Viện sau Đại học Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
ĐỀ TÀI
Một số giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu của
Công ty TNHH Minh Hải
Nhóm 7 – Lớp bồi dưỡng sau đại học khóa 8
Lê Đức An
Dương Hà Việt Hoàng
Đàm Thị Hồng Phương
Nguyễn Bích Ngân
Lương Ngọc Tú
Tháng 9, 2011
Nhóm 07 – Lớp bồi dưỡng Sau đại học Khóa 08
1
ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP
LỚP BỒI DƯỠNG SAU ĐẠI HỌC – KHÓA 8
Viện sau Đại học Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
I.1. Khái niệm hoạt động xuất khẩu 6
I.1.1. Khái niệm 6
I.1.2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu 7
I.1.3. Các hình thức xuất khẩu chủ yếu 9
I.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu 12
1. Các nhân tố quốc tế 12
2. Các nhân tố quốc gia 13
3. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp 15
THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TY MINH HẢI 16
I.3. Giới thiệu Công ty TNHH Minh hải 16
I.4. Thực trạng hoạt động xuất khẩu của Công ty 17
I.5. Đánh giá về hoạt động xuất khẩu của Công ty. 17
I.5.1. Những kết quả đạt được trong hoạt động xuất khẩu của Công ty 17
I.5.2. Những mặt tồn tại và nguyên nhân 19
GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU CHO CTY MINH HẢI 21
I.6. Phương hướng hoạt động xuất khẩu của Minh hải trong thời gian
tới 21
I.7. Giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu của Cty Minh Hải 22
I.7.1. Xây dựng cơ cấu tổ chức 23
I.7.2. Quản lý thị trường và sản phẩm xuất khẩu 24
I.8. Nâng cao chất lượng, đa dạng hoá mẫu mã sản phẩm 28
I.9. Huy động và sử dụng vốn có hiệu quả 30
I.10. Hoàn thiện qui trình xuất khẩu 33
I.11. Áp dụng công nghệ cao – CNTT vào hoạt động xuất khẩu 34
I.12. Các giải pháp khác 40
I.13. Các kiến nghị (với bộ Công Thương, bộ NNg và PTNT…) 41
Nhóm 07 – Lớp bồi dưỡng Sau đại học Khóa 08
2
Viện sau Đại học Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
KẾT LUẬN 43
Nhóm 07 – Lớp bồi dưỡng Sau đại học Khóa 08
3
Viện sau Đại học Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế hợp tác và hội nhập không ngừng của nền kinh tế các nước
trong khu vực và trên thế giới hiện nay, Việt Nam đang phấn đấu để có thể
đứng vững và phát triển khi hiệp định mậu dịch tự do ASEAN có hiệu lực.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị
trường, hội nhập thương mại đang được hầu hết các quốc gia trên thế giới đón
nhận như một cơ hội phát triển kinh tế một cách có hiệu quả nhất và nhanh
chóng nhất, đồng thời còn không ít những thách thức khó khăn cần phải vượt
qua.
Hoà chung nỗ lực phấn đấu của cả nước, Công ty TNHH Gốm sứ Minh
Hải cũng cố gắng có những hoạt động thương mại quốc tế để từng bước mở
rộng thị trường xuất khẩu, tăng hiệu quả trong sản xuất kinh doanh và dần xây
dựng uy tín thương hiệu gốm sứ Minh Hải nói riêng và thương hiệu các sản
phẩm gốm của Việt Nam nói chung trên thị trường thế giới. Trong bối cảnh
hiện nay một nhà sản xuất lớn của làng gốm sứ Bát Tràng như Công ty TNHH
gốm sứ Minh Hải, việc tìm kiếm và xúc tiến các biện pháp đẩy mạnh công tác
xuất khẩu là một việc làm hết sức cần thiết và nếu được thực hiện tốt sẽ đem lại
lợi ích thiết thực đối với công ty.
Công ty TNHH gốm sứ Minh Hải là đơn vị sản xuất kinh doanh các sản
phẩm gốm sứ hàng đầu ở Việt Nam. Mặc dù là doanh nghiệp tư nhân nhưng
công ty là một trong những đơn vị chủ lực hàng đầu của làng gốm sứ Bát Tràng
về xuất khẩu các mặt hàng gốm sứ cho thị trường trong nước và quốc tế. Với
mục đích đẩy nhanh các hoạt động kinh doanh, công ty rất quan tâm đến công
tác xuất khẩu, coi đây là một trong những hoạt động chủ đạo liên quan chặt chẽ
đến sự thành công của công ty.
Vì những lý do trên nhóm chúng tôi mạnh dạn đi sâu nghiên cứu đề tài:
Nhóm 07 – Lớp bồi dưỡng Sau đại học Khóa 08
4
Viện sau Đại học Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
"Một số giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu của Công ty TNHH Gốm sứ
Minh Hải"
Đây là một đề tài với phạm vi nghiên cứu rộng về các mặt của hoạt động
xuất khẩu như thị trường xuất khẩu, sản phẩm xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu,
hiệu quả xuất khẩu…của Công ty gốm sứ Minh Hải trong giai đoạn (2005 -
2010).
Mục đích chủ yếu của đề tài là nhằm phân tích, đánh giá thực trạng hoạt
động xuất khẩu của Công ty gốm sứ Minh Hải. Từ đó tổng kết đánh giá những
mặt thành công và những mặt còn tồn tại cần khắc phục trong hoạt động xuất
khẩu. Đồng thời nêu lên một vài giải pháp, đề xuất kiến nghị nhằm góp phần
đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của Công ty gốm sứ Minh Hải.
Nội dung đề tài gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sơ lý luận chung về hoạt động xuất khẩu.
Chương II: Thực trạng kinh doanh xuất khẩu của Công ty TNHH gốm sứ
Minh Hải.
Chương III: Phương hướng và giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của
Công ty TNHH gốm sứ Minh Hải.
Sau đây là nội dung cụ thể của từng chương
Nhóm 07 – Lớp bồi dưỡng Sau đại học Khóa 08
5
Viện sau Đại học Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
CƠ SỞ LÝ LUẬN
I.1. Khái niệm hoạt động xuất khẩu
I.1.1. Khái niệm
1. Xuất khẩu
Xuất khẩu là hoạt động trao đổi hàng hoá và dịch vụ của một quốc gia với
phần còn lại của thế giới dưới hình thức mua bán thông qua quan hệ thị trường
nhằm mục đích khai thác lợi thế của quốc gia trong phân công lao động quốc
tế.
Hoạt động xuất khẩu là hình thức cơ bản của hoạt động ngoại thương, đã
xuất hiện từ rất lâu đời và ngày càng phát triển. Tuy hình thức đầu tiên chỉ là
hàng đổi hàng, song ngày nay hình thức xuất khẩu đã được thể hiện dưới nhiều
hình thức khác nhau.
2. Thúc đẩy xuất khẩu
Là các biện pháp nhằm đẩy mạnh các hoạt động bán hàng hoá và dịch vụ
cho các quốc gia khác trên thế giới và thu ngoại tệ hoặc trao đổi ngang giá.
Ngày nay các quốc gia trên thế giới dù là nước siêu cường hay nước đang
phát triển như Việt Nam thì việc thúc đẩy xuất khẩu vẫn là việc làm cần thiết.
Bởi một lý do hết sức đơn giản là thúc đẩy xuất khẩu đi đôi với tăng tổng sản
phẩm kinh tế quốc dân , tăng tiềm lực kinh tế, quân sự
Bởi vì thế hoạt động xuất khẩu nói chung và hoạt động thúc đẩy xuất khẩu
nói riêng là một việc làm hết sức có ý nghĩa trước mắt và lâu dài.
3. Mục tiêu của hoạt động thúc đẩy xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu đem lại nhiều bước tiến quan trọng trong việc phát
triển nền kinh tế của một quốc gia. Hoạt đông thúc đẩy xuất khẩu vì thế rất
quan trọng.Và mục tiêu của xuất khẩu là:
Nhóm 07 – Lớp bồi dưỡng Sau đại học Khóa 08
6
Viện sau Đại học Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
Qua công tác xuất khẩu hàng hoá đã đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn và quan
trọng cho đất nước đặc biệt có ý nghĩa quan trọng cho một quốc gia đang phát
triển như nước ta. Thúc đẩy xuất khẩu góp phần đáng kể vào việc làm cân bằng
cán cân ngoại thương và cán cân thanh toán, tăng mức dự trữ hối đoái, tăng
cường khả năng nhập khẩu máy móc thiết bị, hiện đại hoá hàng công nghiệp
xuất khẩu trên thế giới.
I.1.2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu
1. Đối với nền kinh tế thế giới
Xuất khẩu là một nội dung chính của hoạt động ngoại thương và là hoạt động
đầu tiên trong hoạt động thương mại quốc tế, xuất khẩu có vai trò đặc biệt quan
trọng trong quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia cũng như toàn thế giới.
Do những lý do khác nhau nên mỗi quốc gia đều có thế mạnh về lĩnh vực
này nhưng lại yếu ở lĩnh vực khác. Để có thể khai thác được lợi thế, giảm bất
lợi, tạo ra sự cân bằng trong quá trình sản xuất và tiêu dùng, các quốc gia phát
triển phải tiến hành trao đổi với nhau, mua những sản phẩm mà mình sản xuất
khó khăn, bán những sản phẩm mà việc sản xuất nó là có lợi thế . Tuy nhiên
hoạt đông xuất khẩu nhất thiết phải được diễn ra giữa những nước có lợi thế về
lĩnh vực này hay lĩnh vực khác. Một quốc gia thua thiệt về tất cả các lĩnh vực
tài nguyên thiên nhiên, nhân công tiềm năng kinh tế thông qua hoạt động xuất
khẩu cũng có điều kiện phát triển kinh tế nội địa.
Nói một cách khác, một quốc gia dù trong tình huống bất lợi vẫn tìm ra
điểm có lợi để khai thác. Bằng việc khai thác các lợi thế này, các quốc gia tập
trung vào sản xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế tương đối và nhập khẩu các
mặt hàng không có lợi thế tương đối. Sự chuyên môn hoá trong sản xuất này đã
làm cho mỗi quốc gia khai thác được lợi thế tương đối cuả mình một cách tốt
nhất để tiết kiệm nguồn nhân lực như vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên
trong quá trình sản xuất hàng hoá. Và vì vậy trên quy mô toàn thế giới thì tổng
sản phẩm cũng sẽ được gia tăng
2. Đối với nền kinh tế mỗi quốc gia
Nhóm 07 – Lớp bồi dưỡng Sau đại học Khóa 08
7
Viện sau Đại học Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
Xuất khẩu có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của
mỗi quốc gia cũng như toàn thế giới. Xuất khẩu là một trong những nhân tố cơ
bản để thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế quốc gia:
*Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp
hoá hiện đại hoá đất nước.
Trong thương mại quốc tế xuất khẩu không chỉ để thu ngoại tệ về mà
còn là với mục đích bảo đảm cho nhu cầu nhập khẩu hàng hoá dịch vụ khác
nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng, tăng trưởng nền kinh tế và tiến tới xuất siêu,
tích luỹ ngoại tệ.
*Hoạt động xuất khẩu phát huy được các lợi thế của đất nước
Để xuất khẩu được các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu phải lựa
chọn các mặt hàng có tổng chi phí nhỏ hơn giá trị trung bình trên thị trường
thế giới. Họ sẽ phải dựa vào những ngành hàng , những mặt hàng có lợi thế của
đất nước cả về tương đối và tuyệt đối. Hoạt động xuất khẩu thúc đẩy khai thác
có hiệu quả hơn vì khi xuất khẩu các doanh nghiệp xuất khẩu sẽ có ngoại tệ để
nhập máy móc, thiết bị tiên tiến đưa năng xuất lao động lên cao.
*Hoạt động xuất khẩu góp phần làm chuyển dịch cơ cấu sản xuất định
hướng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Dưới tác động của xuất khẩu, cơ cấu sản xuất và tiêu dùng của thế giới
đã đang và sẽ thay đổi mạnh mẽ. Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất
khẩu với sản xuất và sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế
Coi thị trường là mục tiêu để tổ chức sản xuất và xuất khẩu, quan điểm này
tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển.
Cách nhìn nhận khác cho rằng: chỉ xuất khẩu những hàng hoá thừa trong
tiêu dùng nội địa, khi nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển sản xuất về cơ
bản chưa đủ tiêu dùng. Nên chỉ chủ động chờ sự thừa ra của sản xuất thì xuất
khẩu chỉ bó hẹp trong một phạm vi hẹp và tăng trưởng chậm, do đó các ngành
sản xuất không có cơ hội phát triển.
*Xuất khẩu có tác động tích cực đối với việc giải quyết công ăn việc làm, cải
thiện đời sống nhân dân
Nhóm 07 – Lớp bồi dưỡng Sau đại học Khóa 08
8
Viện sau Đại học Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
Về ngắn hạn, để tập trung phát triển các ngành hàng xuất khẩu thì cần
phải thêm lao động, cần để xuất khẩu có hiệu quả thì cần tận dụng lợi thế lao
động nhiều, giá rẻ ở nước ta. Xuất khẩu tạo ra nguồn ngoại tệ để nhập khẩu
hàng hoá đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân.Tác động của xuất ảnh
hưởng rất nhiều đến các lĩnh vực của cuộc sống như tạo ra công việc ổn định,
tăng thu nhập
Như vậy có thể nói xuất khẩu tạo ra động lực cần thiết cho việc giải
quyết những vấn đề thiết yếu của nền kinh tế. Điều này nói lên tính khách quan
của tăng cường xuất khẩu trong quá trình phát triển kinh tế.
3. Đối với doanh nghiệp
Thông qua xuất khẩu các doanh nghiệp trong nước có cơ hội tham gia vào
cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả và chất lượng. Những yếu tố
đó đòi hỏi doanh nghiệp phải hình thành một cơ cấu phù hợp với thị trường.
Sản xuất hàng hoá đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới và hoàn
thiện công tác quản lý kinh doanh. Đồng thời có ngoại tệ để đầu tư lại quá trình
sản xuất không những cả về chiều rộng mà cả về chiều sâu.
Như vậy đứng trên bất kỳ góc độ nào ta cũng thấy sự thúc đẩy xuất khẩu là rất
quan trọng. Vì vậy thúc đẩy xuất khẩu là cần thiết và mang tính thực tiễn cao.
I.1.3. Các hình thức xuất khẩu chủ yếu
1. Xuất khẩu trực tiếp
Xuất khẩu trực tiếp là một hình thức xuất khẩu mà trong đó các nhà sản
xuất, công ty xí nghiệp và các nhà xuất khẩu, trực tiếp ký kết hợp đồng mua
bán trao đổi hàng hoá với các đối tác nước ngoài.
Hình thức này không qua một tổ chức trung gian nào, có thể trực tiếp gặp
nhau cùng bàn bạc thảo luận để đưa đến một hợp động hoặc không cần gặp
nhau trực tiếp mà thông qua thư chào hàng, thư điện tử , fax, điện thoại cũng
có thể tạo thành một hợp đồng mua bán kinh doanh thương mại quốc tế được ký
kết.
Nhóm 07 – Lớp bồi dưỡng Sau đại học Khóa 08
9
Viện sau Đại học Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
2. Xuất khẩu gián tiếp (uỷ thác)
Là một hình thức dịch vụ thương mại, theo đó doanh nghiệp ngoại thương
đứng ra với vai trò trung gian thực hiện xuất khẩu hàng hoá cho các đơn vị uỷ
thác . Xuất khẩu uỷ thác gồm 3 bên, bên uỷ thác xuất khẩu, bên nhận uỷ thác
xuất khẩu và bên nhập khẩu. Bên uỷ thác không được quyền thực hiện các điều
kiện về giao dịch mua bán hàng hoá, giá cả, phương thức thanh toán mà phải
thông qua bên thứ 3 - người nhận uỷ thác.
Xuất khẩu uỷ thác được áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp không
được phép kinh doanh xuất khẩu trực tiếp hoặc không có điều kiện xuất khẩu
trực tiếp, uỷ thác cho doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu làm đơn vị xuất khẩu
hàng hoá cho mình, bên nhận uỷ thác được nhận một khoản thù lao gọi là phí uỷ
thác.
3. Xuất khẩu gia công uỷ thác
Đây là hình thức kinh doanh mà trong đó có một đơn vị đứng ra nhập
nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho xí nghiệp gia công, sau đó thu hồi sản
phẩm để xuất khẩu cho nước ngoài. Đơn vị này được hưởng phí uỷ thác theo
thoả thuận với các xí nghiệp sản xuất.
4. Buôn bán đối lưu (xuất khẩu hàng đổi hàng)
Buôn bán đối lưu là một phương thức giao dịch trong đó xuất khẩu kết
hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua. Khối lượng
hàng hoá được trao đổi có giá trị tương đương. ở đây mục đích của xuất khẩu
không phải thu về một khoản ngoại tệ mà nhằm thu về một khối lượng hàng
hoá với giá trị tương đương. Tuy tiền tệ không được thanh toán trực tiếp nhưng
nó được làm vật ngang giá chung cho giao dịch này.
Lợi ích của buôn bán đối lưu là nhằm mục đích tránh được các rủi ro về
sự biến động của tỷ giá hối đoái trên thị trường ngoại hối .
Đồng thời có lời khi các bên không đủ ngoại tệ thanh toán cho lô hàng
nhập khẩu của mình. Thêm vào đó, đối với một quốc gia buôn bán đối lưu có
thể làm cân bằng hạn mục thường xuyên trong cán cân thanh toán quốc tế.
5. Xuất khẩu theo nghị định thư
Nhóm 07 – Lớp bồi dưỡng Sau đại học Khóa 08
10
Viện sau Đại học Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
Đây là hình thức mà doanh nghiệp xuất khẩu theo chỉ tiêu của nhà nước
giao cho để tiến hành xuất một hoặc một số mặt hàng nhất định cho chính phủ
nước ngoài trên cơ sở nghị định thư đã ký giữa hai Chính phủ.
6. Xuất khẩu tại chỗ
Đây là hình thức kinh doanh xuất khẩu mới đang có xu hướng phát triển
và phổ biến rộng rãi do ưu điểm của nó đem lại. Đặc điểm của loại hàng xuất
này là hàng hoá không cần phải vượt qua biên giới quốc gia mà khách hàng vẫn
có thể đàm phán trực tiếp với người mua mà chính người mua lại đến với nhà
xuất khẩu. Mặt khác, doanh nghiệp tránh được một số thủ tục rắc rối của hải
quan, không phải thuê phương tiện vận chuyển, mua bảo hiểm hàng hoá. Do
đó, giảm được một lượng chi phí khá lớn.
7. Gia công quốc tế
Gia công quốc tế là một hình thức kinh doanh, trong đó một bên nhập
nguồn nguyên liệu, bán thành phẩm (bên nhập gia công) của bên khác (bên đặt
gia công) để chế biến thành phẩm giao lại cho bên đặt gia công và qua đó thu
được phí gia công.
Hình thức xuất khẩu này chủ yếu được áp dụng trong các ngành sản xuất
sử dụng nhiều lao động và nguyên vật liệu như dệt may, giầy da…
8. Tái xuất khẩu
Tái xuất là sự tiếp tục xuất khẩu ra nước ngoài những mặt hàng trước đây
đã nhập khẩu với điều kiện hàng hoá phải nguyên dạng như lúc đầu nhập khẩu.
Hình thức này được áp dụng khi một doanh nghiệp không sản xuất được
hay sản xuất được nhưng với khối lượng ít, không đủ để xuất khẩu nên phải
nhập vào để sau đó tái xuất.
Hoạt động giao dịch tái xuất bao gồm hai hoạt động xuất khẩu và nhập
khẩu với mục đích thu về một khoản ngoại tệ lớn hơn lúc ban đầu bỏ ra. Các
bên tham gia gồm có: nước xuất khẩu, nước tái xuất khẩu và nước nhập khẩu.
9. Giao dịch tại sở giao dịch hàng hoá
Sở giao dịch hàng hoá là một thị trường đặc biệt, tại đó thông qua những
người môi giới do sở giao dịch chỉ định, người ta mua bán hàng hoá với khối
Nhóm 07 – Lớp bồi dưỡng Sau đại học Khóa 08
11
Viện sau Đại học Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
lượng lớn, có tính chất đồng loại và có phẩm chất có thể thay đổi được với
nhau.
Sở giao dịch hàng hoá thể hiện tập trung của quan hệ cung cầu về một
mặt hàng giao dịch trong một khu vực ở một thời điểm nhất định. Do đó giá cả
công bố tại sở giao dịch có thể xem như một tài liệu tham khảo trong việc xác
định giá quốc tế
I.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu
1. Các nhân tố quốc tế
Đây là các nhân tố nằm ngoài phạm vi điều khiển của quốc gia. Có ảnh
hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động xuất khâư của doanh nghiệp. Có
thể kể đến các nhân tố:
* Môi trường kinh tế
Tình hình phát triển kinh tế của thị trưòng xuất khẩu có ảnh hưởng tới
nhu cầu và khả năng thanh toán của khách hàng , do đó có ảnh hưởng đến hoạt
đông xuất khẩu của doanh nghiệp. Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển kinh
tế của thị trường xuất khẩu là tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thu nhập của
dân cư, tình hình lạm phát , tình hình lãi xuất.
*Môi trường luật pháp
Tình hình chính trị hợp tác quốc tế được biểu hiện ở xu thế hợp tác giữa
các quốc gia. Điều này sẽ dẫn đến sự hình thành các khối kinh tế, chính trị của
một nhóm các quốc gia do đó sẽ ảnh hưởng đến tình hình thị trường xuất khẩu
của doanh nghiệp.
*Môi trường văn hoá xã hội
Đặc điểm và sự thay đổi của văn hoá - xã hội của thị trường xuất khẩu có
ảnh hưởng lớn đến nhu cầu của khách hàng, do đó ảnh hưởng đến các quyết
định mua hàng của khách hàng và ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của
doanh nghệp.
*Môi trường cạnh tranh
Nhóm 07 – Lớp bồi dưỡng Sau đại học Khóa 08
12
Viện sau Đại học Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
Mức độ cạnh tranh quốc tế biểu hiện ở sức ép từ phía các doanh nghiệp,
các công ty quốc tế đối với doanh nghiệp, khi cùng tham gia vào một thị
trường xuất khẩu nhất định. Sức ép ngày càng lớn thì ngày càng khó khăn cho
doanh nghiệp muốn thâm nhập, duy trì, mở rộng thị trường xuất khẩu cho
mình.
2. Các nhân tố quốc gia
Đây là các nhân tố ảnh hưởng bên trong đất nước nhưng ngoài sự kiểm
soát của doanh nghiệp. Các nhân tố đó bao gồm:
*Nguồn lực trong nước
Một nước có nguồn lực dồi dào là điều kện thuận lợi để doanh nghiệp
trong nước có điều kiện phát triển xúc tiến các mặt hàng có sử dụng sức lao
động. Về mặt ngắn hạn, nguồn lực đuợc xem là không biến đổi vì vậy chúng ít
tác động đến sự biến động của xuất khẩu. Nước ta nguồn nhân lực dồi dào, giá
nhân công rẻ là điều kiện thuận lợi để xuất khẩu các sản phẩm sử dụng nhiều
lao động như hàng thủ công mỹ nghệ, may mặc giầy dép
*Nhân tố công nghệ
Ngày nay khoa học công nghệ tác động đến tất cả các lĩnh vực kinh tế xã
hội, và mang lại nhiều lợi ích , trong xuất khẩu cũng mang lại nhiều kết quả
cao. Nhờ sự phát triển của bưu chính viễn thông, các doanh nghiệp ngoại
thương có thể đàm phán với các bạn hàng qua điện thoại , fax giảm bớt chi
phí, rút ngắn thời gian. Giúp các nhà kinh doanh nắm bắt các thông tin chính
xác,kịp thời .Yếu tố công nghệ cũng tác động đến quá trình sản xuất, gia công
chế biến hàng hoá xuất khẩu. Khoa học công nghệ còn tác động tới lĩnh vực
vận tải hàng hoá xuất khẩu, kỹ thuật nghiệp vụ trong ngân hàng
*Cơ sở hạ tầng
Đây là yếu tố không thể thiếu nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu. Cơ sở
hạ tầng gồm : đường xá, bến bãi hệ thống vận tải , hệ thống thông tin,hệ thống
ngân hàng có ảnh hưởng lớn tới hoạt động xuất khẩu nó thúc đẩy hoặc kìm
hãm hoạt động xuất khẩu.
Nhóm 07 – Lớp bồi dưỡng Sau đại học Khóa 08
13
Viện sau Đại học Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
*Hệ thống chính trị pháp luật của nhà nước
Nhân tố này không chỉ tác động đến hoạt động xuất khẩu của doanh
nghiệp ở hiện tại mà cón ảnh hưởng trong tương lai. Vì vậy doanh nghiệp phải
tuân theo và hưởng ứng nó ở hiện tại, mặt khác doanh nghệp phải có kế hoạch
trong tương lai cho phù hợp.
Các doanh ngiệp ngoại thương khi tham gia hoạt động xuất khẩu cần nhận
biết và tuân theo các quy định của pháp luật về hoạt động xuất khẩu nói riêng
và hoạt động kinh doanh nói chung. Do vậy doanh nghiệp cần lợi dụng các
chính sách của nhà nước về hoạt động xuất khẩu cũng như không tham gia vào
các hoạt động xuất khẩu mà nhà nước không cho phép.
*Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là quan hệ so sánh giữa giá đồng nội tệ và đồng ngoại tệ.
Tỷ gía hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái là nhân tố quan trọng thực hiện
chiến lược hướng ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu trong hoạt động xuất khẩu. Do
vậy doanh nghiệp cần quan tâm đến yếu tố tỷ giá vì nó liên quan đến việc thu
đổi ngoại tệ sang nội tệ, từ đó ảnh hướng đến hiệu quả xuất của doanh
nghiệp.Để biết được tỷ giá hối đoái, doanh nghiệp phải hiểu được cơ chế điều
hành tỷ giá hiện hành của nhà nước , theo dõi biến động của nó từng ngày.
Doanh nghiệp phải lưu ý tỷ giá hối đoái được điều chỉnh là tỷ giá tỷ giá chính
thức được điều chỉnh theo quá trình lạm phát.
*Mức độ cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước
Cạnh tranh một mặt có tác động thúc đẩy sự vươn lên của các doanh
nghiệp, mặt khác nó cũng dìm chết các doanh nghiệp yếu kém. Mức độ cạnh
tranh ở đây biểu hiện ở số lượng các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu cùng
ngành hoặc các mặt hàng khác có thể thay thế được. Hiện nay, nhà nước Việt
Nam có chủ trương khuyến khích mọi doanh nghiệp mới tham gia xuất khẩu đã
dẫn đến sự bùng nổ số lượng các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu do đó đôi
khi có sự cạnh tranh không lành mạnh.
Nhóm 07 – Lớp bồi dưỡng Sau đại học Khóa 08
14
Viện sau Đại học Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
3. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
Là các nhân tố thuộc về bản thân doanh nghiệp mà doanh nghiệp có thể
tác động làm thay đổi nó để phục vụ cho hoạt động xuất khẩu của mình. Bao
gồm các nhân tố sau:
*Bộ máy quản lý hay tổ chức hành chính của doanh nghiệp
Là sự tác đông trực tiếp của các cấp lãnh đạo xuống các cán bộ, công
nhân viên đến hoạt động tổ chức sản xuất và xuất khẩu hàng hoá. Việc thiết
lập cơ cấu tổ chức của bộ máy điều hành cũng như cách thức điều hành của các
cấp lãnh đạo là nhân tố quyết định tính hiệu quả trong kinh doanh. Một doanh
nghiệp có cơ cấu tổ chức hợp lý cách điều hành hoạt động kinh doanh sẽ quyết
định tới hiệu quả kinh doanh nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng.
*Yếu tố lao động
Con người luôn được đặt ở vị trí trung tâm của mọi hoạt động. Hoạt động
xuất khẩu hàng hoá đặc biệt phải nhấn mạnh đến yếu tố con người bởi vì nó là
chủ thể sáng tạo và trực tiếp điều hành các hoạt động. Trình độ và năng lực
trong hoạt động xuất khẩu của các bên kinh doanh sẽ quyết định tới tới hiệu
quả kinh doanh của doanh nghiệp.
*Khả năng tài chính của doanh nghiệp
Một trong những yếu tố quan trọng tác động tới hoạt động xuất của
doanh nghiệp là vốn . Bên cạnh yếu tố về con người, tổ chức quản lý thì doanh
nghiệp phải có vốn để thực hiên các mục tiêu về xuất khẩu mà doanh nghiệp đã
đề ra. Năng lực tài chính có thể làm hạn chế hoặc mở rộng các khả năng của
doanh nghiệp vì vốn là tiền đề cho mọi hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
Như vậy, có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu theo chiều hướng khác
nhau, tốc độ và thời gian khác nhau tạo nên một môi trường xuất khẩu phức
tạp đối với doanh nghiệp, các doanh nghiệp phải thường xuyên nắm bắt, những
thay đổi này để có những phản ứng kịp thời, tránh rủi ro đáng tiếc xảy ra khi
tiến hành hoạt động xuất khẩu
Nhóm 07 – Lớp bồi dưỡng Sau đại học Khóa 08
15
Viện sau Đại học Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TY MINH HẢI
I.3. Giới thiệu Công ty TNHH Minh hải
Công ty TNHH Gốm sứ Minh Hải được thành lập từ năm 2000 tại làng gốm
cổ truyền Bát Tràng. Khởi nghiệp từ một doanh nghiệp kinh doanh gốm hộ gia
đình với hơn 16 năm kinh nghiệm lành nghề công ty đã đã cung cấp các sản
phẩm gốm sứ chất lượng cao nhất trong khu vực và trên thị trường thế giới.
Với hơm 700m2 để trưng bày các sản phẩm, hơm 3000m2 cho các xưởng sản
xuất và hơn 1000m2 để phục vụ cho việc vận chuyển các sản phẩm gốm sứ đã
được đặt theo đơn đặt hàng từ khắp các nước trên thế giới. Tất cả các sản phẩm
gốm sứ của công ty đều phải vượt qua một cuộc thử nghiệm về kiểm soát chất
lượng và kiểm tra an toàn được khuyến cáo cho các thị trường khác nhau trên
toàn cầu. Thừa kế từ những nét văn hoá của dân tộc Việt Nam về nghề gốm ở
những làng cổ chuyên về đồ gốm Bát Tràng nên sản phẩm của công ty luôn có
chất lượng cao, mẫu mã đẹp, phù hợp với thị hiếu của khách hàng trong và
ngoài nước. Công ty đã xuất khẩu hàng triệu sản phẩm tới những thị trường
chính trên thế giới như Nhật bản, Hàn Quốc, Mỹ, Bỉ…
Các sản phẩm của công ty được xuất khẩu sang nhiều thị trường khác nhau
như Mỹ, Hàn Quốc, Australia, New Zealand với doanh thu hàng năm lên tới
1,3 – 1,5 triệu đô Mỹ. Với nhiều năm kinh nghiệm và tạo dựng được thương
hiệu lớn Minh Hải là thành viên của Hiệp hội gốm sứ Bát Tràng và Hiệp hội
Kinh doanh vừa và nhỏ của thủ đô Hà Nội.
Hiện nay trên đà phát triển của mình, Công ty TNHH Gốm sứ Minh Hải
đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện khu du lịch sinh thái để phục vụ
cho việc tổ chức các sự kiện quảng bá thêm hình ảnh và giới thiệu sản phẩm
của công ty đến người tiêu dùng trong và ngoài nước.
Nhóm 07 – Lớp bồi dưỡng Sau đại học Khóa 08
16
Viện sau Đại học Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
I.4. Thực trạng hoạt động xuất khẩu của Công ty.
Công ty TNHH Gốm sứ Minh Hải là doanh nghiệp hàng đầu hoạt động
trong lĩnh vực thủ công mỹ nghệ với dòng sản phẩm xuất khẩu chủ lực là gốm
sứ trang trí nội ngoại thất và gốm sứ gia dụng cung cấp nhu cấp nhu cầu tiêu
dùng trong nước và xuất khẩu sang các nươc châu á và phương tây như :
Đức,Mỹ,Anh,Nhật Bản,Trung Quốc ,Mỹ, Canada ,Brazil
I.5. Đánh giá về hoạt động xuất khẩu của Công ty.
I.5.1. Những kết quả đạt được trong hoạt động xuất khẩu của Công
ty
Theo số liệu thống kê, quí II/2011, doanh thu xuất khẩu của công ty TNHH
Minh Hải về gốm sứ mỹ nghệ và gia dụng đạt 341 ngàn USD, giảm 10,44% so
với cùng kỳ năm ngoái. Trong các tháng tới, xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ và gia
dụng tiếp tục giảm trước sự phục hồi không đáng kể của hâu quả cuôc khủng
hoảng kinh tế thế giới, vấn đề an ninh chính trị phức tạp ở trung đông và châu
phi.Đặc biệt tại chiến trường Lybia .
Trong cơ cấu các thị trường xuất khẩu các mặt hàng gốm sứ mỹ nghệ và
gia dụng của công ty trong tháng 6/2011, thì thị trường Đức có doanh thu lớn
nhất đạt 115 USD, giảm 7% so với 3 tháng trước. Trong đó doanh thu xuất
khẩu mặt hàng chậu gốm có giá trị lớn nhất đạt 65 nghìn USD, giảm 1,7% so
với tháng trước. Tiếp theo đó là mặt hàng đồ gia dụng bằng gốm sứ có doanh
thu xuất khẩu trong quý đạt 35 nghìn USD, giảm 10,2% so với3 tháng trước.
Bên cạnh đó cũng có mặt hàng có kim ngạch tăng mạnh so với 3 tháng trước cụ
thể là: mặt hàng đồ trang trí bằng gốm sứ có doanh thu xuất khẩu đạt 13 nghìn
USD, giảm 16,5% so với 3 tháng trước. Mặt hàng bình bằng gốm có doanh thu
xuất khẩu đạt 2.2 nghìn USD, tăng 3,8 lần so với tháng trước. Một số mặt hàng
gốm sứ mỹ nghệ và gia dụng xuất khẩu vào thị trường Đức trong 3 tháng quý
Nhóm 07 – Lớp bồi dưỡng Sau đại học Khóa 08
17
Viện sau Đại học Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
2 là: chậu bằng gốm; đồ gia dụng bằng gốm; thú, tượng bằng gốm; đồ trang trí
bằng gốm; bình gốm…
Tiếp đến là thị trường Mỹ với doanh thu xuất khẩu trong tháng đạt 89.7
ngàn USD giảm 20% so với 3 tháng trước. Trong đó doanh thu xuất khẩu mặt
hàng chậu bằng gốm có giá trị lớn nhất đạt 61 ngàn USD giảm 17,6% so với 3
tháng trước. Mặt hàng đồ gia dụng bằng gốm có doanh thu xuất khẩu đạt 26
nghìn USD giảm 14,6%. Mặt hàng đồ trang trí bằng gốm có doanh thu xuất
khẩu đạt 2.7 nghìn USD tăng 2,1 lần so với3 tháng trước. Một số mặt hàng gốm
sứ mỹ nghệ và gia dụng xuất khẩu vào thị trường Mỹ trong3 tháng quý 2 là:
chậu bằng gốm; bình bằng gốm; đồ gia dụng bằng gốm sứ; đồ trang trí bằng
gốm; thú, tượng bằng gốm…
Thị trường Anh với doanh thu xuất khẩu trong tháng đạt 53.4 ngàn USD
giảm 16% so với 3 tháng trước. Trong đó mặt hàng chậu bằng gốm có doanh
thu lớn nhất đạt 42 nghìn USD giảm 22%. Tiếp theo đó là mặt hàng bình bằng
gốm có doanh thu xuất khẩu đạt 11 nghìn USD, tăng 7,6% so với tháng trước.
Mặt hàng đồ gia dụng có doanh thu xuất khẩu đạt 2.4 nghìn USD, tăng 21,6%.
Một số mặt hàng gốm sứ mỹ nghệ và gia dụng xuất khẩu vào thị trường Anh
trong 3 tháng quý 2 là: chậu bằng gốm; bình bằng gốm; đồ gia dụng bằng
gốm; đồ trang trí bằng gốm…
Bảng thống kê tình hình xuất khẩu quý II năm 2011
Thị trường Quý 2, 2011
(USD)
Qúy 1, 2011
(USD)
So sánh (%)
giữa quý 2 và
quý 1
Đức 115,345 123,534 -7.1
Mỹ 89,734 107,681 -20
Anh 53,434 61,983 -16
Nhật Bản 42,123 44,115 -4.73
Canada 19,345 20,931 -8.2
Brazil 11,758 13,216 -12.4
Nhóm 07 – Lớp bồi dưỡng Sau đại học Khóa 08
18
Viện sau Đại học Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
Trung quốc 9,378 9,697 -3.4
Tổng
341,117 381,158 -10.5
I.5.2. Những mặt tồn tại và nguyên nhân
1. Những mặt còn tồn tại
- Doanh thu xuất khẩu của công ty TNHH gốm sứ Minh Hải vào EU và Mỹ
giảm với tốc độ bình quân khá cao.Đây là vấn đề bất cập trong xuất khẩu đối
với các doanh nghiệp Việt Nam nói chung cũng như Doanh nghiệp gốm sứ
Minh Hải nói riêng.
- Công ty chưa phát huy được hết lợi thế của mình so với các đối thủ cạnh
tranh trên thị trường Việt Nam cũng như trên thị trường thế giới.Thị trường
xuất khẩu của công ty vẫn nằm trong quy mô nhỏ là EU (Đức,Anh) và Mỹ và
một số nước lớn châu Á.
2. Nguyên nhân
- Hàng xuất khẩu của Công ty Minh Hải còn nghèo nàn về chủng loại và
chất lượng chưa đạt độ đồng đều.
- Các doanh nghiệp Việt Nam nói chung công ty Minh Hải nói riêng còn
non nớt trong kinh nghiệm thương trường, thậm chí còn bỡ ngỡ với thị trường
châu Âu. Không nắm bắt cơ hội, kém hiểu biết luật lệ của thị trường EU, thiếu
thông tin, chưa biết tiếp cận thị trường, làm ăn tùy tiện, manh mún với một
phong cách chưa phù hợp với truyền thống và tập quán kinh doanh của châu
Âu.
- Môi trường đầu tư (Cơ sở hạ tầng và hệ thống pháp luật) và môi trường
thương mại (Cơ chế, chính sách và thủ tục xuất nhập khẩu) ở Việt Nam vẫn
chưa thực sự thu hút và hấp dẫn mạnh mẽ các doanh nghiệp EU vào đầu tư
kinh doanh tại Việt Nam.
- Quy mô xuất khẩu của doanh nghiệp sang EU và Mỹ còn quá nhỏ bé so
với tiềm năng kinh tế của Việt Nam và nhu cầu nhập khẩu của EU.
Nhóm 07 – Lớp bồi dưỡng Sau đại học Khóa 08
19
Viện sau Đại học Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
- Hình thức xuất khẩu hàng hóa của doanh nghiệp sang EU và Mỹ còn giản
đơn chủ yếu xuất khẩu theo điều kiện (FOB,CIF).Nhữnghình thức xuất khẩu
trực tiếp và qua trung gian mà công ty sư, chưa gắn liền với các hình thức hợp
tác kinh doanh khác.Chưa thu hút các doanh nghiệp nước ngoài hợp tác kinh
doanh lâu dài.
-Thủ tục kiểm định chất lượng,nguồn gốc xuất xứ cảu Việt Nam còn rườm
rà chưa đám ứng được yêu cầu về mặt thời gian của đối tác kinh doanh nước
ngoài.
-Khâu quản lý doanh nghiệp của công ty còn nhiều bất cập,trình độ chuyên
môn chưa cao,chưa nắm bắt được quy trình sản xuất hiện đại ,tiên tiến của các
quốc gia trên thế giới.Sản xuất chủ yếu dựa vào thủ công dựa vào nguồn nhân
lực công nhân lành nghề dồi dao nhưng chưa làm chủ được khoa học công
nghệ hiện đại.
Nhóm 07 – Lớp bồi dưỡng Sau đại học Khóa 08
20
Viện sau Đại học Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU CHO CTY MINH
HẢI
I.6. Phương hướng hoạt động xuất khẩu của Minh hải trong thời
gian tới
Đối với lĩnh vực hoạt động xuất khẩu, Tổng công ty đặt ra những mục tiêu
riêng phù hợp với các mục tiêu chung trong phương hướng phát triển của mình,
cụ thể là:
Thứ nhất: Phát triển và mở rộng hơn nữa thị trường trong nước và thị
trường xuất khẩu bằng cách tăng cường công tác nghiên cứu thị trường, cụ thể
kết hợp và đa dạng hóa các hình thức quảng cáo, khuyến mại, bên cạnh đó mở
rộng hệ thống tiêu thụ sản phẩm tại các thị trường nước ngoài.
Thứ hai: Tăng cường đầu tư vào nghiên cứu, cải tiến mẫu mã sản phẩm,
chủ động thực hiện chào hàng sang những thị trường mới thông qua những đại
diện trực tiếp hay các đối tượng trung gian. Cơ cấu lại mặt hàng xuất nhập khẩu
với tỷ trọng thích hợp, chú trọng đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng chủ lực có
lợi nhuận cao. Đồng thời, giảm bớt việc nhập ngoại các trang thiết bị, vật tư và
nguyên liệu sản xuất mà trong nước có thể đáp ứng nhằm giảm giá thành sản
phẩm xuất khẩu.
Thứ ba: Cần đẩy mạnh hơn nữa công tác marketing và tiếp cận các đối
tượng khách hàng khác nhau thông qua các cuộc triển lãm ở nước ngoài, thông
qua các cơ quan thương vụ Việt Nam ở nước ngoài và một số văn phòng xúc
tiến thương mại tại Việt Nam. Đầu tư hỗ trợ các công cụ cần thiết trong nghiên
cứu thị trường và giao dịch như kết nối mạng internet, lập văn phòng đại diện
và đại lý tại một số thị trường trọng điểm. Cần chú ý nghiên cứu sâu sát hơn
các thông tin về sản phẩm hàng hoá, đảm bảo trả lời cho phía khách hàng một
cách nhanh chóng và chính xác.
Nhóm 07 – Lớp bồi dưỡng Sau đại học Khóa 08
21
Viện sau Đại học Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
Căn cứ vào tốc độ đầu tư và phát triển sản xuất của Công ty, sẽ xác định được
tổng doanh thu và doanh thu xuất khẩu của Minh Hải từ năm 2008- 2010 như
sau:
Doanh thu xuất khẩu tới năm 2010
Đơn vị: tỷ VNĐ
TT Sản phẩm 2008 2009 2010
1 Chậu 2,2 2,8 3,4
2 Đĩa, dĩa 4,8 5,2 6,3
3 Tô, chén, bát 3,2 3,5 4,7
4 Bộ ấm chén, bình trà 5,1 7,5 9,2
5 Ly, tách, ca 3,6 6,0 8,1
Tổng 18,9 25 31,7
Nguồn: Báo cáo xuất khẩu của Minh Hải năm 2010
Tóm lại, mục tiêu của Minh Hải về chỉ tiêu kế hoạch doanh thu xuất khẩu qua
các năm như sau:
Năm 2008:Tập trung chủ yếu vào xuất khẩu bộ ấm chén bình trà
Năm 2009:Đẩy mạnh xuất khẩu bộ ấm chén bình trà, tăng cường thêm ly tách
ca.
Năm 2010: Ngành mũi nhọn xuất khẩu là bộ ấm chén bình trà.
Thứ tư: Trong thời gian tới Minh Hải sẽ lập ra một bảng giá chuẩn và
thống nhất giữa tất cả các đơn vị trong công ty cho tất cả các loại sản phẩm,
tránh hiện tượng lộn xộn về giá cả hoặc những cạnh tranh nội bộ có thể phát
sinh giữa các đơn vị thành viên. Đồng thời có các giải pháp khuyến khích xuất
khẩu một cách đồng bộ và toàn diện đối với mọi đơn vị trong công ty.
Thứ năm: Phải xây dựng tên tuổi thương hiệu và uy tín của Minh Hải
và các sản phẩm của Minh Hải trên thị trường thế giới. Đồng thời, xây dựng
một bộ máy chuyên làm công tác xuất khẩu có kiến thức giỏi ngoại ngữ, có
năng lực tự tin trong các mối quan hệ đối ngoại.
Muốn đạt được các mục tiêu lớn nêu trên, Minh Hải cần có những giải pháp cụ
thể để cho hoạt động đẩy mạnh xuất khẩu của công ty.
I.7. Giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu của Cty Minh Hải
Nhóm 07 – Lớp bồi dưỡng Sau đại học Khóa 08
22
Viện sau Đại học Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
I.7.1. Xây dựng cơ cấu tổ chức
Tổ chức là một trong những chức năng chung của quản lý liên quan đến
các hoạt động thành lập nên các bộ phận trong tổ chức, bao gồm các khâu và
các cấp (tức là quan hệ hàng dọc) để đảm nhận những hoạt động cần thiết, xác
lập các mối quan hệ về nhiệm vụ quyền hạn và trách nhiệm giữa các bộ phận
đó. Mục tiêu của chức năng tổ chức là tạo nên một môi trường nội bộ thuận lợi
cho mỗi cá nhân, mỗi bộ phận phát huy được năng lực và nhiệt tình của mình,
đóng góp tốt nhất vào việc hoàn thành mục tiêu của tổ chức.Công ty TNHH
Minh Hải cần lưu ý một số nguyên tắc quản lý quản trị doanh nghiệp sau đây :
1. Các nguyên tắc của tổ chức quản lý
- Thống nhất chỉ huy.
- Tổ chức gắn với mục tiêu.
- Đạt hiệu quả, giảm chi phí.
- Cân đối về giữa quyền hành và trách nhiệm, về công việc giữa các đơn
vị.
- Linh hoạt, đối phó với thay đổi môi trường bên ngoài về hoạt động nội
bộ để có quyết định đáp ứng với thay đổi của tổ chức.
2. Cơ sở để thiết kế bộ máy tổ chức
- Mục tiêu và chiến lược của doanh nghiệp
- Môi trường vĩ mô và vĩ mô
- Công nghệ của doanh nghiệp
- Các nguồn lực đặc biệt là nguồn nhân lực.
- Tuân thủ tiến trình của chức năng tổ chức.
3. Một số vấn đề khoa học trong công tác tổ chức
Tầm hạn quản lý
Nhóm 07 – Lớp bồi dưỡng Sau đại học Khóa 08
23
Viện sau Đại học Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
- Tầm hạn quản lý (tầm hạn kiểm soát) là khái niệm dùng để chỉ số lượng
nhân viên cấp dưới mà một nhà quản lý có thể điều khiển một các tốt
đẹp nhất. Tốt nhất là từ 3-9 nhân viên.
- Tầm hạn quản lý có liên quan mật thiết đến số lượng các tầng nấc trung
gian trong một tổ chức. Tầm hạn quản lý rộng nghĩa là điều khiển đông
người, còn tầm hạn quản lý hẹp nghĩa là điều khiển ít người.
- Tầm hạn quản lý rộng hay hẹp tùy thuộc vào năng lực nhà quản lý, trình
độ nhân viên, độ ổn định của công việc.
Quyền hành trong quản lý
- Quyền hành của nhà quản lý là năng lực cho phép nhà quản lý yêu cầu
người dưới quyền hành động theo chỉ đạo của mình.
- Nguồn gốc của quyền hành 3 yếu tố (theo Max Weber): (1) Đảm nhận
chức vụ hợp pháp; (2) Cấp dưới thừa nhận quyền hành đó là chính đáng;
và (3) Bản thân nhà quản lý có khả năng và các đức tính khiến cấp dưới
tin tưởng.
- Quyền hành có giới hạn do nhiều yếu tố như luật pháp, đạo đức xã hội,
điều kiện sinh học con nguời.
Phân cấp quản lý
- Là sự phân chia hay ủy thác bớt quyền hành của nhà quản lý cấp trên
cho các nhà quản lý cấp dưới.
- Mục đích của phân cấp chủ yếu là để tạo điều kiện cho tổ chức đáp ứng
kịp thời, nhanh chóng và phù hợp với những yêu cầu của tình hình.
I.7.2. Quản lý thị trường và sản phẩm xuất khẩu
Bên cạnh việc nghiên cứu thị trường thì phân công quản lý thị trường là
việc làm hết sức cần thiết. Minh Hải cần phải xác định được đâu là thị trường
trọng điểm mà Minh Hải nên thâm nhập trong thời gian tới và sản phẩm nào sẽ
là sản phẩm trọng điểm đem thâm nhập vào các thị trường thế giới. Trên thực
tế, mạng lưới tiêu thụ các sản phẩm xuất khẩu của Minh Hải chưa ổn định và
thiếu tính bền vững. Số lượng các thị trường truyền thống còn rất ít cũng như
Nhóm 07 – Lớp bồi dưỡng Sau đại học Khóa 08
24
Viện sau Đại học Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
việc mở rộng thị trường còn yếu. Để việc phân công quản lý thị trường và sản
phẩm được cụ thể và đạt hiệu quả, cần phải xác định được các yếu tố cụ thể
sau:
1. Xác định thị trường trọng điểm
Căn cứ vào tình hình thực tế kinh doanh của Viglacera có thể chia thị trường
thế giới thành các khu vực khác nhau.
Căn cứ vào tình hình thực tế kinh doanh của Minh Hải có thể chia thị
trường thế giới thành các khu vực như sau:
*Khu vực Nam Á và Đông Nam Á (Bao gồm Campuchia, Lào,
Malaysia, Mianma, Bangladesh, Philipin )
Đây là thị trường gần với Việt Nam nên có rất nhiều nét tương đồng về
thị hiếu tiêu dùng cũng như lợi thế trong việc giảm chi phí vận chuyển hàng.
Với những thị trường này, triển vọng xuất khẩu các sản phẩm gốm sứ của Minh
Hải như chậu, đĩa, dĩa, tô chén bát, bộ ấm trà bình trà, ly tách ca là rất khả quan
và có thể coi là một trong những khu vực thị trường trọng điểm nhất trong thời
gian tới. Do vậy, công ty nên thành lập văn phòng đại diện bán hàng hoặc một
số đại lý tại các nước ở khu vực này.
*Khu vực Bắc và Trung cận Đông(Bao gồm Đài Loan, Nhật Bản, Hàn
Quốc, Iran, Irắc, Pakistan )
Cho đến thời điểm hiện nay, những sản phẩm có triển vọng và đã được
xuất khẩu sang thị trường Bắc và Trung cận Đông là gốm sứ gia dụng. Đặc biệt
đối với một số thị trường Trung Đông như: Irắc, Iran, Pakistan, Afganistan
các sản phẩm sứ Minh Hải cũng có khả năng thâm nhập bởi đây là những thị
trường có nhiều lợi thế trong bán hàng: chi phí bán hàng, thuế nhập khẩu ở
mức tương đối, tỷ trọng sản phẩm nhập khẩu lớn. Tuy nhiên, đây cũng là khu
vực thiếu tính ổn định về tài chính, thương mại do ảnh hưởng của nhiều biến
động về chính trị, xã hội như cấm vận, chiến tranh, khủng bố nên việc nghiên
cứu tiếp cận thị trường cần hết sức thận trọng.
Đặc biệt Hàn Quốc là thị trường nhiều tiềm năng thực tế với tiềm lực
kinh tế phát triển và nhu cầu xây dựng rất lớn. Thời gian gần đây số lượng
Nhóm 07 – Lớp bồi dưỡng Sau đại học Khóa 08
25