Tải bản đầy đủ (.doc) (36 trang)

ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG QUY ĐỊNH VỀ AN TOÀN VỐN (CAR) CỦA CÁC NHTM TẠI VIỆT NAM (2)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (612.67 KB, 36 trang )

1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

BÀI TIỂU LUẬN NHÓM
Môn: ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG NGÂN HÀNG
THEO CHUẨN MỰC QUỐC TẾ
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG QUY ĐỊNH VỀ
AN TOÀN VỐN (CAR) CỦA CÁC NHTM TẠI
VIỆT NAM
GVHD: Th.S NGUYỄN THỊ HAI HẰNG
Nhóm 27 MSSV
Đàm Minh Hoàng K094040549
Lưu Phước Tấn K094040595
Tiêu Hữu Thạnh K094041839
1
Lời mở đầu
Hệ thống tài chính là một trong những thành phần quan trọng, nếu không muốn nói là giữ
vai trò huyết mạch của bất kỳ một nền kinh tế nào trên thế giới. Nhờ có các hoạt động của hệ
thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác mà toàn bộ nền kinh tế được luân chuyển, vận
hành một cách thông suốt, thuận tiện. Nền kinh tế toàn cầu đang ngày càng phát triển, và hệ
thống tài chính cũng không ngừng tiến bộ, phát triển. Tuy nhiên, nó vẫn còn bộc lộ nhiều
vấn đề về khả năng đảm bảo an toàn trong các hoạt động tín dụng.
Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu kéo theo sự đổ vỡ của hàng loạt các định chế tài chính
vào năm 2008 đã gióng lên hồi chuông cảnh báo cho các ngân hàng VN trong việc thắt chặt
quản lý tín dụng, theo đó, cùng với quá trình hội nhập kinh tế thế giới ngày càng sâu sắc thì
việc áp dụng các chuẩn mực quốc tế để đánh giá quản lý an toàn hệ thống NHTM Việt Nam
càng trở nên có ý nghĩa hơn trong bối cảnh mức độ rủi ro trong hệ thống ngân hàng được
đánh giá là khá cao, khó lường trước các hậu quả xảy ra. Vì vậy, việc áp dụng và tuân thủ
việc đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) trên cơ sở hiệp ước Basel trở thành một vấn
đề cấp bách. Cho nên trong bài tiểu luận này chúng tôi sẽ cố gắng tìm hiểu và phân tích về


hệ số CAR và tiến trình đáp ứng các tiêu chuẩn về an toàn vốn của hệ thống NHTM Việt
Nam trong những năm gần đây.
I. Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích những ưu điểm và hạn chế của một số nội dung chính về tỷ lệ oan toàn vốn tối
(CAR) tại Việt Nam và mức độ đáp ứng so với Basel qua từng thời kỳ, từ đó thấy được tác
động của nó đến nền tài chính Việt Nam trong ngắn hạn cũng như dài hạn.
II. Phương pháp nghiên cứu
Bài tiểu luận sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính (phân tích, nhận xét tổng hợp từ
nhiều nguồn tài liệu sử dụng).
2
III. Đối tượng nghiên cứu
Thông tư số 13/2010/TT-NHNN và Thông tư số 19/2010/TT-NHNN (sửa đổi bổ sung một
số quy định trong Thông tư số 13/2010/TT-NHNN) do Ngân hàng ban hành quy định và các
chuẩn mực Quốc tế về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng.
IV. Phạm vi nghiên cứu
Hệ thống các tổ chức tín dụng ở Việt Nam, mà chủ yếu là hệ thống các ngân hàng thương
mại.
V. Tài liệu sử dụng
Thông tư số 13/2010/TT-NHNN và Thông tư số 19/2010/TT-NHNN do Ngân hàng Nhà
nước ban hành.
Thời báo Kinh tế Việt Nam (website www.vneconomy.vn)
Và một số tài liệu khác trên các website của các báo điện tử (được ghi chú rõ nguồn trong
những trích dẫn cụ thể).
Mutrap, Báo cáo “Chiến lược tổng thể phát triển ngành dịch vụ tới năm 2020 và tầm nhìn tới
2025”, 12/2009.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2011), Ðịnh hướng và giải pháp cơ cấu lại hệ thống ngân
hàng Việt Nam giai đoạn 2011 - 2015.

3
CHƯƠNG 1: TỈ LỆ AN TOÀN VỐN TỐI THIỂU (CAPITAL

ADEQUACY RATIO)
1.1 Tỉ lệ an toàn vốn (CAR)
1.1.1 Khái niệm
Tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu là một thước đo độ an toàn vốn của ngân hàng. Nó được tính
theo tỉ lệ phần trăm của tổng vốn cấp I và vốn cấp II so với tổng tài sản đã điều chỉnh rủi
ro của ngân hàng.
CAR = [(Vốn cấp I + Vốn cấp II) / (Tài sản đã điều chỉnh rủi ro)] * 100%
Tỉ lệ này thường được dùng để bảo vệ những người gửi tiền trước rủi ro của ngân hàng
và tăng tính ổn định cũng như hiệu quả của hệ thống tài chính toàn cầu. Bằng tỉ lệ này người
ta có thể xác định được khả năng của ngân hàng thanh toán các khoản nợ có thời hạn và đối
mặt với các loại rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành.
Hay nói cách khác, khi ngân hàng đảm bảo được tỉ lệ này tức là nó đã tự tạo ra một tấm
đệm chống lại những cú sốc về tài chính, vừa tự bảo vệ mình, vừa bảo vệ những người gửi
tiền.
Chính vì lý do trên, các nhà quản lý ngành ngân hàng các nước luôn xác định rõ và
giám sát các ngân hàng phải duy trì một tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu, ởViệt Nam tỉ lệ này hiện
đang là 8% (đã thay đổi lên Basel II), giống như chuẩn mực Basel mà các hệ thống ngân
hàng trên thế giới áp dụng phổ biến.
Khi tính toán tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu, người ta xét đến hai loại vốn: vốn cấp I(vốn
nòng cốt) và vốn cấp II(vốn bổ sung), trong đó vốn cấp I được coi là có độ tin cậy và an toàn
cao hơn. Ngoài yêu cầu đảm bảo cho CAR từ 8% trở lên, các ngân hàng còn phải đảm bảo
tổng vốn cấp II không được vượt quá 100% vốn cấp I.
4
1.1.1.1 Vốn cấp 1/vốn nòng cốt (Tier 1 capital/core capital)
Vốn cấp 1 là thước đo chủ yếu đánh giá sức mạnh, tiềm lực tài chính của một ngân
hàng từ quan điểm của cơ quan quản lý, được định nghĩa trong Basel.
Vốn cấp 1 bao gồm các loại nguồn lực tài chính có độ tin cậy cao nhất và có tính thanh
khoản tốt nhất, chủ yếu đề cập đến vốn cổ đông. Các ví dụ về vốn cấp 1 có thể kể đến: cổ
phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi không hoàn lại và không tích luỹ, lợi nhuận giữ lại. Theo
nghĩa này, vốn cấp 1 không hoàn toàn giống nhưng có liên quan mật thiết đến khái niệm vốn

cổ đông, đây là phần chính nhưng không phải tất cả vốn cấp 1.
Khái niệm chung là như vậy, tuy nhiên cơ quan quản lý hệ thống ngân hàng mỗi
nước, tuỳ theo ý mình lại có những qui định cụ thể riêng về những công cụ tài chính cụ thể
nào có thể được tính vào vốn cấp 1. Điều này hoàn toàn dễ hiểu khi mà khung pháp lý ở mỗi
hệ thống pháp luật lại khác nhau đôi chút.
Ở Việt Nam, theo Quyết Định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19 tháng 4 năm2005 của
Thống Đốc NHNN ban hành quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các
tổ chức tín dụng, vốn cấp 1 về cơ bản gồm:(i) vốn điều lệ, (ii) lợi nhuận không chia và (iii)
5
các quỹ dự trữ được lập trên cơ sở trích lập từ lợi nhuận của tổ chức tín dụng như quỹ dự trữ
bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính và quỹ đầu tư phát triển.
Về mặt lý thuyết, nguyên nhân để dự trữ vốn là nó giúp các ngân hàng phòng vệ trước
những rủi ro ngoài dự kiến. Khác với rủi ro ngoài dự kiến, rủi ro lường trước được
thường đã có một phần trích riêng để phòng ngừa.
Cụ thể hơn, vốn cấp 1 là một trong những thước đo tỉ lệ đủ vốn của Ngân hàng, đó là tỉ
lệ giữa vốn nòng cốt của ngân hàng với tổng tài sản có điều chỉnh rủi ro. Tài sản điều chỉnh
rủi ro là tổng tất cả các tài sản do ngân hàng nắm giữ được tính toán theo trọng số đối với rủi
ro tín dụng theo một công thức do cơ quan quản lý (thường là Ngân Hàng Trung Ương) đưa
ra. Hầu hết các ngân hàng Trung ương đều theo chuẩn BIS - Ngân hàng thanh toán quốc tế -
để đặt ra những trọng số này. Các tài sản như tiền mặt, tiền xu thường có trọng số rủi ro là 0,
trong khi các khoản vay không có bảo đảm có trọng số 100%.
Tỉ lệ an toàn vốn cấp 1 được tính theo công thức:
Tỉ lệ an toàn vốn cấp 1 = Vốn cấp 1 / Tổng tài sản điều chỉnh rủi ro
1.1.1.2 Vốn cấp 2 (tier 2 capital/supplementary capital)
Vốn cấp 2 là thước đo tiềm lực tài chính của một ngân hàng liên quan đến các dạng
nguồn lực tài chính có độ tin cậy ở hàng thứ hai (sau vốn cấp 1), xét từ quan điểm của cơ
quan quản lý ngành ngân hàng. Các dạng nguồn lực tài chính này được tiêu chuẩn hóa rất rõ
ràng trong Basel I và không có gì thay đổi trong Basel II.
So với vốn cấp 1, vốn cấp 2 được coi là có độ tin cậy, an toàn thấp hơn. Cơ quan quản
lý của hầu hết các quốc gia, kể cả ban thống đốc của FED, đều áp dụng tiêu chuẩn về vốn

này trong hệ thống pháp lý của mình.
Có một vài cách phân loại vốn cấp 2, nếu theo chuẩn Basel I, vốn cấp 2 bao gồm: lợi
nhuận chưa công bố, giá trị tài sản đánh giá lại, các khoản dự phòng rủi ro chung và các
công cụ lai giữa nợ và vốn, và các khoản nợ thứ cấp. Với cách phân loại này, trái phiếu
chuyển đổi cũng được xếp vào vốn cấp 2 vì nó chính là một dạng công cụ tài chính lai giữa
cổ phiếu và trái phiếu.
Tuy có vai trò và độ tin cậy thấp hơn vốn cấp 1, song vốn cấp 2 là một trong hai thành
6
tố quan trọng để đánh gia mức độ an toàn vốn của một ngân hàng.
1.2 Hiệp ước tín dụng quốc tế Basel
Uy ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking supervision -
BCBS) được thành lập vào năm 1974 bởi một nhóm các Ngân hàng Trung ương và cơ quan
giám sát của các nước phát triển (GIO) tại thành phố Basel, Thụy Sỹ nhằm tìm cách ngăn
chặn sự sụp đố hàng loạt của các ngân hàng vào thập kỷ 80.
Vào năm 1988, ủy ban đã quyết định giới thiệu hệ thống đo lường vốn mà nó được đề
cập như là Hiệp ước vốn Basel (the Basel Capital Accord) hay Basel I.
Đến ngày 26/6/2004, bàn Hiệp ước quốc tế về vốn Basel mới (Basel II) đã chính thức
được ban hành và có hiệu lực vào tháng 1/2007.
Và vào ngày 12-9-2010 các nhà quàn lý ngân hàng các nước thuộc ủy ban Basel về
giám sát ngân hàng đã đồng thuận một quy định mới có tính lịch sử về quản lý ngân hàng
nhằm xây dụng hệ thống tài chính toàn cầu ổn định hơn. Quy định mới, gọi là Hiệp định
Basel III. Tuy nhiên, để tránh gây áp lực lên công cuộc hồi phục kinh tế đang rất chập chờn
trên khắp thế giới, các nhà quàn lý ngân hàng đồng ý rằng việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ
được triển khai dần dần trong khoảng thời gian tám năm, chậm hơn một năm so với đề xuất
của Mỹ nhưng sớm hơn một năm so với đề xuất của Đức. Theo thỏa thuận này, một số thay
đổi sẽ được áp dụng ngay từ năm 2013, nhưng một số thay đổi khác sẽ chỉ có hiệu lực hoàn
toàn vào năm 2019.
1.2.1 Basel 1
Mục đích của Basel I: Củng cố sự ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng quốc tế;
thiết lập một hệ thống ngân hàng quốc tế thống nhất, bình đẳng nhằm giảm cạnh tranh không

lành mạnh giữa các ngân hàng quốc tế.
Tiêu chuẩn của Basel I:
Tỉ lệ vốn dựa trên rủi ro - "Tỉ lệ Cook": ti lệ này được phát triển bởi BCBS với mục
đích củng cố hệ thống ngân hàng quốc tế, đổi tượng ban đầu là những ngân hàng hoạt động
quốc tế, nhưng sau này đã được thực thi trên hơn 100 quốc gia. Theo tiêu chuẩn này, ngân
7
hàng phải giữ lại lượng vốn bằng ít nhất 8% của rổ tài sản, được tính toán theo nhiều
phương pháp khác nhau và phụ thuộc vào độ rủi ro của chúng.
Tỉ lệ an toàn vốn (CAR) = Vốn bắt buộc/ Tài sản tính theo độ rủi ro gia quyền (RWA)
Theo đó, ngân hàng có mức vốn tốt là ngân hàng có CAR > 10%, có mức vốn thích
hợp khi CAR > 8%, thiếu vốn khi CAR < 8%, thiếu vốn rõ rệt khi CAR < 6% và thiếu vốn
trầm trọng khi CAR < 2%.
Vốn cấp 1, cấp 2 và cấp 3: Thành tựu cơ bản cùa Basel I là đã đưa ra được định nghĩa
mang tính quốc tế chung nhất về vốn của ngân hàng và một cái gọi là tỷ lệ vốn an toàn của
ngân hàng.
Tiêu chuẩn này quy định: vốn cấp 1 > vốn cấp 2 + vốn cấp 3
Những thiếu sót của Basel I: Sau khi rủi ro tín dụng được thiết lập vào năm 1988, Ủy
ban Basel đã chuyển sự chú ý cùa họ sang rủi ro thị trường đề phản úng lại các hoạt động
kinh doanh chuyên hữu ngày càng tăng của các ngân hàng thương mại và đến năm 1996,
Basel I đã được sửa đổi với mục đích tính đến cả phí vốn đối với rủi ro thị trường.
Mặc dù vậy, Basel I vẫn có khá nhiều điểm hạn chế. Một trong những điếm hạn chế cơ
bản của Basel I là không đề cập đến một loại rủi ro đang ngày càng trở nên phức tạp với
mức độ ngày càng tăng lên, đó là rủi ro vận hành (không có yêu cầu vốn dự phòng rủi ro vận
hành). Ngoài ra, còn một số điểm hạn chế khác, như: không phân biệt theo loại rủi ro, không
có lợi ích từ việc đa dạng hóa
1.2.2 Basel II
Mục tiêu của Basel II: Nâng cao chất lượng và sự ổn định của hệ thống ngân hàng
quốc tế, tạo lập và duy trì một sân chơi bình đẳng cho các ngân hàng hoạt động trên bình
diện quốc tế, đẩy mạnh việc chấp nhận các thông lệ nghiêm ngặt hơn trong lĩnh vực quản lý
rủi ro.

Tiêu chuẩn của Basel 2: Basel II sử dụng khái niệm"Ba trụ cột":
Trụ cột thứ 1: liên quan tới việc duy trì vốn bắt buộc.
8
Trụ cột thứ 2: liên quan tới việc hoạch định chính sách ngân hàng, trì trên mức tối
thiểu.
Trụ cột thứ 3: Các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách thích đáng theo
nguyên tắc thị trường.
Do giới hạn trong phạm vi đề tài này nên chúng ta chỉ đề cập đến trụ cột thứ nhất –Các
yêu cầu vốn tối thiểu. Trên cơ sở kế thừa Basel I, trụ cột thứ nhất của Basel II cũng yêu cầu
CAR >= 8%. Ngoài ra, Basel II có những điểm mới so với Basel I:
- Thêm vào vốn cấp 3 (Short-term subordinated debt covering market) là các khoản
vay ngắn hạn.
- Bổ sung phương pháp đo lường rủi ro thị trường (phương pháp chuẩn hóa và
phương pháp mô hình nội bộ).
- Bên cạnh rủi ro tín dụng và rủi ro thị trường, Basel II bổ sung thêm rủi ro hoạt động
(rủi ro vận hành) với các phương pháp đo lường: phương pháp chỉ số cơ bản, phương pháp
chuẩn hóa, phương pháp nâng cao.
- Việc xác định hệ số rủi ro của tài sản có sự thay đổi: thay vì quy định hệ số rủi ro có
4 mức là 0%, 20%, 50%, 100% và ưu đãi hơn với các nước thuộc OECD, Basel II quy định
hệ số rủi ro có 5 mức là 0%, 20%, 50%, 100%, 150% và không còn đặc quyền nào với các
nước OECD. Bên cạnh đó, hệ số rủi ro không áp dụng cứng nhắc như quy định của Basel I
mà được chi tiết theo độ nhạy cảm rủi ro trong mỗi loại và phụ thuộc vào hệ số tín nhiệm
của các đối tượng.
- Ngoài ra, theo Basel II, mẫu số của công thức tính hệ số an toàn vốn CAR sẽ bao
gồm 2 phần: tổng tài sản đã điều chỉnh theo hệ số rủi ro tín dụng cộng với 12,5 lần tổng vốn
quy định cho dự phòng rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động. Chẳng hạn, tổng tài sản đã điều
chỉnh theo hệ số rủi ro tín dụng của một ngân hàng là 1000 USD, vốn quy định phòng ngừa
rủi ro thị trường là 10 USD, vốn quy định tối thiểu để phòng ngừa rủi ro tác nghiệp là 20
USD thì mẫu số để xác định tỷ lệ vốn tối thiểu sẽ là: 1000 + (10 + 20) x 12,5 = 1375 USD.
9

Điều đó có nghĩa là ngân hàng đó phải cần nhiều vốn tự có hơn để thoả mãn tỷ lệ tối thiểu
8%.
Tuy nhiên, cũng như Basel I, Basel II cũng không tránh khỏi những thiếu sót:
- Thêm vào vốn cấp 3 → Hệ lụy: nguyên nhân dẫn đến cuộc khoảng tài chính 2008-
2010.
- Đánh giá mức độ rủi ro dựa trên đánh giá mức độ tín nhiệm, tuy nhiên, các cơ quan
xếp hạng tín nhiệm chưa thực sự làm việc công tâm, chạy theo lợi nhuận → Tạo điều kiện
cho các tổ chức được đánh giá tín nhiệm tốt tăng cường thực hiện các khoản đầu tư mạo
hiểm → Rủi ro tăng lên.
- Các phương pháp giám sát, đánh giá rủi ro chung tính đến chu kỳ kinh doanh.
- Các quy định về vốn yêu cầu trung bình được quy định trong Basel II bị đánh giá là
khá thấp trong khi những ràng buộc để có cơ sở vốn chất lượng cao lại chưa được quy định
chặt chẽ.
Như vậy, quá trình phát triển của Basel II và những Hiệp ước mà tổ chức này đưa ra,
các ngân hàng thương mại càng ngày càng được yêu cầu hoạt động một cách minh bạch hơn,
đảm bảo vốn phòng ngừa cho nhiều loại rủi ro hơn và do vậy, hy vọng sẽ giảm thiểu được
rủi ro.
Ưu điểm của Basel II so với Basel I:
Về cấu trúc và nội dung: Basel I tập trung vào một giải pháp quản lý rủi ro duy nhất là
"yêu cầu vốn tối thiểu". Trong khi, Basel II tập trung nhiều hơn vào các phương pháp nội bộ
của chính ngân hàng, đánh giá hoạt động thanh tra, giám sát và kỷ luật trên nguyên tắc thị
trường. Do đó, quyền lực của các nhà quản lý quốc gia được tăng lên bởi họ cần phải đánh
giá sự đủ vốn của ngân hàng có tính đến đặc điểm rủi ro cụ thể của nó.
Về tính linh động của ứng dụng: Basel I quy định chung một chọn lựa cho tất cả các
ngân hàng. Basel II linh hoạt hơn với một danh sách các phương pháp, các biện pháp khuyến
khích để các nhà quản lý quốc gia và các ngân hàng chọn lựa.
10
Về tính nhạy cảm với rủi ro: Basel I đo đạc rủi ro quá sơ bộ. Basel II nhạy cảm hơn với
rủi ro thông qua độ nhạy cảm của yêu cầu vốn đối với mức độ rủi ro tăng lên và sự công
khai bắt buộc một cách chi tiết về độ nhạy cảm rủi ro và chính sách rủi ro.

Về trọng số rủi ro: Basel I quy định từ 0 - 100 và ưu đãi hơn với các nước thuộc Tổ
chức họp tác và phát triển kinh tế (OECD- Organisation for Economic Co-operation and
Development). Basel 2 quy định từ 0- 150 hoặc hơn và không có đặc quyền nào, bao gồm cả
phân cấp bên trong và bên ngoài.
Về kỹ thuật giảm rủi ro tín dụng: Basel I chỉ hỗ trợ và đảm bảo. Basel 2 thừa nhận về
kỹ thuật giảm thiểu rủi ro tốt hơn, đưa ra nhiều kỹ thuật hơn như hỗ trợ, đảm bảo, phái sinh
tín dụng, lập mạng lưới vị thế (position netting).
1.2.3 Basel III
Nội dung bao trùm của Basel III là:
- Nâng tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối thiểu (cổ phần phổ thông) từ 2% lên 4,5%.
- Nâng tỷ lệ vốn cấp 1 tối thiểu từ 4% lên 6%.
- Bổ sung phần vốn đệm dự phòng tài chính đảm bảo bằng vốn chủ sở hữu 2,5%.
- Tùy theo bối cảnh của mỗi quốc gia, một tỷ lệ vốn đệm phòng ngừa sự suy giảm
theo chu kỳ kinh tế có thể được thiết lập với tỷ lệ từ 0 - 2,5% và phải được đảm bảo bằng
vốn chủ sở hữu phổ thông (common equity). Phần vốn dự phòng này chỉ đòi hỏi trong
trường hợp có sự tăng trưởng tín dụng nóng, nguy cơ dẫn đến rủi ro cao trong hoạt động tín
dụng một cách có hệ thống.
Ngoài ra, Basel III còn đưa ra các biện pháp giám sát chặt chẽ các ngân hàng và nhằm
ngăn chặn việc lạm dụng chia thưởng, hoặc chia cổ tức cao trong bối cảnh tình trạng tài
chính và tỷ lệ an toàn vốn không đảm bảo. Basel III cũng đồng thời rà soát lại các tiêu chuẩn
(định nghĩa) vốn cấp 1, vốn cấp 2 và sẽ loại bỏ các khoản vốn không đủ tiêu chuẩn khi giám
sát chỉ tiêu an toàn vốn tối thiểu (Loại bỏ vốn cấp 3 ra khỏi định nghĩa vốn).
Như vậy, có thể thấy rằng, loại trừ khoản vốn đệm phòng ngừa rủi ro tài chính 2,5%,
tiêu chuẩn an toàn vốn tối thiểu không thay đổi (vẫn là 8%). Tuy nhiên, kết cấu của các loại
11
vốn đã có sự thay đổi đáng kể theo hướng tăng tỷ trọng vốn cấp 1, đồng thời tăng tỷ trọng
vốn chủ sở hữu phổ thông trong vốn cấp 1. Nếu tính đầy đủ cả 2 khoản vốn đệm dự phòng
suy giảm tài chính và dự phòng chống hiệu ứng chu kỳ kinh tế thì tỷ lệ vốn chủ sở hữu được
điều chỉnh tăng từ 2% (Basel II) tăng lên thành 9,5% (4,5% + 2,5% + 2,5%) ở Basel III. Nếu
loại trừ phần vốn đệm chống chu kỳ kinh tế 2,5% (không bắt buộc trong điều kiện bình

thường) thì mức tối thiểu vốn chủ sở hữu cũng phải đạt mức 7%. Bên cạnh đó, có thể một số
khoản trước đây được tính vào vốn chủ sở hữu nay phải bóc tách ra vì không đủ điều kiện
coi là vốn chủ sở hữu. Chẳng hạn, khoản vốn vượt quá giới hạn 15% đầu tư vào các tổ chức
tài chính khác, khoản vốn có nguồn gốc từ số thuế thu nhập lưu kỳ (hoãn lại) Vì thế, yêu
cầu nâng cao tỷ lệ vốn chủ sở hữu là bài toán không đơn giản đối với nhiều ngân hàng xét
trong bối cảnh kinh tế xã hội đang có nhiều biến động.
Hiệp định Basel III, buộc các ngân hàng có hoạt động quốc tế phải tăng tỷ lệ dự trữ bắt
buộc lên 7%, cao hơn nhiều lần so với tiêu chuẩn 2% hiện hành và cao hơn cả tỷ lệ 4% mà
các ngân hàng Mỹ áp dụng sau khi kiểm tra sức chịu đựng của ngân hàng vào năm 2009.
Các nhà quản lý tin rằng, tỷ lệ vốn dự trữ càng cao, ngân hàng càng ít bị rủi ro phá sản
hay sụp đổ và cũng ít rủi ro gây rối loạn cho toàn hệ thống.
Quy định này cũng được cho là sẽ giúp hệ thống ngân hàng toàn cầu được kết nối chặt
chẽ với nhau tránh tích tụ nợ và rủi ro quá mức từng làm đảo lộn thị trường tài chính Wall
Street và gây chấn động nền kinh tế thế giới vừa qua, buộc các chính phủ phải dùng tiền thuế
của người dân để cứu nguy các tổ chức tài chính.
Hiệp định Basel 3 ra đời có rất nhiều luồng quan điềm khác nhau. Không tán thành
Basel 3, một số nhà ngân hàng cho rằng, việc gia tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc có khá năng làm
giảm lợi nhuận của các ngân hàng, làm tăng chi phí vay vốn của khách hàng và do đó tín
dụng sẽ bị thu hẹp. Nhưng các nhà quản lý và chuyên gia tài chính không chấp nhận luận
điểm đó. Họ cho rằng, lịch sử cho thấy tỷ lệ dự trữ bắt buộc có rất ít tác động đến hoạt động
cho vay hoặc lãi suất của ngân hàng. Vả lại, lợi ích của việc siết chặt quy định nhằm tránh
được khủng hoảng tài chính sẽ lớn hơn nhiều so với sự sụt giảm tín dụng mà quy định mới
có thê gây ra. Mặc dù quy định mới liên quan tới nhiều phép tính phức tạp, nhiều sản phẩm
12
tài chính xa lạ, nhưng theo giới phân tích, nó sẽ có tác động lan tỏa tới mọi hoạt động tài
chính, mọi doanh nghiệp và người tiêu dùng khắp thế giới, chi phối các hoạt động cho vay
và thẻ tín dụng.
13
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG MỨC ĐỦ VỐN CỦA CÁC NHTM
VIỆT NAM TRÊN CƠ SỞ ĐỐI CHIẾU VỚI CHUẨN MỰC VIỆT

NAM VÀ CHUẨN MỰC QUỐC TẾ BASEL
2.1 Thực trạng mức đủ vốn của các NHTM Việt Nam trên cơ sở đối chiếu
với chuẩn mực Việt Nam
Xét trên góc độ quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tình hình thực hiện tỷ lệ
an toàn vốn tối thiểu của các ngân hàng Việt Nam có thể chia theo 3 giai đoạn như sau:
Giai đoạn thứ nhất: Áp dụng Quyết định 297/1999/QÐ-NHNN5 quy định về các tỷ lệ
đảm bảo an toàn trong hoạt động của NHTM. Thời kỳ này, khối NHTM Nhà nước không
đảm bảo được mức an toàn vốn tối thiểu. Tại thời điểm năm 2000, trước thực trạng tỷ lệ nợ
xấu quá cao, có nguy cơ dẫn đến sự phá sản của các NHTM Nhà nước, Chính phủ đã trực
tiếp cấp 12.000 tỷ đồng dưới dạng cấp trái phiếu đặc biệt thời với hạn 20 năm để tăng vốn tự
có cho 4 NHTM Nhà nước đưa tổng mức vốn tự có của khối này lên mức hơn 18.000 tỷ
VND, chiếm 51% vốn tự có của toàn hệ thống. (Xem Bảng 1)
Bảng 1: Vốn tự có và hệ số CAR (hệ số an toàn vốn) của các NHTM NN thời điểm
31/12/2005
Đvt: tỷ VNĐ
STT Tên ngân hàng Tổng TS có Vốn tự có CAR (%)
1 VCB
136.721 4.279 7,32
2 Vienbank
116.373 3.405 5,35
3 BIDV
121.404 3.971 5,51
4 Agribank
179.281 6.411 4,79
5 MHB
12.676 910 8,48
14
Do thị phần hoạt động của 5 NHTM trên chiếm đến 70-75%; vì vậy, có thể nói sự an
toàn trong hoạt động của nhóm ngân hàng này quyết định sự an toàn của toàn bộ hệ thống
NHTM Việt Nam. Tuy nhiên, xem xét Bảng 1, chúng ta có thể thấy hầu hết các NHTM NN

đều chưa đạt được yêu cầu về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8% (trừ MHB - Ngân hàng Phát
triển Nhà đồng bằng song Cửu Long). Nếu xét trên toàn bộ hệ thống ngân hàng có thể nhận
thấy, trong khi các NHTM NN gặp khó khăn trong việc đạt chuẩn an toàn vốn thì các
NHTMCP thời điểm này lại đảm bảo được mức an toàn vốn.
Bảng 2: Bảng tổng hợp vốn tự có của hệ thống NHTM đến 31/12/2005
Đvt: tỷ VND
Các định chế tài chính
Tổng nguồn vốn
Vốn tự có
CAR
Hê thống NHTM 872.062 44.03 5,5
NHTM Nhà nước 617.786 23.581 4,1
NHTMCP đô thị 156.14 11.198 8,0
NHTMCP nông thôn 3.043 667 24,0
NH liên doanh 13.192 1.522 12
Chi nhánh NH nước ngoài 81.899 7.059 9,2
Mặc dù các NHTM Việt Nam đã nỗ lực và hầu hết các NHTM cổ phần đều đạt được hệ số
an toàn vốn trên 8%, song nếu so sánh với cách tính hệ số an toàn của Basel II, tức là mẫu số
phải cộng thêm cả vốn dành cho rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động (RRHÐ) thì chắc chắn
rất ít NHTM Việt Nam giai đoạn này đạt được tỷ lệ an toàn vốn ở mức trên 8%.
Giai đoạn hai: Giai đoạn thực hiện Quyết định 457/2005/QÐ-NHNN quy định tỷ lệ an
toàn vốn tối thiểu 8%
Trong giai đoạn này, vốn tự có của các NHTM đã gia tăng nhanh chóng nhờ sự thuận
lợi của môi trường kinh doanh cũng như sự bùng nổ của thị trường chứng khoán thời kỳ
2006-2008. Nếu xem xét trên số liệu của các NHTM có quy mô hoạt động lớn trong Bảng 3
có thể nhận thấy nhiều NHTM đạt được yêu cầu về hệ số an toàn vốn 8%.
15
Bảng 3: Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của một số NHTM
Đvt: %
2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012

VCB 9.57 12.6 9.2 8.9 8.11 9 11.14 14.83
Agribank 0.41 4.9 7.2 7.9 4.86 6 8 9.49
Vie.nbank 6.07 5.18 11.62
12.02 8.06 8.02 10.57 10.33
BIDV 3.36 5.5 6.67 8.94 7.55 9.32 11.7
Techcombank 15.72 17.28 14.3 13.99 9.6 13.11 11.4 12.6
ACB
12.1 10.89 16.19 12.44 9.97 9 9.25 13
Bên cạnh đó, làn sóng chuyển đổi từ NHTMCP nông thôn sang NHTMCP đô thị trong
giai đoạn này đã khiến cho bức tranh toàn hệ thống ngân hàng về an toàn vốn tồn tại nhiều
gam màu xám. Nếu căn cứ theo Nghị định 141/2006/NÐ-CP (ngày 22/11/2006), thì đến cuối
năm 2010, các NHTMCP phải đạt mức vốn pháp định tối thiểu là 3.000 tỷ VND. Một số
ngân hàng đã thực hiện tăng mức vốn pháp định theo qui định để đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn
tối thiểu. Nhưng còn nhiều ngân hàng vẫn đang trong quá trình triển khai kế hoạch tăng vốn
pháp định. Do đó, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của toàn hệ thống ngân hàng có tăng lên, nhưng
vẫn chưa đảm bảo mức tăng theo tiêu chuẩn tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu. Vấn đề đáng lưu ý ở
giai đoạn này là do tác động của chính sách kích cầu cũng như việc thực hiện nới lỏng tiền tệ
của NHNN nên tín dụng tại các NHTM đã tăng đột biến. Ðiều này dẫn đến hệ lụy tổng tài
sản rủi ro của các NHTM tăng lên và kết quả là các NHTM trong nhóm trên đều có xu
hướng sụt giảm tỷ lệ an toàn vốn, trong đó, VCB đã tụt xuống gần mức an toàn tối thiểu 8%
trong năm 2009.
Giai đoạn 3: Thực hiện đảm bảo an toàn vốn tối thiểu 9% theo tinh thần của Thông tư
số 13/2010/TT-NHNN. Trong giai đoạn này, bức tranh về đảm bảo an toàn vốn là khá phức
tạp. Nếu nhìn vào mức tính toán cho toàn hệ thống, hệ thống NHTM Việt Nam đã đảm bảo
được hệ số an toàn vốn tối thiểu 9%.
16
Bảng 4: Tỷ lệ an toàn vốn của toàn ngành Ngân hàng năm 2010 - 2012
Đvt: %
Năm 2010 Năm 2011 Tháng 10
năm 2012

Tỷ lệ an toàn vốn 11.02% 11.92% 13.7%
Nguồn: UBGSTCQG
Tuy nhiên, tình hình đảm bảo an toàn vốn tối thiểu của các NHTM có xu hướng phân
nhóm rõ rệt. Trong các NHTM NN lớn, Agribank và Vietinbank vẫn không thể đạt được quy
định về mức an toàn vốn tối thiểu 9% trong năm 2010 và cho đến năm 2011, Agribank vẫn
chưa thực hiện được chỉ tiêu 9%. Ðiều này là đáng lo ngại nếu xét trên phương diện rủi ro hệ
thống.
Bảng 5: Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của một số NHTM năm 2010
Đvt: %
CAR VCB CTG ARG BIDV TCB STB ACB EAB
2010 9 8.02 6.09 9.32 13.11 10.32 10.4 10.84
Nguồn: báo cáo thường niên của các ngân
hàng
Ðối với khối NHTMCP, các ngân hàng quy mô lớn đều có xu thế đạt được yêu cầu mới
của NHNN về tỷ lệ an toàn vốn. Trái lại, các NHTMCP nhỏ thực sự gặp khó khăn trước yêu
cầu tăng vốn tự có nhằm đảm bảo an toàn. Cụ thể đến thời điểm 31/6/2011, tỷ lệ CAR của
nhiều các ngân hàng cổ phần như ACB, Sacombank, Eximbank, Techcombank, Ðông Á,
Quân đội… đã đạt trên 9% theo tinh thần của Thông tư số 13/2010/TT-NHNN. Trong khi
đó, đến tháng 11/2011, vẫn còn 5 NHTM cổ phần vi phạm tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu.

Nếu xem xét theo tinh thần Nghị định 141/NÐ-CP ngày 22/11/2006 của Chính phủ thì
tính đến thời điểm hết tháng 6 năm 2011, vẫn còn 15 NHTMCP (chiếm tỷ trọng 36,59%) có
vốn điều lệ dưới 3.000 tỷ đồng, chủ yếu ở khoảng 2.000 tỷ đồng. Như vậy, dù giãn tiến độ 1
17
năm nhưng một số ngân hàng nhỏ của Việt Nam vẫn không thể đạt được các quy định đảm
bảo mức vốn pháp định.
Như vậy, nếu xem xét về hình thức, các NHTM Việt Nam có thể đạt được các chuẩn
mực của Basel I với mức an toàn vốn tối thiểu 8%. Cho đến năm 2012 tỷ lệ của toàn hệ
thống nâng lên mức 13,7%. Đây là một mức cao so với quy định cụ thể 9% mà Ngân hàng
Nhà nước yêu cầu từ cuối năm 2010. Sự cải thiện của hệ số CAR cũng liên quan đến tín

dụng tăng trưởng thấp.
Đặc biệt là đến 2012 tất cả các thành viên đã đảm bảo yêu cầu vốn pháp định, một số
trường hợp đã tăng mạnh vốn điều lệ, điển hình như Vietcombank (sau khoảng hai năm chật
vật đảm bảo hệ số CAR). Tính đến 31/10/2012, quy mô vốn điều lệ của toàn hệ thống cũng
đã tăng đáng kể, tăng 9,59% so với cuối năm 2011.
2.2 Thực trạng mức đủ vốn của các NHTM Việt Nam trên cơ sở đối chiếu
với chuẩn quốc tế Basel II & III
Căn cứ theo các số liệu được công bố chính thức, hệ số an toàn vốn của toàn hệ thống
NHTM đạt ở mức trên 8% (theo Quyết định 457/2005/NHNN) và trên 9% (theo Thông tư
13/2010/TT-NHNN). Tuy nhiên, nếu căn cứ đúng những quy định của Ủy ban Basel về an
toàn vốn tối thiểu thì sự an toàn của hệ thống NHTM về vốn cần có những đánh giá lại.
18
Thứ nhất, đối với khối NHTMCP, giai đoạn từ năm 2008 đến nay, đã chứng kiến sự
mở rộng mạnh mẽ về quy mô tổng tài sản của hệ thống NHTM Việt Nam, đặc biệt là ở
nhóm NHTMCP với tốc độ tăng trưởng tổng tài sản trung bình vào khoảng 45%/năm. Tuy
nhiên, tốc độ tăng vốn tự có của nhóm NHTMCP lại không theo kịp tốc độ mở rộng tổng tài
sản. Ðiều đó dẫn đến hiện tượng hệ số an toàn vốn của nhóm ngân hàng này có xu thế giảm,
đặc biệt trong năm 2010 và 2011. Hơn thế, như khuyến nghị của Basel III, trong tình huống
hệ số an toàn vốn ổn định nhưng tỷ lệ đòn bẩy tăng cao cũng có thể báo hiệu những rủi ro
tiềm ẩn trong hệ thống NHTM. Ðối với khối NHTMCP, xu hướng hệ số đòn bẩy tài chính
cao có thể nhận thấy khá rõ. Trên đà tăng như hiện nay (hình 3), khả năng chống đỡ của
NHTMCP trước rủi ro là rất đáng lo ngại.
19
Bên cạnh đó, danh mục tài sản có của các NHTMCP trong giai đoạn 2010-2011 đang
có sự thay đổi đáng chú ý: tỷ trọng tiền gửi tại các NHTM và chứng khoán đầu tư tăng lên
đáng kể trong khi tỷ trọng tín dụng giảm xuống. Bên cạnh tác động khách quan từ nền kinh
tế và hạn mức tăng trưởng tín dụng 20%, việc NHNN yêu cầu các NHTM giảm tín dụng phi
sản xuất xuống còn 16% vào cuối năm 2011 có thể đã hạn chế năng lực mở rộng các khoản
cho vay đối với các ngân hàng này, đặc biệt là các NHTMCP nhỏ vốn có tỷ lệ dư nợ cho vay
kinh doanh bất động sản trên tổng dư nợ ở mức cao. Do thị trường bất động sản đang rơi vào

tình trạng trầm lắng, nhiều khoản vay đến hạn không trả được nợ ảnh hưởng tiêu cực tới
hoạt động kinh doanh của ngân hàng (ngân hàng buộc phải chuyển nhóm nợ và trích lập dự
phòng rủi ro, tình hình thanh khoản bị suy giảm). Tỷ lệ nợ xấu được NHNN công bố cho
toàn ngành Ngân hàng là 3,39%, tương đương với khoảng 20% mức vốn tự có. Tuy nhiên,
số liệu nợ xấu chưa phản ánh đúng thực chất rủi ro tín dụng của hệ thống ngân hàng Việt
Nam do tiêu chuẩn phân loại nợ cũng như công tác phân loại nợ của các ngân hàng còn
nhiều bất cập. Nếu như các ngân hàng phân loại nợ đúng theo chuẩn mực quốc tế và định giá
chính xác giá trị tài sản bảo đảm cho các khoản vay (53% là bất động sản) thì chi phí dự
phòng rủi ro sẽ tăng lên, và vốn tự có của hệ thống ngân hàng sẽ bị ăn mòn đáng kể. Phân
tích trên cho thấy mặc dù hệ số CAR của nhóm NHTMCP cao hơn mức quy định của
20
NHNN nhưng không đồng nghĩa với việc khả năng chống chịu rủi ro của các ngân hàng
được bảo đảm.
Thứ hai, đối với nhóm NHTMNN, những năm gần đây, các ngân hàng này đã tiến
hành IPO và phát hành cổ phiếu tăng vốn điều lệ, bán cổ phần cho các tổ chức nước ngoài
cũng như nhận được bổ sung vốn góp từ Chính phủ nên tỷ trọng vốn tự có trên tổng tài sản
đã tăng lên tương đối. Mặc dù vậy, hệ số CAR của một số ngân hàng trong một số thời kỳ
vẫn không đạt mức yêu cầu theo quy định tại Thông tư 13/2010/TT-NHNN. Ðặc biệt,
Agribank - ngân hàng có mức vốn điều lệ và tổng tài sản lớn nhất trong hệ thống ngân hàng
Việt Nam chỉ đạt mức 6,09% vào năm 2010. Chỉ cần đơn giản tính chênh lệch giữa vốn tự
có thực có của khối NHTMNN tại thời điểm tháng 9/2011 với vốn tự có theo quy định an
toàn vốn tối thiểu tại Thông tư 13/2010/TT-NHNN thì cần phải bổ sung một lượng vốn là
17.638,756 tỷ VND cho khối NHTMNN. Hơn thế, tỷ lệ đòn bẩy của khối này lại ở mức cao
hơn so với khối NHTMCP trong suốt giai đoạn từ 2008 đến nay. Ðặc biệt, như trên đã phân
tích, khối NHTMNN cho vay lại các NHTMCP với một lượng vốn khá lớn. Do đó, một khi
một trong những NHTMCP có vấn đề, hiệu ứng lan truyền rủi ro sẽ cao.
Thứ ba, xét trên khía cạnh toàn hệ thống, chỉ tiêu an toàn vốn của toàn bộ NHTM Việt
Nam đạt trên mức 9%. Tuy nhiên, điều này chưa thể hiện được mức đủ vốn của hệ thống
NHTM. Bởi thứ nhất, phần mẫu số theo quy định của Thông tư 13/2010/TT-NHNN mới chỉ
xác định rủi ro tín dụng chứ chưa tính đến rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động (rủi ro tác

nghiệp). Hơn thế, theo khuyến nghị của Basel III, cần nâng mức an toàn vốn tới 13% để bao
gồm cả rủi ro do biến động kinh tế vĩ mô (rủi ro có tính chu kỳ) và rủi ro chéo trong trường
hợp ngân hàng hoạt động theo mô hình tập đoàn tài chính. Nếu xét tình huống Việt Nam
trong năm 2011 thì cả hai vấn đề rủi ro có tính chu kỳ và rủi ro chéo cần được tính tới. Hơn
thế, khi đánh giá trong mối quan hệ với các NHTM trong khu vực, mức độ an toàn vốn của
các NHTM Việt Nam ở mức khá thấp.
21
Bảng 6: Hệ số an toàn vốn hệ thống các TCTD tại Việt Nam và một số quốc gia trên
thế giới
Quốc gia CAR
Việt Nam 11,85%
TCTD Việt Nam 11,13%
TCTD nước ngoài 28,58%
Trung Quốc 11,8%
Ấn Độ 13,6%
Indonesia 17,6%
Malaysia 16,4%
Pakistan 13,6%
Philippines 16,7%
Rõ ràng, khi kinh tế xuất hiện những bất ổn, các NHTM có thể gặp những khó khăn
hơn rất nhiều so với trong giai đoạn bình thường của nền kinh tế. Việc nâng cao mức an toàn
vốn tương tự như một “tấm đệm” giúp các NHTM chống các “cú sốc” từ môi trường kinh
doanh biến động.
22
CHƯƠNG 3. ĐÁNH GIÁ CÁC THÔNG TƯ CỦA NHNN QUY ĐỊNH
VỀ TỶ LỆ AN TOÀN VỐN ĐỐI VỚI NHTM TẠI VIỆT NAM
3.1 Sơ lược về hệ thống tài chính Việt Nam trước khi Thông tư 13 được
ban hành
Từ sau năm 1986, với sự mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế Việt Nam đã có
những chuyển biến tích cực. Song hành với sự phát triển của nền kinh tế, hệ thống tài chính,

một thành tố quan trọng của nền kinh tế, cũng có những đổi thay và tiến bộ theo xu hướng
tích cực. Những quy định, thể chế liên quan đến hoạt động tín dụng được ban hành phù hợp
với từng giai đoạn phát triển và ngày càng hoàn thiện, chặt chẽ hơn.
Ban đầu, hệ thống tài chính trong nước dường như được tự do hóa hoàn toàn, kể từ khi
hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VI năm 1987 cho phép “thực
hiện mạnh mẽ chính sách huy động vốn trong dân, trong các tổ chức kinh tế bằng nhiều hình
thức, nhiều kênh bảo đảm lợi ích của người gửi”(1). Tuy nhiên, chính vì sự thả nổi tự do với
sự thiếu vắng của các quy định về an toàn cho hệ thống tín dụng đã khiến hệ thống tín dụng
lúc bấy giờ hoạt động một cách thiếu an toàn và nhanh chóng sụp đổ.
Chính điều đó góp phần thúc đẩy sự ra đời của những văn bản pháp luật nhằm quy định
những chuẩn mực về đảm bảo an toàn trong hoạt động của các ngân hàng và các tổ chức tín
dụng. Những quy định đầu tiên được thể hiện trong Pháp lệnh ngân hàng do Hội đồng Nhà
nước ban hành ngày 23/05/1990. Do những quy định về đảm bảo an toàn theo các pháp lệnh
ngân hàng phần vì còn thô sơ, phần không được chế tài một cách nghiêm minh cộng với
những yếu tố khác làm cho Việt Nam gặp rắc rối với hệ thống ngân hàng lần thứ hai cùng
thời điểm với cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính năm 1997-1998 trong khu vực.
Sau những vấp váp ban đầu, các văn bản pháp luật sau đó ngày càng được điều chỉnh
và bổ sung theo hướng hoàn thiện dần. Nhận thấy tầm quan trọng của những chuẩn mực
quốc tế về an toàn tín dụng (Basel I), Ngân hàng Nhà nước đã nghiên cứu và áp dụng những
chuẩn mực đó vào Việt Nam kể từ khi Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật Các tổ chức tín
dụng được ban hành vào năm 1997.
23
Lần lượt các quy định tuân thủ chuẩn Basel I đã ra đời: Quyết định số 296/1999/QĐ-
NHNN ngày 25/08/1999 quy định về giới hạn cho vay đối với một khách hàng, Quyết định
số 297/1999/QĐ-NHNN ngày 25/08/1999 quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt
động của các tổ chức tín dụng, và một số văn bản khác.
Một trong những chuẩn mực quan trọng của Basel I được đưa vào là hệ số đủ vốn.
Theo Quyết định số 297/1999/QĐ-NHNN, tổ chức tín dụng (trừ chi nhánh ngân hàng nước
ngoài) phải duy trì tỷ lệ tối thiểu là 8% giữa vốn tự có và tổng tài sản “Có”, kể cả các cam
kết ngoại bảng, được điều chỉnh theo mức độ rủi ro. Trong đó, vốn tự có được tính ở đây chỉ

bao gồm vốn điều lệ và quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, mà theo Basel I thì, đó thực chất chỉ
mới là vốn cấp 1, một phần trong vốn tự có bên cạnh vốn cấp 2. Mức yêu cầu tỷ lệ tối thiểu
vốn cấp 1 trong Basel I chỉ là 4%. Do vậy, Quyết định số 297/1999/QĐ-NHNN đã vô hình
trung áp đặt mức an toàn vốn rất cao cho các ngân hàng. Vì thế, không có ngân hàng nào
đáp ứng được tiêu chuẩn đó.(3)
Những quy định còn bất cập và chưa phù hợp đó đã dần được Ngân hàng Nhà nước
điều chỉnh và sửa đổi. Ngày 19/04/2005, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết
định số 457/2005/QĐ-NHNN quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ
chức tín dụng. Những nội dung chưa hợp lý như quy định về vốn tự có trong Quyết định số
297/1999/QĐ-NHNN trước đây đã được sửa đổi cho phù hợp. Bên cạnh đó, trong Quyết
định này, Ngân hàng Nhà nước đã tách bạch giữa hoạt động của ngân hàng thương mại và
hoạt động của ngân hàng đầu tư. Chức năng chính của các ngân hàng thương mại là thanh
toán, huy động vốn và cấp tín dụng cho vay, còn hoạt động thuộc về lĩnh vực đầu tư, chứa
đựng nhiều rủi ro như kinh doanh chứng khoán thuộc về lĩnh vực của ngân hàng đầu tư. Sự
phân định này giúp hệ thống ngân hàng phần nào thêm tính an toàn và ổn định.
Ngày 22/11/2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 141/2006/NĐ-CP quy định về
danh mục mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng. Theo đó, vốn điều lệ tối thiểu các
ngân hàng được yêu cầu ở mức 3000 tỷ đồng. Quy định này cộng với hệ số an toàn vốn tối
thiểu 8% được quy định trong Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN nhằm siết chặt hơn hoạt
động tín dụng của các ngân hàng.
24
Tuy nhiên, trên thực tế, hệ thống tín dụng lại dần bộc lộ nhiều rủi ro, yếu kém trong
quá trình phát triển của nó theo đà hội nhập và phát triển kinh tế nước nhà.
Hệ thống ngân hàng mở rộng một cách nhanh chóng với một loạt các ngân hàng vừa và
nhỏ được thành lập, trong đó, rất nhiều ngân hàng có vốn điều lệ chưa đạt mức 3000 tỷ
đồng. Các hoạt động tín dụng phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ. Giữa các ngân hàng đã
xuất hiện sự cạnh tranh gay gắt về nguồn vốn huy động và cấp tín dụng cho vay.
Với uy tín có sẵn và mạng lưới chi nhánh rộng lớn, các ngân hàng lớn có lợi thế về mặt
huy động vốn, do đó, nguồn vốn huy động được là rất lớn, trong khi khả năng cho vay cũng
dừng ở một chừng mực nào đó, nên các ngân hàng này đã dư ra một lượng vốn khá lớn.

Ngược lại, các ngân hàng có quy mô nhỏ hay mới thành lập lại gặp nhiều khó khăn về vốn
huy động. Vì vậy, xuất hiện sự vay mượn của các ngân hàng này từ các ngân hàng lớn trên
thị trường liên ngân hàng. Sử dụng nguồn vốn này để cấp tín dụng cho vay đã tạo nên rủi ro
rất lớn trong thanh khoản cho các ngân hàng đó. Bởi vay liên ngân hàng với lãi suất rất thấp
thường chỉ để bù đắp những thiếu hụt tạm thời về mặt thanh khoản còn nguồn để cấp tín
dụng là từ nguồn vốn huy động từ các cá nhân và tổ chức.
Khi lạm phát ngày càng tăng cao, Ngân hàng Nhà nước thực chính sách thắt chặt tiền
tệ bằng những biện pháp như phát hành tín phiếu bắt buộc, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, điều
chỉnh lãi suất cơ bản, lãi suất tái chiết khấu, nhằm hạn chế cung tiền ra nền kinh tế thì nó
cũng nhanh chóng tác động lên tính thanh khoản của các ngân hàng, đặc biệt là các ngân
hàng nhỏ. Từ đó, rủi ro thanh khoản của các ngân hàng càng bộc lộ rõ nét.
Bên cạnh rủi ro thanh khoản, việc các ngân hàng thương mại tham gia tích cực vào các
hoạt động kinh doanh chứng khoán và bất động sản như cho vay để kinh doanh cổ phiếu,
mua bán bất động sản hay lấn sang một số nghiệp vụ khác thuộc lĩnh vực của ngân hàng đầu
tư đã tạo ra những rủi ro kinh doanh rất lớn cho các ngân hàng đó. Bởi, thị trường chứng
khoán, cũng như thị trường bất động sản Việt Nam vẫn còn đang trong giai đoạn hoàn thiện
dần với nhiều kẽ hở trong hành lang pháp lý đã chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn cho các nhà
đầu tư. Lợi nhuận có thể gặt hái từ những hoạt động kinh doanh này rất cao, và do đó, rủi ro
phát sinh từ chúng cũng rất lớn.

×