Tải bản đầy đủ (.docx) (50 trang)

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG NGHỆ ẢO HÓA GẮN LIỀN VỚI ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.43 MB, 50 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
LỚP CAO HỌC QUA MẠNG – KHÓA 6
TIỂU LUẬN
MÔN HỌC: ĐIỆN TOÁN LƯỚI
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG NGHỆ ẢO HÓA
GẮN LIỀN VỚI ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY
Giảng viên: PGS.TS Nguyễn Phi Khứ
Học viên thực hiện: Nguyễn Thị Xuân An
MSHV: CH1101002
TP. HCM, 06/2013
Tiểu luận môn điện toán lưới
MỤC LỤC
Trang 2 |
Tiểu luận môn điện toán lưới
1. Giới thiệu
Một hệ thống điện toán đám mây thường được xây dựng bởi những nhà cung cấp
dịch vụ với kiến trúc là sự kết hợp của nhiều rất nhiều máy tính với nguồn tài nguyên xử
lý và lưu trữ lớn, khả năng tùy biến linh hoạt và băng thông kết nối cao. Trên nền tảng các
thiết bị đó nhà cung cấp dịch vụ sẽ có thể tùy biến cách khai thác như việc cấp phát và thu
hồi tài nguyên dưới dạng phần cứng ảo, cấp phát tiến trình xử lý dịch vụ…
Với các hệ thống điện toán đám mây thì người dùng không cần phải quan tâm đến
tất cả các yếu tố kỹ thuật như hỏng hóc phần cứng, mất điện, bảo trì mạng định kỳ, … mà
chỉ cần quan tâm đến khía cạnh sử dụng dịch vụ hay phần cứng ảo sao cho hiệu quả.
Đi kèm và hỗ trợ một phần rất lớn cho sự phát triển bùng nổ của điện toán đám
mây chính là công nghệ ảo hóa. Hiện tại bản chất của việc ảo hóa chính là việc khai thác
các nguồn tài nguyên dùng chung sao cho hiệu quả nhất. Ảo hóa có thể được phân theo
nhiều tiêu chí như ảo hóa ở cấp độ hệ điều hành, phần mềm, cấp độ dịch vụ, hoặc ảo hóa
bộ nhớ, lưu trữ, mạng…
Đứng dưới khía cạnh phục vụ cho nhiều người sử dụng thì hệ thống ảo hóa là một
mạng lưới các node tính toán được quản lý và phân chia tài nguyên cho từng người dùng.


Một trong những ví dụ của hế thống như thế ở cấp độ hệ điều hành chính là giải phải
VMWare VSphere:
Riêng với khía cạnh tính toán hiệu năng cao, ảo hóa được sử dụng để xây dựng
một hệ thống máy tính lớn duy nhất từ nhiều máy thực nhỏ hơn, đây được gọi là ảo hóa
Trang 3 |
Tiểu luận môn điện toán lưới
tổng hợp (Virtualization for aggregation), một trong những giải pháp ảo hóa để xây dựng
một nền tảng ảo hóa ở cấp độ hệ điều được xây dựng bởi hãng ScaleMP:
Trên các nền tảng kết hợp này người dùng có thể khai thác nguồn tài nguyên rất
lớn trên một hệ điều hành duy nhất.
Bài tiểu luận này sẽ trình bày về đặc điểm kỹ thuật, xu hướng phát triển và sự tác
động tương hỗ giữa công nghệ ảo hóa và điện toán đám mây.
2. Định nghĩa ảo hóa và điện toán đám mây
Để tạo điều kiện hiểu biết rõ ràng, chính xác về những gì là điện toán đám mây,
chúng ta so sánh Điện toán đám mây với hai mô hình khác gần đây là: Điện toán gom
cụm và điện toán mạng lưới. Trước tiên, chúng ta xem xét các định nghĩa tương ứng của
ba mô hình. Sau đó phân biệt các đặc điểm cụ thể của nó và cuối cùng là làm nổi bật xu
hướng tìm kiếm web gần đây của của các mô hình này.
2.1. Định nghĩa
Một số nhà nghiên cứu máy tính đã thử đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về
Cluster, Grid và Cloud. Dưới đây là một số định nghĩa mà chúng tôi nghĩ nó phổ biến và
tồn tại được lâu.
Đa số các nhà sản xuất phần cứng hay phần mềm đều đồng ý với định nghĩa về ảo
hóa nói chung và công nghệ ảo hỏa nói riêng như sau: Ảo hóa là việc sử dụng các nguồn
tài nguyên không phụ thuộc vào kíhc thước và đặc điểm vật lý, nhằm mục tiêu là có thể
khai thác hiệu quả tài nguyên ấy để phục vụ cho nhiều người dùng.
Với các loại hình điện toán đám mây thì Pfister và Buyya định nghĩa Cluster như
sau:
Trang 4 |
Tiểu luận môn điện toán lưới

 “Cluster làmột loại hệ thống song song và phân tán trong đó bao gồm một
tập hợp các máy tính độc lập liên kết với nhau làm việc cùng nhau như một
nguồn tài nguyên máy tính tích hợp duy nhất”.
Buyya đưa ra một trong những định nghĩa phổ biến cho Grid, tạihội nghị
GridPlanet, 2002, SanJose, Hoa Kỳ như sau:
 “Grid là một loại hệ thống song song và phân tán cho phép chia sẻ, lựa
chọn và tập hợp linh động các nguồn tài nguyên độc lập phân tán theo địa
lý ngay lúc thực thiphụ thuộc vào sự sẳn có, khả năng, hiệu suất, chi phí và
chất lượng dịch vụ của người sử dụng yêu cầu''.
Trên cơ sở quan sát của chúng ta về bản chất của những gì Cloud hứa hẹn sẽ,
chúng tôi đề xuất định nghĩa sau đây:
 “Cloud là một loại hệ thống song song và phân tán bao gồm tập hợp các
máy tính được kết nối và ảo hóa, tự động cung cấp và thể hiện như là một
nguồn tài nguyên tính toán thống nhất dựa trên các thỏa thuận về mức độ
dịch vụ được thiết lập thông qua thỏa thuận giữa nhà cung cấp dịch vụ và
người dùng.''
Thoáng nhìn, Cloud xuất hiện như là sự kết hợp của Cluster và Grid. Tuy nhiên,
thực tế trường hợp này là không đúng. Cloud rõ ràng là trung tâm dữ liệu thế hệ tiếp theo
với các nút “ảo” thông qua công nghệ ảo hóa như máy ảo, linh động “cung cấp” theo yêu
cầu từ một tập hợp nguồn tài nguyên riêng lẻ để đáp ứng về mức độ dịch vụ (service-
level) cụ thể, được hình thành dưới một “thỏa thuận” và truy cập thông qua công nghệ
dịch vụ Web như SOAP và REST.
2.2. Đặc điểm của các loại mô hình điện toán đám mây
Các đặc điểm giúp phân biệt Cluster, Grid và Cloud được liệt kê trong Bảng 1. Các
nguồn tài nguyên trong Cluster được đặt trong một miền quản trị duy nhất và bởi một
thực thể duy nhất. Trong khi đó, trong hệ thống Grid, các tài nguyên được phân bố theo
địa lý trên nhiều miền quản trị với các chính sách và mục tiêu quản lý khác nhau. Một
khác biệt quan trọng giữa hệ thống Cluster và Grid phát sinh từ cách lập danh mục ứng
dụng được thực hiện. Lập danh mục (schedulers) tronghệ thống Cluster có trách nhiệm
tập trung vào nâng cao tổng thể hiệu suất hệ thống và tiện ích đối với toàn bộ hệ thống.

Trang 5 |
Tiểu luận môn điện toán lưới
Ngược lại, lập danh mục trong hệ thống Grid được gọi là resource brokers, tập trung vào
nâng cao hiệu suất của một ứng dụng cụ thể đáp ứng yêu cầu của người dùng.
Nền tảng điện toán đám mây bao gồm đặc điểm của Cluster và Grid cùng với các
đặc tính riêng và khả năng đặc biệt hỗ trợ mạnh mẽ đối với ảo hóa, khả năng kết hợp các
dịch vụ linh động với giao diện Web và hỗ trợ mạnh mẽ cho người dùng các giá trị dịch
vụ xây dựng trên Cloud như: tính toán, lưu trữ và dịch vụ ứng dụng. Vì vậy, Cloud hứa
hẹn sẽ cung cấp dịch vụ cho người sử dụng mà không cần tham chiếu đến các cơ sở hạ
tầng mà chúng được lưu trữ.
Bảng 1: Những đặc điểm chính của hệ thống Cluster, Grid và Cloud
3. Kiến trúc của các hệ thống ảp dụng công nghệ ảo hóa
3.1. Ảo hóa hệ thống mạng
- Khái niệm
Chúng ta thường hay nghĩ tới các mạng Lan ảo (Vlan) khi nghe nói về ảo hóa
mạng lưới. Nhưng đây chỉ là một khía cạnh trong lĩnh vực này. Thật ra ảo hóa mạng phức
tạp hơn, và các kỹ thuật về ảo hóa trên hệ thống mạng vẫn đang được phát triển và hoàn
thiện hơn.
Trang 6 |
Tiểu luận môn điện toán lưới
Ảo hóa mạng, hình dung một cách đơn giản là gom các dịch vụ, các ứng dụng dựa
trên nền người dùng/máy chủ, đưa chúng lên hệ thống mạng. Sau đó, các ứng dụng, dịch
vụ này sẽ được gán và cung cấp vào các kênh phù hợp theo nhu cầu, hay ứng dụng cụ thể
được đối tượng nào đó yêu cầu để sử dụng (Assign for request).
- Mô hình hoạt động
Có nhiều phương pháp để thực hiện việc ảo hóa hệ thống mạng.Các phương pháp
này tùy thuộc vào các thiết bị hỗ trợ, tức là các nhà sản xuất thiết bị đó, ngoài ra còn phụ
thuộc vào hạ tầng mạng sẵn có, cũng như nhà cung cấp dịch vụ mạng (ISP).Sau đây
chúng tôi sẽ giới thiệu mô hình hoạt động của một vài phương pháp vẫn đang được
nghiên cứu cũng như đã được triển khai bởi Cisco.

- Ảo hóa lớp mạng (Virtualized overlay network)
Trong mô hình này, nhiều hệ thống mạng ảo sẽ cùng tồn tại trên một lớp nền tài
nguyên dùng chung. Các tài nguyên đó bao gồm các thiết bị mạng như Router, Switch,
các dây truyền dẫn, NIC (network interface card).Việc thiết lập nhiều hệ thống mạng ảo
này sẽ cho phép sự trao đổi thông suốt giữa các hệ thống mạng khác nhau, sử dụng các
giao thức và phương tiện truyền tải khác nhau, ví dụ như mạng Internet, hệ thống PSTN,
hệ thống Voip. Điều này làm tăng tính linh động trong hệ thống mạng, giúp doanh nghiệp
– người dùng thoát khỏi sự trói buộc của thiết bị - hạ tầng vật lý.
Trang 7 |
Tiểu luận môn điện toán lưới
Hình 1 Ảo hóa lớp mạng
Chú thích:
• Substrate link: Các liên kết vật lý nền tảng.
• Sustrate router: Các router vật lý
• Virtual link và Substrate router là các thiết bị và liên kết được ảo hóa.
- Mô hình ảo hóa của Cisco
Một giải pháp về ảo hóa hệ thống mạng được Cisco đưa ra, đó là phân mô hình ảo
hóa ra làm 3 khu vực, với các chức năng chuyên biệt. Mỗi khu vực sẽ có các liên kết với
các khu vực khác để cung cấp các giải pháp đến tay người dùng 1 cách thông suốt. Cụ thể
như sau:
• Khu vực quản lý truy nhập (Access Control): Có nhiệm vụ chứng
thực người dùng muốn đăng nhập để sử dụng tài nguyên hệ thống,
qua đó sẽ ngăn chặn các truy xuất không hợp lệ của người dùng;
ngoài ra khu vực này còn kiểm tra, xác nhận và chứng thực việc truy
xuất của người dùng trong vào các vùng hoạt động (như là VLan,
Access list).
Trang 8 |
Tiểu luận môn điện toán lưới
• Khu vực đường dẫn (Path Isolation): Nhiệm vụ của khu vực này là
o duy trì liên lạc thông qua hạ tầng cấu trúc Layer 3 (tầng

Network trong mô hình OSI);
o vận chuyển liên lạc giữa các vùng khác nhau trong hệ thống.
Trong các vùng này sử dụng giao thức khác nhau, như MPLs
(Multiprotocol Label Switching) và VRF (Virtual Routing and
Forwarding), do đó cần một cầu nối để liên lạc giữa chúng).
o Ngoài ra, khu vực này có nhiệm vụ liên kết (maping) giữa các
đường truyền dẫn với các vùng hoạt động ở hai khu vực cạnh
nó là Access Control và Services Edge.
• Khu vực liên kết với dịch vụ (Services Edge): Tại đây sẽ áp dụng
những chính sách phân quyền, cũng như bảo mật ứng với từng vùng
hoạt động cụ thể; đồng thời qua đó cung cấp quyền truy cập đến dịch
vụ cho người dùng. Các dịch vụ có thể ở dạng chia sẻ hay phân tán,
tùy thuộc vào môi trường phát triển ứng dụng và yêu cầu của người
dùng.
Hình 2 Kiến trúc ảo hóa mạng của Cisco
Trang 9 |
Tiểu luận môn điện toán lưới
3.2. Ảo hóa lưu trữ
- Khái niệm
Ngày nay, nhu cầu lưu trữ dữ liệu của người dùng, doanh nghiệp ngày càng tăng
lên. Và hiền nhiên khi nhu cầu ấy tăng lên, chúng ta cần một số lượng đĩa cứng
tăng tương ứng, cùng với sự phát triển dung lượng của các đĩa. Do đó, vấn đề bị
phát sinh khi chúng ta có quá nhiều thiết bị lưu trữ vật lý cần được quản lý. Mặc dù
có nhiều phương pháp được đề xuất để phục vụ cho việc quản lý này như RAID
(Ghép nhiều đĩa cứng vật lý thành 1 đĩa cứng, qua đó gia tăng tốc độ đọc ghi và có
khả năng chịu lỗi cao), NAS (Network-attached storage), và SAN (Storage-area
networks), việc quản lý vẫn rất khó khăn và độ phức tạp cao.
Do đó, khái niệm ảo hóa hệ thống lưu trữ (Storage virtualization) ra đời. Ảo hóa hệ
thống lưu trữ, về cơ bản là sự mô phỏng, giả lập việc lưu trữ từ các thiết bị lưu trữ
vật lý.Các thiết bị này có thể là băng từ, ổ cứng hay kết hợp cả 2 loại.

Hình 3 Ảo hóa hệ thống lưu trữ
Ảo hóa hệ thống lưu trữ mang lại các ích lợi như việc tăng tốc khả năng truy xuất
dữ liệu, do việc trải rộng và phân chia các tác vụ đọc/viết trong mạng lưu trữ.
Ngoài ra, việc mô phỏng các thiết bị lưu trữ vật lý cho phép tiết kiệm thời gian hơn
thay vì phải định vị xem máy chủ nào hoạt động trên ổ cứng nào để truy xuất.
- Mô hình hoạt động
Ảo hóa hệ thống lưu trữ có thể được tổ chức theo ba dạng sau đây:
Trang 10 |
Tiểu luận môn điện toán lưới
Hình 4 Host-based Storage Virtualization
Trong mô hình này, ngăn cách giữa lớp ảo hóa và ổ đĩa vật lý là driver điều
khiển của các ổ đĩa. Phần mềm ảo hóa sẽ truy xuất tài nguyên (các ổ cứng vật lý)
thông qua sự điều khiển và truy xuất của lớp Driver này.
Hình 5 Storage-device based Storage Virtualization
Trong dạng này, phần mềm ảo hóa giao tiếp trực tiếp với ổ cứng. Ta có thể
xem như đây là 1 dạng firmware đặc biệt, được cài trực tiếp vào ổ cứng. Dạng này
cho phép truy xuất nhanh nhất tới ổ cứng, nhưng các thiết lập thường khó khăn và
phức tạp hơn các mô hình khác. Dịch vụ ảo hóa được cung cấp cho các Server
thông qua một thiết bị điều khiển gọi là Primary Storage Controller.
Trang 11 |
Tiểu luận môn điện toán lưới
Hình 6 Network-based Storage Virtualization
Trong mô hình này, việc ảo hóa sẽ được thực thi trên một thiết bị mạng, ở
đây có thể là một thiết bị switch hay server. Các switch/server này kết nối với các
trung tâm lưu trữ (SAN). Từ switch/server này, các ứng dụng kết nối vào được
giao tiếp với trung tâm dữ liệu bằng các “ổ cứng” mô phỏng do Switch/server tạo
ra dựa trên trung tâm dữ liệu thật. Đây cũng là mô hình hay gặp nhất trên thực tế.
3.3. Ảo hóa ứng dụng
- Khái niệm
Thông thường, khi muốn sử dụng một phần mềm nào đó như office, design, người

dùng hay có suy nghĩ rằng cần phải tốn thời gian cài đặt phần mềm đó lên trên máy tính,
cụ thể hơn là lên hệ điều hành đang sử dụng. Điều này tốn khá nhiều thời gian, nhất là nếu
áp dụng trên những doanh nghiệp lớn, có cả ngàn máy tính, và đồng thời vấn đề quản lý
các phần mềm này như ai truy xuất, thời gian truy xuất cho phép ra sao trở thành một
thách thức thật sự.
Do đó, khái niệm ảo hóa ứng dụng ra đời. Một ứng dụng được ảo hóa sẽ không
được cài đặt lên máy tính một cách thông thường, mặc dù ở góc độ người sử dụng, ứng
dụng vẫn hoạt động một cách bình thường. Ảo hóa ứng dụng sẽ giúp tách rời sự phụ
thuộc giữa nền tảng phần cứng, hệ điều hành và ứng dụng với nhau.
Trang 12 |
Tiểu luận môn điện toán lưới
- Mô hình hoạt động
Có khá nhiều tổ chức đã tham gia vào quá trình ảo hóa ứng dụng với các mô hình
khác nhau. Có thể kể đến như Citrix với mô hình Application Streaming, Microsoft với
mô hình Microsoft Application Virtualization. Ở đây chúng ta sẽ tìm hiểu về mô hình
Application Streaming của Citrix.
Hình 7 Mô hình Application Streaming của Citrix
Kỹ thuật streaming cho phép người quản lý có thể “đẩy” và quản lý các ứng dụng
trên nền tảng hệ điều hành Windows đến bất cứ người dùng nào theo yêu cầu. Cụ thể hơn:
thông qua các đường truyền dữ liệu được dành riêng, các ứng dụng được tải về thiết bị
của người dùng, sau đó chạy trên một môi trường giả lập. Các thành phần của hệ thống
application streaming này bao gồm:
• Application Profiler: Tại đây các application được đóng gói, kèm với nó là
các thông tin như tài nguyên cần thiết để chạy ứng dụng, các quy tắc khi
triển khai trên thiết bị người dùng, các thành phần của ứng dụng…
• Application Hub: Sau khi đã được đóng gói kèm theo các thông tin cần
thiết, các ứng dụng/phần mềm được lưu trữ tại đây.
Một đặc điểm với kỹ thuật này là: Các ứng dụng được lưu trữ tại bộ nhớ cục bộ tại
các máy tính cuối của người dùng, và được sử dụng như các phần mềm được cài đặt theo
cách truyền thống. Nhưng thật sự nó không được cài đặt, mà là chạy trên lớp đệm là môi

trường ảo hóa nằm ngay trên hệ điều hành.
3.4. Ảo hóa hệ thống máy chủ
Trang 13 |
Tiểu luận môn điện toán lưới
- Khái niệm
Như đã giới thiệu ở phần đầu tiên, ảo hóa hệ thống máy chủ tức là ta tiến hành
phân chia một server thành nhiều server ảo, đối với người sử dụng họ nhận biết và sử
dụng các server ảo giống như một máy vật lý độc lập có đủ các tài nguyên cần thiết (bộ vi
xủ lý, bộ nhớ, kết nối mạng, …), trong khi các server ảo không hề có những tài nguyên
độc lập như vậy, nó chỉ sử dụng tài nguyên được gán từ máy chủ vật lý. Ở đây, bản chất
A là các server ảo sử dụng tài nguyên của máy chủ vật lý, bản chất B là các server ảo có
thể hoạt động như một server vật lý độc lập.
Ảo hóa hệ thống máy chủ giúp đem lại nhiều lợi ích, như tăng tính di động, dễ
thiết lập của các máy chủ ảo, giúp việc quản lý, chia sẻ tài nguyên tốt hơn, quản lý luồng
làm việc phù hợp với nhu cầu, dể huấn luyện, cài đặt…
- Mô hình hoạt động
Xét về kiến trúc hệ thống, các mô hình ảo hóa hệ thống máy chủ có thể ở hai dạng
Host-based hoặc Hypervisor-based (còn gọi là bare-metal hypervisor). Ngoài ra, tùy theo
từng sản phẩm ảo hóa được triển khai (như VMWare, Microsoft HyperV, Citrix XEN
Server) mà mức độ ảo hóa cụ thể sẽ khác nhau. Các mức độ ảo hóa bao gồm:
• Full virtualization: Hệ điều hành khách (Các hệ điều hành cài trên máy
chủ ảo) không bị thay đổi, và chúng hoạt động như trên phần cứng thật sự.
• Para virtualization: Các hệ điều hành khách sẽ bị thay đổi để hoạt động tốt
hơn với phần cứng. Tuy nhiên dạng này thường có hạn chế là hỗ trợ khá ít
các loại hệ điều hành khách.
• Emulation: Các hệ điều hành khách bị thay đổi, nhưng chúng được chạy
trên một phần mềm giả lập CPU vật lý.
Để có một cái nhìn đầy đủ hơn, ta xem xét hai dạng kiến trúc Host-based và
Hypervisor-based của ảo hóa hệ thống máy chủ, đồng thời xem xét khái niệm Hypervisor
là gì.

- Hypervisor là gì
Để hiểu rõ hơn về khái niệm ảo hóa máy chủ, trước hết chúng ta sẽ tìm hiểu mô5t
định nghĩa mới, đó là hypervisor. Hypervisor hay còn gọi là Virtual Machine Monitor
Trang 14 |
Tiểu luận môn điện toán lưới
(VMM), là một lớp phần mềm “mỏng” giữa phần cứng và hệ điều hành để cho phép các
hệ điều hành đó quản lý và sử dụng các tài nguyên phần cứng cùng lúc.
- Kiến trúc Host-based
Còn gọi là hosted hypervisor. Kiến trúc này sử dụng một lớp hypervisor chạy
trên nền tảng hệ điều hành, sử dụng các dịch vụ được hệ điều hành cung cấp để phân chia
tài nguyên tới các máy ảo. Ta xem hypervisor này là một lớp phần mềm riêng biệt, do đó
thì các hệ điều hành khách của máy ảo sẽ nằm trên lớp thứ 3 so với phần cứng máy chủ.
Hình 8 Kiến trúc Host-based
Ta có thể thấy, một hệ thống ảo hóa sử dụng kiến trúc Host-based được chia làm 4
lớp hoạt động như sau:
• Nền tảng phần cứng: Bao gồm các thiết bị nhập xuất, thiết bị lưu trữ
(Hdd, Ram), bộ vi xử lý CPU, và các thiết bị khác (các thiết bị mạng,
vi xử lý đồ họa, âm thanh…)
• Hệ điều hành Host: Hệ điều hành này thực hiện việc liên lạc trực tiếp
với phần cứng, qua đó cung cấp các dịch vụ và chức năng thông qua
hệ điều hành này.
• Hệ thống virtual machine monitor (hypervisor) : chạy trên nền tảng
hệ điều hành host, các hệ thống này lấy tài nguyên và dịch vụ do hệ
điều hành host cung cấp, thực hiện việc quản lý, phân chia trên các
tài nguyên này.
Trang 15 |
Tiểu luận môn điện toán lưới
• Các ứng dụng máy ảo: Sử dụng tài nguyên do hypervisor quản lý.
Một số hệ thống hypervisor dạng Hosted có thể kể đến như VMware Server,
VMware Workstation, Microsoft Virtual Server…

- Hypervisor-based
Còn gọi là bare-metal hypervisor. Trong kiến trúc này, lớp phần mềm hypervisor
chạy trực tiếp trên nền tảng phần cứng của máy chủ, không thông qua bất kì một hệ điều
hành hay một nền tảng nào khác. Qua đó, các hypervisor này có khả năng điều khiển,
kiểm soát phần cứng của máy chủ. Đồng thời, nó cũng có khả năng quản lý các hệ điều
hành chạy trên nó. Nói cách khác, các hệ điều hành sẽ chạy trên một lớp nằm phía trên
các hypervisor dạng bare-metal. Hình vẽ sau sẽ minh họa cụ thể hơn cho vấn đề này:
Hình 9 Kiến trúc Hypervisor-based
Ta có thể thấy, một hệ thống ảo hóa máy chủ sử dụng nền tảng Bare-metal
hypervisor bao gồm 3 lớp chính:
• Nền tảng phần cứng: Bao gồm các thiết bị nhập xuất, thiết bị lưu trữ
(Hdd, Ram), bộ vi xử lý CPU, và các thiết bị khác (các thiết bị mạng,
vi xử lý đồ họa, âm thanh…)
• Lớp nền tảng ảo hóa Virtual Machine Monitor (còn gọi là
hypervisor), thực hiện việc liên lạc trực tiếp với nền tảng phần cứng
phía dưới, quản lý và phân phối tài nguyên cho các hệ điều hành
khác nằm trên nó.
Trang 16 |
Tiểu luận môn điện toán lưới
• Các ứng dụng máy ảo: Các máy ảo này sẽ lấy tài nguyên từ phần
cứng, thông qua sự cấp phát và quản lý của hypervisor.
Một số ví dụ về các hệ thống Bare-metal hypervisor như là: Oracle VM, VMware
ESX Server, IBM's POWER Hypervisor (PowerVM), Microsoft's Hyper-V (xuất xưởng
tháng 6 năm 2008), Citrix XenServer…
4. Cấu trúc chung của một hệ thống điện toán đám mây
Khi người dùng dựa vào các nhà cung cấp Điện toán đám mây để đáp ứngnhiều
hơn các yêu cầu tính toán, họ sẽ yêu cầu QoS cụ thể sẽ được duy trì bởi các nhà cung cấp
để đáp ứng các mục tiêu và duy trì hoạt động của họ.Các nhà cung cấpĐiện toán đám
mâycần phải xem xétvàđáp ứngcác thông sốQoSkhác nhau cho mỗingười dùngcá
nhânnhưthỏa thuận cụ thểtrongSLA. Đểđạt được điều này, các nhà cung cấpĐiện toán

đám mâykhông thể tiếp tụctriển khai kiến trúc quản lý tài nguyên dựa vào hệ thốngtrung
tâmnhư truyền thống nữavì vậynhà cung cấp điện toán đám mây không khuyến khích chia
sẻ tài nguyêncủa họ vàhọ coitất cả cácyêu cầu dịch vụcó tầm quan trọngngang nhau.Thay
vào đó,quản lý tài nguyêntheo hướng thị trườnglàcần thiếtđể điều tiếtcung cầunguồn tài
nguyêntrên điện toán đám mâynhằm đạt đượctrạng thái cân bằng(cung = cầu), điều này sẽ
mang lại lợi ích kinh tếchocả người dùngvàcác nhà cung cấp điện toánđám mâyvà thúc
đẩyphân bốtài nguyêndựa trêncơ chế QoSđể phân biệtyêu cầu về dịch vụdựatrêntiện ích
của người dùng.Ngoài ra,khách hàng có thểhưởng lợi từ“tiềm năng”giảmchi phí củacác
nhà cung cấp, dẫn đếnmộtthị trường cạnh tranhhơnvàgiácả thấp hơn.
Hình3cho thấy kiến trúcchi tiết (high-level)hỗ trợphân bổ tài nguyên theo hướngthị
trườngtrongTrung tâm dữ liệuvàĐám mây (Data Center và Clouds). Về cơ bản cóbốn
thực thểchínhtham gia:
• Users/Brokers:Người sử dụng (user) hoặcnhà môi giới(broker) đại diệncho họgửi yêu
cầudịch vụtừbất cứ nơi nàotrên thế giớiđến Trung tâm dữ liệuvàĐám mâyđể dữ liệu được
xử lý.
• SLA Resource Allocator: SLA Resource Allocatorhoạt động nhưgiao diện giữa
cácTrung tâm dữ liệu/nhà cung cấpdịch vụđám mâyvớingười dùng bên ngoài/người môi
giới. Nó đòi hỏicơ chếtương tác sau đâyđể hỗ trợSLAđịnh hướngquản lý tài nguyên:
Trang 17 |
Tiểu luận môn điện toán lưới
o Service Request Examiner và Admission Control: Khi một yêu cầu dịch
vụ được đưa ra, cơ chế Service Request Examiner và Admission
Controldiễn giải cácyêu cầunày gửicho QoStrước khi xác địnhchấp nhận
hoặctừ chối yêu cầu. Do đó, cơ chế nàynhằm đảm bảokhông làmquá
tảicác nguồn tài nguyênvớinhiềuyêu cầu dịch vụkhông thể thực
hiệnthành côngdotài nguyên có giới hạn.Nó cũng cầnthông tin trạng
tháimới nhấtliên quan đếntài nguyên sẵn có (từ cơ chế VM Monitor)
vàxử lýkhối lượng công việc (từ cơ chế Service Request Monitor) đểđưa
ra quyết địnhphân phối tài nguyênmột cách hiệu quả. Sau đó, nó chỉ
địnhcác yêu cầucho các máy ảo thực hiệnvà xác địnhquyền được phép

sử dụngtài nguyêncho máy ảođược phân bổ.
o Giá (Pricing): Cơ chếgiáquyết địnhyêu cầu dịch vụnào được miễn phí.
Ví dụ,yêu cầucó thể được tínhdựa trên thời giannộp hồ sơ(giờ cao
điểm/ngoài giờ cao điểm), tỷ lệ giá cả (cố định/thay đổi)hoặctài nguyên
sẵn có(cung/cầu). Giálà cơ sởđể quản lýviệc cung cấpvànhu cầutài
nguyên máy tínhtrong Trung tâmdữ liệuvà tạo điều kiệnưu
tiêntrongphân bốtài nguyênmột cách hiệu quả.
o Kế toán (Accouting): Cáccơ chếkế toánduy trìyêu cầusử dụngtài nguyên
thực tế đểtính toán chi phí cuối cùngvàtính phícho người sử dụng. Ngoài
ra,thông tin về lịch sử sử dụngcó thể đượccơ chế Service Request
Examiner và Admission Control tận để cải thiệncác quyết địnhphân bổ
tài nguyên.
o VMMonitor:Cơ chếVMMonitor theo dõisự sẵn có củacác máy ảovà các
quyền sử dụngtài nguyên của các máy ảo.
o Điều phối (Dispatcher): Cơ chếđiều phốitiến hànhthực thi cácyêu
cầudịch vụđược chấp nhậntrên các máy ảođược phân phối.
o Service Request Monitor: Cơ chế Service Request Monitortheo dõitiến
độ thực thicác yêu cầudịch vụ.
• Virtual Machines: Nhiều máy ảo có thể được bắt đầu và dừng lại theo yêu cầu trên máy
vật lý để đáp ứng yêu cầu dịch vụ được chấp nhận, vì thế cần phải cung cấp sự linh hoạt
Trang 18 |
Tiểu luận môn điện toán lưới
tối đa cho cấu hình các phân vùng tài nguyên trên một máy tính vật lý theo từng yêu cầu
cụ thể của yêu cầu về dịch vụ
• Physical Machines: Trung tâm dữ liệu bao gồm nhiều máy chủ cung cấp các tài nguyên
để đáp ứng nhu cầu dịch vụ.
Hình 3: Kiến trúc điện toán đám mây theo hướng thị trường
Để Điện toán đám mây như là dịch vụ thương mạitrong hoạt động kinh doanh quan
trọng của công ty, các chỉ số QoS trở nên quan trọng để xem xét trong một yêu cầu dịch
vụ, chẳng hạn như thời gian, chi phí, độ tin cậy và chứng thực / bảo mật.Đặc biệt,các yêu

cầu QoSkhôngthể giữ nguyênvàcần phải thay đổitheo thời giando sự thay đổiliên
tụctronghoạt động kinh doanhvàmôi trường hoạt động. Tóm lại,QoS trở nên quan trọng
hơn với khách hàngdo họ phải trảphí cho việc truy cậpcác dịch vụĐiện toán đám
mây.Ngoài ra,state-of-thearttrongĐiện toán đám mâykhông có hoặchỗ trợ hạn chếthỏa
thuận linh hoạttrongSLAgiữa người dùng và cơ chếphân phối tự độngcác tài
Trang 19 |
Tiểu luận môn điện toán lưới
nguyênchonhiều yêu cầucùng lúc.Gần đây,chúng tôiđã phát triểncác cơ chếthỏa thuậntrên
cơ sởluân phiêncung cấpgiao thứccho việc thiết lậpSLA. Cơ chế này cótiềm năngchấp
thuậncao với người dùngtronghệ thốngđiện toán đám mâyđược xây dựngsử dụng máy ảo.
Dịch vụ thương mạicủacủa điện toán đám mây theo hướng thị trườngcó các khả
năng sau:
• Hỗ trợ khách hàng theo hướng quản lý dịch vụ dựa trên hồ sơ khách hàng và yêu cầu về
dịch vụ được yêu cầu;
• Vạch rõ phương pháp tính toán quản lý rủi ro để xác định, đánh giá và quản lý rủi ro bao
gồm trong việc thực thi các ứng dụng liên quan đến các yêu cầu dịch vụ và nhu cầu khách
hàng;
• Rút ra các chiến lược thích hợp quản lý tài nguyên dựa vào thị trường bao gồm cả quản lý
dịch vụ theo nhu cầu của khách hàng và quản lý tính toán rủi ro để duy trì sự phân phối
tài nguyên SLAoriented;
• Kết hợp chặt chẽ mô hình quản lý tài nguyên độc lập có hiệu quả với tự quản lý thay đổi
trong các yêu cầu dịch vụ để đáp ứng cả hai đó là yêu cầu dịch vụ mới và nghĩa vụ dịch
vụ hiện có, và
• Tận dụng công nghệ máy ảo để tự động chia sẽ tài nguyên theo yêu cầu dịch vụ.
5. Các nguồn tài nguyên được ảo hóa và việc quản lý tài nguyên trong điện toán
đám mây.
Vì sự hài lòng của khách hàng là yếu tố đế đánh giá sự thành công trong ngành
công nghiệp dịch vụ, các nhà cung cấp dịch vụ máy tính phải nhận thức được rằng người
sử dụng là trung tâm và mục tiêu là để đạt được sự hài lòng của khách hàng. Tuy nhiên,
nhiềuyếu tố chất lượngdịch vụ có thểảnh hưởng đếnsự hài lòng củakhách hàng. Do đó,

chúng ta cần phảixây dựng chiến lượcquản lý tài nguyênSLAoriented choTrung tâm dữ
liệuvàĐiện toán đám mâyđiều này mang đếnsự chú ý củacho khách hàngcá nhân, chẳng
hạn nhưthông báovàlấy ý kiến củakhách hàng, tăng cường tiếp cậnvàhiểu biếtnhu cầu cụ
thểcủakhách hàng.Những chiến lược nàycũng mang lại niềm tin cho khách hàng bằng
cáchnhấn mạnh vàocácbiện pháp bảo mậtđược thực hiện nhằmchống lạirủi ro vàsự nghi
ngờ, độ tin cậy củacác nhà cung cấpvàcử chỉ lịch sự đối vớikhách hàng.
Trang 20 |
Tiểu luận môn điện toán lưới
Công việc ban đầucủa chúng tôicũngđã nêu lên cácví dụ về các yếu tốkhác
nhaudựa trêntiện ích,quản lý tài nguyêncó thể đượccoi làrủi ro, từ đóxác định phân tích
rủi rotừcáclĩnh vực kinh tếnhưmột giải phápcó thể xảy rađể đánh giá các rủi ro này.Tuy
nhiên, toàn bộ quá trìnhquản lý rủi robao gồm nhiềubướcvà cần phải đượcnghiên cứu kỹ
lưỡngđểthực thi đầy đủ,hiệu quả trong việc quản lýrủi ro.Do đó, trước tiên chúng ta cần
phảithiết lập các tình huốngđể quản lý rủi rotrongTrung tâm dữ liệuvàĐám mây, và sau
đóxác định cácrủi ro liên quan.Mỗi rủi rođược xác địnhsẽ được đánh giákỹ lưỡng,trước
khiđưa rachiến lược thích hợpđể quản lýnhững rủi ro này.
Ngoài ra,yêu cầu dịch vụcủa người dùngcó thể thay đổitheo thời gian. Do đó,
người dùngcó thể yêu cầuthay đổicác yêu cầudịch vụban đầu.Như vậy,chiến lượcquản lý
tài nguyêntheo đề xuấtcủa chúng tôisẽ có thểtựquản lý quá trìnhgiành chỗ liên
tục(reservation process continuously)bằng cách giám sátcác yêu cầudịch vụhiện hành,cải
thiệnyêu cầu dịch vụtrong tương lai,điều chỉnhlịch trìnhvà giá cảcho phù hợp với các yêu
cầuvề dịch vụ mớivàdịch vụ sửa đổi.Do đó, chúng tacần phải nghiên cứu tỉ mỉcác thành
phầntự cấu hìnhđể đáp ứngcác yêu cầudịch vụ mới.Vì vậy, Trung tâmdữ liệuvà Đám mây
phải có độ tự chủ hơn và thông minhhơn để có thểquản lý tốt hơn nguồn tài nguyêncó giới
hạn vớiyêu cầu thay đổidịch vụ linh hoạt.Đối với người dùng, có thể có các hệ thốngmôi
giới(broker systems)đại diệncho họđể chọnnhà cung cấpphù hợpvàthỏa thuận với nhà
cung cấpđể đạt đượchợp đồng dịch vụlý tưởng.Do đó, các nhà cung cấpđòi hỏi cũng
phảiquản lý tài nguyênđộc lậpđể chọn lọcyêu cầuthích hợp nhằmchấp nhậnvà thực thitùy
thuộc vàosố lượng các yếu tố hoạt động, chẳng hạn như làsự sẵn có vàyêu cầucủacác dịch
vụ(cả hiện tại và tương lai) và nghĩa vụdịch vụ hiện có.

Gần đây, công nghệ ảo hóa đã cho phép một máy tính vật lý có thể hoạt động như
một bộ gồm nhiều máy ảo.Một lợi ích quan trọng của máy ảo là khả năng tích hợp nhiều
môi trường hệ điều hành hoàn toàn riêng biệt trên một máy vật lý. Một lợi ích khác nữa là
khả năng cấu hình cho máy ảo sử dụng phân vùng khác nhau trên các nguồn tài nguyên
của một máy vật lý.Ví dụ, trên một máy vật lý, một máy ảo có thể được phân bổ10%sức
mạnh xử lý, trong khimột máy ảokhác có thểđược phân bổ20%sức mạnh xử lý. Do đó,
chúng tacần phải tận dụngcác công nghệhiện cómáy ảo đểmáy ảo có thể đượckhởi độngvà
dừng lạinhằm linh hoạtđáp ứng nhu cầuthay đổi sử dụng tài nguyên củangười dùngtương
Trang 21 |
Tiểu luận môn điện toán lưới
phản vớinguồn tài nguyên hạn chếtrênmột máy vật lý.Đặc biệt,chúng tacần tìm hiểunhư
thế nàomáy ảocó thểđược chỉ địnhchính sáchquản lý tài nguyênkhác nhaucung cấp
chonhu cầungười dùng khác nhauvàyêu cầuhỗ trợtốt hơnviệc thực thi theo
hướngSLAphân phối tài nguyên choTrung tâm dữ liệuvàĐám mây.
6. Sự giao tiếp giữa các thệ thống điện toán đám mây với người dùng
Các doanh nghiệp hiện đang sử dụng dịch vụ Đám mây để nâng cao khả năng mở
rộng dịch vụ của họ và để đối phó với sự bùng nổ nhu cầu về tài nguyên.Tuy nhiên, hiện
nay, giá cả của các nhà cung cấpdịch khônglinh hoạt, thườnggiới hạntỷ lệcố
địnhhoặcbảng giádựatrênngưỡngsử dụngvà người dùngbị hạn chếsử dụng các dịch
vụtừmột nhà cung cấpriêng lẽ tạimột thời điểm.Ngoài ra,nhiều nhà cung cấpthường giữ
độc quyềnvới các dịch vụcủa họ,do đó hạn chế khả năng của người dùngđể trao đổimột
nhà cung cấp này với nhà cung cấp khác.
Để điện toán đám mâythành công thì nó đòi hỏi các dịch vụ phảitheogiao diện
chuẩn. Điều nàysẽ cho phépcác dịch vụ trởthành hàng hoá.Do đó, sẽmở đường choviệc
tạo ra mộtcơ sở hạ tầngthị trườngkinh doanhdịch vụ. Ví dụ vềmột hệ thốngthị trường như
vậy, theo mô hìnhsàn giao dịchthực tế, đượcthể hiện như Hình 4. Chỉ dẫnthị trường cho
phépngười tham gia xác định vị trínhà cung cấpvà người dùngđể cung cấpđúng các dịch
vụ.Định kỳhồ sơ dự thầurõ ràngvà yêu cầunhận được từtham gia thị trường. Hệ thống
ngân hàngđảm bảo rằngcác giao dịchtài chínhliên quan đếncác thỏa thuậngiữa các thành
viênđược thực hiện.

Trang 22 |
Tiểu luận môn điện toán lưới
Hình 4: Trao đổi đám mây toàn cầu và cơ sở hạ tầng của thị trường cho dịch vụ thương mại
Nhà môi giới(Broker) thực hiện cácchức năng tương tựnhưhọ làmtrongthị
trườngthực tế: họlàm trung gian giữangười dùng vànhà cung cấpbằng cách mua“khả
năng” (capacity) từcác nhà cung cấpvàcho người dùng thuê lại. Một nhà môi giớicó
thểchấp nhận yêu cầutừnhiều người dùng,có thể lựa chọngửiyêu cầu của người dùngcho
người môi giớikhác.Người dùng, nhà môi giớivànhà cung cấpbị ràng buộcđểyêu cầu cung
cấp dịch vụvà vấn đềbồi thườngliên quan đếnthông quaSLA.Một SLAquy định chi tiết
cácdịch vụđược cung cấpvới sựthoả thuận củatất cả các bên, hình phạt đối vớivi
phạmvàđáp ứngsự mong đợi.
Thị trường như vậycó thể kết nối nhiều Đámmâykhác nhaucho phépngười dùnglựa
chọnmột nhà cung cấpphù hợp vớiyêu cầucủa họ bằng cáchthực hiệnSLAstừ trước
haykhả năng muangay tại chỗ.Các nhà cung cấpcó thể sử dụngthị trườngđể thực hiệnquy
hoạch năng lựchiệu quả. Nhà cung cấpđặt ra cơ chếgiá với nhữngmức giá cho tài
nguyêndựatrênđiều kiện thị trường, nhu cầu người dùngvàmức giá này làđể sử dụng
cácnguồn tài nguyên.Giá cảcó thể làcố địnhhoặc thay đổitùy thuộc vàocác điều kiệnthị
trường. Một cơ chếkiểm soáttiền phải trả để vào nơi giao dịch chung (admission-control
mechanism)đối với mộtnhà cung cấplựa sẽ được chọn sau cùngthông qua đấu giá đểtham
gia hoặccác nhà môi giớithỏa thuận với nhaudựa trênước tính ban đầucủacác tiện ích.Quá
trìnhtiến hànhthỏa thuậncho đến khiSLAđược thành lậphoặcnhững người tham giaquyết
Trang 23 |
Tiểu luận môn điện toán lưới
địnhcắt đứt. Cơ chếgiao tiếpvới các hệ thốngquản lý tài nguyêncủa nhà cung cấpsẽ đảm
bảoviệc phân phối tài nguyênđược cung cấphoặcthu hồi, do đó vi phạmSLAkhông xảy
ra.Hệ thốngquản lý tài nguyêncũng cung cấpchức năng như:đặttrước,cho phéptrích lập dự
phòngđảm bảokhả năngtài nguyên.
Các nhà môi kiếm được lợi nhuận thông quasự khác biệtgiữa giákhách hàng thanh
toán để sự dụng tài nguyênvàchi phí nhà môi giới chi trả chocác nhà cung cấpchothuêtài
nguyên.Do đó,nhà môi giới sẽ lựa chọnnhững người dùngsử dụng những ứng dụngđể có

thểcung cấp tiện íchtối đa nhằm thu lợi nhuận cao nhất. Một nhà môi giớitương tác vớicác
nhà cung cấptài nguyên hay nhàmôi giớikhác để đạt đượcsự chia sẽ tài nguyên hoặcthông
qua giao dịchđể có được sự chia sẽ tài nguyên. Nhà môi giớiđược trang bị mộtmô-
đunthỏa thuậnqua đó xác địnhcác điều kiệnhiện tại củatài nguyên vànhu cầu để làm cơ sở
choquyết định của mình.
Người dùng có các chức năng tiện ích của riêng mình bao gồm các yếu tố như thời
hạn, độ trung thực của kết quả và thời gian xoay vòng của các ứng dụng.Họ cũngbị hạn
chế số lượng tài nguyênmà họcó thể yêu cầubất kỳ lúc nào, thường là do nguồn tài
nguyên hạn chế. Người dùng cũngcógiới hạn cơ sở hạ tầngvề IT riêng của họ. Vì vậy, một
người dùngtham gia vàothị trườngtiện íchthông qua sự ủy quyền quản lý tài nguyênđể
chọncácnhà môi giớidựatrêndịch vụ họ cung cấp. Và người dùng sẽ thỏa thuận các điều
khoảngtrong SLAvớicác nhà môi giới nhằmràng buộcsau này đểcung cấpđảm bảo các tài
nguyên. Người dùnglà doanh nghiệpsau đótriển khaiứng dụng trên môi trườngriêng của
mìnhdựa trêncác nguồn tài nguyêncho thuêhoặcsử dụng giao diệncủa nhà cung cấpđểmở
rộngcác ứng dụngcủa mình.
Ý tưởngcủathị trườngtiện ích chotài nguyên máy tínhđã xuất hiện trong một thời
gian dài. Gần đây, nhiềudự án nghiên cứunhưcủa: SHARP, Tycoon, BellagiovàShirakođã
đưa racấu trúcthị trườngkinh doanhphân phốitài nguyên. Những dự án này đặc biệttập
trung vàokinh doanhnguồn tài nguyênphân chia dựa vào Máy ảotrêncơ sở hạ tầngmạng
nhưPlanetLab. Dự ánGridbuscho phép mộtnhà môi giớitài nguyên màcó thể thỏa
thuậnvớicác nhà cung cấptài nguyên.Như vậy,công nghệchothị trườngtiện íchđã có
mặtvàsẵn sàng đểđược triển khai.
Trang 24 |
Tiểu luận môn điện toán lưới
Tuy nhiên, những thách thứclớnvẫn còn tồn tạitrongcácứng dụngphổ biến củathị
trường này.Các doanh nghiệphiện đang sử dụngcác chiến lượcCNTTbảo thủ vàkhông
muốnchuyển đổi từmôi trườngcó kiểm soáttruyền thống. Sự chấp nhậnđiện toán đám
mâyvừa mớibắt đầuvà các hệ thốngđang trong giai đoạnchứng thực khái niệm (proof-of-
concept). Áp lực điều chỉnhcũngcó nghĩa làdoanh nghiệpphải cẩn thận với nơidữ liệu của
họđượcxử lývà do đó, không thểsử dụngdịch vụ đám mâytừthị trường mở.Điều này có

thểđượcgiảm nhẹ thông quaSLAnhằm ràng buộc chi tiết t vềvị trí củacác nguồn tài
nguyên. Tuy nhiên, một vấn đề mởlà cáchnhững người tham giatrongmộtthị trườngnhư
vậy có thểđượcbồi thườngtrongtrường hợpkhi SLAbị vi phạm. Điều này thúc đẩynhu cầu
về mộtkhuôn khổpháp lý chocác hiệp địnhtrongcác thị trườngnhư vậy.
7. Cơ sở của các hệ thống điện toán trong tương lai
Các nhà phân tích đã dự báo lạc quan về cách Điện toán đám mây sẽ thay đổi toàn
bộ ngành công nghiệp máy tính. Theo Merrill Lynch nghiên cứu gần đây, điện toán đám
mây được trong đợi: "Thị trường sẽ mang đến lợi nhuận 160 tỷ USD, trong đó kinh doanh
ứng dụng và hiệu suất của các ứng dụng chiếm 95 tỷ USD và 65 tỷ USD trong quảng cáo
trực tuyến". Nghiên cứu củaMorgan Stanleycũng chỉ ra rằng Điện toán đám mâylà một
trong nhữngxu hướng công nghệnổi bật.Bởi vì,ngành công nghiệpmáy
tínhchuyểnhướngcung cấpPlatform as a Service (PaaS)vàSoftware as a Service
(SaaS)cho người dùngvàdoanh nghiệp tiếp cậntheo yêu cầubất kể thời gianvà địa điểm do
đó sẽ cósự gia tăngtrongsố lượng các nền tảngĐiện toán đám mâycó sẵn.Gần đây,một số
tổ chứckhoa họcvàcông nghiệpđãbắt đầu nghiên cứu,phát triển công nghệvàcơ sở hạ
tầngđiện toán đám mây. Nỗ lựcnghiên cứubao gồm: Virtual Workspaces, OpenNebula và
Reservoir.Trong phần này,chúng ta so sánh6nền tảngĐiện toán đám mâyđại diệnnhư
trong Bảng 2.
Trang 25 |

×