Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Chuyên Đề Thực
Tập
Lời mở đầu
Đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá nhằm
phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sau gần 25
năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn như:
tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định, tỷ lệ lạm phát được kiểm soát, đảm bảo an sinh
xã hội… Xuất phát từ một nước nông nghiệp lạc hậu để phát triển nền kinh tế thì việc tái
cơ cấu nền kinh tế trong đó ưu tiên phát triển ngành công nghiệp, dịch vụ giảm dần ngành
nông nghiệp là một trong những chủ trương hàng đầu của Đảng và Nhà nước. Phát triển
một hệ thống ngân hàng hiện đại là yêu cầu đòi hỏi tất yếu trong quá trình hội nhập kinh
tế thế giới, bởi vì hệ thống ngân hàng giống như là một thứ dầu mỡ bôi trơn giúp nền kinh
tế hoạt động một cách nhịp nhàng. Tuy nhiên việc quản lý và điều hành hệ thống ngân
hàng là một vấn đề không hề đơn giản, việc đổ vỡ của các ngân hàng làm cho nền kinh tế
lâm vào khủng hoảng và sụp đổ. Thực tế đã cho thấy sự sụp đổ của các ngân hàng Mỹ
vào năm 2008 đã gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, chính vì thế sự an toàn phát
triển bền vững của hệ thống ngân hàng nhận được sự quan tâm hàng đầu của toàn xã hội.
Chất lượng tín dụng là chỉ tiêu vô cùng quan trọng giúp đánh giá được tình hình hoạt
động mức độ an toàn của ngân hàng, bởi vì tín dụng là khoản mục chiếm tỷ trọng cao
nhất khoảng 70% tổng tài sản của các ngân hàng và đem lại thu nhập lớn nhất cho ngân
hàng. Chính vì quy mô như vậy tín dụng ảnh hưởng rất nhiều tới chiến lược hoạt động
của các ngân hàng, tuy nhiên rủi ro trong hoạt động tín dụng là rất lớn. Khi tổn thất xảy ra
sẽ làm cho thu nhập của ngân hàng giảm sút có thể gây thua lỗ hoặc thậm chí phá sản cho
ngân hàng. Nâng cao chất lượng tín dụng chính là một trong những biện pháp phòng ngừa
giảm thiểu tổn thất cho ngân hàng, do đó đây là giải pháp có ý nghĩa hết sức quan trọng
trong quá trình hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Nhận thấy được tầm quan trọng
của vấn đề này trong quá trình học tập nghiên cứu về lĩnh vực ngân hàng nên trong quá
trình thực tập tại Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam - chi
nhánh quận Hải An - thành phố Hải Phòng em đã quyết định chọn đề tài “Nâng cao chất
lượng tín dụng tại Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam - chi
nhánh Quận Hải An - thành phố Hải Phòng”. Thời gian nghiên cứu của chuyên đề là
giai đoạn 2008 – 2010, kết cấu của chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng tại ngân hàng thương
mại
Nguyễn Văn Tiến – Chuyên Ngành Ngân Hàng
1
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Chuyên Đề Thực
Tập
Chương 2: Thực trạng tín dụng tại ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển
Nông Thôn Việt Nam - chi nhánh quận Hải An - thành phố Hải Phòng
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại
ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam - chi nhánh quận Hải
An - thành phố Hải Phòng
Do kiến thức và kinh nghiệm thực tế còn nhiều hạn chế, đề tài nâng cao chất lượng
tín dụng là một đề tài phức tạp đòi hỏi chuyên môn nghiệp vụ cao. Do đó khó có thể tránh
được những thiếu sót trong chuyên đề thực rất mong nhận được những ý kiến góp ý từ
thầy cô và cán bộ ngân hàng để em hoàn thiện hơn vốn kiến thức của mình.
Nguyễn Văn Tiến – Chuyên Ngành Ngân Hàng
2
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Chuyên Đề Thực
Tập
MỤC LỤC
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái niệm, vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế
1.1.1. Khái niệm về ngân hàng thương mại
1.1.2. Vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường
1.1.2.1. Là công cụ quan trọng thúc đẩy sự phát triển của sản xuất lưu thông hàng hoá
1.1.2.2. Là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung Ương
1.1.2.3. Là cầu nối nền kinh tế trong nước với thế giới
1.2. Khái quát về tín dụng ngân hàng
1.2.1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng
1.2.2. Nguyên tắc của tín dụng ngân hàng
1.2.3. Vai trò của tín dụng ngân hàng trong sự phát triển nền kinh tế
1.3. Các hình thức của tín dụng ngân hàng
1.3.1. Tín dụng chia theo thời gian
1.3.2. Tín dụng chia theo hình thức tài trợ
1.3.3. Tín dụng chia theo hình thức đảm bảo
1.3.4. Phân loại khác
1.4. Chất lượng tín dụng ngân hàng
1.4.1. Quan điểm về chất lượng tín dụng
1.4.2. Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng
1.4.3. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng
1.4.3.1. Chỉ tiêu tỷ lệ nợ rủi ro trên tổng dư nợ
1.4.3.2. Chỉ tiêu tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ
1.4.3.3. Chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ
1.4.3.4. Chỉ tiêu tỷ lệ lãi treo trên tổng thu lãi
1.4.4. Những nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng
1.4.4.1. Nhân tố thuộc về ngân hàng
1.4.4.1.1. Chiến lược kinh doanh của ngân hàng
1.4.4.1.2. Nguồn vốn của ngân hàng
1.4.4.1.3. Năng lực, thẩm định, giám sát khi cấp tín dụng
1.4.4.1.4. Chính sách tín dụng của ngân hàng
Nguyễn Văn Tiến – Chuyên Ngành Ngân Hàng
3
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Chuyên Đề Thực
Tập
1.4.4.1.5. Chất lượng quản lý nhân sự của ngân hàng
1.4.4.1.6. Vấn đề kiểm tra, kiểm soát nội bộ
1.4.4.1.7. Quy trình tín dụng
1.4.4.2. Nhân tố thuộc về khách hàng
1.4.4.2.1. Năng lực, kinh nghiệm quản lý của khách hàng
1.4.4.2.2. Uy tín và đạo đức của khách hàng
1.4.4.2.3. Khả năng tài chính của khách hàng
1.4.4.3. Các nhân tố khác
1.4.4.3.1. Môi trường chính trị - xã hội
1.4.4.3.2. Môi trường pháp lý
1.4.4.4.3. Môi trường kinh tế
Chương 2: THỰC TRẠNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI NHÁNH QUẬN HẢI AN –
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
2.1. Sự hình thành và phát triển của chi nhánh ngân hàng
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của chi nhánh ngân hàng
2.1.2. Mô hình tổ chức và chức năng nhiệm vụ của các phòng, ban thuộc chi nhánh ngân
hàng
2.1.2.1. Cơ cấu tổ chức
2.1.2.2. Chức năng nhiệm vụ của các phòng, ban thuộc chi nhánh
2.1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh ngân hàng giai đoạn 2008 – 2010
2.1.3.1. Tình hình nguồn vốn
2.1.3.2. Hoạt động sử dụng vốn
2.1.3.3. Kết quả kinh doanh của chi nhánh
2.2. Thực trạng tín dụng tại ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt
Nam – chi nhánh quận Hải An – thành phố Hải Phòng giai đoạn 2008 – 2010
2.2.1. Tình hình doanh số cho vay, doanh số thu nợ tại chi nhánh ngân hàng
2.2.2. Tình hình dư nợ tín dụng tại chi nhánh ngân hàng
2.2.3. Nợ rủi ro tại chi nhánh ngân hàng
2.2.4. Nợ xấu tại chi nhánh ngân hàng.
2.3. Đánh giá chất lượng tín dụng tại chi nhánh ngân hàng
2.3.1. Những kết quả đạt được
Nguyễn Văn Tiến – Chuyên Ngành Ngân Hàng
4
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Chuyên Đề Thực
Tập
2.3.2. Những hạn chế và khó khăn
2.3.3. Một số nguyên nhân
2.3.3.1. Nguyên nhân chủ quan
2.3.3.2. Nguyên nhân khách quan
Chương 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI NHÁNH QUẬN HẢI AN – THÀNH PHỐ HẢI
PHÒNG
3.1. Định hướng phát triển của chi nhánh trong năm 2012
3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại chi nhánh ngân hàng
3.2.1. Tăng cường huy động vốn tiền gửi
3.2.2. Hoàn thiện chính sách tín dụng
3.2.3. Nâng cao công tác thẩm định tín dụng
3.2.4. Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ tín dụng
3.2.5. Tăng cường công tác quản lý nợ và giải quyết nợ rủi ro
3.2.6. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, kiểm soát
3.2.7. Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng phục vụ cho hoạt động tín dụng
3.3. Kiến nghị
3.3.1. Kiến nghị với NHNN
3.3.1.1. NHNN cần thực hiện tốt hơn công tác thanh tra ngân hàng
3.3.1.2. NHNN cần xây dựng 1 hệ thống văn bản luật hợp nhất, khoa học làm hành lang
pháp lý vững chắc cho các tổ chức tín dụng hoạt động
3.3.1.3. NHNN cần hạn chế sử dụng các biện pháp hành chính trong quá trình thực thi
chính sách tiền tệ
Nguyễn Văn Tiến – Chuyên Ngành Ngân Hàng
5
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Chuyên Đề Thực
Tập
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái niệm, vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế
1.1.1. Khái niệm về ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chính là
nhận tiền gửi để cấp tín dụng (bao gồm hoạt động cho vay, cho thuê tài chính, bảo lãnh,
chiết khấu, bao thanh toán) và cung cấp các dịch vụ thanh toán qua tài khoản nhằm mục
tiêu lợi nhuận.
Theo điều 4 luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (LUẬT SỐ 47/2010/QH12):
- Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng thực hiện tất cả các hoạt động ngân
hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy đinh của Luật này nhằm mục tiêu lợi
nhuận
- Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một
số các nghiệp vụ sau đây:
+ Nhận tiền gửi: là hoạt động nhận tiền của các tổ chức, cá nhân dưới hình thức
tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu
và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho
người gửi tiền theo thoả thuận.
+ Cấp tín dụng: là việc thoả thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền
hoặc cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho
vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ
cấp tín dụng khác.
+ Cung cấp dịch vụ thanh toán qua tài khoản: là việc cung ứng phương tiện thanh
toán; thực hiện dịch vụ thanh toán Séc, lệnh chi, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, uỷ nhiệm thu, thẻ
ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài
khoản của khách hàng.
1.1.2. Vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường
1.1.2.1. Là công cụ quan trọng thúc đẩy sự phát triển của sản xuất lưu thông hàng hoá
Nhờ có hệ thống ngân hàng thương mại mà tiền tiết kiệm của cá nhân, tổ chức
được huy động vào quá trình vận động của nền kinh tế. Nó giống như chất dầu bôi trơn
cho bộ máy kinh tế hoạt động thông qua việc di chuyển nguồn lực của xã hội từ nơi chưa
sử dụng, còn tiềm tàng vào quá trình sử dụng phục vụ cho sản xuất kinh doanh nâng cao
Nguyễn Văn Tiến – Chuyên Ngành Ngân Hàng
6
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Chuyên Đề Thực
Tập
mức sống xã hội. Với vai trò là trung gian thanh toán ngân hàng thương mại thực hiện các
dịch vụ thanh toán cho nền kinh tế từ đó thúc đẩy nhanh quá trình luân chuyển hàng hoá,
luân chuyển vốn trong xã hội, tiết kiệm chi phí thanh toán cho từng cá nhân, doanh
nghiệp nâng cao hiệu quả toàn bộ cho nền kinh tế. Hơn nữa ngân hàng cũng giám sát
được các hoạt động kinh tế góp phần tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh tạo ra sự ổn
định trong đời sống kinh tế xã hội
1.1.2.2. Là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung Ương
Ngân hàng thương mại là một trong những chủ thể tham gia vào quá trình cung
ứng tiền tệ, với chức năng tạo tiền ngân hàng thương mại tạo ra được một khối lượng
phương tiện thanh toán rất lớn trong nền kinh tế. Để thực hiện chính sách tiền tệ, Ngân
hàng Trung Ương phải sử dụng các công cụ điều tiết lượng tiền trong lưu thông, nhằm đạt
các mục tiêu kinh tế vĩ mô đặc biệt là ổn định tiền tệ. Phần lớn các công cụ của chính
sách tiền tệ chỉ được thực thi có hiệu quả với sự hợp tác tích cực và có hiệu quả của các
ngân hàng thương mại như việc chấp hành quy định về dự trữ bắt buộc, quy chế thanh
toán không dùng tiền mặt và nâng cao hiệu quả cho vay đầu tư. Thông qua hệ thống ngân
hàng thương mại Ngân Hàng Trung Ương phát hành thêm tiền vào lưu thông, thực hiện
các chính sách tín dụng, chính sách tỷ giá, chính sách lãi suất của Nhà nước để điều tiết
các hoạt động của nền kinh tế.
1.1.2.3. Là cầu nối nền kinh tế trong nước với thế giới
Trong điều kiện hội nhập sâu và rộng hiện nay của các quốc gia thì hoạt động kinh
tế đối ngoại ngày càng trở lên quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia,
trong đó hoạt động thương mại quốc tế đóng vai trò rất quan trọng. Hoạt động ngoại
thương được đánh giá là một ngành vô cùng quan trọng đối với một quốc gia, là động lực
phát triển của quốc gia. Một mặt nó tạo nguồn vốn ngoại tệ cho đất nước, mặt khác thúc
đẩy sự thay đổi cơ cấu của tổng sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân,… tác động trực tiếp
đến sản xuất kinh doanh và ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu dùng trong nước. Ngân hàng
thương mại thúc đẩy sự phát triển của hoạt động thương mại quốc tế. Ngân hàng tài trợ
cho các doanh nghiệp xuất – nhập khẩu, cung ứng các dịch vụ thanh toán và dịch vụ mua
bán ngoại tệ, đảm bảo cho hoạt động xuất – nhập khẩu được thông suốt, an toàn và hiệu
quả.
1.2. Khái quát về tín dụng ngân hàng
1.2.1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng
Nguyễn Văn Tiến – Chuyên Ngành Ngân Hàng
7
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Chuyên Đề Thực
Tập
Rất khó có thể đưa ra được một định nghĩa hoàn chỉnh về tín dụng ngân hàng, tuỳ
theo góc độ nghiên cứu chúng ta có thể xem xét dưới những tiêu thức khác nhau. Khi
xem xét tín dụng như một chức năng cơ bản của ngân hàng thì tin dụng ngân hàng được
hiểu như sau:
Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cấp
tín dụng (ngân hàng) và bên được cấp tín dụng (cá nhân, tổ chức), trong đó bên cấp tín
dụng chuyển giao tài sản cho bên được cấp tín dụng sử trong một thời gian nhất định theo
thoả thuận, bên được cấp tín dụng có trách nhịêm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho
bên cấp tín dụng khi đến hạn thanh toán.
Từ khái niệm trên bản chất của tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản trên
cơ sở hoàn trả có các đặc trưng sau:
- Tài sản giao dịch trong tín dụng ngân hàng có thể bằng tiền hoặc cho thuê tài
chính bằng bất động sản và động sản.
- Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả vì vậy khi ngân hàng cấp tín dụng phải có cơ sở
tin tưởng rằng người được cấp tín dụng sẽ trả đúng hạn. Đây là yếu tố cơ bản trong quản
trị tín dụng ngân hàng, trong thực tế cho thấy một số cán bộ tín dụng khi xét duyệt cấp tín
dụng không dựa trên cơ sở đánh giá mức độ tín nhiệm về khách hàng mà lại chú trọng
đến các tài sản bảo đảm. Chính yếu tố này ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng.
- Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị cấp tín dụng ban đầu, hay nói
cách khác người được cấp tín dụng phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc. Khi thực hiện
nguyên tắc này phải thực hiện lãi suất danh nghĩa lớn hơn tỷ lệ lạm phát hay lãi suất thực
luôn dương (Lãi suất thực = Lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát).
1.2.2. Nguyên tắc của tín dụng ngân hàng
Hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại dựa trên một số nguyên tắc nhất
định nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại. Các
nguyên tắc này được cụ thể hoá trong các quy định của ngân hàng Nhà nước và các ngân
hàng thương mại:
- Khách hàng phải cam kết hoàn trả vốn gốc và lãi với thời gian xác định: Các
khoản tín dụng của ngân hàng chủ yếu có nguồn gốc từ các khoản tiền gửi của khách
hàng và các khoản ngân hàng vay mượn. Ngân hàng phải hoàn trả các khoản nợ này cả
gốc và lãi theo đúng như cam kết. Do đó ngân hàng luôn yêu cầu người nhận tín dụng
Nguyễn Văn Tiến – Chuyên Ngành Ngân Hàng
8
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Chuyên Đề Thực
Tập
phải thực hiện đúng cam kết này, đây là điều kiện giúp ngân hàng có thể tồn tại và phát
triển.
- Khách hàng phải cam kết sử dụng tín dụng theo mục đích được thoả thuận với
ngân hàng, không trái với quy định của pháp luật và các quy định khác của ngân hàng cấp
trên. Luật pháp quy định phạm vi hoạt động cho các ngân hàng, bên cạnh đó mỗi ngân
hàng có thể có mục đích và phạm vi hoạt động riêng. Mục đích tài trợ được ghi trong hợp
đồng tín dụng đảm bảo ngân hàng không tài trợ cho các hoạt động trái pháp luật và việc
tài trợ đó phải phù hợp với cương lĩnh của ngân hàng.
- Ngân hàng tài trợ dựa trên các phương án hoặc dự án có hiệu quả, thực hiện
nguyên tắc này là điều kiện để thực hiện nguyên tắc thứ nhất. Bởi vì phương án kinh
doanh có hiệu quả thì ngân hàng mới thu hồi được nợ. Các khoản tài trợ của ngân hàng
phải gắn liền với việc hình thành tài sản của người nhận tín dụng, trong trường hợp xét
thấy kém an toàn ngân hàng đòi hỏi người được cấp tín dụng phải có tài sản đảm bảo.
1.2.3. Vai trò của tín dụng ngân hàng trong sự phát triển nền kinh tế
- Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội:
+ Vai trò quan trọng nhất của tín dụng là cung ứng vốn một cách kịp thời cho các
nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của các chủ thể kinh tế trong xã hội. Nhờ đó mà các chủ thể
này có thể đẩy nhanh tốc độ sản xuất cũng như tốc độ tiêu thụ sản phẩm.
+ Tín dụng ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho các cá nhân tổ chức trong nền
kinh tế giúp cho việc tiếp cận vốn tín dụng của các chủ thể trong nền kinh tế trở lên dễ
dàng hơn, tiết kiệm chi phí giao dịch và giảm bớt các chi phí nguồn vốn cho các chủ thể
kinh doanh
+ Tín dụng ngân hàng là một kênh cung cấp vốn tạo ra sự chủ động cho các doanh
nghiệp trong việc thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh không phụ thuộc quá nhiều vào
nguồn vốn tự có của bản thân. Điều này giúp cho các nhà sản xuất tích cực tìm kiếm cơ
hội đầu tư mới và nâng cao năng lực sản xuất của xã hội.
+ Khi được cấp tín dụng thì người nhận tín dụng phải chịu sự quản lý chặt của
ngân hàng buộc người nhận tín dụng phải quan tâm thực sự tới hiểu quả sử dụng vốn để
có khả năng trả nợ ngân hàng
- Tín dụng ngân hàng là kênh chuyển tải sự tác động của Nhà nước đến các mục
tiêu vĩ mô
Nguyễn Văn Tiến – Chuyên Ngành Ngân Hàng
9
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Chuyên Đề Thực
Tập
Các mục tiêu vĩ mô của nền kinh tế bao gồm: kiểm soát lạm phát, tăng trưởng kinh
tế, tạo công ăn việc làm. Để đảm bảo đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô hài hoà phụ
thuộc một phần vào khối lượng cơ cấu và khối lượng tín dụng xét cả về mặt thời hạn cũng
như đối tượng tín dụng. Cơ cấu khối lượng tín dụng lại phụ thuộc vào các điều kiện như:
lãi suất, điều kiện vay, yêu cầu thế chấp, bảo lãnh và chủ trương mở rộng tín dụng được
quy định trong chính sách tín dụng từng thời kỳ. Như vậy thông qua việc điều chỉnh các
điều kiện tín dụng Nhà nước có thể thay đổi quy mô tín dụng hoặc chuyển hướng vận
động của nguồn vốn tín dụng, nhờ đó ảnh hưởng đến tổng cầu của nền kinh tế cả về quy
mô cũng như kết cấu. Sự thay đổi của tổng cầu dưới tác động của chính sách tín dụng sẽ
tác động ngược lại tới tổng cung và các điều kiện sản xuất khác. Điểm cân bằng cuối
cùng giữa tổng cung và tổng cầu dưới tác động của chính sách tín dụng sẽ cho phép đạt
được các mục tiêu vĩ mô.
- Tín dụng ngân hàng là công cụ thực hiện các chính sách xã hội
Các chính sách xã hội về bản chất được đáp ứng bằng nguồn tài trợ không hoàn
lại từ ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên phương thức tài trợ này thường hạn chế về quy mô
và thiếu hiệu quả. Để khắc phục hạn chế này phương thức tài trợ không hoàn lại có xu
hướng bị thay thế bởi phương thức tài trợ có hoàn lại của tín dụng ngân hàng nhằm duy
trì nguồn cung cấp tài chính và có điều kiện mở rộng quy mô thực hiện các chính sách xã
hội. Chẳng hạn việc tài trợ vốn cho người nghèo được phổ biến thông qua các khoản tín
dụng đối với người nghèo với lãi suất thấp được thực hiện qua ngân hàng chính sách xã
hội. Thông qua phương thức tài trợ này các mục tiêu chính sách được đáp ứng một cách
chủ động và hiệu quả hơn. Khi các đối tượng chính sách buộc phải quan tâm đến hiệu quả
sử dụng vốn để đảm bảo hoàn trả đúng thời hạn thì kỹ năng lao động của họ cũng sẽ được
cải thiện từng bước. Đây là sự đảm bảo chắc chắn cho sự ổn định tài chính của các đối
tượng chính sách và từng bước làm cho họ có thể tồn tại độc lập với nguồn tài trợ. Đó
chính là mục đích của việc sử dụng phương thức tài trợ các mục tiêu chính sách bằng con
đường tín dụng ngân hàng.
1.3. Các hình thức của tín dụng ngân hàng
Tín dụng là loại tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản của các ngân
hàng thương mại, phản ánh hoạt động đặc trưng của ngân hàng. Tín dụng được phân chia
theo nhiều tiêu thức khác nhau:
1.3.1. Tín dụng chia theo thời gian
Nguyễn Văn Tiến – Chuyên Ngành Ngân Hàng
10
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Chuyên Đề Thực
Tập
Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì thời gian liên
quan mật thiết với đến tính an toàn và sinh lời của tín dụng cũng như khả năng hoàn trả
của khách hàng. Theo thời gian tín dụng được phân chia thành:
- Tín dụng ngắn hạn: là những khoản tín dụng có thời hạn từ 12 tháng trở xuống
được sử dụng để tài trợ cho sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và nhu cầu
chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
- Tín dụng trung hạn: theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tín dụng
trung hạn có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng. Được sử dụng tài trợ đầu tư mua
sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh
doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
- Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 60 tháng được cung cấp để đáp
ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà cửa, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy
mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới.
Nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn là nghiệp vụ truyền thống của các ngân hàng thương
mại, chiếm tỷ trọng cao hơn tín dụng trung dài hạn trong tổng dư nợ tín dụng do tín dụng
trung dài hạn có độ rủi ro và nguồn vốn đắt hơn tín dụng ngắn hạn. Bên cạnh đó còn
nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ này như kỳ hạn và tính ổn định của nguồn vốn, khả
năng quản lý thanh khoản của ngân hàng, khả năng dự báo và dự phòng rủi ro trong trung
và dài hạn.
1.3.2. Tín dụng chia theo hình thức tài trợ
Phân theo hình thức tài trợ tín dụng được chia thành: cho vay, bảo lãnh ngân hàng,
chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán và các nghiệp vụ tín dụng khác.
- Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao
cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian
nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
- Bảo lãnh là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên
nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách
hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết;
khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thoả thuận.
- Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công
cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán.
Nguyễn Văn Tiến – Chuyên Ngành Ngân Hàng
11
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Chuyên Đề Thực
Tập
- Cho thuê tài chính là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng thuê
theo những thoả thuận nhất định. Sau thời gian nhất định, khách hàng phải trả cả gốc và
lãi cho ngân hàng. Cho thuê tài sản trung dài hạn (Leasing) được ghi vào khoản mục tài
sản theo giá trị tài sản cho thuê trừ đi phần tiền thuê ngân hàng đã thu được (dư nợ cho
thuê).
- Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hay bên mua hàng
thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải
trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng
hoá, cung ứng dịch vụ.
1.3.3. Tín dụng chia theo hình thức đảm bảo
- Tín dụng không đảm bảo: là loại tín dụng không có tài sản thế chấp, cầm cố
thuộc quyền sở hữu của người nhận tín dụng hoặc sự bảo lãnh của người thứ 3, mà ngân
hàng cấp tín dụng chỉ dựa trên uy tín của khách hàng. Đây là thường là những khách hàng
tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính lành mạnh, ít xảy ra tình trạng nợ
nần dây dưa, hoặc các món vay nhỏ so với vốn của người vay, là những khách hàng mà
ngân hàng cho vay theo chỉ thị của Chính Phủ thì ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào
uy tín của bản thân khách hàng mà không cần một nguồn thu nợ thứ 2 bổ sung.
- Tín dụng có đảm bảo: là loại tín dụng dựa trên cơ sở các đảm bảo bằng tài sản
như thế chấp, cầm cố thuộc quyền sở hữu của người nhận tín dụng hoặc có sự bảo lãnh
bằng tài sản của bên thứ 3. Loại tín dụng này được áp dụng đối với những khách hàng
không có uy tín cao đối với ngân hàng, khi vay vốn cần phải có tài sản đảm bảo. Sự đảm
bảo này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn thu nợ thứ 2 bổ sung cho nguồn
thu nợ thứ 1 thiếu chắc chắn giúp giảm thiểu tổn thất cho ngân hàng.
1.3.4. Phân loại khác
Tín dụng còn được phân loại theo nhiều tiêu thức khác:
- Theo ngành kinh tế: công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ…
- Theo khách hàng: cá nhân, tổ chức
- Theo đối tượng tín dụng: tài sản lưu động, tài sản cố định
- Theo mục đích: sản xuất, tiêu dùng…
- Theo hình thức tài trợ: trực tiếp, gián tiếp
…
Nguyễn Văn Tiến – Chuyên Ngành Ngân Hàng
12
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Chuyên Đề Thực
Tập
Các cách phân loại này cho thấy tính đa dạng hoặc chuyên môn hoá trong cấp tín
dụng của ngân hàng. Các cách phân loại trên cho phép ngân hàng theo dõi rủi ro và sinh
lợi gắn liền với những lĩnh vực tài trợ, để có chính sách lãi suất, bảo đảm, hạn mức và
chính sách mở rộng phù hợp.
1.4. Chất lượng tín dụng ngân hàng
1.4.1. Quan điểm về chất lượng tín dụng
Chất lượng tín dụng là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhằm đánh giá chất
lượng hoạt động kinh doanh của ngân hàng, bởi vì hoạt động tín dụng là hoạt động lớn
nhất và đem lại thu nhập lớn nhất cho ngân hàng. Vì vậy, chất lượng tín dụng càng cao sẽ
phản ánh tình hình hoạt động càng hiệu quả. Tuy nhiên cần phải đưa ra khái niệm về chất
lượng tín dụng ngân hàng: Chất lượng tín dụng là khả năng đáp ứng nhu cầu vay vốn
hợp lý của khách hàng một cách nhanh chóng và chính xác, thúc đẩy sự phát triển
kinh tế - xã hội nhưng phải trên cơ sở đảm bảo an toàn vốn và sinh lời cho ngân hàng.
Khi phân tích, nghiên cứu về bản chất của chất lượng tín dụng cần phải xem xét
các mục tiêu mà nó hướng tới:
- An toàn vốn cho ngân hàng: Trong hoạt động tín dụng luôn chứa đựng rủi ro,
ngân hàng luôn phải đối đầu với khả năng bị mất vốn. Do vậy hạn chế rủi ro tín dụng đảm
bảo khả năng an toàn vốn cho ngân hàng là việc làm hết sức cần thiết và cấp bách, nó
phản ánh được chất lượng tín dụng tại một ngân hàng. Hơn nữa, ngân hàng là một tổ chức
trung gian tài chính, là cầu nối vốn tín dụng giữa người thừa vốn và thiếu vốn trong nền
kinh tế. Nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng chủ yếu là vốn nợ mà đặc trưng là nguồn
tiền gửi của dân cư, nếu ngân hàng xảy ra tình trạng mất vốn thì đối tượng bị thiệt hại lớn
nhất là người gửi tiền điều này dễ gây ra tình trạng bất ổn trong xã hội. Vì vậy, đảm bảo
an toàn vốn của ngân hàng là mục tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng của
một ngân hàng.
- Cung cấp vốn cho khách hàng nhanh chóng, kịp thời, đáp ứng đủ nhu cầu vốn để
thực hiện phương án sản xuất kinh doanh. Giải ngân vốn tín dụng nhanh chóng kịp thời
cũng rất quan trọng giúp đáp ứng vốn kịp thời, khách hàng không bị lỡ kế hoạch kinh
doanh đảm bảo sự thành công cho phương án sản xuất kinh doanh giúp ngân hàng thu đủ
nợ gốc và lãi đúng hạn. Chất lượng tín dụng cũng hướng tới mục tiêu đáp ứng đủ vốn cho
phương án sản xuất kinh doanh, đây cũng là vấn đề quan trọng. Nếu ngân hàng không
cung cấp đủ vốn cho khách hàng thì khách hàng hoạt động kinh doanh trong tình trạng
Nguyễn Văn Tiến – Chuyên Ngành Ngân Hàng
13
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Chuyên Đề Thực
Tập
thiếu vốn, hiệu quả không cao thậm chí thua lỗ điều này dẫn tới tình trạng ngân hàng
không thu hồi được nợ. Nếu ngân hàng cung cấp vốn tín dụng thừa so với nhu cầu thực tế
của phương án sản xuất kinh doanh gây lãng phí vốn bởi vì còn rất nhiều nhu cầu vay vốn
của những khách hàng khác. Thậm chí khách hàng còn sử dụng vốn sai mục đích rủi ro
tín dụng với ngân hàng sẽ càng lớn. Cung cấp vốn nhanh chóng, kịp thời, đủ nhu cầu vốn
cũng rất quan trọng đối với nhu cầu vốn trong hoạt động tiêu dùng. Cấp tín dụng tiêu
dùng nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng là cá nhân, hộ gia đình. Đây là
nguồn tài chính quan trọng giúp người có nhu cầu vốn vay trang trải những nhu cầu mang
tính cấp bách như: nhà ở, phương tiện đi lại, giáo dục, y tế,… Đối với nền kinh tế, cấp tín
dụng tiêu dùng được dùng tài trợ cho các chi tiêu về hàng hóa và dịch vụ trong nước, tác
động lên tổng cầu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Chính vì vậy cung cấp vốn tín dụng tiêu
dùng nhanh chóng, chính xác, đủ nhu cầu vốn cũng góp phần truyền dẫn một cách hiệu
quả Chính sách Tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước trong thời kỳ thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế.
- Đảm bảo khả năng sinh lời cho ngân hàng: Tín dụng là khoản mục tài sản chiếm
tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản của ngân hàng, sinh lời từ hoạt động tín dụng quyết
định tới thành công của hoạt động ngân hàng thương mại. Đánh giá chất lượng tín dụng
ngân hàng cũng hướng tới mục tiêu khả năng sinh lời từ hoạt động tín dụng của ngân
hàng, hoạt động sinh lời giúp ngân hàng tồn tại và phát triển bền vững.
1.4.2. Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng
Như đã phân tích ở trên, tín dụng nhằm thoả mãn nhu cầu vốn của các tổ chức, cá
nhân trong nền kinh tế. Hiện nay, hoạt động tín dụng là hoạt động chính đem lại thu nhập
lớn nhất trong các khoản mục trong tài sản của ngân hàng. Tuy nhiên, hoạt động tín dụng
là hoạt động xảy ra nhiều rủi ro nhất. Khi xảy ra rủi ro thì việc quản lý và xử lý rủi ro sẽ
khó khăn, phức tạp, tốn kém thời gian, công sức, tiền bạc và liên quan đến nhiều cơ quan
ban ngành…khi rủi ro tín dụng không được giải quyết thì sẽ gây tổn thất cho ngân hàng
trong kinh doanh, giảm uy tín của ngân hàng.
Do vậy, nâng cao chất lượng tín dụng là một vấn đề quan trọng và cần thiết đối với
các ngân hàng. Muốn vậy, ngân hàng phải thường xuyên phân tích, đánh giá, thẩm định
lại trong suốt quá trình từ khi cho vay đến khi thu hồi hết nợ gốc và lãi. Nâng cao chất
lượng tín dụng giúp ngân hàng phân tích, đánh giá từ đó phát hiện những tiềm ẩn rủi ro để
ngân hàng có các biện pháp kiểm soát rủi ro, áp dụng các biện pháp đảm bảo an toàn vốn
Nguyễn Văn Tiến – Chuyên Ngành Ngân Hàng
14
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Chuyên Đề Thực
Tập
vay, xác định được nhu cầu hợp lý vay vốn của khách hàng. Việc nâng cao chất lượng tín
dụng giúp ngân hàng hoạt động kinh doanh có hiệu quả, phát triển một cách ổn định và
bền vững. Ngoài ra nâng cao chất lượng tín dụng điều tiết và giảm thiểu được lượng tiền
thừa đọng trong lưu thông giúp kiểm soát lạm phát, ổn định tiền tệ, tăng trưởng kinh tế,
góp phần làm tăng hiệu quả sản xuất xã hội.
1.4.3. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng
1.4.3.1. Chỉ tiêu tỷ lệ nợ rủi ro trên tổng dư nợ
Tổng dư nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5
Tỷ lệ nợ rủi ro = x 100%
Tổng dư nợ tín dụng
Hiện nay tổ chức tín dụng phân loại nợ thành 5 nhóm, nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5 là
nợ rủi ro và tổ chức tín dụng phải trích lập dự phòng rủi ro tín dụng cụ thể. Tỷ lệ trích lập
dự phòng cụ thể đối với các nhóm nợ rủi ro được quy định như sau: nhóm 2: 5%; nhóm 3:
20%; nhóm 4: 50%; nhóm 5: 100%. Chỉ tiêu tỷ lệ rủi ro phản ánh cứ 100 đồng tổng dư nợ
tín dụng sẽ có bao nhiêu đồng tổng dư nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5. Chỉ tiêu này càng lớn
phản ánh nguy cơ mất vốn của ngân hàng càng cao, chất lượng tín dụng của ngân hàng
càng giảm.
1.4.3.2. Chỉ tiêu tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ
Chi phí trích lập dự phòng rủi ro
tín dụng
Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro = x 100%
tín dụng trên tổng dư nợ Tổng dư nợ tín dụng
Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ phản ánh: Cứ 100 đồng
tổng dư nợ tín dụng thì có bao nhiêu đồng chi phí trích lập dự phòng rủi ro tín dụng. Chỉ
tiêu này càng lớn chứng tỏ trong tổng dư nợ tín dụng của ngân hàng nợ rủi ro chiếm tỷ
trọng rất cao và giá trị tài sản đảm bảo không đủ bù đắp cho các nhóm nợ rủi ro. Chi phí
trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tăng làm giảm lợi nhuận của ngân hàng, điều này phản
ánh chất lượng tín dụng của ngân hàng giảm xuống.
Nguyễn Văn Tiến – Chuyên Ngành Ngân Hàng
15
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Chuyên Đề Thực
Tập
1.4.3.3. Chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ
Tổng dư nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu = 100%
Tổng dư nợ tín dụng
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ được sử dụng đánh giá chất lượng tín dụng tại
tổ chức tín dụng, điều này được quy định cụ thể tại khoản 6, điều 2 Quyết định
493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Tỷ lệ nợ xấu
cho biết trong 100 đồng tổng dư nợ tín dụng có bao nhiêu đồng nợ xấu, tỷ lệ này càng lớn
chứng tỏ chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng càng giảm.
Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước Nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5 cụ thể như sau:
- Nhóm 3: (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng
đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được
các tổ chức tín dụng là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi.
- Nhóm 4: (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá
là khả năng tổn thất cao.
- Nhóm 5: (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín
dụng đánh giá là không có khả năng thu hồi, mất vốn.
1.4.3.4. Chỉ tiêu tỷ lệ lãi treo trên tổng thu lãi
Lãi treo
Tỷ lệ lãi treo trên tổng thu lãi = 100%
Tổng thu lãi
Lãi treo là khoản lãi mà khách hàng không trả được khi đến kỳ hạn thanh toán lãi cho
ngân hàng, tỷ lệ lãi treo trên tổng thu lãi cho biết trong 100 đồng tổng thu lãi thì có bao
nhiêu đồng lãi treo. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng
càng giảm.
1.4.4. Những nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng
1.4.4.1. Nhân tố thuộc về ngân hàng
1.4.4.1.1. Chiến lược kinh doanh của ngân hàng
Nguyễn Văn Tiến – Chuyên Ngành Ngân Hàng
16
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Chuyên Đề Thực
Tập
Đây là một trong số các nguyên nhân chính ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của
ngân hàng. Các ngân hàng có thể đưa ra các kế hoạch kinh doanh, các chiến lược thực
hiện mục tiêu của mình, qua đó cải thiện tình hình kinh doanh cũng như chất lượng tín
dụng. Không phải lúc nào các chiến lược mở rộng thị trường hay cải thiện tình hình kinh
doanh cũng đạt được kết quả tốt, do vậy nó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng tín
dụng.
1.4.4.1.2. Nguồn vốn của ngân hàng
Ngân hàng muốn mở rộng hoạt động tín dụng thì trước hết ngân hàng phải có đủ
vốn để đáp ứng nhu cầu đó. Do vậy nguồn vốn của ngân hàng cũng đóng một vai trò rất
quan trọng, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của ngân hàng nói chung chất lượng tín
dụng ngân hàng nói riêng. Nếu phân chia theo hình thức sở hữu nguồn vốn của ngân hàng
gồm 2 loại chính: vốn của chủ ngân hàng và vốn nợ. Khi xem xét tỷ trọng của nguồn vốn
ngân hàng thì ta thấy vốn nợ của ngân hàng thường chiếm tỷ trọng từ 90% -> 97%. Với
đặc điểm này thì ta thấy ngân hàng là loại hình doanh nghiệp sử dụng hiệu quả công cụ
đòn bẩy tài chính. Nguồn tiền gửi là nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao nhất trong vốn nợ của
ngân hàng, đây là mục tiêu tăng trường hàng năm của ngân hàng thương mại. Đây là
nguồn vốn quan trọng là cơ sở để ngân hàng đưa ra các quyết định kinh doanh cũng như
hoạt động cấp tín dụng.
1.4.4.1.3. Năng lực thẩm định, giám sát khi cấp tín dụng
Thẩm định tín dụng là việc phân tích khả năng hiện tại và tiềm tàng của khách
hàng về sử dụng vốn tín dụng cũng như khả năng hoàn trả vốn vay ngân hàng. Mục tiêu
của thẩm định tín dụng là tìm kiếm những tình huống có thể dẫn đến rủi ro cho ngân hàng
và tiên lượng khả năng kiểm soát của ngân hàng về các loại rủi ro đó. Từ đó để có các dự
kiến về các biện pháp phòng ngừa và hạn chế những thiệt hại có thể xảy ra. Ngoài ra thẩm
định tín dụng giúp cho ngân hàng kiểm tra tính chính xác của các thông tin do khách hàng
cung cấp. Thẩm định tín dụng là một khâu rất quan trọng của quy trình tín dụng, là cơ sở
để ngân hàng ra quyết định cấp tín dụng cho những khách hàng tốt có khả năng hoàn trả
vốn tín dụng hay từ chối cấp tín dụng cho những khách hàng không có khả năng hoàn trả
vốn tín dụng.
Giám sát tín dụng giúp ngân hàng theo dõi đánh giá mức độ chấp hành hợp đồng
tín dụng của khách hàng để từ đó ngân hàng có các cách ứng xử thích hợp, các nội dung
cần được giám sát như sau: khách hàng sử dụng vốn có đúng mục đích hay không? kiểm
Nguyễn Văn Tiến – Chuyên Ngành Ngân Hàng
17
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Chuyên Đề Thực
Tập
soát mức độ rủi ro tín dụng trong quá trình sử dụng vốn tín dụng, theo dõi thực hiện các
điều khoản cụ thể đã thoả thuận trong hợp đồng, kịp thời phát hiện những vi phạm để có
những ứng xử thích hợp, theo dõi và ghi nhận việc thực hiện quy trình tín dụng của các
bộ phận cá nhân có liên quan tại ngân hàng.
Thẩm định tín dụng và giám sát tín dụng là những khâu rất quan trọng của quy
trình tín dụng, giúp ngân hàng phòng ngừa hạn chế được những rủi ro tiềm ẩn từ đó giảm
thiểu tổn thất cho ngân hàng khi rủi ro xảy ra. Tuy nhiên công việc này đòi hỏi chuyên
môn nghiệp vụ rất cao của người cán bộ tín dụng, năng lực thẩm định giám sát tín dụng
giúp nâng cao chất lượng tín dụng tại các ngân hàng.
1.4.4.1.4. Chính sách tín dụng của ngân hàng
Hoạt động tín dụng là hoạt động bao trùm của ngân hàng. Với tầm quan trọng và
quy mô lớn của tín dụng, hoạt động này được thực hiện theo một chính sách rõ ràng được
xây dựng và hoàn thiện qua nhiều năm đó là chính sách tín dụng. Chính sách tín dụng
phản ánh cương lĩnh tài trợ của một ngân hàng, trở thành hướng dẫn chung cho cán bộ tín
dụng và các nhân viên ngân hàng, tăng cường chuyên môn hoá trong phân tích tín dụng,
tạo sự thống nhất chung trong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả
năng sinh lời. Xây dựng một chính sách tín dụng khoa học, hợp lý đảm bảo được lợi ích
của ngân hàng và khách hàng thì sẽ đảm bảo được chất lượng tín dụng.
1.4.4.1.5. Chất lượng quản lý nhân sự của ngân hàng
Nhân tố con người luôn giữ một vai trò quan trọng, là một nhân tố quyết định sự
thành bại trong quản lý vốn và tài sản của ngân hàng. Các phương tiện kỹ thuật hiện đại
chỉ có thể trợ giúp chứ không thể thay thế được sự nhạy cảm hay kinh nghiệm của người
cán bộ tín dụng. Do đó vấn đề nhân sự đặc biệt là chất lượng nhân sự và quản lý nhân sự
là một nhân tố cực kỳ quan trọng.
Chất lượng nhân sự: Là trình độ chuyên môn của người cán bộ, lương tâm, đạo
đức nghề nghiệp, tác phong kỷ luật của người cán bộ. Chất lượng nhân sự tốt chính là sự
năng động, tự chủ và độc lập trong công việc của mình.
Trình độ quản lý nhân sự: Là việc bố trí sắp xếp cán bộ phù hợp và trình độ và sở
trường công việc của từng người, từ đó phát huy được thế mạnh và hạn chế tối đa điểm
yếu của từng người. Đồng thời, người quản lý có chế độ đãi ngộ thưởng phạt phân minh
thì cũng sẽ giúp cho nhân viên gắn bó với ngân hàng, với công việc của mình hơn. Từ đó,
Nguyễn Văn Tiến – Chuyên Ngành Ngân Hàng
18
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Chuyên Đề Thực
Tập
tập thể cán bộ nhân viên trong ngân hàng cùng nâng cao tinh thần, trách nhiệm của mình
để đạt được mục tiêu chung là nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng.
1.4.4.1.6. Vấn đề kiểm tra, kiểm soát nội bộ
Đây chính là vấn đề quản lý, thanh tra về chính bản thân ngân hàng. Đây cũng là
yếu tố quan trọng bởi nếu hoạt động này không được thực hiện một cách thường xuyên
hoặc nếu có thực hiện một cách qua loa thì chất lượng của hoạt động tín dụng sẽ không
đạt được kết quả cao, kiểm tra, kiểm soát nội bộ sẽ tránh được các sai sót trong việc thực
hiện các chính sách cũng như việc làm sai trái của cán bộ. Đây có thể coi là bước cuối
cùng trong các bước để nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng. Và việc này được
thực hiện thường xuyên và khách quan thì sẽ đạt được kết quả cao và ngược lại nếu vấn
đề kiểm soát nội bộ không được thực hiện có hiệu quả thì sẽ ảnh hưởng đến hoạt động
của ngân hàng nói chung và chất lượng tín dụng nói riêng.
1.4.4.2. Nhân tố thuộc về khách hàng
1.4.4.2.1. Năng lực, kinh nghiệm quản lý của khách hàng
Năng lực quản lý của khách hàng là cơ sở để hình thành nên lợi nhuận của chính
khách hàng. Do vậy nó ảnh hưởng không nhỏ tới tiến độ kinh doanh có hiệu quả và đứng
vững trong cạnh tranh thì người quản lý của doanh nghiệp cần phải có năng lực, kinh
nghiệm cũng như khả năng đánh giá được những biến động của thị trường, qua đó đưa ra
những định hướng cho doanh nghiệp của mình tránh khỏi những rủi ro có thể xảy ra. Từ
đó doanh nghiệp làm ăn có lãi, trả nợ ngân hàng đúng hạn, mở rộng sản xuất kinh doanh.
Do vậy quy mô và chất lượng tín dụng được nâng cao. Nếu năng lực quản lý của khách
hàng kém dẫn đến doanh nghiệp làm ăn không có hiệu quả, kinh doanh bị thua lỗ gây ảnh
hưởng đến khả năng thanh toán nợ cho ngân hàng, do vậy chất lượng tín dụng bị giảm
sút.
1.4.4.2.2. Uy tín và đạo đức của khách hàng
Đây được coi là một trong những yếu tố quan trọng nhất tác động đến chất lượng
tín dụng của ngân hàng. Bởi vì có nhiều trường hợp khách hàng mạo hiểm với nguồn vốn
vay, với mong muốn thu được lợi nhuận cao và nhanh hơn, cho nên họ đã là sai với kế
hoạch ban đầu đã đạt được ngân hàng chấp nhận, tức là sử vốn sai mục đích. Để làm được
điều này học đã thực hiện rất nhiều cách để ứng phó với sự kiểm tra, giám sát của ngân
hàng như: cung cấp thông tin sai, mua chuộc cán bộ ngân hàng… Cho nên nếu khách
hàng có đạo đức, trung thực tức là sử dụng vốn vay đúng như cam kết khi vay vốn. Tức là
Nguyễn Văn Tiến – Chuyên Ngành Ngân Hàng
19
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Chuyên Đề Thực
Tập
dự án, phương án sản xuất kinh doanh có thể có lãi, do đó mà khách hàng có thể trả nợ
ngân hàng đúng hạn. Do vậy không có rủi ro xảy ra đối với chất lượng tín dụng của ngân
hàng.
Còn nếu khách hàng có động cơ sử dụng vốn sai mục đích tức là nguồn vốn của
ngân hàng được sử dụng vào các mục khác hoặc các dự án có tính rủi ro cao hơn (Do
ngân hàng không thẩm định được dự án). Cho nên nếu như khách hàng gặp thất bại thì
ngân hàng sẽ không thu được vốn và lãi. Do vậy ảnh hưởng đến chất lượng tín của ngân
hàng. Do vậy việc thẩm định, phân tích dự án và khách hàng về tính trung thực là rất cần
thiết. Có giải quyết tốt được vấn đề này thì chất lượng tín dụng sẽ được nâng cao.
1.4.4.2.3. Khả năng tài chính của khách hàng
Nếu khách hàng có tiềm lực tài chính mạnh tức là nguồn vốn (vốn chủ sở hữu và
vốn nợ) của khách hàng sẽ tăng. Do vậy mà doanh nghiệp sẽ mở rộng được hoạt động sản
xuất kinh doanh của mình, chiếm lĩnh được thị phần nhiều hơn. Do vậy mà lợi nhuận đem
lại cao hơn điều đó dễ dàng hơn cho doanh nghiệp trong vấn đề trả nợ tiền vay từ đó góp
phần nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng.
Ngược lại nếu khách hàng có tiềm lực tài chính yếu tức là nguồn vốn vay từ ngân
hàng cũng rất hạn chế ( ngân hàng cho khách hàng vay vốn với điều kiện khách hàng phải
có một số vốn tối thiểu nhất định tham gia dự án). Do vậy mà doanh nghiệp gặp khó khăn
trong sản xuất kinh doanh, từ đó mà quy mô tín dụng cũng giảm ảnh hưởng đến chất
lượng tín dụng.
1.4.4.1.7. Quy trình tín dụng
Hiện nay các ngân hàng thương mại đều xây dựng cho riêng tổ chức mình quy
trình tín dụng, việc xây dựng một quy trình tín dụng khoa học và hợp lý góp phần nâng
cao chất lượng hoạt động tín dụng, tăng cường hoạt động quản trị nhằm giảm thiểu rủi ro
và tăng khả năng sinh lời cho ngân hàng. Quy trình tín dụng là quy phạm nghiệp vụ mang
tính chất bắt buộc trong nội bộ ngân hàng, mang tính khuôn khổ, quy tắc sau khi được
một hội đồng khoa học nghiên cứu kỹ lưỡng. Chính vì vậy nó giống như cuốn cẩm lang
giúp cán bộ tín dụng biết được công việc và trách nhiệm trong hoạt động nghiệp vụ của
mình. Việc thực hiện cấp tín dụng theo quy trình tín dụng giúp cho cả hệ thống thực hiện
theo những quy chuẩn chế độ nhất định, từ đó giúp ngân hàng phát hiện và kiểm soát
được những rủi ro tiềm ẩn. Hơn nữa việc thực hiện cấp tín dụng theo quy trình còn giúp
Nguyễn Văn Tiến – Chuyên Ngành Ngân Hàng
20
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Chuyên Đề Thực
Tập
ngân hàng phát hiện những quy định không phù hợp trong quy trình để từ đó có những
thay đổi kịp thời để tăng cường chất lượng tín dụng của ngân hàng.
1.4.4.3. Các nhân tố khác
1.4.4.3.1. Môi trường chính trị - xã hội
Môi trường chính trị - xã hội ổn định là căn cứ quan trọng để đề ra quyết định của
các nhà đầu tư. Nếu môi trường ổn định thì các nhà đầu tư yên tâm đầu tư mở rộng đầu tư
do vậy nhu cầu vay vốn tín dụng của khách hàng sẽ tăng lên. Ngược lại nếu môi trường
chính trị bất ổn thì các nhà đầu tư sẽ e ngại trong đầu tư do vậy họ sẽ thu hẹp sản xuất để
đảm bảo an toàn vốn cho mình. Do vậy nhu cầu vay vốn tín dụng của khách hàng sẽ
giảm, ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của ngân hàng.
Việt Nam là một trong những nước có nền chính trị xã hội ổn định nhất trên thế
giới. Chính vì thế mà trong giai đoạn hiện nay đã thu hút rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài,
việc này đã thúc đẩy chất lượng tín dụng được mở rộng và nâng cao.
1.4.4.3.2. Môi trường pháp lý
Việt Nam là nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa nên nguyên tắc hoạt
động của ngân hàng cũng tuân theo sự kiểm soát của nhà nước thông qua các luật do nhà
nước đề ra. Môi trường pháp lý thống nhất và ổn đinh sẽ là điều kiện thuận lợi cho hoạt
động kinh doanh của ngân hàng cũng như các doanh nghiệp. Do vậy nó tác động đến chất
lượng tín dụng của ngân hàng. Các chính sách có tác động lớn và trực tiếp đến lĩnh vực
tài chính - ngân hàng như: Chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa… Chỉ một sự thay đổi
nhỏ trong chính sách của nhà nước cũng dẫn tới sự chuyển hướng trong hoạt động của
ngân hàng vì ngân hàng là trung gian trong nền kinh tế. Trên thực tế thì môi trường pháp
lý vẫn chưa ổn định, pháp luật vẫn phải sửa đổi để phù hợp với sự phát triển kinh tế trong
quá trình hội nhập thế giới. Do vậy mà nó ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả của hoạt
động kinh doanh của ngân hàng.
1.4.4.4.3. Môi trường kinh tế
Trong điều kiện quốc tế hóa hiện nay, hoạt động ngân hàng và doanh nghiệp
không những chịu ảnh hưởng của môi trường kinh tế trong nước mà còn cả môi trường
kinh tế thế giới. Những tác động do môi trường kinh tế gây ra có thể tác động gián tiếp
đối với ngân hàng. Thay đổi tỷ lệ lãi suất lạm phát hoặc tác động trực tiếp tới hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Qua đó, ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của ngân hàng.
Đặc biệt trong năm vừa qua cuộc khủng khoảng kinh tế thế giới vừa qua ảnh hưởng lớn
Nguyễn Văn Tiến – Chuyên Ngành Ngân Hàng
21
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Chuyên Đề Thực
Tập
đến tất cả các ngân hàng và các doanh nghiệp trên thế giới. Các ngân hàng Việt Nam
cũng không phải là ngoại lệ. Bằng những chính sách điều chỉnh lãi suất chính xác và phù
hợp cùng với việc Chính Phủ mở gói kich cầu đã dần đưa kinh tế ổn định giúp các ngân
hàng dần thoát khỏi khó khăn.
Nguyễn Văn Tiến – Chuyên Ngành Ngân Hàng
22
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Chuyên Đề Thực
Tập
Chương 2: THỰC TRẠNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI NHÁNH QUẬN HẢI AN –
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
2.1. Sự hình thành và phát triển của chi nhánh ngân hàng
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của chi nhánh ngân hàng
Chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quận Hải An - thành
phố Hải Phòng được thành lập ngày 02/05/2003 theo quyết định số: 140/QĐ-NHNo-02
của Chủ tịch hội đồng quản trị ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt
Nam. Có trụ sở chính tại số 261 đường Lê Hồng Phong, quận Hải An, thành phố Hải
Phòng. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hải An - thành phố
Hải Phòng là đơn vị trực thuộc ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố
Hải Phòng. Trong những ngày đầu thành lập khi nền kinh tế đất nước đang trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá sau khi đã hoàn thành những điều kiện cơ bản,
tăng trưởng kinh tế còn thấp, các chính sách kinh tế đang trong quá trình hoàn thiện để
hội nhập với nền kinh tế thế giới do đó hoạt động của ngành ngân hàng nói chung còn
nhiều khó khăn. Tuy nhiên cho đến nay chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn quận Hải An không ngừng lớn mạnh, đang từng bước phát triển thành một
trong những ngân hàng hiện đại có tầm cỡ trong hệ thống ngân hàng của Việt Nam.
2.1.2. Mô hình tổ chức và chức năng nhiệm vụ của các phòng ban chi nhánh ngân hàng
2.1.2.1. Cơ cấu tổ chức
Mô hình tổ chức chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quận
Hải An gồm ban giám đốc và các phòng, ban sau:
Nguyễn Văn Tiến – Chuyên Ngành Ngân Hàng
23
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Chuyên Đề Thực
Tập
2.1.2.2. Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban
- Ban giám đốc: Thực hiện các hoạt động quản lý nói chung của toàn bộ chi nhánh.
Điều hành, hướng dẫn, tổ chức nhân sự thực hiện các kế hoạch hoạt động của chi nhánh.
Phổ biến thực hiện các kế hoạch từ trụ sở chính, trực tiếp báo cáo với cấp trên những vấn
đề phát sinh và việc thực hiện các kế hoạch hoạt động của chi nhánh.
- Phòng Kiểm tra, kiểm soát nội bộ: Xây dựng chương trình công tác quý, năm phù
hợp với chương trình công tác kiểm tra kiểm soát. Tổ chức thực hiện công tác rà soát,
đánh giá độc lập về tính thích hợp và sự tuân thủ quy định đã được thiết lập trong tổ chức
tín dụng, đưa ra các ý kiến nhằm nâng cao hiệu quả của các hệ thống góp phần đảm bảo
chi nhánh hoạt động an toàn, hiệu quả và đúng pháp luật.
- Phòng Tổ chức hành chính: Có chức năng tham mưu cho ban giám đốc các lĩnh
vực: tổ chức đào tạo cán bộ công nhân viên, tuyển dụng lao động, quản lý tiền lương,
công tác tổng hợp văn phòng thi đua, công tác hành chính quản trị.
- Phòng Khách hàng: Bao gồm phòng khách hàng doanh nghiệp và phòng khách
hàng cá nhân, thực hiện các hoạt động như: cấp tín dụng, thẩm định dự án đầu tư, quản lý
khoản tín dụng đã cấp cho khách hàng, tư vấn cho khách hàng các thông tin về sản phẩm
dịch vụ của ngân hàng đối với khách hàng là doanh nghiệp và cá nhân.
Nguyễn Văn Tiến – Chuyên Ngành Ngân Hàng
24
Ban Giám Đốc
Phòng
Kiểm
tra,
kiểm
soát
nội bộ
Phòng
Tổ
chức
hành
chính
Phòng
Khách
hàng
doanh
nghiệp
Phòng
Quản
lý rủi
ro, nợ
có vấn
đề
Phòng
Khách
hàng
cá
nhân
Phòng
Giao
dịch
Phòng
Kế
toán
giao
dịch
Phòng
Điện
toán
Phòng
Tiền tệ
Kho
quỹ
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Chuyên Đề Thực
Tập
- Phòng Quản lý rủi ro, nợ có vấn đề: Thực hiện cung cấp các thông tin liên quan
tới khách hàng, quản lý các khoản nợ xấu, có các biện pháp xử lý nhằm thu hồi nợ cho
ngân hàng.
- Phòng Giao dịch: Phòng giao dịch có hoạt động như một ngân hàng thu nhỏ có
bộ phận huy động vốn, có bộ phận cho vay, có bộ phận kế toán đảm nhiệm các công tác
kế toán cho vay, thu nợ, kế toán tiết kiệm.
- Phòng Kế toán giao dịch: Gồm có bộ phận kế toán nội bộ và kế toán giao dịch
với khách hàng.
+ Kế toán nội bộ: quản lý các khoản thu chi nội bộ trong chi nhánh, cân đối lãi, lỗ
trong hoạt động kinh doanh của chi nhánh.
+ Kế toán giao dịch với khách hàng: Thực hiện các nghiệp vụ chuyển tiền trong
nước, thanh toán bù trừ,… Trong giao dịch với khách hàng hình thành hai tài khoản tiền
vay và tài khoản tiền gửi. Đối với tiền vay thì kế toán có thể thực hiện các nghiệp vụ như
chuyển tiền, thu tiền, chi tiền. Đối với tiền gửi thì kế toán phải thực hiện các nghiệp vụ
nộp tiền vào tài khoản, lĩnh tiền từ tài khoản, lệnh chi chuyển tiền. Khi khoản vay được
phòng khách hàng chấp nhận thì phòng kế toán tiến hành giải ngân.
- Phòng Tiền tệ kho quỹ: Tham mưu cho giám đốc chỉ đạo, điều hành hoạt động
ngân quỹ theo quy định theo quy chế của Ngân Hàng Nhà Nước. Tổ chức tốt việc thu chi
tiền cho khách hàng tại chi nhánh và các đơn vị đảm bảo an toàn tài sản.
- Phòng Điện toán: Thực hiện công tác quản lý, duy trì hệ thống thông tin điện
toán tại chi nhánh. Bảo trì máy tính đảm bảo thông suốt hoạt động của hệ thống mạng,
máy tính của chi nhánh.
2.1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh ngân hàng giai đoạn 2008 – 2010
2.1.3.1. Tình hình nguồn vốn
Nguồn vốn là yếu tố đầu vào, đóng một vai trò quan trọng ảnh hưởng tới chất
lượng hoạt động của ngân hàng. Chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn quận Hải An xác định nguồn vốn là khâu mở đầu quyết định tới thành công hoạt
động của chi nhánh. Với phương châm đó ngân hàng đã đa dạng hoá nguồn vốn bằng
nhiều hình thức và kênh huy động khác nhau. Ngân hàng mở rộng phạm vi huy động vốn
đa dạng hoá các hình thức huy động như phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, đa dạng hoá các
kỳ hạn và lãi suất nhằm thu hút nguồn vốn tối đa phục vụ hoạt động kinh doanh của ngân
Nguyễn Văn Tiến – Chuyên Ngành Ngân Hàng
25