏi những giới hạn cá nhân, nghĩa là khỏi những con người vật lý
hiện thực, được khách quan hoá, được nhìn nhận như một bản chất độc lập xa lạ. Bởi
vậy, mọi sự xác định về bản chất thần thánh đều có liên quan đến việc xác định bản chất
con người" Phoiơbắc đã chỉ ra tôn giáo là sản phẩm tất yếu của tâm lý và nhận thức
của con người, không phải Thượng đế sinh ra con người mà là con người sinh ra Thượng
đế
Ông xây dựng một xã hội mới – xã hội cộng đồng chung – trên cơ sở tình yêu của
con người. Tư tưởng nhân đạo của ông mặc dù không thành hiện thực nhưng thể hiện giá
trị nhân văn cao cả
Trần Thanh Nhật – Lớp Đêm 1 – K22 - STT : 75 7
Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc
2.2. Những hạn chế của chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc
Hạn chế trong quan điểm nhận thức :
Ông còn thiếu quan điểm biện chứng, quan điểm lịch sử, quan điểm thực tiễn về
nhận thức. Về cơ bản theo ông, nhận thức là quá trình diễn ra chỉ một lần là xong.
Ông chưa hiểu mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. Cái
cảm giác chỉ được nhận thức dưới hình thức khách thể hay hình thức trực quan, chứ
không được nhận thức là hoạt động cảm giác của con người hay thực tiễn, không được
nhận thức về mặt chủ quan
Chủ thể nhận thức trong quan niệm của ông chỉ là những con người chung chung, đứng
ngoài các quan hệ xã hội mang tính lịch sử cụ thể.
Đặc biệt là ông chưa hiểu được bản chất của thực tiễn, ông mới hiểu thực tiễn là những
hoạt động buôn bán nhỏ.
Nhìn chung, ông đứng trên lập trường duy vật để giải quyết vần đề nhận thức
nhưng ông chưa thoát khỏi hạn chế của chủ nghĩa duy vật trước đó là chưa hiểu được quá
trình biện chứng của nhận thức. Cho nên, quan điểm của Phoiơbắc vẫn nằm trong khuôn
khổ của những phương pháp suy nghĩ siêu hình
Hạn chế trong quan điểm về con người
Chủ nghĩa duy vật nhân bản của ông chưa thoát khỏi quan điểm duy tâm, đã tuyệt
đối hoa tình yêu, coi tình yêu là bản chất con người mà không chú ý mặt lịch sử - xã hội,
không thấy điều kiện chính trị - xã hội mà con người phải sống trong đó.
Nguyên lý nhân bản học của Phoiơbắc không triệt để, vì ông hiểu con người chỉ là
những cá nhân trừu tượng là thực thể thuần túy tự nhiên – sinh vật, không mang tính lịch
sử, tính giai cấp, tính dân tộc. Ông chỉ thấy con người sinh học, con người có tính loài,
mà không thất được mặt xã hội của con người trong hoạt động biến đổi hiện thực,không
thấy con người là sản phẩm của xã hội và con người là chủ thể của hoạt động.
Trần Thanh Nhật – Lớp Đêm 1 – K22 - STT : 75 8
Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc
Quan niệm về tôn giáo của ông còn nhiều hạn chế:
Ông chưa hiểu được các nguồn gốc tâm lý, kinh tế - xã hội, giai cấp, văn hóa của
tôn giáo. Mặc dù ông đã thấy được mối liên hệ giữa chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo.
Ông cho rằng, xã hội loài người cần đến tôn giáo vì nó có thể đáp ứng những thiếu
hụt mà con người không có được.
Hơn nữa, ông không muốn khắc phục những điều kiện làm nảy sinh tôn giáo,
muốn thay Cơ đốc giáo bằng một tôn giáo mới – Tôn giáo tình yêu – khi ấy người với
người là thượng đế của nhau.
Hạn chế trong quan điểm về đạo đức:
Ông cho rằng các hiện tượng phi đạo đức chỉ là những hiện tượng ngẫu nhiên
trong xã hội, bằng tình yêu sẽ xây dựng đạo đức mới, đạo đức có sự thống nhất giữa lợi
ích cá nhân và xã hội.
Đặc biệt, ông đã xây dựng nên một thứ đạo đức trừu tượng, tách rời đời sống xã
hội, phi giai cấp, phi lịch sử, thứ đạo đức vĩnh hằng cho mọi thời đại. Về cơ bản ông chỉ
nói đến tính nhân loại của đạo đức, chưa nói đến tính dân tộc, tính giai cấp, tính lịch sử
của đạo đức.
Tuy nhiên, ông lại sai lầm khi cho bất bình đẳng, tệ nạn xã hội chỉ là những hiện
tượng ngẫu nhiên đi chệch hướng bản chất của con người và những hiện tượng này có thể
khắc phục bằng giáo dục, bằng tình yêu của con người. Nhìn chung, quan niệm về chính
trị - xã hội của ông có yếu tố tiến bộ, nhưng cũng còn chứa đựng nhiều yếu tố không
tưởng.
2.3. Vai trò của chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc đối với triết học Mác
Nhìn tổng thể, triết học của Phoiơbắc là triết học duy vật, mặc dù còn có những
hạn chế nhất định, nhưng triết học của ông đã đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển
của triết học nhân loại. Quan điểm của L.Phoiơbắc là một trong những thành tựu, là
nguồn gốc trực tiếp của sự ra đời triết học Mac:
Trần Thanh Nhật – Lớp Đêm 1 – K22 - STT : 75 9
Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc
Quan điểm về con người là một trong những thành tự của Triết học trước Mac.
Mac và Ăngghen cho rằng Phoiơbắc đã làm cho chủ nghĩa duy vật được đồng nhất với
chủ nghĩa nhân đạo. Phải xuất phát từ con người "triết học là triết học về con người",
"con người hiện thực là đối tượng triết học "
Phoiơbắc tuy coi vấn đề con người là trung tâm thế nhưng đây chỉ mới là con
người thuần túy về mặt sinh vật, chưa phải con người với tính cách là chủ thể hoạt động
cải tạo thế giới. Mac đã dựa vào đó để tìm ra các phương tiện, các biện pháp để cải tạo
thế giới bằng cách mạng. Triết học Mác thường lấy hoạt động thực tiễn cải tạo xã hội, cải
tạo thế giới của con người là điểm xuất phát và thông qua quá trình hoạt động thực tiễn
để hoàn thiện hệ thống lý luận của mình. Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử triết học,
triết học Mác đã tạo ra được sự gắn kết chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn. Lý luận xuất
phát từ thực tiễn, chịu sự quyết định của thực tiễn; khi ra đời, lý luận định hướng hoạt
động thực tiễn.
Tư tưởng duy vật của Phoiơbắc có ảnh hưởng to lớn đối với thế giới quan triết học
của Mac và là cầu nối giữa triết học Hêghen với Mac. Việc phân tích nguồn gốc tôn giáo
từ phương diện xã hội là một bước tiến vượt bậc của Phoiơbắc so với các nhà duy vật
Pháp thế kỉ XVIII. Triết học tôn giáo của Phoiơbắc đã có ảnh hưởng khá sâu sắc đến sự
hình thành chủ nghĩa vô thần của Mac. Chính triết học của Phoiơbắc đã giúp Mac thoát
khỏi triết học duy tâm huyền bí của Hêghen để đến với chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa
vô thần
C.Mác và Ph.Ăngghen luôn đánh giá cao triết học của L.Phoiơbắc nói chung, chủ
nghĩa duy vật nhân bản của ông nói riêng; tự thừa nhận là môn đồ và chào đón quan điểm
mới "Tự nhiên tồn tại độc lập đối với mọi triết học. Nó là cơ sở trên đó con người chúng
ta – bản thân chúng ta cũng là sản phẩm của tự nhiên - đã sinh trưởng"của Phoiơbắc một
cách nhiệt thành.
Trần Thanh Nhật – Lớp Đêm 1 – K22 - STT : 75 10
Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc
KẾT LUẬN
Luận điểm xuất phát của triết học Phoiơbắc là duy vật vì giới tự nhiên tồn tại
không lệ thuộc vào ý thức, nó là cơ sở của tồn tại người, ngoài tự nhiên và con người,
không có gì cả, bản chất của Thượng đế chẳng qua là sự phản ánh hư ảo bản chất con
người. Nguyên tắc nhân bản nằm ở tính thống nhất của bản chất con người, tinh thần và
thể xác, trong đó thể xác là bộ phận của thế giới khách quan, và ở chừng mực nào đó nó
bao hàm cả tồn tại của thế giới ấy.
Thuyết triết học Phoiơbắc tuy còn mang nặng quan niệm siêu hình nhưng nội dung
lại thấm nhuần quan điểm duy vật. Các Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừa “hạt nhân hợp lý”
của Hêghen và cải tạo, lột bỏ cái vỏ thần bí để xây dựng nên lí luận mới của phép biện
chứng. Hai ông đã kế thừa chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc, khắc phục tính siêu hình và
những hạn chế lịch sử khác của nó để xây dựng nên lí luận mới của chủ nghĩa duy vật.
Từ đó tạo ra cơ sở để hai ông xây dựng nên học thuyết triết học mới, trong đó chủ nghĩa
duy vật và phép biện chứng thống nhất một cách hữu cơ.
Mặc dù còn những hạn chế siêu hình trong quan điểm tự nhiên, duy tâm trong
quan điểm xã hội, chưa có quan điểm duy vật triệt để về con người nhưng Phoiơbắc đã có
công lao trong việc khôi phục và phát triển chủ nghĩa duy vật chống lại quan điểm duy
tâm và tôn giáo vì thế quan điểm duy vật của ông và phép biện chứng của Hêghen trở
thành tiền đề lý luận hình thành triết học Mac – Lênin. Trong quan niệm về tự nhiên,
Phoiơbắc là nhà duy vật, còn trong xã hội ông lại thể hiện quan điểm duy tâm
Và trong mối quan hệ của triết học Heghen , ông có thái độ phủ định sạch trơn,
không thấy được thành tựu quý giá của Heghen là phép biện chứng để kế thừa và phát
triển. Và ông hiểu tính quy luật, tính tất yếu , tính nhân quả một cách siêu hình. Cho nên
chủ nghĩa duy vật nhân bản của Ông còn mang nặng tính siêu hình
Trần Thanh Nhật – Lớp Đêm 1 – K22 - STT : 75 11
Chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam, tập 1, NXB Khoa học xã hội, HN, 2002.
2. Triết Học phần 1 : Đại cương về lịch sử triết học – Khoa lý luận chính trị tiểu ban
triết học trường đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh. Ts Bùi Văn Mưa ( chủ
biên )
3. Giáo trình triết học Mác - Lênin ( Hội đồng trung ương chỉ đạo biên soạn giáo
trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh), NXB
CTQG, H, 1999.
4. Giáo trình triết học Mác - Lênin ( Bộ Giáo dục và Đào tạo), NXB CTQG, H, 2002.
Trần Thanh Nhật – Lớp Đêm 1 – K22 - STT : 75 12