Tải bản đầy đủ (.docx) (32 trang)

Đề tài môn học KINH TẾ PHÁT TRIỂN CĂN BỆNH HÀ LAN LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (631.31 KB, 32 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

Đề tài môn học: KINH TẾ PHÁT TRIỂN

CĂN BỆNH HÀ LAN
LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN
GVHD: PGS.TS Nguyễn Chí Hải
Nhóm sinh viên thực hiện:
Phan Hồi Bảo

K104010005

Phan Văn Hoành

K104010030

Bùi Thu Huyền

K104010036

Trần Văn Nhật

K104010061 (NT)

Mai Thiên Trang

K104010083

Lê Khánh Trung


K104010090

Thành phố Hồ Chí Minh tháng 4 năm 2013


Căn bệnh Hà Lan, lý thuyết và thực tiễn

LỜI NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
2



Căn bệnh Hà Lan, lý thuyết và thực tiễn

MỤC LỤC

3


Căn bệnh Hà Lan, lý thuyết và thực tiễn

DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Tổng cục thống kê Việt Nam.
2. Giáo trình Kinh tế phát triển, trường ĐHKTQD Hà Nội, chủ biên GS.TS Vũ Thị
Ngọc Phụng, NXB LĐXH 2005.
3. Từ điển mở Wikipedia.
4. Một số bài tiểu luận, đề tài của các nhóm nghiên cứu trước và một số bài viết trên
các báo vneconomy.com, vnexpress.vn, thời báo kinh tế sài gòn.

4


Căn bệnh Hà Lan, lý thuyết và thực tiễn

CHƯƠNG 0
TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trước thực trạng sự tăng trưởng và phát triển kinh tế khơng bền vững tại Việt Nam, kéo
theo đó là những hệ lụy của việc cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, khai thác tài
nguyên thiên nhiên quá mức và nền kinh tế còn lệ thuộc nhiều vào nước ngồi, Việt Nam

có thể nói rằng đã và đang đứng trước một vết xe đổ của các nước phát triển đi trước đó
là “căn bệnh Hà Lan”. Vậy liệu có hướng phát triển nào bền vững cho Việt Nam hay
không và làm thế nào để tránh được những vết xe đổ từ những bài học kinh nghiệm của
các nước phát triển đi trước. Đó là một câu hỏi lớn và cũng chính là lý do mà nhóm
nghiên cứu chúng tơi chọn và thực hiện đề tài này.

2. Mục đích nghiên cứu.
Trang bị cho những quý độc giả quan tâm những kiến thức cơ bản về căn bệnh Hà Lan và
những ảnh hưởng của căn bệnh Hà Lan trên thế giới: những đặc điểm, biểu hiện và ảnh
hưởng, hệ lụy của căn bệnh Hà Lan đến các quốc gia đang phát triển. Chỉ rõ ra rằng Việt
Nam có nguy cơ mắc căn bệnh Hà Lan hay là khơng, nếu có thì hướng khắc phục như thế
nào?

3. Phương pháp nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.
-

Phương pháp nghiên cứu:
• Phương pháp lịch sử: sử dụng những hiểu biết lịch sử về căn bệnh Hà Lan
cũng như thu thập những dữ liệu trong quá khứ để phục vụ cho việc thực hiện
nghiên cứu đề tài.
• Phương pháp logic: trong q trình nghiên cứu về căn bệnh Hà Lan, nhóm
nghiên cứu phân tích những cái bẫy “vết xe đổ” mà các nước đang phát triển
dễ mắc phải theo căn bênh Hà Lan và từ đó có cái nhìn tổng qt hơn nhằm đề
xuất được hướng giải quyết cho thực trạng tại Việt Nam.
5


Căn bệnh Hà Lan, lý thuyết và thực tiễn

• Phương pháp phân tích: Nhóm tập trung phân tích ngun nhân của căn bệnh

Hà Lan và ảnh hưởng của nó.
• Phương pháp tổng hợp: Thơng qua việc phân tích căn bệnh Hà Lan và ảnh
hưởng của nó đến các nước đang phát triển thì nhóm nghiên cứu đưa ra bài học
-

kinh nghiệm cho Việt Nam và đề xuất hướng giải pháp cho Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Nền kinh tế Việt Nam, Columbia, Anh quốc.

6


Căn bệnh Hà Lan, lý thuyết và thực tiễn

Chương 1
TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT CĂN BỆNH HÀ LAN

1. Định nghĩa.
1.1.

Đôi nét về đất nước Hà Lan.

Hà Lan có diện tích: 41.528 km2, hơn một phần tư lãnh thổ thấp dưới mực nước biển, có
nơi nằm thấp hơn mặt biển gần 7 mét, dân số hơn 16 triệu người trong đó 90% là người
Hà Lan. Hà Lan là một quốc gia ở châu Âu có nền kinh tế phát triển từ lâu đời và tốc độ
tăng trưởng GDP cao từ 5 đến 7%/năm; đất nước Hà Lan có một cơ cấu kinh tế rất hợp
lý, nền nông nghiệp của Hà Lan phát triển rất mạnh và là nước xuất khẩu hang nông
nghiệp lớn ở châu Âu với những mặt hàng nổi tiếng như bị sữa, sữa, hoa Tulip,… bên
cạnh đó nền công nghiệp của Hà Lan cũng rất phát triển đặc biệt là ở lĩnh vực cơ khí chế
tạo, Hà Lan nổi tiếng thế giới với thương hiệu Philips. Không chỉ dừng lại ở đó đất nước
Hà Lan cũng là đất nước du lịch rất nổi tiếng với những cơng trình kiến trúc và vẻ đẹp

kiệt tác của thiên nhiên, ngàng thủ công mỹ nghệ ở đây cũng khá phát triển.

1.2.

Lịch sử ra đời thuật ngữ “Căn bệnh Hà Lan”.

Vào những năm 1960, sau khi phát hiện một mỏ khí gas lớn ở vùng biển phía Bắc, Hà
Lan đã tập trung khai thác và xuất khẩu một lượng khí đốt lớn. Điều này đã mạng lại cho
nước này nguồn ngoại tệ khổng lồ và nền kinh tế Hà Lan giàu lên nhanh chóng.
Tuy nhiên, cũng chính nguồn ngoại tệ ấy đã đẩy giá đồng nội tệ của Hà Lan tăng cao, làm
giảm xuất khẩu và sức cạnh tranh của các ngành sản xuất khác trong nước. Để chỉ tình
trạng kinh tế đó ở Hà Lan, năm 1977, tạp chí Economist lần đầu tiên đưa ra thuật ngữ
“Căn bệnh Hà Lan”.

7


Căn bệnh Hà Lan, lý thuyết và thực tiễn

1.3.

Định nghĩa thuật ngữ “Căn bệnh Hà Lan”.

Có nhiều định nghĩa về căn bênh Hà Lan nhưng để hiểu đơn giản về căn bệnh này nhóm
nghiên cứu xin trích dẫn định nghĩa căn bệnh Hà Lan của PGS.TS Nguyễn Chí Hải,
trưởng khoa kinh tế, trường đại học Kinh Tế Luật, Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí
Minh.
Theo đó, căn bệnh Hà Lan là những hậu quả không mong muốn xuất phát từ việc sử dụng
và khai thác tài nguyên thiên nhiên khơng hợp lý làm trì trệ nền kinh tế và ảnh hưởng xấu
đến phát triển bền vững trong tương lại. Vậy vấn đề cốt lõi ở đây là tài nguyên thiên

nhiên.
Có thể thất rẳng “Căn bệnh Hà Lan” là thuật ngữ dùng để phản ánh tình trạng suy giảm
mạnh của khu vực sản xuất khi một quốc gia tập trung khai thác nguồn tài nguyên thiên
nhiên để xuất khẩu. Mở rộng ra, thuật ngữ này dùng để chỉ tình trạng giảm sút của nền
kinh tế do sự gia tăng dòng ngoại tệ nói chung như sự tăng nhanh giá tài nguyên thiên
nhiên xuất khẩu hay nguồn viện trợ từ nước ngoài, nguồn vốn FDI. Căn bệnh Hà Lan là
hiện tượng phổ biến thường xuyên xảy ra ở các quốc gia đang phát triển.
1.4.

Hoàn cảnh rơi vào căn bệnh Hà Lan.

Ba nguồn lực cơ bản tưởng chừng như chỉ mang lại cho quốc gia nguồn lực trù
phú như:
• Việc khám phá ra mỏ quặng quý.
• Việc tăng vọt giá xuất khẩu của một vài mặt hàng xuất khẩu sơ chế chủ lực.
• Dịng vốn đầu tư (FDI, ODA) đi vào trong nước dồi dào.
Chính những điều này đã mang lại các khoản thu nhập cao bất ngờ mà người ta
gọi là “của từ trên trời rơi xuống” (Winfall). Nếu nền kinh tế khơng kèm theo các chính
sách điều hành kinh tế hữu hiệu và sử dụng các nguồn lực kinh tế này một cách hiệu quả
thì rất dễ bị cuốn vào 2 tác động đặc trưng của Căn bệnh Hà Lan là: Tác động chi tiêu và
tác động lôi kéo nguồn lực.

8


Căn bệnh Hà Lan, lý thuyết và thực tiễn

1.5.

Nguyên nhân dẫn đến căn bệnh Hà Lan.


Có nhiều nguyên nhân dẫn đến căn bệnh Hà Lan nhưng nhóm nghiên cứu xin nêu ra 3
nguyên nhân chính như sau:
-

Do tỷ giá hối đoái của Hà Lan kém linh hoạt. Hà Lan tập trung vào việc khai thác
tài nguyên thiên nhiên để xuất khẩu làm cho lượng xuất khẩu tăng vọt chính vì vậy
lượng ngoại tệ đổ về Hà Lan nhiều, do tỷ giá hối đoái kém linh hoạt nên giá trị của
đồng tiền Hà Lan giảm hay nói cách khác là tỷ giá giảm làm cho giá các mặt hàng
xuất khẩu tăng lên trong khi giá các loại hang hóa nhập khẩu lại giảm sút chính

-

điều này đã tạo nên những bất lợi trong quá trình phát triển của Hà Lan.
Đầu tư lệch. Về cơ bản chúng ta có thể thấy rằng cơ cấu kinh tế của Hà Lan trong
giai đoạn mắc bệnh là không hợp lý, các khoản đầu tư chỉ tập trung vào lĩnh vực
khai khoáng tài nguyên thiên nhiên để xuất khẩu, đây chính là hiện tượng đầu tư

-

lệch làm cho suy giảm quá trình phát triển kinh tế Hà Lan.
Hiệu ứng tiêu dùng. Do việc xuất khẩu tăng mạnh nên chính phủ Hà Lan có được
nguồn thu lớn làm cho nguồn ngân sách tăng cao, chính phủ và người dân đều có
them những khoản thu nhập khổng lồ từ việc xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên nên
việc chi tiêu cũng diễn ra mạnh mẽ hơn trong khi đó giá các mặt hàn nhập khẩu
giảm cùng với tâm lý có tiền nên thích tiêu xài nhiều hơn làm tổng cầu gia tăng rất
mạnh tuy nhiên lượng tăng của tổng cung sản xuất trong nước không đáp ứng kịp,
điều này là mâu thuẫn rất lơn và ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế của Hà Lan trong
giai đoạn này.


1.6. Căn bệnh Hà Lan – căn bệnh chung của thế giới.

Có thể nói rằng căn bệnh Hà Lan xuất phát từ đất nước Hà Lan nhưng không phải là
chuyện của riêng Hà Lan mà hiện nay tất cả các quốc gia đã và đang dẫm vào vết xe đổ
của Hà Lan trước đó. Thực tế cho thấy căn bệnh Hà Lan đã lan ra diện rộng trên toàn thế
9


Căn bệnh Hà Lan, lý thuyết và thực tiễn

giới từ các quốc gia phát triển ở châu Âu, châu Mỹ đến châu Á, Phi và ảnh hưởng của nó
ngày càng trầm trọng hơn. Điển hình là các quốc gia như Anh quốc, Colombia, Nigieria,
… Khơng dừng lại ở đó, căn bệnh Hà Lan khơng chỉ bó hẹp phạm vi trong lĩnh vực dầu
mỏ mà còn mở rộng ra lĩnh vực khai thác tài nguyên thiên nhiên nói chung cũng như các
nguồn lực từ nước ngoài như FDI, ODA.

2. Giải pháp khắc phục Căn bệnh Hà Lan.
Về mặt khoa học chúng ta có thể thấy rằng muốn khắc phục được căn bệnh Hà Lan
thì các quốc gia cần giải quyết được tận gốc vấn đề, có nghĩa là đi giải quyết được từng
nguyên nhân gây ra căn bệnh Hà Lan. Vậy giải pháp chung trên lý thuyết cho tất cả các
quốc gia nên được áp dụng ở đây là:
-

Các quốc gia cần phải có chiến lược khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên hợp

-

lý.
Cần có chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt.
Tiết kiệm và hiệu quả trong trong sử dụng thu nhập từ tài nguyên thiên nhiên.

Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý tránh tình trạng quá nghiêng về 1 ngành khai

-

khống.
Ổn định mơi trường kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện tăng trưởng.
Sử dụng các nguồn lực một cách có hiệu quả.
Phát triển nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực quản lý, các nhà quản lý cần
có kiến thức về căn bệnh Hà Lan để từ đó ra chính sách một cách phù hợp và đúng
đắn.

3. Mơ hình và tác động của Căn bệnh Hà Lan.
3.1.

Mơ hình cổ điển.

3.1.1. Nội dung.

Mơ hình cổ điển của căn bệnh Hà Lan được công bố bởi 2 nhà Kinh tế học là
W.Max Corden và J.Peter Neary vào năm 1982. Mơ hình này dựa trên giả thuyết rằng nền
kinh tế quốc dân được chia ra làm 2 khu vực: Khu vực xuất khẩu và khu vực không xuất
khẩu. Trong đó khu vực xuất khẩu được chia ra làm 2 khu vực nhỏ
10


Căn bệnh Hà Lan, lý thuyết và thực tiễn

• Khu vực “bùng nổ”: Khu vực khai thác tài nguyên
• Khu vực “trì trệ”: Khu vực sản xuất
Các giả thiết khác là tổng lực lượng lao động không đổi, nền kinh tế trong trạng thái toàn

dụng lao động, và tỉ giá hối đoái danh nghĩa cố định.
=> W. Max Corden và J.Peter Neary gọi đây là hiệu ứng di chuyển nguồn lực của căn
bệnh Hà Lan.
2.1.2. Tác động.
Hiệu ứng di chuyển nguồn lực.
Khi các ngành khai thác tài nguyên bùng nổ, lượng cầu về lao động của khu vực này tăng
lên, lao động từ khu vực sản xuất sẽ chuyển sang khu vực khai thác này làm cho khu vực
sản xuất bị thiếu cung lao động và trở nên suy thoái. Q trình này được gọi là phi cơng
nghiệp hóa trực tiếp.
Sự phát triển mạnh mẽ của khu vực khai thác đã làm tăng thu nhập của người lao động
trong khu vực này. Nhu cầu tiêu dùng của họ vì thế cũng tăng lên. Đây là nguyên nhân
dẫn đến sự tăng trưởng mạnh mẽ của khu vực không xuất khẩu. Sự tăng trưởng này lại
kéo theo sự di chuyển nguồn lực từ khu vực sản xuất và khiến cho khu vực này ngày
càng trì trê hơn. Quá trình này được gọi là phi cơng nghiệp hóa gián tiếp.
Hiệu ứng tiêu dùng.
Theo lý thuyết của Migara, thị trường có 2 thành phần tham gia:
• Hàng phi ngoại thương (kí hiệu là N): Những loại hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong
nước chỉ phục vụ nhu cầu trong nước như dịch vụ, xây dựng…và khơng tham gia xuất
khẩu hay nhập khẩu.
• Hàng ngoại thương (kí hiệu là T): Những loại hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong
nước để phục vụ hoạt động xuất và nhập khẩu cũng như là cầu nội địa.
Hiệu ứng tiêu dùng xảy ra khi những người có thu nhập từ việc khia thác tài nguyên tăng
lên, lượng thu nhập này sẽ được chi cho cả 2 mặt hàng là mặt hàng ngoại thương và mặt
11


Căn bệnh Hà Lan, lý thuyết và thực tiễn

hàng phi ngoại thương. Nếu cầu của 2 mặt hàng phi ngoại thương so với thu nhập là co
dãn thì thu nhập tăng sẽ đẩy giá mặt hàng phi ngoại thương tăng. Khi giá mặt hàng phi

ngoại thương tăng nghĩa là đầu vào của mặt hàng ngoại thương cũng tăng theo như giá
của nguyên, nhiên liệu hay lương nhân công. Tuy nhiên giá của mặt hàng ngoại thương
lại cố định, do nó là những mặt hàng được giao dịch quốc tế và bị áp dụng nguyên tắc 1
giá. Do vậy, khhi chi phí sản xuất tăng, lợi nhuận của các nhà sản xuất hàng ngoại thương
sẽ bị giảm. Do đó, cầu mặt hàng ngoại thương tăng sẽ được thay thế bằng các mặt hàng
nhập khẩu. Khi tỉ giá danh nghĩa là cố định, thu nhập tăng nhưng sẽ không kéo theo giá
của mặt hàng xuất khẩu tăng theo. Khi đó, cầu tăng của mặt hàng không xuất khẩu sẽ làm
giá tăng và do đó mà tỉ giá hối đối thực tế tăng theo.
3.2.

Mơ hình 4 khu vực.

3.2.1. Nội dung.

Mơ hình 4 khu vực được nghiên cứu và bổ sung nhiều lần bởi nhiều kinh tế gia như
Krugman, Ohyama, Helpman… và cả World Bank, IMF.
Về cách phân chia nền kinh tế, mơ hình 4 khu vực cũng chia nền kinh tế thành khu vực
có sự bùng nổ và khu vực khơng có sự bùng nổ.
Điểm khác biệt là khu vực không xuất khẩu cũng được chia thành khu vực sản xuất hàng
tư bản và khu vực sản xuất hàng tiêu dùng. Bên cạnh đó, thay vì nghiên cứu nơng nghiệp
như một khu vực đơn nhất giống mơ hình 2 khu vực, mơ hình 4 khu vực xem khu vực
nông nghiệp gồm khu vực sản xuất nhằm xuất khẩu thu lợi nhuận và khu vực sản xuất
lương thực tiêu dùng trong nước thay vì một khu vực đơn nhất.
3.2.2. Tác động.

Hiệu ứng di chuyển nguồn lực.
Về cơ bản, mơ hình 4 khu vực cũng thừa nhận tác động di chuyển nguồn lực như mô hình
2 khu vực. Tuy nhiên, do có sự phân chia khu vực chi tiết hơn, mơ hình này phân tích các
tác đông chi tiết hơn.
12



Căn bệnh Hà Lan, lý thuyết và thực tiễn

Cụ thể, đối với khu vực nông nghiệp, hiệu ứng di chuyển nguồn lực chỉ ra rằng, do đồng
nội tệ tăng giá làm giảm sức cạnh tranh, khu vực sản xuất xuất khẩu thu lợi nhuận sẽ bị
thu hẹp lại trong lúc khu vực sản xuất hàng tiêu dùng trong nước lại có xu hướng mở
rộng hơn.
Hiệu ứng di chuyển nguồn lực cũng diễn ra tương tự như vậy trong khu vực công nghiệp.
Một số ngành sản xuất như sản xuất hàng tiêu dùng, sản xuất hàng tư bản… phục vụ cho
nhu cầu trong nước có xu hướng phát đạt hơn doi dịng ngoại tệ làm cầu tăng. Trong lúc
các ngành cơng nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu có dấu hiệu suy thối do mức độ cạnh
tranh giảm. Ngồi ra, mơ hình 4 nhân tố cũng chỉ ra rằng, các ngành sản xuất hàng tư bản
thường có mức tăng trưởng cao hơn các ngành hàng tiêu dùng, do dòng ngoại tệ thường
được ưu tiên cho việc đầu tư phát triển cơ sơ hạ tầng.
Hiệu ứng tiêu dùng.
Về hiệu ứng tiêu dùng, mô hình 4 khu vực khơng có nhiều khác biệt với mơ hình 2 khu
vực. Thu nhập cao hơn tạo xu hướng tiêu dùng cao hơn trong nước và do đó thúc đẩy các
ngành sản xuất cho tiêu dùng trong nước phát đạt hơn trong lúc nền kinh tế có nguy cơ
lạm phát.

13


Căn bệnh Hà Lan, lý thuyết và thực tiễn

CHƯƠNG 2
CĂN BỆNH HÀ LAN – BÀI HỌC TỪ CÁC NƯỚC

1. Columbia và Căn bệnh Hà Lan.

Cộng hoà Colombia (República de Colombia) là một quốc gia tại Nam Mỹ.
Colombia giáp Venezuela và Brazil về phía đơng; giáp Ecuador và Peru về phía nam;
giáp Đại Tây Dương phía bắc, qua Biển Caribbea; và phía tây giáp Panama và Thái Bình
Dương. Năm 2007, GDP Colombia đạt 149.869 tỷ dollar với các mặt hàng xuất khẩu
chính gồm hàng chế tạo (41.32% xuất khẩu), dầu mỏ (28.28%), than (13.17%), và cà phê
(6.25%)
Những năm 1970, sự mất màu cà phê ở Braxin vào đã châm ngòi cho sự tăng lên mạnh
mẽ của giá cà phê ở Columbia vào đầu những năm này, đồng thời làm cho lượng cà phê
xuất khẩu của quốc gia này tăng vọt.

Hình 2.1 Giá cà phê tại Colombia giai đoạn 1975-77 (Nguồn: IMF)

Qua biểu đồ chúng ta thấy rằng từ năm 1967-1975 giá cà phê là đã tăng vọt từ 80$ lên
gần 250$, đỉnh điểm là vào năm 1977, mức tăng hơn 300%, trung bình mỗi năm giá cà
phê tăng trên 40%.

14


Căn bệnh Hà Lan, lý thuyết và thực tiễn

Giá cao đã làm giá trị lượng cà phê xuất khẩu của Columbia đáng giá hơn trước rất nhiều.
Một dòng ngoại tệ mạnh ồ ạt đổ vào trong nước. Kết quả tỷ giá hối đoái (USD/peso) đã
tăng rất mạnh trong giai đoạn này. Nếu lấy năm 1970 làm mốc thì trong suốt giai đoạn từ
1971 đến 1983, tỷ giá hối đoái đã tăng gần 40%.

Hình 2.2 Đồ thị tỷ giá hối đối dollar/ peso giai đoạn 1967-1983 Nguồn: IMF
Sự gia tăng đột biến giá trị cafe đã làm ngành nông nghiệp nhiệt đới này phát triển mạnh
mẽ. Nếu như trong giai đoạn 1970-1975 tốc độ tăng trưởng của khu vực này chỉ khoảng
4%/năm thì trong giai đoạn 1976-1981 tốc độ này đã được nhân lên gấp 3 lần- khoảng

12%/năm.

Hình 2.3 Tình trạng “bùng nổ” ở khu vực sản xuất cà phê 1967-1983 (Nguồn: IMF)
Sự tăng trưởng vượt bậc trong xuất khẩu cafê nhanh chóng kéo theo sự tăng trưởng của
các khu vực hỗ trợ nó hay khu vực tiêu dùng thu nhập phát sinh từ nó bao gồm khu vực
xây dựng, khu vực cho thuê nhà và khu vực tiêu dùng của chính phủ

15


Căn bệnh Hà Lan, lý thuyết và thực tiễn

Hình 2.3 Sự tăng trưởng ở các ngành không xuất khẩu (non-tradable sector) giai đoạn
1967-1983 (Nguồn: IMF)
Và đây cũng là lúc căn bệnh Hà Lan lộ diện rõ ở nước này. Trong lúc các ngành
nontrable nở rộng hơn thì các ngành xuất khẩu truyền thống: như dệt may, luyện kim,
chế tạo máy khác bắt đầu thể hiện mức sụt giảm mạnh mẽ. Cụ thể,


Dệt may: giảm mạnh từ 5%/năm xuống -1%/năm, “khai tử” ngành dệt may
trong nước.



Làm giấy và in ấn: giảm từ 10% xuống cịn 5%/năm



Sản phẩm từ dầu: giảm từ 8 xuốngcịn 1




Hố chất và cao su: từ 10 xuống thấp hơn 4



Vận tải: giảm hơn 8 từ 13 xuống cịn 5



Máy móc và cơng cụ: giảm gần 5

Như vậy hầu hết các ngành đều giảm gần 50% tốc độ tăng trưởng so với giai đoạn ban
đầu.

16


Căn bệnh Hà Lan, lý thuyết và thực tiễn

Hình 2.4. Các ngành xuất khẩu truyền thống giai đoạn 1967-1983 (Nguồn: IMF)
Vậy chúng ta thấy rằng, sự tăng giá cafê kéo theo nguồn ngoại tệ ồ ạt đổ vào Columbia
đã tạo ra một kịch bản đúng như lý thuyết về căn bệnh Hà Lan ở một nền kinh tế đang
phát triển. Vậy các nước phát triển có thể mắc bệnh Hà Lan hay không?

2. Anh quốc và căn bệnh Hà Lan.
Anh là một trong những nền kinh tế lớn nhất thế giới, không những là một quốc gia công
nghiệp và mà cịn là một nước phát triển với thủ đơ Ln Đơn được coi là trung tâm tài
chính tồn cầu.
Thập niên 70, nước Anh xuất hiện với vai trò là một nước sản xuất dầu mỏ và đó cũng là

nguyên nhân giải thích cho những gì xảy vớinền kinh tế nước này trong 5 năm 19761981.
Đến giữa năm 1976, nước Anh chủ yếu là xuất khẩu dầu mỏ và đến năm 1980, Anh trở
thành nước xuất khẩu dầu mỏ với quy mơ lớn. Vì sự gia tăng đột biến về lượng dầu xuất
khẩu, cơ cấu hàng hóa cung của nước Anh có nhiều thay đổi lớn. Theo lý thuyết, cán cân

17


Căn bệnh Hà Lan, lý thuyết và thực tiễn

thương mại về các mặt hàng sản xuất sẽ di chuyển theo hướng ngược lại của cán cân
thương mại xuất khẩu dầu mỏ.
Lý do chính của việc này là nguồn ngoại tệ đổ vào ào ạt trong nước làm tỷ giá hối đoái
tăng mạnh, đẩy giá hàng nội địa cao hơn hàng nước ngồi rất nhiều và do đó mà người
tiêu dùng trong nước mua một tỷ lệ lớn hàng nước ngoài cũng như khách hàng nước
ngồi ít mua sản phẩm từ trong nước ra (nước Anh).
Biểu đồ sau thể hiện tỷ giá hối đoái của đồng Dollar (Mỹ) và Pound (Anh) và giá tương
đương của tồn bộ hàng hóa sản xuất của Anh so sánh với các nước công nghiệp khác
trong giai đoạn 1970-1983

Hình 2.5. Tỷ giá đồng bảng Anh và giá tương đương của tồn bộ hàng hóa sản xuất của
Anh so sánh với các nước công nghiệp khác trong giai đoạn 1970-1983 (Nguồn: IMF)
Bảng sau đây sẽ thể hiện hai cán cân thương mại hàng hóa tiêu dùng và dầu mỏ của Anh

18


Căn bệnh Hà Lan, lý thuyết và thực tiễn

Hình 2.6. Cán cân thương mại hàng hóa tiêu dùng và dầu mỏ của Anh giai đoạn

1970-1984 (Nguồn: IMF)
Cho đến năm 1973, nước Anh có lợi nhuận trong xuất khẩu các hàng hóa và thâm
hụt về dầu. Sự thâm hụt này càng tăng trong thời gian sau thì việc sản xuất hàng hóa khác
ở nước Anh càng được lợi nhuận. Chỉ đến 1976, khi Anh bắt đầu xuât khẩu dầu mỏ với
quy mơ lớn thì việc xuất khẩu dầu đã đem lại lợi nhuận rất lớn trong khoảng thời gian
này.
Nhưng đồng thời cầu hàng hóa nước Anh lại giảm mạnh, vì giá hàng hóa trong nước
tăng, và lợi nhuận mang về từ việc sản xuất dầu không đủ đền bù cho khoản thua lỗ, nên
trong quý 1 năm 1984 cũng có thâm hụt về hàng hóa bán ra từ nước Anh, tỷ lệ thâm hụt
này cũng gần bằng với lợi nhuận kiếm được từ việc sản xuất dầu.
Lý do chính của việc thâm hụt này không thể đổ lỗi riêng cho sự khủng hoảng của nền
kinh tế thế giới trong thời gian ấy, mà phần lớn là do sự thay đổi cơ cấu căn bản của nền
kinh tế Anh. Cuối cùng, việc xuất khẩu các hàng hóa sản xuất từ nước Anh tình hình
chung năm 1984 vẫn giống như năm 1976.
19


Căn bệnh Hà Lan, lý thuyết và thực tiễn

Tóm lại, nước Anh với sự phát hiện và xuất khẩu dầu mỏ ở vùng biển Bắc đã dẫn đến sự
suy thoái của các ngành sản xuất hàng tiêu dùng khác do giá không cạnh tranh cao. Và
điều này cho thấy căn bệnh Hà Lan có thể diễn ra ở bất cứ đâu, ngay cả ở một nền kinh tế
lớn như nước Anh. Do đó mà trong q trình phát triển và thu hút mạnh mẽ nguồn vốn
FDI đổ vào trong nước, các quốc gia thế giới thứ ba cần nghiên cứu và học hỏi để tránh
những tác động mạnh mẽ từ căn bệnh Hà Lan.

20


Căn bệnh Hà Lan, lý thuyết và thực tiễn


Chương 3
THỰC TẾ VIỆT NAM VÀ CĂN BỆNH HÀ LAN

1. Hiện trạng của Việt Nam.
Là nước nông nghiệp, Việt nam đã trải qua những bước thăng trầm của lịch sử, những
cuộc chiến tranh loạn lạc, đại đa số nông dân Việt nam phải sống cơ cực từ đời này sang
đời khác. Mọi chuyện đã bắt đầu thay đổi khi Việt nam thực hiện công cuộc đổi mới, mở
của nền kinh tế vào năm 1986. Sau gần 2 thập niên, đã có những tiến bộ thần kỳ, tỷ lệ hộ
đói nghèo từ gần 80% đã giảm còn 29% (theo chuẩn quốc tế), còn 12% (theo chuẩn quốc
gia). Với sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế - xã hội cùng với những thành tích
đã đạt được, sự kỳ vọng vào một đời sống sung túc và nền kinh tế phát triển bền vững là
điều không xa. Nhưng vấn đề không hề đơn giản khi tình trạng đơ thị hố đang xảy ra ồ
oạt, nhiều đô thị (nhất là hai vùng kinh tế trọng điểm xung quanh Hà Nội và Tp.Hồ Chí
Minh) được mở rộng. Đất nông nghiệp trở thành đất công nghiệp, đất đơ thị với mức giá
tăng chóng mặt. Những chuẩn mực đánh giá bị thay đổi, người ta không cịn đánh giá sự
khá giả, giàu có qua mức thu nhập hàng tháng, qua những vụ mùa mà thay vào đó là sở
hữu bao nhiêu mét vng, bao nhiêu lơ đất. Sản xuất, nhất là sản xuất nơng nghiệp ít
được chú trọng hơn. Thay vào đó, người ta dồn nguồn lực cho việc đầu cơ đất đai, bất
động sản, bong bóng bất động sản ngày càng to hơn và nguy cơ đóng băng thị trường bất
động sản rất có thể xảy ra. Nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khai thác ngày càng nhiều và
có nguy cơ cạn kiệt. Điều gì sẽ xảy ra nếu nguồn lực trời cho này của Việt Nam mất đi và
liệu có hướng đi nào mới cho việc tăng trưởng và phát triển kinh tế mà không gây thiệt
hại quá lớn về mặt môi trường và vẫn đảm bảo được nguồn tài nguyên để phục vụ cho
mai sau, đó vẫn đang là câu hỏi lớn và thách thức lớn cho các nhà kinh tế, nhà hoạch định
chính sách của Việt Nam hiện nay.

21



Căn bệnh Hà Lan, lý thuyết và thực tiễn

2. Những nguy cơ đối với Việt Nam.
Việt Nam trong hơn 20 năm từ “đổi mới”, dòng vốn ngoại tệ từ nước ngoài (đặc biệt là
đầu tư trực tiếp FDI và ODA) đổ vào ngày càng nhiều. Phải chăng đây là những dấu hiệu
đầu tiên của Căn bệnh Hà Lan hay chỉ là nguy cơ? Một trong những nguyên nhân gây ra
căn bệnh Hà Lan ở một số quốc gia là sự gia tăng ào ạt của dịng ngoại tệ (vốn) nước
ngồi vào một số khu vực kém bền vững (như khu vực khai thác khống sản).
Khi đó, những tác động của Căn bệnh Hà Lan sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế quốc
dân. Cụ thể, hiệu ứng chuyển nguồn lực sẽ gây nên sự di chuyển nguồn lao động từ khu
vực chế tạo (manufacturing sector) đến khu vực đang “bùng nổ” và hiệu ứng tiêu dùng sẽ
dẫn đến tình trạng suy giảm xuất khẩu, kém cạnh tranh của khu vực chế tạo và do đó mà
nền kinh tế suy thoái dầnThực tế cho thấy, những năm 1970, khi giá dầu trên thế giới
tăng vọt, Indonesia, một nước xuất khẩu dầu lớn đã không mắc phải căn bệnh này nhờ
biết dùng nguồn ngoại tệ thu được vào việc xây dựng hạ tầng và giáo dục 1. Như vậy,
không phải việc nguồn ngoại tệ vào nhiều hay ít mà chính việc sử dụng dòng ngoại tệ ấy
như thế nào mới quyết định việc một quốc gia có tránh được căn bệnh Hà Lan hay không.
2.1.

Nguy cơ từ hiện trạng thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại
Việt Nam
Hình 3.1: Tổng vốn đầu tư nước ngồi đăng ký qua các năm.
Đơn vị: tỷ USD (nguồn: )

Sau khi thơng qua luật đầu tư nước ngồi (1986), thời kỳ đầu tiên (1988-1996), dịng FDI
đổ vào Việt Nam trung bình hằng năm là 3.8 tỷ USD. Những năm 1997-1999, chịu ảnh
hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, nguồn FDI sụt giảm mạnh (giảm gần
50%), chỉ đạt 1.82 tỷ USD/năm. Sau giai đoạn phục hồi chậm (2000-2003: trung bình
1.98 tỷ USD/năm), kể từ năm 2004, nguồn FDI tăng lên liên tục với tốc độ cao
(2004:115.38%, 2006:75%, 2007: 99%, 2008: 215%). Riêng năm 2008, trong bối cảnh


1

22


Căn bệnh Hà Lan, lý thuyết và thực tiễn

kinh tế Việt Nam và thế giới đang gặp nhiều khó khăn, FDI lại đạt mức kỷ lục 64.011 tỷ
USD.
Hình 3.2: Tốc độ tăng FDI qua các năm (Nguồn: )
Tuy nhiên, vấn đề đáng lưu ý ở đây là phần lớn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là từ
các quốc gia (và vùng lãnh thổ) từ Châu Á như Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng
Công,… Việt Nam chưa thu hút được nhiều đầu tư từ các nước công nghiệp phát triển,
công nghệ nguồn. Các nước G8 chỉ chiếm 23.7% tổng vốn đầu tư tại Việt Nam 2. (Xem
bảng 3.2)

Bảng 3.2: 10 đối tác đầu tư FDI lớn vào Việt Nam tính đến tháng 12, 2012
(Nguồn: )
Về việc sử dụng vốn FDI, điều đáng lo ngại là hầu hết các nhà đầu tư đều tập trung vào
những ngành thâm dụng lao động, khai thác tài nguyên (dệt may, công nghiệp nặng, khai
thác khống) chứ khơng phải những ngành có hàm lượng khoa học kỹ thuật cao (Chíp
điện tử, màn hình LCD,…) hay xây dựng cơ sở hạ tầng, giáo dục.
Khi các ngành công nghiệp nặng được các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm, đầu tư, tạo
được nguồn lợi nhuận sẽ thu hút được một lượng lớn lao động từ các ngành sản xuất khác
2

23



Căn bệnh Hà Lan, lý thuyết và thực tiễn

qua. Điều này hiển nhiên sẽ làm thu hẹp sản xuất các ngành sản xuất còn lại của nền kinh
tế. Tỷ trọng ngành công nghiệp nặng ngày càng tăng lên trong khi các ngành sản xuất
khác (tất nhiên bao gồm cả các ngành sản xuất hiện đại) bị thu hẹp, kém phát triển.
Ngồi ra, cơng nhân khi tham gia vào các ngành sản xuất này sẽ khơng bị địi hỏi tay
nghề cao mà chỉ cần lao động đơn giản cùng với một mức lương hấp dẫn.Vì vậy, họ
khơng có động lực củng cố tay nghề, học tập khoa học kĩ thuật,…
Đồng thời, thế hệ lao động sau sẽ có xu hướng khơng đi học mà chỉ đi làm những nghề
đơn giản (như dệt may, thợ mỏ), khơng địi hỏi trình độ cao. Như vậy, tỉ lệ người có trình
độ cao trong xã hội sẽ giảm.
Từ những tác động trên, quá trình phi cơng nghiệp hóa tất yếu sẽ diễn ra. Khơng những
vậy, một khi tài nguyên cạn kiệt, nhân công rẻ không còn là lợi thế, những nhà đầu tư này
sẽ rút vốn về nước để lại phía sau một Việt Nam với nền công nghiệp vẫn lạc hậu và kém
phát triển. Khi ấy, Căn bệnh Hà Lan (phi cơng nghiệp hóa_deindustrialize) sẽ “bùng
phát”.

24


Căn bệnh Hà Lan, lý thuyết và thực tiễn

Bảng 3.2: Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2011 theo ngành của việt nam
(tính từ 01/01/2011 đến 20/11/2011)
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
2.2.

Nguy cơ từ hiện trạng thu hút và sử dụng nguồn viện trợ ODA tại Việt Nam.

Việt Nam là một trong những nước được nhận nhiều viện trợ ODA của các quốc gia phát

triển và các tổ chức như World Bank, ADB, IMF…Tính đến năm 2007, cộng đồng quốc
25


×