Tải bản đầy đủ (.doc) (35 trang)

Tiểu luận môn tính toán lưới CÔNG NGHỆ CLOUD COMPUTING

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (963.28 KB, 35 trang )

Báo cáo chuyên đề - Tính Toán Lưới GVHD: PGS.TS. Nguyễn Phi Khứ
HVTH: CH1101063 1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TP. HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH ĐẠO TẠO THẠC SĨ CNTT KHÓA 6
________________
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
TÍNH TOÁN LƯỚI
Đề tài:
CÔNG NGHỆ CLOUD COMPUTING
GVHD: PGS.TS. NGUYỄN PHI KHỨ
HVTH: VƯƠNG THỊ NGỌC ẨN
MAHV: CH1101063
TP. HCM, 06/2013
Báo cáo chuyên đề - Tính Toán Lưới GVHD: PGS.TS. Nguyễn Phi Khứ
MỤC LỤC
CHƯƠNG TRÌNH ĐẠO TẠO THẠC SĨ CNTT KHÓA 6 1
TP. HCM, 06/2013 1
1. Tính sẵn sàng 23
2. Data lock-in 24
3. Bảo mật và kiểm tra dữ liệu 25
4. Khó tiên đoán trong hiệu suất thực thi của máy tính 26
5. Khả năng tự co giãn của hệ thống 26
6. Đáp ứng nhu cầu khả năng lưu trữ của người dùng 26
7. Bản quyền phần mềm 27
8. Lợi ích của Cloud Computing đối với doanh nghiệp 27
8.1. Giảm chi phí 27
8.2. Sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn 28
8.3. Tính linh hoạt 29
HVTH: CH1101063 2
Báo cáo chuyên đề - Tính Toán Lưới GVHD: PGS.TS. Nguyễn Phi Khứ


LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, Cloud Computing đang nổi lên như một công nghệ tính toán đầy hứa hẹn.
Cloud Computing ngày càng được quan tâm trong các ứng dụng thực tiễn. Trong đó, các
dịch vụ được cung cấp là mục tiêu chính để phục vụ người sử dụng. Từ đó, những vấn đề về
kỹ thuật, kinh tế, chiến lược cũng được phát sinh.
Đứng trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ Cloud Computing, việc tìm hiểu
các vấn đề về công nghệ Cloud Computing là vấn đề quan trọng đối với sinh viên, học viên
cao học.
Bài báo cáo này giới thiệu về công nghệ Cloud Computing và một số ứng dụng của nó
đã và đang được nghiên cứu triển khai.
Em xin chân thành cảm ơn thầy PGS.TS. Nguyễn Phi Khứ đã tận tình giảng dạy,
truyền đạt những kiến thức quý báu và hướng dẫn về nguồn tài liệu tham khảo để em có thể
hoàn thành môn học này.
Em xin chân thành cảm ơn!

HVTH: CH1101063 3
Báo cáo chuyên đề - Tính Toán Lưới GVHD: PGS.TS. Nguyễn Phi Khứ
Chương I. Giới thiệu về Cloud Computing
1. Định nghĩa
Thuật ngữ “cloud computing” ra đời giữa năm 2007, để khái quát lại các hướng đi của
cơ sở hạ tầng thông tin đã và đang diễn ra từ nhiều năm nay. Quan niệm này có thể được
diễn giải một cách đơn giản: các nguồn điện toán khổng lồ như phần mềm, dịch vụ sẽ
nằm tại các máy chủ ảo (đám mây) trên Internet thay vì trong máy tính gia đình và văn
phòng (trên mặt đất) để mọi người kết nối và sử dụng mỗi khi họ cần.
Sau đây là hai định nghĩa của Ian Foster và Rajkumar Buyya được dùng khá phổ biến:
Theo Ian Foster: Cloud Computing là một mô hình điện toán phân tán có tính co giãn
lớn mà hướng theo co giãn về mặt kinh tế, là nơi chứa các sức mạnh tính toán, kho lưu
trữ, các nền tảng và các dịch vụ được trực quan, ảo hóa và co giãn linh động, sẽ được
phân phối theo nhu cầu cho các khách hàng bên ngoài thông qua Internet
Theo Rajkumar Buyya: Cloud là một loại hệ thống phân bố và xử lý song gồm các

máy tính ảo kết nối với nhau và được cung cấp động cho người dùng như một hoặc nhiều
tài nguyên đồng nhất dựa trên sự thỏa thuận dịch vụ giữa nhà cung cấp và người sử dụng.
Cả hai định nghĩa trên đều định nghĩa Cloud Computing là một hệ phân bố, cung cấp
các dạng tài nguyên ảo dưới dạng dịch vụ một cách linh động theo nhu cầu của người
dùng trên môi trường internet
2. Tính chất cơ bản
a. Khả năng co giãn (Rapid elasticity)
Một đặc tính nổi bật của Cloud Computing là khả năng tự động mở rộng hoặc thu nhỏ hệ
thống theo yêu cầu người dùng.
Một người dùng ký hợp đồng thuê một Server gồm 5 CPU. Nếu lượng truy cập thấp chỉ
cần 2 CPU là đủ, khi đó hệ thống quản lý của nhà cung cấp dịch vụ sẽ tự ngắt bớt 3 CPU,
người dùng không phải trả phí cho 3 CPU nói trên và chúng được đưa sang phục vụ người
dùng khác. Đến khi nhu cầu tăng tức là lượng truy cập tăng, hệ thống ngay lập tức sẽ tự động
thêm CPU vào, nếu nhu cầu vượt quá 5 CPU thì người dùng trả phí theo hợp đồng đã ký với
nhà cung cấp cloud computing service.
HVTH: CH1101063 4
Báo cáo chuyên đề - Tính Toán Lưới GVHD: PGS.TS. Nguyễn Phi Khứ
Khả năng co giãn nhanh và linh hoạt giúp cho nhà cung cấp dịch vụ cloud computing
service tận dụng tài nguyên dư thừa phục vụ được nhiều khách hàng, người dùng giảm chi
phí vì họ chỉ phải trả tiền cho những tài nguyên thực sự dùng.
b. Dịch vụ theo nhu cầu (On-demand self-service)
Người dùng gửi yêu cầu thông qua trang web cung cấp dịch vụ, hệ thống của nhà cung
cấp sẽ đáp ứng để người dùng có thể tự phục vụ như: tăng – giảm thời gian sử dụng server và
dung lượng lưu trữ, … mà không cần phải trực tiếp yêu cầu nhà cung cấp dịch vụ, tức là mọi
nhu cầu khách hàng đều được xử lý trên internet.
c. Truy xuất diện rộng (Broad network access)
Cloud Computing Service là tập hợp các dịch vụ công nghệ thông tin được cung cấp
thông qua môi trường internet, ở đó người dùng thích dịch vụ gì thì dùng dịch vụ ấy, dùng
bao nhiêu trả bấy nhiêu, được lựa chọn những dịch vụ tốt nhất ở bất cứ đâu vào bất cứ lúc
nào. Như vậy người dùng có kết nối internet là có thể sử dụng dịch vụ.

Cloud Computing Service không yêu cầu người dùng phải có khả năng xử lý cao, người
dùng có thể truy xuất bằng các thiết bị di dộng như điện thoại, PDA, laptop.
d. Dùng chung tài nguyên và điều tiết dịch vụ
Nhà cung cấp dịch vụ cho phép người dùng dùng chung tài nguyên do họ cung cấp dựa
trên mô hình “multi-tenant”, tài nguyên được phân phát rất linh hoạt tùy theo nhu cầu của
người dùng. Khi nhu cầu của một người dùng nào đó giảm xuống, lập tức phần tài nguyên dư
thừa sẽ được phục vụ cho người dùng khác. Nếu một người dùng 5 CPU từ 8 - đến 12 giờ
hàng ngày, một người dùng khác thuê 5 CPU tương tự từ 13 giờ đến 17 giờ hàng ngày thì họ
có thể dùng chung 5 CPU đó.
e. Điều tiết dịch vụ (Measured service)
Hệ thống Cloud Computing tự động kiểm soát và tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên
(dung lượng lưu trữ, đơn vị xử lý,…). Lượng tài nguyên sử dụng có thể được theo dõi, kiểm
soát và báo cáo một cách minh bạch cho cả hai phía nhà cung cấp dịch vụ và người sử dụng.
Chương II. Các mô hình Cloud Computing
1. Mô hình dịch vụ
a. Infrastructure as a Service – IaaS
IAAS là một mô hình dịch vụ cung cấp các thiết bị nhằm hổ trợ hoạt động hệ thống
cho khác hàng. Các thiết bị đó bao gồm kho dữ liệu, phần cứng, máy chủ (server) và các
HVTH: CH1101063 5
Báo cáo chuyên đề - Tính Toán Lưới GVHD: PGS.TS. Nguyễn Phi Khứ
thành phần networking. Nhà cung cấp sẽ làm chủ các thiết bị và chịu trách nhiệm cho
việc hoạt động và bảo trì hệ thống. Khách hàng sẽ trả tiền trên các dịch vụ đó.
Trong loại dịch vụ này, khách hàng được cung cấp những tài nguyên máy tính cơ bản
(như bộ xử lý, dung lượng lưu trữ, các kết nối mạng…). Khách hàng sẽ cài hệ điều hành,
triển khai ứng dụng. Nhà cung cấp dịch vụ sẽ quản lý cơ sở hạ tầng cơ bản bên dưới,
khách hàng sẽ phải quản lý hệ điều hành, lưu trữ, các ứng dụng triển khai trên hệ thống,
các kết nối giữa các thành phần.
IAAS bao gồm :
• Các bản hợp đồng ở các mức dịch vụ khác nhau : đối với từng nhu cầu khác nhau mà
các khách hàng có thể chọn những dịch vụ thích hợp. Ứng với các dịch vụ đó sẽ có

những hợp đồng tương ứng.
• IAAS tập trung chủ yếu vào việc cho thuê các thiết bị phần cứng như là máy chủ
(server) , kỹ thuật networking và không gian lưu trữ
• IAAS cần có internet. Điện toán đám mây liên quan tới việc phân phối các dịch vụ
máy chủ. Một dịch vụ cloud thì có 3 điểm khác nhau chính so với dịch vụ hosting
truyền thống trên internet. Đó là : nó được bán theo nhu cầu được tính theo giờ, khả
năng cung cấp vô hạn và linh động theo nhu cầu và dịch vụ hosting được quản lý bởi
nhà cung cấp.
• Khi sử dụng dịch vụ IAAS thì phải trả phí.
• IAAS dựa trên các hoạt động của máy ảo. Cơ chế của việc sử dụng các thiết bị ảo
trong điện toán đám mây thì rất thích hợp bởi vì nó có nhiều lợi ích trong việc chia sẻ,
quản lý tài nguyên.
Các đặc điểm chính của IAAS :
• Các tài nguyên IAAS thì được phân phối như là dịch vụ. Các tài nguyên đó là : các
máy chủ (server), thiết bị networking, bộ nhớ, CPU, không gian vùng nhớ, .v.v.
• Cơ sở hạ tầng thay đổi động : bạn có thể điều chỉnh các tài nguyên theo yêu cầu sử
dụng của bạn. IAAS trong cloud sẽ đáp ứng nhanh chóng việc tăng hay giảm tài
nguyên một cách dễ dàng.
HVTH: CH1101063 6
Báo cáo chuyên đề - Tính Toán Lưới GVHD: PGS.TS. Nguyễn Phi Khứ
• Chi phí biến đổi tùy vào nhu cầu sử dụng khác nhau. Không cố định chi phí cho bất
cứ dịch vụ nào.
• IAAS thường có nhiều người thuê .
• IAAS có những mức dịch vụ khác nhau đáp ứng cho tất cả nhu cầu của doanh nghiệp.
Hình vẽ bên dưới chứng minh cho mô hình phân lớp của kiến trúc IAAS
Có 03 thành phần chính trong kiến trúc của hệ thống cloud. Đó là: cloud manager,
cluster manager và computer manager.
Cloud manager là điểm truy cập vào cloud nơi mà các nhà thuê bao đăng ký tài khoản,
quản lý các tài nguyên mà họ thuê từ cloud và truy cập dữ liệu. Nó thực hiện việc truy cập tài
nguyên ở mức đầu tiên. Nó quyết định có đủ tài nguyên để đáp ứng yêu cầu khách hàng hay

không và cluster manager sẽ thực hiện yêu cầu. Cloud manager cũng thực hiện các luật trên
cloud đối với yêu cầu từ khách hàng.
HVTH: CH1101063 7
Báo cáo chuyên đề - Tính Toán Lưới GVHD: PGS.TS. Nguyễn Phi Khứ
Cluster manager: chịu trách nhiệm vận hành các máy thông qua network. Cluster
manager sẽ nhận lệnh / queries truy cập tài nguyên từ cloud manager và xác định tài nguyên
nào có thể đáp ứng yêu cầu từ người sử dụng . Sau đó thực hiện truy cập tài nguyên.
Computer manager: hợp tác với hypervisor chạy trên mỗi hệ thống máy tính trong một
cluster. Trong việc đáp ứng các queries từ Cluster manager. Cluster manager trả về thông tin
trạng thái liên quan đến tài nguyên được sử dụng và có sẵn mà có thể được sử dụng.
IaaS trong cloud phụ thuộc vào một mạng lưới an toàn, đáng tin cậy và một trình duyệt
an toàn, đáng tin cậy cho việc quản trị tài khoản. Một vài vấn đề cần quan tâm và cảnh báo
cần phải biết khi sử dụng cloud :
• Cô lập mức máy ảo (VM-level Isolation) : là một mô hình nhiều người thuê và thuê
bao có thể chia sẻ các máy chủ vật lý với người tiêu dùng khác của đám mây. Một
VM-Level isolation là phải dựa trên mô hình bảo mật mạnh mẽ cũng như cấu hình
đúng.
• Cô lập mức network (Network – level isolation.)
• Hiện thực việc xóa bỏ (Data Erase Practices) : các máy ảo truy cập tài nguyên được
bảo trì bởi nhà cung cấp. Khi nhà thuê bao giải phóng một tài nguyên . Nhà cung cấp
phải bảo đảm rằng các thuê bao kế tiếp không thấy được dữ liệu từ người thuê trước
đó.
• Phụ thuộc vào network.
• Lỗ hổng về bảo mật (Legacy Security Vulnerabilities): IAAS cloud sẽ cung cấp cho
các thuê bao về các lỗ hổng này.
• Các máy ảo đã bị lỗ thời (Out-of-Date Virtual Machine) : Các máy ảo vẫn còn có thể
lưu lại các trạng thái khác nhau như là : running, suspended, hay off. Một máy ảo
không hoạt động có thể dễ dàng trở thành lỗi thời đối với các bản cập nhật bảo mật
quan trọng và có thể trở thành bị tổn hại. Duy trì cập nhật bảo mật thường là một trách
nhiệm thuê bao.

• An toàn dữ liệu (Secure Data Purge) : nhà cung cấp cloud cần đưa ra một cơ chế để
xóa dữ liệu một cách đáng tin cậy theo yêu cầu của thuê bao. Nhớ lưu lại dữ liệu khi
chuyển nhà cung cấp hoặc khi hợp đồng hết hạn.
• Độ trễ ( latency).
HVTH: CH1101063 8
Báo cáo chuyên đề - Tính Toán Lưới GVHD: PGS.TS. Nguyễn Phi Khứ
• Các hợp đồng ở mức dịch vụ (Service Level Agreements)
• Thực hiện việc khôi phục khi có sự cố (Disaster Recovery Practices).
• Lưu trữ và tuân thủ các chính sách bảo mật (Audit & Compliance with Information
Security Policies)
• Thẩm quyền và quy định (Jurisdiction and Regulation).
• Vendor Lock-in : Xây dựng một chiến lược cho việc chuyển đổi trong tương lai của
các máy ảo và các kho lưu trữ liên quan khi thay đổi nhà cung cấp.
• Hiệu suất (performance).
• Tính liên tục trong kinh doanh (Risk of Business Continuity)
Oracle cung cấp giải pháp IaaS
Oracle đã công bố giải pháp Oracle IaaS (Oracle Infrastructure as a Service - Cơ sở hạ
tầng như là một dịch vụ từ Oracle) với Dung lượng theo Nhu cầu (Demand on Capacity).
Giải pháp Oracle IaaS cho phép các tổ chức triển khai các hệ thống được phát triển và
tích hợp toàn diện, bao gồm cả Máy chủ cơ sở dữ liệu Oracle Exadata Database Machine,
Giải pháp điện toán đám mây đàn hồi Oracle Exalogic Elastic Cloud, Siêu nhóm máy chủ
Oracle SPARC SuperCluster, Máy chủ phân tích dữ liệu trong bộ nhớ Oracle Exalytics
In-Memory Machine và Hệ thống lưu trữ Oracle Sun ZFS Storage Appliance trong các
trung tâm dữ liệu của họ đằng sau tường lửa – theo mô hình thuê bao trả phí hàng tháng.
Oracle IaaS là một lựa chọn hấp dẫn cho các Hệ thống Tích hợp của Oracle xét từ
quan điểm dòng tiền, kế toán và sử dụng.
Cơ sở hạ tầng điện toán đám mây riêng, tại chỗ này cung cấp cho các tổ chức khả
năng kiểm soát và thông tin toàn diện về các môi trường công nghệ thông tin (CNTT) của
họ, cho phép họ đáp ứng các yêu cầu về bảo mật và tuân thủ quy định nội bộ.
Oracle IaaS bao gồm cả mô hình dung lượng điện toán theo nhu cầu (Capacity on

Demand), cho phép khách hàng dễ dàng bổ sung và giải phóng dung lượng tính toán để
hỗ trợ các tải công việc thường xuyên biến động của họ, trong khi chỉ phải trả tiền cho
công suất sử dụng thực.
Oracle IaaS bao gồm thiết bị phần cứng do Oracle phát triển (Oracle Engineered
Systems) cùng với các dịch vụ hàng đầu trong ngành để tối đa hóa hiệu năng, độ tin cậy
và mức độ bảo mật, bao gồm các dịch vụ như Dịch vụ Hỗ trợ Cao cấp cho các Hệ thống
HVTH: CH1101063 9
Báo cáo chuyên đề - Tính Toán Lưới GVHD: PGS.TS. Nguyễn Phi Khứ
(Oracle Premier Support for Systems). Ngoài ra, các hệ thống Exadata, Exalogic và
SPARC SuperCluster còn bao gồm cả Dịch vụ Hỗ trợ Đặc biệt của Oracle (Oracle
Platinum Services) cùng với Dịch vụ Hỗ trợ Đặc biệt Nâng cao (Oracle PlatinumPlus
Services) mới, dành riêng cho khách hàng Oracle IaaS.
Dịch vụ Oracle PlatinumPlus Services mới cung cấp hoạt động phân tích và tư vấn
chủ động hàng quý bởi các chuyên gia Oracle để xác định các vấn đề liên quan đến hiệu
năng hệ thống, tuân thủ quy định về bảo mật và độ sẵn sàng của hệ thống, đưa ra những
hướng dẫn về cách thức để giải quyết những vấn đề này.
Khách hàng có thể lựa chọn giữa tự quản lý các hệ thống hoặc lựa chọn Dịch vụ Điện
toán Đám mây Được quản lý của Oracle (Oracle Managed Cloud Services) dành cho các
dịch vụ ứng dụng và điện toán đám mây được quản lý toàn diện.
Oracle IaaS là một phần của danh mục Dịch vụ Điện toán Đám mây Riêng của Oracle
(Oracle Private Cloud Services portfolio), trong đó bao gồm một tập hợp toàn diện các
sản phẩm và giải pháp ứng dụng, nền tảng và cơ sở hạ tầng tích hợp hàng đầu.
b. Platform as a Service – PaaS
PaaS là tầng dịch vụ nằm giữa hai tầng dịch vụ SaaS và IaaS
Nhà cung cấp dịch vụ sẽ cung cấp một nền tảng (platform) cho khách hàng. Khách
hàng sẽ tự phát triển ứng dụng của mình nhờ các công cụ và môi trường phát triển được
cung cấp hoặc cài đặt các ứng dụng sẵn có trên nền platform đó. Khách hàng không cần
phải quản lý hoặc kiểm soát các cơ sở hạ tầng bên dưới bao gồm cả mạng, máy chủ, hệ
điều hành, lưu trữ, các công cụ, môi trường phát triển ứng dụng nhưng quản lý các ứng
dụng mình cài đặt hoặc phát triển.

Những yêu cầu khi sử dụng dịch vụ PaaS
Theo Keene, PaaS có những chức năng khác với các nền tảng phát triển phần mềm
truyền thống, đó là những yếu tố sau:
- Công cụ phát triển phần mềm nhiều người thuê (Multi-tenant development tool): các
công cụ phát triển truyền thống thường hỗ trợ đơn người sử dụng. Với cloud, công cụ
phát triển phần mềm hỗ trợ nhiều người sử dụng. Và mỗi người sử dụng có thể thực hiện
nhiều dự án khác nhau.
- (Multi-tenant deployment architecture): tính mềm dẻo thường không liên quan đến
các nỗ lực phát triển phần mềm ban đầu và nó thường gây khó khăn cho các quản trị hệ
HVTH: CH1101063 10
Báo cáo chuyên đề - Tính Toán Lưới GVHD: PGS.TS. Nguyễn Phi Khứ
thống khi cài đặt phần mềm. Điều này có nghĩa là các gói phần mềm luôn đòi hỏi nhiều
vấn đề khác nhau. Với PaaS, tính mềm dẻo của ứng dụng và dữ liệu phải được hỗ trợ.
Minh họa cụ thể là: các vấn đề về load balancing, failover là những thành phần cần thiết
cho các phần mềm phát triển trên nền tảng.
- (Intergrated management):
- Tích hợp hệ thống tính cước (Integrated billing): PaaS cung cấp các cơ chế cho việc
tính cước dựa trên sử dụng, và đồng nhất với hệ thống tính cước của SaaS.
Do đó, để tiếp cận tốt với gói PaaS, những yêu cầu sau được các công ty, đặc biệt các
công ty cho thuê về PaaS, nêu ra với người sử dụng:
- Điều kiện 1: Có kiến thức tốt về lập trình phía máy chủ (back-end server
development). Ví dụ: có khả năng lập trình Java/J2EE, .NET, PHP, Ruby,…
- Điều kiện 2: Có kiến thức tốt về lập trình phía máy khách (front-end client
development). Ví dụ: có khả năng lập trình Dojo, Javascript,…
- Điều kiện 3: Có kiến thức về quản trị hệ thống website (web site administration).
Ngoài ra, thông thường, khi các công ty cung cấp dịch vụ PaaS, họ sẽ có những trang
tin hỏi đáp cụ thể. Ví dụ: trang tin hỏi đáp của Oracle về PaaS là: Oracle PaaS FAQ
Những lợi ích của PaaS
PaaS đem lại cho người sử dụng nhiều lợi ích về các mặt thời gian và kinh tế. Trước tiên
với lập trình viên, PaaS cung cấp sẵn các nền tảng để lập trình viên an tâm phát triển. Họ

không cần lo lắng về những bản vá lỗi của phần mềm, sự phức tạp trong việc setup một
hệ thống để lập trình, sự lo lắng khi tích hợp các gói khác nhau, và đến cả việc deploy
ứng dụng lên hệ thống cho người sử dụng. PaaS cung cấp một môi trường lập trình tối ưu
với nhiều công cụ hỗ trợ. Chi tiết hơn, các lợi ích của PaaS mang lại là:
- Chi phí về phần mềm (up front cost): là chi phí ban đầu cần thiết để sở hữu một phần
mềm. Đối với PaaS, chi phí ban đầu mua phần mềm được phân phối cho nhiều người
thuê. Do đó, người sử dụng không cần đầu tư nhiều về phần mềm, phần cứng, các thiết bị
mạng, các phần mềm và thiết bị trung gian (middleware), cơ sở hạ tầng.
- Chi phí vận hành phần mềm (operational cost): bao gồm các chi phí về nâng cấp phần
cứng và phần mềm, sự thích hợp của các gói. Với PaaS, những chi phí trên được giảm
thiếu hoặc người sử dụng chỉ chi trả trong thời gian dài thông qua hình thức sử dụng.
HVTH: CH1101063 11
Báo cáo chuyên đề - Tính Toán Lưới GVHD: PGS.TS. Nguyễn Phi Khứ
- Tính ổn định (reliability): PaaS cung cấp nhiều mức độ phát triển phần mềm khác nhau.
Mỗi mức độ đều có sự đảm bảo an toàn về thiết bị, và các cam kết theo các tiêu chuẩn sử
dụng thường trực.
- Chi phí quản lý (management cost): các hệ thống được hỗ trợ và do đó người sử dụng
không cần quan tâm nhiều đến việc cập nhật và bảo trì phần mềm nền.
- Mang lại lợi thế chiến lược (strategic advantage): PaaS cung cấp chính là chiến lược
phát triển dựa trên tiềm lực của từng doanh nghiệp.
- Giảm thiểu rủi ro (lower risk): việc đầu tư CNTT là một đầu tư có rủi ro cao về sự lạc
hậu của công nghệ phần cứng và phần mềm. Với PaaS, càng nhiều người sử dụng dịch vụ
chứng tỏ dịch vụ theo kịp thời đại.
Những hạn chế của PaaS
- Trở ngại về bảo mật (security): Vấn đề bảo mật và thông tin riêng tư - Security and
Privacy: hacker và nhiều người cố ý có thể xâm nhập vào hệ thống và truy xuất những dữ
liệu nhạy cảm bên trong hệ thống.
- Trở ngại về tính riêng tư (privacy): Các thông tin về người sử dụng như tuổi, sở
thích, giới tính, thu nhập có thể bị mất. Hơn thế nữa, người sử dụng các dịch vụ đối mặt
với những vấn đề về bản quyền và ý tưởng.

- Trở ngại về tính pháp lý: đối với các quốc gia như Việt Nam, những tranh chấp và
sự cố trong việc sử dụng các dịch vụ cloud computing đặt tại các nước khác là vấn đề liên
quan đến các pháp luật liên chính phủ và cần có những hành lang pháp lý ổn định
- Trở ngại khi chuyển đổi dịch vụ (hoặc chuyển sang sử dụng hệ thống cloud khác):
Người sử dụng dịch vụ cloud qua nhiều năm sẽ phải đối mặt với việc chuyển đổi hệ
thống. Do đó, việc chọn lựa hệ thống đầu tiên sử dụng sẽ là bài toán về đầu tư. Sự trở
ngại này đặc biệt đối với dịch vụ PaaS, khi đó, người sử dụng phải chọn các yếu tố như:
ngôn ngữ lập trình, các gói chương trình/phần mềm đã được lập trình. Một minh họa cụ
thể là: các gói chương trình của Facebook chỉ thực hiện được trên nền tảng Facebook mà
không thực hiện được trên nền tảng khác.
Các công ty tiêu biểu cung cấp PaaS
HVTH: CH1101063 12
Báo cáo chuyên đề - Tính Toán Lưới GVHD: PGS.TS. Nguyễn Phi Khứ
Đến năm 2012, trên thế giới có rất nhiều công ty cung cấp PaaS. Trong số đó, đa số
các nhà cung cấp đóng nhiều vai trò quan trọng khác trong lĩnh vực CNTT. Do đó, việc
phân loại các nhà cung cấp là điều không đơn giản. Trong một bài phân tích, 10 công ty
dưới đây được xem là nổi bậc nhất trong việc cung cấp PaaS trên toàn thế giới (2/1012):
Công ty: Amazon Web Services
Amazon được xây dựng các ứng dụng về PaaS, Amazon Web Service (AWS) Elastic
Beanstalk (hiện nay mới ở bản thử nghiệm), được xây dựng trên nền tảng vững chắc rất
nổi tiếng về nền tảng dịch vụ hạ tầng, đó là EC2. Hiện tại, Amazon cung cấp các plugins
như: AWS Toolkit for Eclipse (plug-in cho Eclipse), AWS CloudFormation (một dịch vụ
cho phép các nhà lập trình tạo và quản lý tài nguyên của Amazon), một vài tùy chọn về
CSDL trên nền tảng đám mây và SDKs cho Android và các máy di động Apple, ERuby,
Java, PHP và .Net.
Công ty: Salesforce.com
Thành công trên một nền tảng SaaS khổng lồ là động lực lớn để đưa dịch vụ đôi về
PaaS, đó là Force.com’s AppExchange và nền tảng Heruko (Heroku là một phần của
Salesforce.com từ năm 2010). Hiện nay, theo IDC, công ty đang ở vị trí đầu của thị
trường chia sẻ hàng đầu. Salesforce.com có những phát triển vượt bậc sau hội thảo

DreamForce vào mùa thu năm 2011, trong đó có tuyên bố trong năm 2011, 3000 ứng
dụng được xây dựng hoặc cài đặt cứ mỗi 24 giờ và nền tảng Force.com thực thi hơn 650
triệu giao tác mỗi ngày.
HVTH: CH1101063 13
Báo cáo chuyên đề - Tính Toán Lưới GVHD: PGS.TS. Nguyễn Phi Khứ
Công ty thứ 3: LongJump
LongJump “bước vào” lĩnh vực PaaS rất sớm, vào năm 2008. LongJump kiên trì thêm
các tính năng mới và hỗ trợ bằng cả một trung tâm về lập trình để thu hút khách hàng.
Theo các tài liệu, họ đang có 600 khách hàng tại thời điểm này (02/2012). Sự kiện lớn
nhất của Long Jump là trở thành “partner” của AT&T vào 11/2011.
Công ty: Microsoft
Nhiều lời đồn rằng Microsoft Azure PaaS 2 năm tuổi chưa “hấp dẫn” các công ty.
PaaS của Microsoft với môi trường tính toán cho các ứng dụng và lưu trữ bằng dữ liệu có
và không cấu trúc trên Windows Azure; còn Windows Azure AppFabric là nhóm dịch vụ
kết nối người sử dụng và các ứng dụng thuê, quản lý việc authentication, và cài đặt quản
lý dữ liệu, và cả SQL Azure – một dịch vụ CSDL trên cloud. Tuy nhiên, các nhà phân
tích cho rằng Microsoft chỉ “making noises” về những dịch vụ ít ỏi đem lại. Và các nhà
HVTH: CH1101063 14
Báo cáo chuyên đề - Tính Toán Lưới GVHD: PGS.TS. Nguyễn Phi Khứ
phân tích cũng nói rằng không thể ước đoán được sức mạnh của Microsoft với “lực lượng
quân sự” là các lập trình viên .Net đang chờ đợt một môi trường ĐTĐM cất cánh cho họ.
Công ty: IBM
IBM “nhảy” vào thị trường PaaS khá trễ so với các công ty khác, cung cấp
SmartCloud Application Services PaaS tháng 10/2011. Tuy nhiên, với “bề dày” trong lĩnh
vực liên quan đến các doanh nghiệp và nền tảng vững chãi WebSphere middleware, IBM
đã cho phép các doanh nghiệp xây dựng các ứng dụng trên nền tảng Java có thể thực thi
trên public cloud, và IBM đặt tên là IBM Smart Cloud Enterprise. Mục tiêu của IBM
nhằm đến là giữ khách hàng đối sử dụng hệ thống cũ dẫn lỗi cho khách hàng sử dụng
cloud.
Công ty: RedHat

Những người ưa thích Linux tụ hội lại “dưới ngọn cờ” của một mã nguồn mở về
PaaS, đó là RedHat’s OpenShift. Và những nhà quan sát đều chỉ trích bởi viễn cảnh các
ứng dụng khả chuyển có thể thực thi trên một nền hạ tầng với chi phí thấp và dễ dàng
thay thế bằng một gói khác mà không bị ảnh hưởng. Đó là lí do chính mà một hệ thống
HVTH: CH1101063 15
Báo cáo chuyên đề - Tính Toán Lưới GVHD: PGS.TS. Nguyễn Phi Khứ
lớn ecosystem RedHat có thể làm nên một OpenShift và đưa nhiều hữu ích đến với những
lập trình viên.
Công ty: Cloud Foundry
Cloud Foundry là một PaaS mã nguồn mở được giới thiệu đầu năm 2011 bởi công ty
Vmware. Trong tương lai, kế hoạch của công ty là xây dựng các sản phẩm thương mại.
Bằng khởi đầu với Red Hat, VMware thu hút các lập trình viên cần một nền tảng mở để
hỗ trợ họ xây dựng bằng ngôn ngữ họ mong muốn và thực thi trên IaaS mà họ thích.
Theo các thông tin chính thức từ công ty, dự án có được sự quan tâm đặc biệt vì hơn
2.100 lập trình viên theo dõi sự thay đổi mã nguồn mở một cách chủ động. Các nhà phân
tích dự đoán rằng AppFog, một PaaS khởi đầu trên nền tảng của mã CloudFoundry, được
sử dụng rộng rãi nên là một trong những sản phẩm thương mại của CloudFoundry.
Công ty: Google
HVTH: CH1101063 16
Báo cáo chuyên đề - Tính Toán Lưới GVHD: PGS.TS. Nguyễn Phi Khứ
Google tuyên bố đã có 200.000 lập trình viên xây dựng ứng dụng nền của App Engine
PaaS. Và ngày càng nhiều ứng dụng được công bố và chạy được trên nền tảng. Nhưng
Google chưa tỏ ra gặp vấn đề.
Công ty: CloudBees
CloudBees là công ty đầu tiên cung cấp dịch vụ PaaS trên nền tảng Java cho phép các
doanh nghiệp một phương thức dễ dàng để di chuyển các ứng dụng Java sẵn có vào trong
đám mây. RUN@cloud là ứng dụng loại “runtime side” trong câu chuyện về PaaS của
CloudBees. Nó cung cấp các ứng dụng có tính năng server cho web, Java và các ứng
dụng Spring. Khách hàng của CloudBees chọn tầng IaaS của chính họ hoặc trên các
private. Các ứng dụng chạy trên RUN@cloud có thể được xây dựng sử dụng các công cụ

phát triển Java EE truyền thống hoặc sử dụng trên hệ thống PaaS của CloudBeescó tên là
DEV@cloud. DEV@cloud là một môi trường trên nền tảng đám mây để phát triển, xây
dựng và kiểm lỗi. Sức mạnh của CloudBees nằm ở việc hiểu rõ giá trị của các mã code
Java hiện hữu trong các ứng dụng của các doanh nghiệp.
HVTH: CH1101063 17
Báo cáo chuyên đề - Tính Toán Lưới GVHD: PGS.TS. Nguyễn Phi Khứ
Công ty: Engine Yard
Engine Yard là một công ty dẫn đầu về PaaS cho các nhà phát triển PaaS players cho
Ruby trên Rails và PHP. Hai ngôn ngữ phát triển trên tạo ra các ứng dụng “cool” và “new
greenfield” thực thi trên nền ĐTĐM. Được thành lập từ năm 2006, Engine yard vẫn giữ
được các khách hàng như: Nike, AOL, Apple, Disney và MTV.
c. Software as a Service – SaaS
Đây là mô hình dịch vụ mà trong đó nhà cung cấp dịch vụ sẽ cung cấp cho khách
hàng một phần mềm dạng dịch vụ hoàn chỉnh. Khách hàng chỉ cần lựa chọn ứng dụng
phần mềm nào phù hợp với nhu cầu và chạy ứng dụng đó trên cơ sở hạ tầng Cloud. Mô
hình này giải phóng người dùng khỏi việc quản lý hệ thống, cơ sở hạ tầng, hệ điều
HVTH: CH1101063 18
Báo cáo chuyên đề - Tính Toán Lưới GVHD: PGS.TS. Nguyễn Phi Khứ
hành… tất cả sẽ do nhà cung cấp dịch vụ quản lý và kiểm soát để đảm bảo ứng dụng luôn
sẵn sàng và hoạt động ổn định.
SaaS cung cấp các ứng dụng hoàn chỉnh như một dịch vụ theo yêu cầu cho nhiều
khách hàng thông qua internet.
Trong SaaS cần 1 server đóng vai trò hosting quản lý ứng dụng. Server này có thể là 1
cloud hoặc một mainframe. Người dùng truy xuất ứng dụng này thông qua website. Như
vậy SaaS gồm 1 phần mềm được sở hữu, cài đặt và điều khiển từ xa so với các phần mềm
truyền thống được cài đặt trực tiếp trên máy người dùng.
Các yêu cầu khi triển khai SaaS là:
- Thiết kế SaaS đáp ứng được nhu cầu của rất nhiều người dùng, mỗi người dùng có
một yêu cầu khác nhau, không ai giống ai hết, nên việc xây dựng một ứng dụng SaaS rất
phức tạp.

- Khách hàng có thể cấu hình dịch vụ cho riêng mình, không cần phải chỉnh sửa các
module.
- Nhà phân phối phải kiểm tra, điều khiển toàn bộ hệ thống, cho nên phải đảm bảo
tính bảo mật, riêng tư cho từng khách hàng khác nhau. Đây cũng là một yêu cầu quan
trọng, hệ thống càng bảo mật, an toàn thì khách hàng càng an tâm khi sử dụng.
- Tối ưu hóa việc đăng ký, gồm miễn phí hoặc tính phí. Một yêu cầu đặt ra là phải có
một cơ chế tính phí thật hiệu quả, đem lại lợi nhuận cao nhất cho nhà cung cấp dịch vụ;
chi phí thấp nhất cho người sử dụng.
- Việc nâng cấp, sửa lỗi hoàn toàn trong suốt đối với khách hàng, khách hàng không
phải thực hiện các thao tác nâng cấp này mà hoàn toàn do nhà cung cấp dịch vụ làm. Việc
này tương đối đơn giản do mọi truy suất tù khách hàng đều thông qua web.
Như vậy điểm khác biệt lớn nhất của SaaS so với các phần mềm truyền thống là ở
khía cạnh cung cấp dịch vụ: SaaS = Softtware + Service
Những lợi ích của SaaS
Lợi ích khách hàng:
- Khách hàng không cần phải tốn chi phí mua các thiết bị phần cứng mắc tiền cũng
như mua bản quyền phần mềm. Khách hàng cần sử dụng tài nguyên nhiều thì thuê gói
dịch vụ nhiều, dùng ít thì thuê ít. Do đó sẽ tiết kiệm được một khoản chi phí rất lớn ban
đầu cho hệ thống cũng như chi phí vận hành hệ thống.
HVTH: CH1101063 19
Báo cáo chuyên đề - Tính Toán Lưới GVHD: PGS.TS. Nguyễn Phi Khứ
- Khách hàng cũng không phải lo vấn đề về bảo mật cũng như chống virus vì các việc
này đã do nhà cung cấp làm, nếu phát triển phần mềm riêng (in- house development) thì
khách hàng phải tự lo hết từ công đoạn phân tích, thiết kế, bảo trì …
- Khách hàng cũng không phải lo bảo trì phần mềm. Vì phần mềm được cài đặt trên
web và truy xuất thong qua trình duyệt nên có thể sử dụng bất cứ nơi nào, bất cứ thời
điểm nào.
Lợi ích nhà cung cấp dịch vụ:
- Nhà cung cấp dịch vụ không phải lo vấn đề vi phạm bản quyền vì chỉ có một phần
mềm duy nhất được cài đặt và quản lý từ xa, hacker không thể nào lấy cắp được.

- Nếu càng nhiều người sử dụng thì nhà cung cấp dịch vụ càng có thể kiếm được
nhiều tiền.
Những hạn chế của SaaS
- Đáp ứng nhu cầu của tất cả mọi người: để xây dựng được một ứng dụng có khả năng
đáp ứng được hết yêu cầu của mọi người là rất khó, mỗi cá nhân, công ty có một yêu cầu
khác nhau, không ai giống ai, nên việc thống nhất tất cả đòi hỏi nhà cung cấp dịch vụ
phải phân tích rất kỹ càng các nghiệp vụ trước khi triển khai SaaS.
- Nếu khách hàng đang sử dụng các phần mềm hiện có, với cơ sở dữ liệu khá lờn, dùng
trong một thời gian khá lâu thì sẽ rất khó để họ có thể chuyển qua dùng SaaS, ngay cả đối
với nhà cung cấp dịch vụ cũng sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc tích hợp hệ thống cũ
của khách hàng với dịch vụ mình cung cấp.
- Có một số ứng dụng gần như không thể chuyển qua SaaS, ví dụ như các ứng dụng
Business Intelligence, với khối lương dữ liệu rất lớn, không thể truyền tải qua mạng
internet được, với lại dữ liệu này cần phải bảo mật cao, nên rất khó để khách hàng đồng ý
đưa hết dữ liệu của mình lên internet.
- Bảo mật cũng là vấn đề lớn trong SaaS, nếu nhà cung cấp dịch vụ không có chính sách
bảo mật tốt thì khách hàng không thể tin tưởng để có thể giao dữ liệu của mình cho người
khác. Hiện tại thì các công ty lớn có lợi thế về vấn đề này hơn do thương hiệu của họ nổi
tiếng thế giới, được người dùng tin tưởng hơn. Ví dụ một số ông lớn như: Google,
Amazon, Microsoft, …
HVTH: CH1101063 20
Báo cáo chuyên đề - Tính Toán Lưới GVHD: PGS.TS. Nguyễn Phi Khứ
Các công ty tiêu biểu cung cấp SaaS
Hình dưới tổng hợp các công ty cung cấp dịch vụ Cloud Computing. Trong đó phần
lớn các công ty đều cung cấp Software as a Service.
2. Mô hình triển khai
a. Public Cloud
Các dịch vụ Cloud được nhà cung cấp dịch vụ cung cấp cho mọi người sử dụng rộng
rãi. Các dịch vụ cung cấp và quản lý bởi một nhà cung cấp dịch vụ và các ứng dụng của
người dùng đều nằm trên hệ thống Cloud

Người sử dụng dịch vụ sẽ được lợi là chi phí đầu tư thấp, giảm thiểu rủi ro do nhà
cung cấp dịch vụ đã gánh vác nhiệm vụ quản lý hệ thống, cơ sở hạ tầng, bảo mật…một
lợi ích của mô hình này nữa là cung cấp khả năng co giản theo yêu cầu của người sử
dụng.
Tuy nhiên Public Cloud có một trở ngại, đó là vấn đề mất kiểm soát về dữ liệu và vấn
đề an toàn dữ liệu. Trong mô hình này mọi dữ liệu đều nằm trên dịch vụ Cloud, do nhà cu
ng cấp dịch vụ Cloud đó bảo vệ và quản lý. Chính điều này khiến cho khách hàng, nhất là
các công ty lớn cảm thấy không an toàn đối với những dữ liệu quan trọng của mình khi s
ử dụng dịch vụ Cloud
HVTH: CH1101063 21
Báo cáo chuyên đề - Tính Toán Lưới GVHD: PGS.TS. Nguyễn Phi Khứ
b. Private Cloud
Trong mô hình Private Cloud, cơ sở hạ tầng và các dịch vụ được xây dụng để phục vụ
cho một tổ chức duy nhất. Điều này giúp cho doanh nghiệp có thể kiểm soát tối đa đối với dữ
liệu, bảo mật và chất lượng dịch vụ. Doanh nghiệp sở hữu cơ sở hạ tầng và các ứng dụng
được triển khai trên đó. Private Cloud có thể xây dựng và quản lý bởi chính đội ngũ IT của
doanh nghiệp hoặc có thể thuê một nhà cung cấp dịch vụ đảm nhiệm công việc này.
Như vậy, mặc dù tốn chi phí đầu tư nhưng Private Cloud lại cung cấp cho doanh nghiệp
khả năng kiểm soát và quản lý chặt chẽ những dữ liệu quan trọng.
c. Hybrid Cloud
HVTH: CH1101063 22
Báo cáo chuyên đề - Tính Toán Lưới GVHD: PGS.TS. Nguyễn Phi Khứ
Như chúng ta đã phân tích ở trên, Public Cloud dễ áp dụng, chi phí thấp nhưng không an
toàn. Ngược lại Public Cloud an toàn hơn nhưng tốn chi phí và khó áp dụng. Do đó nếu kết
hợp được 2 mô hình này lại với nhau thì sẽ khai thác được ưu điểm của từng mô hình. Đó
chính là ý tưởng hình thành mô hình Hybrid Cloud.
Hybrid Cloud là sự kết hợp của Public Cloud và Private Cloud. Trong đó doanh nghiệp sẽ
“Out- Source” các chức năng nghiệp vụ và giữ liệu không quan trọng, sử dụng các dịch vụ
Public Cloud để xử lý và giải quyết các dữ liệu này. Đồng thời, doanh nghiệp sẽ giữ lại các
chức năng nghiệp vụ và dữ liệu tối quan trọng trong tầm kiểm soát.

Một khó khăn khi sử dụng mô hình Hybrid Cloud là làm sao triển khai cùng một ứng
dụng trên cả hai phía Public và private Cloud sao cho ứng dụng có thể kết nối, trao đổi dữ
liệu để hoạt động một cách hiệu quả.
Chương III. Lợi ích và khó khăn của Cloud Computing
1. Tính sẵn sàng
Hiện nay, việc sử dụng các dịch vụ của cloud computing làm cho người sử dụng lo lắng
đến tính sẵn sàng của dịch vụ mà họ sử dụng. Nên đây là một lý do có thể làm cho người sử
dụng ngại sử dụng các dịch vụ của Cloud Computing. Nhưng hiện tại, những người sử dụng
dịch vụ của Cloud Computing có thể an tâm về chất lượng dịch vụ. Ví dụ như trong SaaS có
dịch vụ tìm kiếm của Google, hiện tại khi người dùng truy cập vào trang web sử dụng dịch
HVTH: CH1101063 23
Báo cáo chuyên đề - Tính Toán Lưới GVHD: PGS.TS. Nguyễn Phi Khứ
vụ tìm kiếm này thì có thể an tâm rằng mình luôn được đáp ứng nếu mình truy cập không
được thì có thể đó là vấn đề do kết nối đường truyền mạng.
Ngoài ra sự đe dọa đến tính sẵn sàng của dịch vụ còn nằm ở chổ, khi dịch vụ bị tấn
công bằng cách DDOS (distributed denial of service attacks).Với kiểu tấn công này làm cho
các nhà cung cấp dịch vụ tốn một khoảng tiền lớn để đối phó với cách tấn công này.
2. Data lock-in
Hiện nay các phần mềm đã được cải thiện khả năng tương tác giữa các nền tảng khác
nhau, nhưng các hàm API của Cloud Computing vẫn còn mang tính đôc quyền, chưa được
chuẩn hóa. Do đó khi một khách hàng viết một ứng dụng trên một nền tảng do một nhà cung
cấp dịch vụ thì ứng dụng đó sẽ chỉ được sử dụng trên các dịch vụ đó, nếu đem ứng dụng đó
qua một nền tảng khác do một nhà cung cấp dịch vụ khác cung cấp thì có thể không chạy
được. Điều này dẫn đến người sử dụng phụ thuộc vào nhà cung cấp dịch vụ. Ngoài ra nhà
cung cấp dịch vụ cũng sẽ tập trung hơn để phát triển dịch vụ của mình để phục vụ nhu cầu
người sử dụng tốt hơn.
Ngoài ra việc sử dụng các dịch vụ của cloud computing cũng gây ra một vấn đề, khi dữ
liệu của người sử dụng dịch vụ lưu trữ trên hệ thống của nhà cung cấp dịch vụ thì có điều gì
đảm bảo cho người sử dụng là dữ liệu của mình sẽ an toàn, không bị rò rỉ ra bên ngoài. Hiện
nay, về mặt kỹ thuật thì vẫn chưa có cách nào hiệu quả để giải quyết vấn đề trên. Điều này

dẫn đến việc thực hiện hay sử dụng thường xảy ra đối với các nhà cung cấp dịch vụ có tiếng,
uy tín.
Ví dụ: tháng 8 năm 2008 khi dịch vụ lưu trữ dữ liệu trực tuyến của Linkup bị hỏng, sau
khi phục hồi lại hệ thống thì phát hiện ra mất 45% dữ liệu của khách hàng. Sau sự cố này thì
uy tín và doanh thu của công ty hạ xuống. Khoãng 20.000 người dùng dịch vụ của Linkup đã
từ bỏ nhà cung cấp nay để tìm đến một nhà cung cấp dịch vụ mới. Và sau đó dịch vụ này
phải dựa trên một dịch vụ lưu trữ trực tuyến khác để tồn tại là Nirvanix, và hiện nay hai công
ty này đã kết hợp với nhau trong việc cung cấp dịch vụ lưu trữ trực tuyến.
Từ ví dụ trên ta thấy nếu các các nhà cung cấp dịch vụ có cơ chế chuẩn hóa các API thì
các nhà phát triển dịch vụ có thể triển khai dịch vụ trên nhiều nhà cung cấp dịch vụ, khi đó
một nhà cung cấp dịch vụ nào đó bị hỏng, thì dữ liệu của các nhà phát triển không mất hết
mà có thể nằm đâu đó trên các nhà cung cấp dịch vụ khác. Nếu như cách này được các nhà
HVTH: CH1101063 24
Báo cáo chuyên đề - Tính Toán Lưới GVHD: PGS.TS. Nguyễn Phi Khứ
cung cấp dịch vụ thể hiện thì sẽ dẫn đến cuộc cạnh tranh về giá của nhà cung cấp. Hai tham
số ảnh hưởng đến việc lựa chọn một dịch vụ lúc đó là:
Tham số thứ nhất là chất lượng dịch vụ tương xứng với giá mà người sử dụng trả cho
nhà cung cấp dịch vụ. Hiện nay có một số nhà cung cấp dịch vụ có giá cao gấp 10 lần so với
các nhà cung cấp khác, nhưng nếu nó có chất lượng tốt cộng thêm các tính năng hỗ trợ người
dùng như: tính dễ dùng, một số tính năng phụ khác…
Tham số thứ hai, ngoài việc giảm nhẹ data lock – in, thì việc chuẩn hóa các API sẽ dẫn
đến một mô hình mới: cơ sở hạ tầng cùng phần mềm có thể chạy trên private cloud hay
public cloud.
3. Bảo mật và kiểm tra dữ liệu
Khi đưa dữ liệu lên cloud thì một câu hỏi đặt ra là: dữ liệu của mình có an toàn không?
Do đó các dữ liệu nhạy cảm của các công ty thường không để lên cloud lưu trữ. Việc để dữ
liệu lên đó sẽ làm cho khả năng bị nhiều người khác truy xuất hơn. Và vấn đề này đang là
một thách thức thực sự đối với công nghệ hiện đại trong việc việc bảo mật dữ liệu.
Hiện nay có một giải phát là những người dùng dịch vụ Cloud phải mã hóa dữ liệu
trước khi đưa lên hệ thống cloud, và khi muốn sử dụng dữ liệu này thì phải thực hiện công

việc giải mã này ở máy local.
Ngoài ra, còn có thể thêm vào việc ghi nhận lại các thộng tin mà hệ thống đã làm, và sử
dụng các hệ điều hành ảo khi cung cấp dịch vụ IaaS sẽ làm cho ứng dụng của mình khó bị
tấn công hơn.
Việc bảo mật dữ liệu ngoài các vấn đề về kỹ thuật thì nó còn liên quan đến các vấn đề
khác như con người, các đạo luật… Việc sử dụng các luật bảo vệ người sử dụng dịch vụ
cloud khi họ đưa dữ liệu của mình lưu trữ trên Cloud, thì các nhà cung cấp dịch vụ phải bảo
đảm dữ liệu của khách hàng không bị rò rỉ ra bên ngoài.
Thêm vào đó các nhà cung cấp dịch vụ SaaS còn cung cấp cho người dùng cơ chế lựa
chọn vị trí mà người dùng muốn lưu trữ dữ liệu cũa mình. Ví dụ: Amazon cung cấp dịch S3,
khi sử dụng dịch vụ này người dùng có thể lưu trữ dữ liệu vật lý của mình ở châu Âu hay ở
Mỹ.
HVTH: CH1101063 25

×