Tải bản đầy đủ (.doc) (56 trang)

Giải pháp nâng cao khả năng phòng ngừa và quản lý rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Á Châu Hưng Yên

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (383.98 KB, 56 trang )

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỤC LỤC
SỐ TIỀN 30
Trần Quốc Tuấn Ngân hàng K11
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
DANH MỤC BẢNG SƠ ĐỒ
2.1 Căn cứ theo thời hạn của khoản tín dụng: 3
2.2 Căn cứ theo đảm bảo tín dụng: 3
2.3 Căn cứ theo mục đích tín dụng: 4
SỐ TIỀN 30
2.1 Xây dựng chính sách tín dụng hợp lý 32
2.2 Kiểm soát cho vay 32
2.3 Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng 33
2.4 Thực hiện nghiêm ngặt công tác thế chấp tài sản 34
Chi nhánh Ngân hàng TMCP Á châu Hưng yên luôn lấy tính hiệu quả của phương án làm cơ sở hàng đầu trong
xét duyệt cho vay. Nhưng để phòng ngừa rủi ro có thể xảy ra và ràng buộc trách nhiệm của khách hàng trong
việc sử dụng vốn có hiệu quả thì Ngân hàng luôn yêu cầu khách hàng phải có tài sản thế chấp. Việc thẩm định
hiện trạng của các tài sản, các giấy tờ cần thiết cũng như đánh giá khi cho vay đều được thực hiện một cách
chặt chẽ và nghiêm túc. 34
2.5 Tuyển dụng và đào tạo đội ngũ cán bộ tín dụng có chuyên môn và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp 34
2.6 Thực hiện phân tán rủi ro 34
Trần Quốc Tuấn Ngân hàng K11
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Cùng với công cuộc đổi mới và phát triển đất nước theo hướng công nghiệp
hóa hiện đại hóa một cách toàn diện, hệ thống Ngân hàng Việt Nam trong những
năm qua cũng đã có nhiều đổi mới tích cực, căn bản và toàn diện trên mọi mặt. Đặc
biệt trong vài năm trở lại đây, thực hiện chủ trương đổi mới nền kinh tế theo cơ chế
thị trường của Đảng và Nhà nước, các Ngân hàng đã có những đóng góp thiết thực và
to lớn cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước, một trong những đóng góp
đó là cung cấp một khối lượng tín dụng đáng kể cho tất cả các thành phần kinh tế.


Ngân hàng đã góp phần vào việc kiềm chế, đẩy lùi lạm phát và ổn định kinh tế.
Hệ thống Ngân Hàng đã thực sự trở thành trung tâm Tiền Tệ- Thanh Toán của
nền kinh tế đất nước.
Nguồn vốn tín dụng Ngân hàng chính là đòn bẩy kinh tế quan trọng, góp phần
tổ chức, sắp xếp lại sản xuất kinh doanh, chuyển dịch và đổi mới cơ cấu kinh tế theo
hướng phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần và chiến lược công nghiệp hoá
hiện đại hoá đất nước.
Tuy nhiên ngoài những đóng góp thiết thực và hiệu quả cho nền kinh tế mà
Ngân Hàng đạt được, thì cũng tồn tại những hạn chế chính ngay trong các Ngân
Hàng mà nguyên nhân này là do cả khách hàng và Ngân Hàng và cả tác động của
nền kinh tế. Ví như mức độ an toàn của đồng vốn chưa cao, chất lượng tín dụng
chưa tốt, tỷ lệ nợ quá hạn còn quá lớn…Tất cả những điều này đã dẫn đến những
khó khăn không nhỏ cho các Ngân Hàng.
Hoạt động kinh doanh tín dụng của Ngân hàng thương mại là phục vụ nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước. Thực tế Ngân hàng thương mại hoạt động trong điều kiện hết sức
khó khăn, phức tạp của thị trường. Môi trường pháp lý vẫn chưa đồng bộ, kinh tế
vẫn chưa ổn định, trình độ quản lý kinh tế còn yếu kém, tệ nạn tham nhũng vẫn
chưa thuyên giảm. Các doanh nghiệp các hộ gia đình vay vốn Ngân hàng để kinh
doanh thì thua lỗ, phá sản, làm thất thoát vốn.
Bản thân Ngân hàng khi chuyển sang cơ chế thị trường cũng là mới mẻ, vẫn
còn thiếu kinh nghiệm và hệ thống thông tin phòng chống rủi ro của ngành thì chưa
được đầy đủ, chính xác và hoàn thiện, trong khi môi trường kinh doanh đòi hỏi
phải nhanh chóng nắm bắt được mọi thông tin về khách hàng một cách kịp thời để
đối phó nếu không ngân hàng sẽ gặp rủi ro là điều khó tránh khỏi.
Trước tình hình đó, để giải quyết và tháo gỡ những vướng mắc Ngân hàng cần
Trần Quốc Tuấn Ngân hàng K11
1
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tăng cường các biện pháp mở rộng tín dụng. Song song với việc nâng cao chất

lượng hoạt động tín dụng tích cực hạn chế mọi rủi ro có thể xảy ra là một yêu cầu
bức thiết phải thực hiện để đảm bảo cho sự tồn tại của Ngân hàng.
Xuất phát từ những lý do trên nên em chọn viết đề tài:
“Phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng thương
mại cổ phần Á Châu tỉnh Hưng Yên ” làm đề tài thực tập tốt nghiệp.
ĐỀ TÀI ĐƯỢC CHIA LÀM 3 CHƯƠNG
CHƯƠNG 1: Rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại.
CHƯƠNG 2: Thực trạng rủi ro tín dụng tại chi nhánh Ngân hành thương mại
cổ phần Á châu Hưng Yên.
CHƯƠNG 3: Đề xuất nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại chi
nhánh Ngân hành thương mại cổ phần Á châu Hưng Yên.
Với kiến thức và trình độ còn những hạn chế, hơn nữa đây là một đề tài mang
tính rộng lớn, có tính cấp bách hiện nay của toàn hệ thống Ngân hàng và toàn xã hội
nên đề tài này không tránh khỏi những sai sót.
Vì vậy em rất mong được sự quan tâm, giúp đỡ, góp ý của các Thầy, Cô giáo,
của Ban Giám Đốc Chi nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần Á châu Hưng yên và
các bạn đồng nghiệp để bài viết được hoàn chỉnh và mang tính thực tiễn cao hơn.
Trần Quốc Tuấn Ngân hàng K11
2
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1. Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ vay mượn bằng tiền tệ, hàng hóa và dịch
vụ theo nguyên tắc hoàn trả giữa một bên là ngân hàng và một bên là các đơn vị
kinh tế, các tổ chức xã hội và dân cư.
Quá trình hình thành quan hệ tín dụng chính là quá trình hình thành các quan
hệ vay mượn lẫn nhau trong xã hội. Đó là mối quan hệ hoàn trả gốc và lãi sau một
khoảng thời gian nhất định, là quan hệ chuyển dịch tạm thời quyền sử dụng vốn, là

quyền bình đẳng cả hai bên đều có lợi. Trong nền kinh tế thị trường đại bộ phận quỹ
cho vay tập chung qua ngân hàng và từ đó đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung cho các
doanh nghiệp và cá nhân.
Tín dụng ngân hàng không những chỉ đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn để bổ
sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp và cá nhân mà còn tham gia cấp vốn cho
đầu tư xây dựng cơ bản, cải tiến đổi mới kỹ thuật công nghệ sản xuất. Ngoài ra tín
dụng ngân hàng còn đáp ứng một phần đáng kể nhu cầu tiêu dùng cá nhân. Như vậy
tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng chủ yếu trong nền kinh tế thị trường, nó
đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế rất linh hoạt và kịp thời.
2. Phân loại tín dụng
2.1 Căn cứ theo thời hạn của khoản tín dụng:
Theo tiêu thức này tín dụng ngân hàng chia thành các loại sau:
- Tín dụng ngắn hạn: Có thời hạn dưới 1 năm.
- Tín dụng trung hạn: Có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm.
- Tín dụng dài hạn: Có thời hạn trên 5 năm.
2.2 Căn cứ theo đảm bảo tín dụng:
Theo tiêu thức này tín dụng ngân hàng có thể chia thành các loại sau:
- Tín dụng không có đảm bảo: Là tín dụng không có tài sản cầm cố, tài sản
thế chấp hay không có bảo lãnh của bên thứ ba.
- Tín dụng có đảm bảo: Là tín dụng có tài sản cầm cố, thế chấp hay có bảo
lãnh của bên thứ ba.
Trần Quốc Tuấn Ngân hàng K11
3
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.3 Căn cứ theo mục đích tín dụng:
Theo tiêu thức này tín dụng ngân hàng có thể chia thành các loại sau:
- Tín dụng bất động sản: Được hiểu là khoản tín dụng được bảo đảm bằng bất
động sản, bao gồm:
+ Tín dụng ngắn hạn cho xây dựng, mở rộng đất đai.
+ Tín dụng dài hạn để mua đất đai, nhà cửa, căn hộ, cơ sở dịch vụ, trang trại,

bất động sản ở nước ngoài.
- Tín dụng công thương nghiệp: Đây là các khoản tín dụng được cấp cho các
doanh nghiệp để trang trải các khoản chi phí như mua hàng hoá, nguyên vật liệu, trả
thuế và chi trả lương cho nhân công.
- Tín dụng nông nghiệp: Đây là các khoản tín dụng để cấp cho các hoạt động
nông nghiệp, nhằm trợ giúp các hoạt động gồm trồng trọt, thu hoạch mùa màng,
chăn nuôi gia súc…
- Tín dụng cá nhân: Đây là khoản tín dụng sử dụng cho cá nhân mua hàng hoá
tiêu dùng đắt tiền như xe hơi, nhà di động, trang thiết bị trong nhà
- Tín dụng cho các tổ chức tài chính: Đây là khoản tín dụng cấp cho các ngân
hàng các công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài chính khác…
- Cho thuê tài chính: Là hoạt động của ngân hàng gồm: mua các trang thiết bị,
máy móc và cho thuê lại chúng.
- Tín dụng khác: Bao gồm các khoản tín dụng khác chưa được phân loại ở
trên (Chẳng hạn tín dụng kinh doanh chứng khoán…).
Dựa theo từng mục đích mà mỗi ngân hàng sẽ phân loại tín dụng theo các tiêu
chí nhất định nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho ngân hàng quản lý và điều
hành.
3. Vai trò của tín dụng ngân hàng
3.1 Đối với ngân hàng
Tín dụng Ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng trong mọi hoạt động của
Ngân hàng. Duy trì, và tạo ra lợi nhuận cho Ngân hàng. Thực chất bản thân Ngân hàng
là một tổ chức tín dụng. Ngân hàng kinh doanh tiền tệ, làm nhiệm vụ huy động vốn và sử
dụng vốn huy động và việc làm này tạo ra lợi nhuận trực tiếp cho Ngân hàng. Bởi vậy
mà tín dụng được coi là “ lá phổi” trong mọi hoạt động của Ngân hàng.
3.2 Đối với khách hàng
Tín dụng Ngân hàng góp một phần quan trọng đối với khách hàng. Đối với
khách hàng cá nhân thì Ngân hàng là sự lựa chọn an toàn và mang lại lợi nhuận cho
Trần Quốc Tuấn Ngân hàng K11
4

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
khách hàng khi gửi tiền vào Ngân hàng. Còn đối với khách hàng là doanh nghiệp,
bên cạch việc gửi tiền thì việc vay vốn để đầu tư trong hoạt động sản xuất kinh
doanh là không thể thiếu. Xét một thực tế như, khi doanh nghiệp gặp khó khăn tài
chính trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì Ngân hàng là sự lựa chọn số một đối
với các doanh nghiệp. Bởi vậy mà tín dụng Ngân hàng có vai trò quan trọng đối với
khách hàng, không chỉ hỗ trợ kịp thời mà là chỗ dựa an toàn cho khách hàng trong
mọi hoạt động sản xuất kinh doanh.
3.3 Đối với nền kinh tế
3.3.1 Góp phần thúc đẩy sản xuất, thúc đẩy cạnh tranh trong nền kinh tế thị
trường.
Một trong những mục tiêu chủ yếu của hoạt động tín dụng ngân hàng là lợi
nhuận, vì vậy ngân hàng chỉ tập trung đầu tư vào những dự án thực sự có khả năng
sinh lợi cao, nhưng trong thực tế ngân hàng cũng đầu tư vào một số ngành có lợi
nhuận không cao. Đây là quá trình dịch chuyển cơ cấu sản xuất làm bình quân hoá
lợi nhuận, như vậy dưới tác dụng của tín dụng ngân hàng, lực lượng sản xuất xã hội
không ngừng tăng lên, dựa vào nguồn vốn của ngân hàng mà các doanh nghiệp đã
thúc đẩy phát triển sản xuất. Thông qua sự đa dạng của các hình thức tín dụng ngân
hàng đã góp phần không nhỏ vào công cuộc hiện đại hoá đất nước trên nhiều lĩnh
vực đặc biệt là lĩnh vực sản xuất vật chất cho toàn xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường thì vấn đề cạnh tranh là không thể tránh khỏi, đó
là vấn đề sống còn của doanh nghiệp do đó các chủ doanh nghiệp phải linh hoạt, tự
tìm kiếm và nắm bắt kịp thời các thành tựu khoa học kỹ thuật nhằm đổi mới công
nghệ dây chuyền sản xuất, hoàn thiện nghệ thuật quản trị kinh doanh v.v Những
việc làm này đòi hỏi phải có một khối lượng lớn về vốn và rõ ràng tín dụng ngân
hàng sẽ là nguồn đáp ứng cho nhu cầu đó.
3.3.2 Tín dụng ngân hàng là công cụ đắc lực cho các ngành kinh tế kém phát triển
Trong điều kiện nước ta hiện nay, nông nghiệp là một ngành kinh tế cực kỳ
quan trọng. Nó là ngành sản xuất đáp ứng đầy đủ nhu cầu thiết yếu cho xã hội đồng
thời là ngành giải quyết việc làm cho nhiều lao động nhất, nhưng nông nghiệp cũng

là một ngành chịu nhiều tác động của điều kiện tự nhiên. Vì vậy trong giai đoạn
trước mắt Nhà nước cần phải tập trung phát triển nông nghiệp, thông qua các công
cụ kinh tế trong đó tín dụng Ngân hàng là công cụ quan trọng nhất để tác động kích
thích phát triển.
Đầu tư cho phát triển nông nghiệp để tăng sản lượng, tăng khối lượng nông
Trần Quốc Tuấn Ngân hàng K11
5
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
sản xuất khẩu, nâng cao mức sống người dân, giải quyết công ăn việc làm cho
người dân v.v Là một trong những mục tiêu quan trọng trong chính sách phát triển
kinh tế của nước ta hiện nay. Bên cạnh mục tiêu phát triển sản xuất nông nghiệp,
đầu tư vào kinh tế nông thôn còn thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
như chuyển đổi những vùng trồng lúa có năng suất thấp sang trồng cây ăn quả, cây
có giá trị xuất khẩu cao. Xoá bỏ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá mang lại giá
trị kinh tế cao hơn.
Song song với việc phục vụ cho các ngành kinh tế kém phát triển, tín dụng còn
là công cụ hữu hiệu để phục vụ cho các ngành kinh tế mũi nhọn hiện nay như sản
xuất hàng hoá xuất khẩu, khai thác dầu khí, xây dựng cơ sở hạ tầng và một số ngành
công nghiệp quan trọng khác, nhu cầu vốn ở các ngành này rất lớn và sự phát triển
của chúng là hết sức quan trọng đối với sự phát triển của các ngành khác và sự tăng
trưởng chung cho nền kinh tế.
3.3.3 Tín dụng ngân hàng thúc đẩy tiết kiệm, tập chung vốn và đầu tư
Nền kinh tế luôn cần một lượng tiền vừa đủ, không dư thừa cũng không khan
hiếm vì cả hai vấn đề đều dẫn đến lạm phát hoặc giảm lạm phát, đó là hậu quả mà
nền kinh tế phải gánh chịu do đó tín dụng có ý nghĩa to lớn trong việc điều tiết tiền
tệ như:
- Một là đi vay để cho vay.
- Hai là Ngân hàng thương mại tham gia thị trường tiền tệ tạo ra dự trữ thứ cấp
hoặc dự trữ bắt buộc, mua các phiếu nợ do Ngân hàng Trung ương yêu cầu nhằm
hạn chế lượng tiền cung ứng.

- Ba là ở vị trí trung gian làm cầu nối giữa Ngân hàng Trung ương với dân chúng.
Như chúng ta đã biết việc huy động vốn từ tiết kiệm, từ đi vay của ngân hàng
bạn, các tổ chức tài chính khác đều là cơ sở để đầu tư, nhưng trong thực tế giữa
tiết kiệm và đầu tư luôn có một khoảng cách đó, bằng cơ chế lãi suất để khuyến
khích cho những khoản tiền được huy động và những dịch vụ hữu ích khác. Tín
dụng sẽ thỏa mãn lại cho nhu cầu đầu tư và phát triển, cụ thể là toàn bộ các nhu cầu
liên quan đến vốn để phục vụ cho sự phát triển nền kinh tế quốc dân. Bất kỳ một
quốc gia nào muốn phát triển nền kinh tế đều đòi hỏi phải có vốn, đặc biệt là đối với
nước ta trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung quan
liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, nước ta đang tiến hành công cuộc công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước để đưa đất nước ngày càng phát triển, tránh nguy cơ “tụt hậu”.
Trần Quốc Tuấn Ngân hàng K11
6
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trong điều kiện nước ta như hiện nay để thực hiện được các việc trên thì nhu cầu về
vốn đang là một vấn đề cấp bách và được các cấp, các ngành quan tâm xem xét,
Đảng ta đã chỉ rõ “Vốn trong nước là quyết định, vốn nước ngoài là quan trọng”. Vì
vậy chiến lược huy động vốn bằng nguồn tiết kiệm trong nước là hết sức quan
trọng, đặc biệt là đối với Ngân hàng.
Qua đó càng chứng tỏ rằng tín dụng Ngân hàng đã, đang và sẽ góp phần
không nhỏ vào sự nghiệp đầu tư chung của đất nước.
3.3.4 Tín dụng ngân hàng hỗ trợ đắc lực cho các doanh nghiệp kích thích sản
xuất phát triển
Vốn tự có của doanh nghiệp chỉ đáp ứng đủ 50% - 70% chi phí cho quá trình
sản xuất. Phần vốn này vào những thời điểm nhất định thì nằm ở từng bộ phận khác
nhau, có thể nó nằm toàn bộ ở sản phẩm dở dang, chính vì vậy muốn tiếo tục hoàn
chỉnh quá trình tạo ra sản phẩm hàng hoá, đòi hỏi phải có vốn để bổ sung vật tư
nguyên liệu, tiền lương công nhân đúng vào thời điểm này Ngân hàng sẽ có trách
nhiệm cung ứng kịp thời vốn cho các doanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp tận dụng

thời cơ trong sản xuất kinh doanh, để hoàn thành chu kỳ sản xuất đúng thời vụ,
đúng kế hoạch.
Mặt khác trong điều kiện kinh tế hiện nay, nền kinh tế có cạnh tranh, nếu một
doanh nghiệp nào đó chậm trễ trong việc đưa sản phẩm của mình ra bán lập tức sẽ
có doanh nghiệp khác cùng loại nhảy vào chiếm lĩnh thị trường. Lúc này vốn của
doanh nghiệp đang bị ứ đọng trong khâu sản xuất mà nhu cầu thanh toán vật tư và
các chi phí khác vẫn đảm bảo thì doanh nghiệp vẫn còn tồn tại. Nếu không giải
quyết được thì doanh nghiệp sẽ nhanh chóng rơi vào tình trạng nợ nần sau đó phá
sản. Đúng lúc này sự xuất hiện của tín dụng Ngân hàng sẽ rất cần thiết, giúp cho
quá trình hình thành và tiêu thụ sản phẩm được tốt hơn, từ đó giúp cho doanh
nghiệp thoát khỏi nguy cơ bị phá sản gần kề. Như vậy tín dụng Ngân hàng có vai
trò đặc biệt trong sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp.
Ngày nay, trong cơ chế cạnh tranh khối lượng vốn tín dụng cũng như hiệu quả
của việc sử dụng vốn ngày càng tăng. Vốn tín dụng không chỉ góp phần giúp đỡ các
doanh nghiệp mà còn tạo ra một thị trường cạnh tranh gay gắt buộc các doanh
nghiệp phải không ngừng mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm ngày
càng tân tiến về mẫu mã sản phẩm, bao bì để tạo cho mình một chỗ đứng vững chắc
trên thương trường, chính vì yếu tố trên mà tín dụng Ngân hàng đã thúc đẩy sự tăng
trưởng của sản xuất và sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế cũng như toàn xã hội.
Trần Quốc Tuấn Ngân hàng K11
7
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
II.RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1. Khái niệm về rủi ro tín dụng
Trong kinh doanh, không bao giờ được quên hai chữ rủi ro. Mục đích chung
nhất của mọi hoạt động của con người là vươn tới thành công theo mục tiêu đã định.
Trong quá trình thực hiện hoạt động ấy, luôn có những khó khăn khiến cho dự định
ban đầu có thể không đạt được như ý muốn. Tất cả những cái đó có thể gọi là rủi ro.
Có nhiều cách hiểu rủi ro khác nhau, có nhiều cách định nghĩa về rủi ro của các
nhà kinh tế và các nhà kinh doanh. Thật khó mà thâu tóm được định nghĩa rủi ro chuẩn

xác cho mọi môi trường kinh doanh cũng như mọi giai đoạn phát triển của nền kinh tế xã
hội. Nhưng một cách khái quát có thể hiểu " rủi ro là sự việc xảy ra ngoài ý muốn chủ
quan của con người, đem lại hậu quả mà người ta không thể dự đoán được"
Tuy nhiên đây không phải là một khái niệm hoàn hảo. Nhưng với bất kì một
cách hiểu nào thì rủi ro cũng có hai đặc tính: biên độ rủi ro đó là thiệt hại từ rủi ro
gây ra ở mức nào và tần số xuất hiện rủi ro.
Cũng như bất kì một doanh nghiệp nào tồn tại trong nền kinh tế ngân hàng
cũng gánh chịu các rủi ro do tác động của môi trường. Thực tế hoạt động ngân hàng
cũng có nhiều rủi ro hơn so với các ngành khác. Điển hình là các loại: RRTD, rủi ro
thiếu vốn khả dụng, rủi ro hối đoái, rủi ro lãi suất, rủi ro mất khả năng thanh toán,
rủi ro trong tín dụng quốc tế và ngoại thương.
Trong các loại rủi ro đối với hoạt động ngân hàng kể trên thì RRTD luôn
chiếm tỷ lệ lớn.
Đứng trên cách tiếp nhận như vậy, thì ta có thể khái quát được rằng: RRTD là
khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải gánh chịu do khách hàng không
trả đúng hạn, không trả hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi cho ngân hàng.
2. Hậu quả của rủi ro tín dụng ngân hàng
2.1 Tác động trực tiếp tới hoạt động của ngân hàng
RRTD gắn liền với hoạt động quan trọng nhất của NHTM
Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay mà còn ở nhiều hoạt động
mang tính chất tín dụng khác của ngân hàng như hoạt động bảo lãnh, cam kết, chấp
nhận tài trợ thương mại, cho vay trên thị trường liên ngân hàng, trái quyền, Swap…
Tuỳ theo mức độ rủi ro mà ảnh hưởng nhiều hay ít.
- Xét ở mức độ thấp: khách hàng trả chậm so với hợp đồng tín dụng đã ký làm
cho tổ chức tín dụng bị chiếm dụng vốn và phá vỡ kế hoạch sử dụng vốn, ảnh
Trần Quốc Tuấn Ngân hàng K11
8
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hưởng việc thực hiện đầu tư các dự án khác, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình chu
chuyển vốn.

- Xét ở mức độ khác: khi khách hàng vay vốn mà không trả được nợ, số được
khoanh nợ sẽ dễ dẫn đến tình trạng mất vốn của tổ chức tín dụng đồng thời phải
tăng chi phí quản lý, xử lý nợ làm cho lợi nhuận giảm, nếu kéo dài, tổ chức tín dụng
sẽ đi đến thua lỗ, khả năng thanh toán bị vi phạm. Từ đó làm giảm vị thế của tổ
chức tín dụng.
2.2 Tác động tới nền kinh tế xã hội
Rủi ro tín dụng xảy ra làm giảm chất lượng tín dụng (nợ quá hạn cao dẫn đến
hệ số vòng quay vốn chậm, hiệu quả sử dụng vốn thấp). Đồng thời làm hạn chế khả
năng mở rộng tín dụng và tăng trưởng tín dụng.
Rủi ro tín dụng xảy ra ảnh hưởng tới đời sống xã hội đặc biệt là của người
nghèo và các đối tượng chính sách khác, không đảm bảo được cuộc sống dẫn đến
phát sinh các tệ nạn xã hội
3. Nguyên nhân rủi ro tín dụng
3.1 Nguyên nhân chủ quan
3.1.1 Rủi ro do các nguyên nhân từ phía khách hàng vay
- Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay: Đa số
các doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án kinh doanh cụ thể,
khả thi. Số lượng các doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, cố ý lừa đảo ngân
hàng để chiếm đoạt tài sản không nhiều. Tuy nhiên, những vụ việc phát sinh lại hết
sức nặng nề, liên quan đến uy tín của các cán bộ, làm ảnh hưởng xấu đến các doanh
nghiệp khác.
- Khả năng quản lý kinh doanh kém: Khi các doanh nghiệp vay tiền ngân
hàng để mở rộng quy mô kinh doanh, đa phần là tập trung vốn đầu tư vào tài sản vật
chất chứ ít doanh nghiệp mạnh dạn đổi mới cung cách quản lý, đầu tư cho bộ máy
giám sát kinh doanh, tài chính, kế toán theo đúng chuẩn mực. Quy mô kinh doanh
phình ra quá to so với tư duy quản lý là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của các
phương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó phải thành công trên thực tế.
- Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch: Quy mô tài sản,
nguồn vốn nhỏ bé, tỷ lệ nợ so với vốn tự có cao là đặc điểm chung của hầu hết các
doanh nghiệp. Ngoài ra, thói quen ghi chép đầy đủ, chính xác, rõ ràng các sổ sách

kế toán vẫn chưa được các doanh nghiệp tuân thủ nghiêm chỉnh và trung thực. Do
vậy, sổ sách kế toán mà các doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng nhiều khi chỉ
Trần Quốc Tuấn Ngân hàng K11
9
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
mang tính chất hình thức hơn là thực chất. Khi cán bộ ngân hàng lập các bản phân
tích tài chính của doanh nghiệp dựa trên số liệu do các doanh nghiệp cung cấp,
thường thiếu tính thực tế và xác thực. Đây cũng là nguyên nhân vì sao ngân hàng
vẫn luôn xem nặng phần tài sản thế chấp như là chỗ dựa cuối cùng để phòng chống
rủi ro tín dụng.
3.1.2 Rủi ro do các nguyên nhân từ phía ngân hàng cho vay
- Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ các ngân hàng:
Kiểm tra nội bộ có điểm mạnh hơn thanh tra NHNN ở tính thời gian vì nó nhanh
chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh vấn đề và tính sâu sát của người kiểm tra
viên, do việc kiểm tra được thực hiện thường xuyên cùng với công việc kinh doanh.
Nhưng trong thời gian trước đây, công việc kiểm tra nội bộ của các ngân hàng hầu
như chỉ tồn tại trên hình thức. Kiểm tra nội bộ cần phải được xem như hệ thống
“thắng” của cỗ xe tín dụng. Cỗ xe càng lao đi với vận tốc lớn thì hệ thống này càng
phải an toàn, hiệu quả thì mới tránh cho cỗ xe khỏi đi vào những ngã rẽ rủi ro vốn
luôn luôn tồn tại thường trực trên con đường đi tới.
- Bố trí cán bộ thiếu đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ:
Một số vụ án kinh tế lớn trong thời gian vừa qua có liên quan đến cán bộ
NHTM đều có sự tiếp tay của một số cán bộ ngân hàng cùng với khách hàng làm
giả hồ sơ vay, hay nâng giá tài sản thế chấp, cầm cố lên quá cao so với thực tế để rút
tiền ngân hàng.
Đạo đức của cán bộ là một trong các yếu tố tối quan trọng để giải quyết vấn đề
hạn chế rủi ro tín dụng. Một cán bộ kém về năng lực có thể bồi dưỡng thêm, nhưng
một cán bộ tha hóa về đạo đức mà lại giỏi về mặt nghiệp vụ thì thật vô cùng nguy
hiểm khi được bố trí trong công tác tín dụng.
- Thiếu giám sát và quản lý sau khi cho vay:

Các ngân hàng thường có thói quen tập trung nhiều công sức cho việc thẩm
định trước khi cho vay mà lơi lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi
cho vay. Khi ngân hàng cho vay thì khoản cho vay cần phải được quản lý một cách
chủ động để đảm bảo sẽ đựơc hoàn trả. Theo dõi nợ là một trong những trách nhiệm
quan trọng nhất của cán bộ tín dụng nói riêng và của ngân hàng nói chung. Việc
theo dõi hoạt động của khách hàng vay nhằm tuân thủ các điều khoản đề ra trong
hợp đồng tín dụng giữa khách hàng và ngân hàng nhằm tìm ra những cơ hội kinh
doanh mới và mở rộng cơ hội kinh doanh. Tuy nhiên trong thời gian qua các
NHTM chưa thực hiện tốt công tác này. Điều này một phần do yếu tố tâm lý ngại
Trần Quốc Tuấn Ngân hàng K11
10
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
gây phiền hà cho khách hàng của cán bộ ngân hàng, một phần do hệ thống thông tin
quản lý phục vụ kinh doanh tại các doanh nghiệp quá lạc hậu, không cung cấp được
kịp thời, đầy đủ các thông tin mà NHTM yêu cầu.
- Sự hợp tác giữa các NHTM quá lỏng lẻo, vai trò của CIC chưa thực sự hiệu quả:
Kinh doanh ngân hàng là một nghề đặc biệt huy động vốn để cho vay hay nói
cách khác đi vay để cho vay, do vậy vấn đề rủi ro trong hoạt động tín dụng là không
thể tránh khỏi, các ngân hàng cần phải hợp tác chặt chẽ với nhau nhằm hạn chế rủi
ro. Sự hợp tác nảy sinh do nhu cầu quản lý rủi ro đối với cùng một khách hàng khi
khách hàng này vay tiền tại nhiều ngân hàng. Trong quản trị tài chính, khả năng trả
nợ của một khách hàng là một con số cụ thể, có giới hạn tối đa của nó. Nếu do sự
thiếu trao đổi thông tin, dẫn đến việc nhiều ngân hàng cùng cho vay một khách
hàng đến mức vượt quá giới hạn tối đa này thì rủi ro chia đều cho tất cả chứ không
chừa một ngân hàng nào.
Trong tình hình cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng gay gắt như hiện nay,
vai trò của CIC là rất quan trọng trong việc cung cấp thông tin kịp thời, chính xác
để các ngân hàng có các quyết định cho vay hợp lý. Đáng tiếc là hiện nay ngân hàng
dữ liệu của CIC chưa đầy đủ và thông tin còn quá đơn điệu, chưa được cập nhật và
xử lý kịp thời.

Tóm lại, rủi ro tín dụng có thể phát sinh do rất nhiều nguyên nhân chủ quan
hoặc khách quan. Các biện pháp phòng chống rủi ro có thể nằm trong tầm tay của
các NHTM nhưng cũng có những biện pháp vượt ngoài khả năng của riêng từng
ngân hàng, liên quan đến vấn đề nội tại của bản thân nền kinh tế đang chuyển đổi,
đang định hướng mô hình phát triển ở VN. Trong phạm vi tầm tay của các ngân
hàng, rủi ro tín dụng phụ thuộc vào năng lực của bộ phận tín dụng trong việc phát
hiện và hạn chế rủi ro từ lúc xem xét quyết định cho vay cũng như trong suốt thời
gian vay. Năng lực cấp tín dụng phụ thuộc vào chuyên môn của cán bộ tín dụng và
nhân viên của họ và các nguồn lực của ngân hàng về nhân sự cũng như về cơ sở vật
chất. Do vậy biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng sâu sắc nhất vẫn là các biện pháp
liên quan đến việc đào tạo, bố trí cán bộ và cơ chế kiểm tra, giám sát hành vi của
cán bộ trong quá trình xử lý công việc. Thực hiện tốt các biện pháp này có thể cho
rằng con đường quản lý rủi ro tín dụng của ngành ngân hàng coi như đã đi được hơn
một nửa.
Trần Quốc Tuấn Ngân hàng K11
11
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
3.2 Nguyên nhân khách quan
3.2.1 Nguyên nhân từ nền kinh tế
- Sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới:
Nền kinh tế VN vẫn còn lệ thuộc quá nhiều vào sản xuất nông nghiệp và công
nghiệp phục vụ nông nghiệp (nuôi trồng, chế biến thực phẩm và nguyên liệu), dầu
thô, may gia công,… vốn rất nhạy cảm với rủi ro thời tiết và giá cả thế giới, nên dễ
bị tổn thương khi thị trường thế giới biến động xấu.
Ngành dệt may trong một số năm gần đây đã gặp không ít khó khăn vì bị
khống chế hạn ngạch làm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp nói riêng và của các ngân hàng cho vay nói chung. Ngành thủy sản
cũng gặp nhiều lao đao vì các vụ kiện bán phá giá vừa qua…
Không chỉ xuất khẩu, các mặt hàng nhập khẩu cũng dễ bị tổn thương không
kém. Mặt hàng sắt thép cũng bị ảnh hưởng lớn của giá thép thế giới. Việc tăng giá

phôi thép làm cho một số doanh nghiệp sản xuất thép trong nước phải ngưng sản
xuất do chi phí giá thành rất cao trong khi không tiêu thụ được sản phẩm.
- Rủi ro tất yếu của quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế:
Quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấu gia
tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp,
những khách hàng thường xuyên của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và
quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường. Bên cạnh đó, bản thân sự cạnh tranh
của các ngân hàng thương mại trong nước và quốc tế trong môi trường hội nhập
kinh tế cũng khiến cho các ngân hàng trong nước với hệ thống quản lý yếu kém gặp
phải nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng lên bởi hầu hết các khách hàng có tiềm lực tài chính
lớn sẽ bị các ngân hàng nước ngoài thu hút.
- Sự tấn công của hàng nhập lậu:
Với hàng trăm km biên giới trên bộ và trên biển cùng địa hình địa lý phức tạp
và tình hình đời sống nghèo khó của dân cư vùng biên giới, cuộc chiến đấu với
hàng lậu đã kéo dài dai dẳng từ rất nhiều năm nay mà kết quả là hàng lậu vẫn tràn
lan tại các thành phố lớn, làm điêu đứng các doanh nghiệp trong nước và các ngân
hàng đầu tư vốn cho các doanh nghiệp này. Các mặt hàng kim khí điện máy, gạch
men, đường cát, vải vóc, quần áo, mỹ phẩm,… là những ví dụ tiêu biểu cho tình
hình hàng lậu ở nước ta.
- Thiếu sự quy hoạch, phân bổ đầu tư một cách hợp lý đã dẫn đến khủng
hoảng thừa về đầu tư trong một số ngành:
Trần Quốc Tuấn Ngân hàng K11
12
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nền kinh tế thị trường thị trường tất yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh, các nhà kinh
doanh sẽ tìm kiếm ngành nào có lợi nhất để đầu tư và sẽ rời bỏ những ngành không
đem lại lợi nhuận cho họ và do đó có sự chuyển dịch vốn từ ngành này qua ngành
khác và đây cũng là một hiện tượng khách quan. Tuy nhiên ở nước ta thời gian qua,
sự cạnh tranh đã phát triển một cách tự phát, hoàn toàn không đi kèm với sự quy
hoạch hợp lý, hợp tác, phân công lao động, chuyên môn hoá lao động, sự bất lực

trong vai trò của các hiệp hội nghề nghiệp và sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước. Điều
này dẫn đến sự gia tăng quá đáng vốn đầu tư vào một số ngành, dẫn đến khủng
hoảng thừa, lãng phí tài nguyên quốc gia.
3.2.2 Nguyên nhân từ phía khách hàng.
- Rủi ro do môi trường kinh tế có biến động bất lợi: điều này dẫn đến việc đầu
tư vốn kinh doanh của khách hàng gặp khó khăn và khách hàng không thể trả nợ
cho ngân hàng.
- Rủi ro do môi trường pháp lý chưa thuận lợi: Hệ thống văn bản pháp luật còn
nhiều bất cập, quản lý của các cơ quan nhà nước tại địa phương còn nhiều yếu kém,
hệ thống thông tin quản lý hạn chế.
- Rủi ro từ chính sách: Những thay đổi trong chính sách của nhà nước hoặc
thay đổi một số quy định của luật pháp cũng có thể gây nên rủi ro cho hoạt động tín
dụng ngân hàng.Ví dụ khi ngân hàng đã kí quyết định cho một DN vay vốn sản xuất
pháo vào thời điểm Nhà nước chưa cấm buôn bán sản xuất pháo đến khi Nhà nước
ra quyết định cấm sản xuất pháo (khi hợp đồng còn hạn) thì rõ ràng DN không thể
hoạt động và tất nhiên không thể trả nợ cho ngân hàng.
4. Chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng
4.1 Nợ quá hạn/ Tổng dư nợ bình quân
Nợ quá hạn là những khoản tín dụng không hoàn trả đúng hạn, không được
phép và không đủ điều kiện gia hạn nợ. Tỷ lệ nợ quá hạn được xác định:
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Nợ quá hạn
Tổng dư nợ
Xác định tỉ lệ nợ quá hạn là hợp lí và cần thiết. Nhiều nhà kinh tế cho rằng tỉ
lệ này dưới 5% là chấp nhận được. Theo quy định của NHNN Việt Nam tỉ lệ này
lớn hơn 7% là ngân hàng này hoạt động yếu kém còn dưới 3% thì là ngân hàng có
hoạt động tín dụng tốt.
4.2 Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ
Tỷ lệ này được xác định như sau:
Trần Quốc Tuấn Ngân hàng K11

13
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tỉ lệ này càng cao chứng tỏ khả năng mất vốn của ngân hàng cao, chất lượng
tín dụng của ngân hàng thấp.
Các khoản nợ trong hệ thống NHTM Việt Nam được được chia thành 5 nhóm
theo quyết định 493/2005/QĐ – NHNN:
+ Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn, bao gồm nợ trong hạn được đánh giá có khả
năng thu hồi đủ gốc và lãi đúng hạn và các khoản nợ có thể phát sinh trong tương
lai như các khoản bảo lãnh, cam kết cho vay, chấp nhận thanh toán.
+ Nhóm 2: Nợ cần chú ý bao gồm nợ quá hạn dưới 90 ngày và nợ cơ cấu lại
thời hạn trả nợ.
+ Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm các khoản nợ từ 90 ngày đến 180
ngày và cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày.
+ Nhóm 4: Nợ nghi ngờ, bao gồm nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày và nợ
cơ cấu lại thời hạn nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày.
+ Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn, gồm nợ quá hạn trên 360 ngày, nợ cơ cấu
lại thời hạn trả nợ trên 180 ngày và nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý.
4.3 Số món vay từ nhóm 3 đến 5/ Tổng số món vay hiện hành.
4.4 Số món vay bị xử lý rủi ro/ Tổng số món vay hiện hành
4.5 Giá trị dư nợ từ nhóm 2 đến 5/ Dư nợ bình quân trong kỳ
4.6 Giá trị dư nợ từ nhóm 3 đến 5 (Nợ xấu) / Dư nợ bình quân trong kỳ
Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN: Nợ xấu là các khoản nợ thuộc các
nhóm nợ 3, 4 và 5 được quy định tại Điều 6 hoặc Điều 7.
Tỷ lệ nợ xấu là một chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng của TCTD. Nếu tỷ
lệ này cao đồng nghĩa rủi ro tín dụng cao vì đây là những khách hàng có dấu hiệu
khó khăn về tài chính nên khó trả nợ cho ngân hàng.
4.7 Giá trị dư nợ bị xử lý rủi ro/ Dư nợ bình quân trong kỳ
5. Quản trị rủi ro tín dụng
5.1 Khái niệm Quản trị rủi ro tín dụng
Quản trị kinh doanh ngân hàng có thể được định nghĩa là một quá trình tác

động có tổ chức, có hướng đích của nhà quản trị lên các đối tượng quản trị và các
Trần Quốc Tuấn Ngân hàng K11
Tỷ lệ nợ xấu =
Nợ xấu
Tổng dư nợ
14
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
khách thể kinh doanh trong và ngoài ngân hàng nhằm đạt được những mục tiêu đã
đề ra.
Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thì quản trị rủi ro được xem là
trung tâm của quản trị. Quản trị rủi ro là quá trình xác định các rủi ro và tìm cách
quản lý, hạn chế rủi ro đó xảy ra đối với ngân hàng. Hiểu một cách tổng quát thì đó
là quá trình xem xét toàn bộ hoạt động của tổ chức, xác định các nguy cơ tiềm ẩn và
khả năng xảy ra các nguy cơ đó. Từ đó có sự chuẩn bị các hành động thích hợp để
hạn chế các rủi ro ở mức thấp nhất.
Quản trị RRTD là quá trình xem xét toàn bộ hoạt động tín dụng của ngân
hàng, xác định các nguy cơ tiềm ẩn, lượng hóa RRTD mà ngân hàng phải đối mặt,
từ đó phải áp dụng các biện pháp cần thiết để hạn chế RRTD ở mức thấp nhất. Như vậy
có thể thấy quản trị RRTD là hoạt động có tổ chức, có trình tự trước sau đòi hỏi sự
tham gia của tất cả thành viên có liên quan đến hoạt động tín dụng trong ngân hàng.
5.2 Mục tiêu của Quản trị rủi ro tín dụng
- Đảm bảo an toàn cho hoạt động tín dụng của Ngân hàng
Vì khi rui ro tín dụng xảy ra, ngân hàng không thu được vốn và lãi của khoản
cho vay nhưng vẫn phải trả vốn và lãi cho khoản tiền đã vay từ người gửi khi đến
hạn, điều này làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi. Nợ không thu
được làm giảm vòng quay vốn tín dụng và do đó việc kinh doanh không hiệu quả.
Như đã phân tích ở phần trước, RRTD xảy ra thì ngân hàng phải tiếp tục đối mặt
với rủi ro thanh khoản tức là mất khả năng thanh toán cho người gửi tiền và do đó
mất uy tín với khách hàng, bản thân ngân hàng cũng không thể thanh toán các
khoản lương cho nhân viên của mình nên những người có năng lực sẽ thuyên

chuyển công tác, gây khó khăn cho ngân hàng.
- Góp phần gia tăng lợi nhuận từ hoạt động tín dụng của Ngân hàng, và ổn
định nền kinh tế nếu quản lý và đánh giá tốt rủi ro.
Hoạt động ngân hàng có liên quan đến hoạt động của nhiều đối tượng khác
nhau trong nền kinh tế. Bởi vậy, khi RRTD xảy ra đối với một ngân hàng nào đó thì
sẽ tác động đến tâm lý những người gửi tiền ở những ngân hàng khác và nghiêm
trọng nhất là tình trạng đổ xô đến ngân hàng rút tiền. Như vậy, chỉ một ngân hàng
phá sản cũng có thể gây ra hội chứng Domino khiến một loạt các ngân hàng khác
gặp khó khăn. Và nếu ngân hàng phá sản sẽ tác động đến hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp, không có tiền trả lương dẫn đến đời sống công nhân viên gặp khó
khăn. Hơn nữa, sự hoảng loạn của các ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền
Trần Quốc Tuấn Ngân hàng K11
15
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
kinh tế. Nó làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp
tăng, xã hội mất ổn định. Thêm nữa, với xu thế toàn cầu hóa hiện nay thì nền kinh tế
của một quốc gia có vấn đề còn có thể tác động xấu đến nền kinh tế thế giới, bởi
mỗi quốc gia đều có sự phụ thuộc hay liên hệ với một vài quốc gia nào đó trong khu
vực hoặc trên thế giới.
5.3 Quy trình Quản trị rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng thường có tác động dây chuyền và cộng hưởng. Do đó, phải
chủ động xây dựng cho mình quy trình đánh giá và quản trị rủi ro phù hợp, nhằm tự
vệ trước biến động khôn lường của thị trường tài chính.
Quy trình quản trị rủi ro không thể bỏ qua những bước căn bản sau đây:
5.3.1. Nhận diện và phân loại rủi ro.
Mọi rủi ro đều xuất phát từ những thay đổi về giá cả thị trường như lãi suất, tỷ
giá cũng như giá của các loại hàng hoá khác. Ngoài ra còn có một số rủi ro khác ảnh
hưởng đến như rủi ro về tín dụng, rủi ro trong hoạt động, rủi ro trong thanh khoản
và rủi ro mang tính hệ thống tác động chung lên toàn thị trường. Những rủi ro trên
đều có tính liên kết và tác động qua lại lẫn nhau nên khi thị trường đi xuống, sự

cộng hưởng của chúng sẽ gây nên tổn thất khôn lường đối với Ngân hàng.
5.3.2. Tính toán và cân nhắc các mức độ rủi ro và mức độ chịu đựng tổn thất
khi rủi ro xảy ra.
Đo lường rủi ro là một quá trình gồm 2 bước. Bước đầu tiên là tính toán mức
thu lợi có thể đạt được hoặc quan trọng hơn cả trong quản trị rủi ro là tính toán mức
tổn thất có thể chấp nhận được trong trường hợp xảy ra biến động xấu. Nói cách
khác, đo lường rủi ro chính là việc trả lời cho câu hỏi "Ngân hàng có thể chấp nhận
tổn thất đến mức độ nào?". Để có được câu trả lời thì việc tính toán khả năng và
mức độ tổn thất phải được định lượng bằng những con số biết nói. Tuỳ theo độ nhạy
cảm của từng loại công cụ đo lường, kết quả có được có thể tính bằng thời gian mất
đi hoặc số tiền thiệt hại trên vốn hoặc lợi nhuận. Chẳng hạn, việc sử dụng các công
cụ phát sinh như Hợp đồng kỳ hạn (forwards), Hợp đồng tương lai (options) và Hợp
đồng hoán đổi (swaps) sẽ giúp tính toán được mức độ tổn thất này bằng các con số
chính xác khi thị trường biến động theo hướng ngược chiều với dự đoán. Bước thứ
hai của quá trình này là xác định các khả năng xảy ra tương ứng với từng mức độ
biến động trên thị trường. Dựa trên những khả năng biến động về giá cũng như biên
Trần Quốc Tuấn Ngân hàng K11
16
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
độ dao động giá, mức độ tổn thất cũng như mức thu lợi có thể được tính toán chi tiết
và cụ thể cho từng trường hợp.
5.3.3. Áp dụng các chính sách, công cụ phòng chống thích hợp đối với từng
loại rủi ro.
Tuỳ thuộc vào mức độ và khả năng chấp nhận rủi ro, Ngân hàng sẽ áp dụng
những biện pháp phòng chống khác nhau nhằm giảm thiểu mức độ thiệt hại khi rủi
ro xảy ra. Trên thực tế, Ngân hàng có thể có một số chọn lựa. Một trong những
chọn lựa đơn giản nhất là không làm gì cả bằng cách chủ động hoặc thụ động chấp
nhận mọi rủi ro có thể xảy ra. Điều này hoàn toàn đúng với những khoản vay nhỏ vì
chi phí để phòng chống có khi còn cao hơn việc chấp nhận mức thiệt hại nếu thị
trường có biến động. Tuy nhiên, phương pháp này lại tỏ ra rất nguy hiểm đối với

những khoản thanh toán bằng ngoại tệ hoặc khoản vay lớn vì chỉ một biến động nhỏ
về lãi suất hoặc tỉ giá thì thiệt hại sẽ là một con số không thể thờ ơ. Khi đó, các
công cụ phòng chống rủi ro đặc biệt tỏ ra hữu hiệu nhằm ngăn chặn một phần tổn
thất có khả năng xảy ra hoặc ngăn chặn khả năng xảy ra rủi ro có thể lường trước.
5.3.4. Theo dõi, đánh giá và điều chỉnh phương pháp phòng chống nếu cần thiết.
Sự vận động của thị trường sẽ khiến cho mọi phương pháp phòng chống dù là
tối ưu nhất cũng trở nên mất tác dụng nếu không được điều chỉnh cho phù hợp. Do
vậy, kết quả của việc sử dụng các phương pháp phòng chống rủi ro cần được ghi
nhận và xử lý kịp thời để việc ứng dụng phương pháp trên được thay đổi cho phù
hợp với Ngân hàng trong những tình huống mới.
Tuy nhiên, điều quan trọng hơn cả là Ngân hàng cần nhận thức và chủ động
ứng dụng quy trình này trong thực tế, đặc biệt là khi thị trường Việt Nam vận động
trong một nền kinh tế hội nhập với thế giới đang dần tách khỏi sự bảo hộ của Ngân
hàng Nhà nước về tỉ giá và các chính sách mở cửa khác cho thị trường tài chính
trong nước. Nguy cơ về những biến động lớn trên thị trường tiền tệ và khủng hoảng
tài chính trong giai đoạn sắp tới sẽ buộc Ngân hàng phải ý thức hơn trong việc xây
dựng quy trình quản trị rủi ro thích hợp nhằm bảo vệ tài sản của mình.
Rủi ro tài chính phát sinh từ 3 nguồn: sự thay đổi bên ngoài; hoạt động, giao
dịch với khách hàng bên trong và từ chính nội bộ Ngân hàng.
5.4 Nội dung của Quản trị rủi ro tín dụng
5.4.1 Xây dựng chiến lược quản trị RRTD
- Chiến lược quản trị RRTD của ngân hàng là hệ thống các quan điểm và mục
Trần Quốc Tuấn Ngân hàng K11
17
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tiêu cơ bản về quản trị RRTD cùng các chính sách, giải pháp nhằm sử dụng một cách
tốt nhất các nguồn lực hiện có của ngân hàng để có thể đạt được các mục tiêu đó.
- Quản trị RRTD trước hết là trách nhiệm của các thành viên trong Hội đồng
quản trị và Ban giám đốc ngân hàng, ban giám đốc của các chi nhánh, sau nữa là
đến các trưởng phó phòng, các nhân viên tín dụng và các nhân viên khác có liên

quan đến hoạt động tín dụng. Có như vậy thì công tác quản trị rủi ro mới thực sự có
chất lượng và hiệu quả cao. Để việc quản trị RRTD thực sự lan tỏa một cách sâu
rộng tới các đối tượng liên quan thì việc đưa ra chiến lược quản trị RRTD quy định
cụ thể, rõ ràng về chức năng và nhiệm vụ của từng thành viên liên quan, từ đó giúp
mỗi thành viên biết được quyền hạn, nhiệm vụ của mình là gì và mình phải làm gì
là điều hêt sức cần thiết.
Chiến lược quản trị RRTD cần phải thỏa mãn các yêu cầu sau:
- Quy định rõ ràng nhằm tránh phân tách chức năng, quyền hạn giữa Hội
đồng quản trị và Ban giám đốc trong công tác quản trị để nâng cao hiệu quả của
công tác này. Hội đồng quản trị có trách nhiệm phê duyệt và định kỳ xem xét chiến
lược về quản trị RRTD và các chính sách về RRTD của ngân hàng, Ban giám đốc
có trách nhiệm thực hiện chiến lược quản trị RRTD được Hội đồng quản trị phê
duyệt và phát triển chính sách và thủ tục nhằm phát hiện, đo lường, theo dõi và
kiểm soát RRTD, từ đó có phản hồi ngược trở lại đối với Hội đồng quản trị về mức
độ phù hợp, hiệu quả của chiến lược.
- Nội dung của chiến lược cần phản ánh được mức độ chấp nhận rủi ro của
ngân hàng trong hoạt động tín dụng và mức sinh lời mà ngân hàng kỳ vọng đạt
được khi gánh chịu các rủi ro này, đồng thời chính sách quản trị rủi ro phải có sự
phù hợp với mức độ chấp nhận rủi ro đó.
- Các chính sách và thủ tục quy định trong chiến lược phải có tính khái quát
cao thể hiện ở chỗ chúng hướng tới RRTD trong mọi hoạt động kinh doanh của
ngân hàng và có mức độ kiểm soát ở từng khoản vay riêng lẻ cũng như trong toàn
bộ danh mục đầu tư.
- Chiến lược phải đảm bảo được rằng các rủi ro của các sản phẩm và hoạt
động mới trong danh mục kinh doanh của ngân hàng phải nằm trong phạm vi các
thủ tục quản lý và kiểm soát đầy đủ trước khi được đưa vào sử dụng hay thực hiện
và được hội đồng quản trị thích hợp chấp thuận trước.
Các căn cứ xây dựng chiến lược quản trị RRTD:
- Cơ chế, chính sách pháp luật: đây là điều cần để chiến lược có thể đi vào ứng
Trần Quốc Tuấn Ngân hàng K11

18
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Chính sách đối với hoạt động tín
dụng, chính sách với các ngành kinh doanh khác; cơ chế chính sách của chính phủ,
của NHNN đều là những căn cứ hàng đầu để xây dựng chiến lược, chiến lược trước
hết phải căn cứ theo luật định và có sự điều chỉnh phù hợp khi pháp luật thay đổi.
- Môi trường kinh tế và đặc điểm cơ bản của thị trường mục tiêu: Môi trường
kinh tế mỗi thời kỳ lại có những đặc điểm hoàn toàn khác nhau chính vì vậy để công
tác quản trị RRTD của mỗi ngân hàng có chất lượng tốt thì chiến lược quản trị RRTD
của ngân hàng đó phải phủ hợp với môi trường kinh tế bên ngoài và thị trường mục
tiêu của riêng ngân hàng đó. Khi nền kinh tế tăng trưởng quá nóng thì chiến lược quản
trị lại càng phải thắt chặt, đồng thời ngân hàng cần phải theo sát sự thay đổi của khách
hàng để kịp thời đưa ra các biện pháp quản trị RRTD có hiệu quả.
- Nguồn lực vật chất và phi vật chất của ngân hàng: Ngân hàng không thể theo
đuổi những chiến lược mà nguồn lực của mình không cho phép. Một chiến lược
chuẩn đòi hỏi phải có một cơ sở vật chất tương ứng. Ngân hàng không nên xây
dựng chiến lược quản trị quá cao so với trình độ của cán bộ quản trị, cũng như nền
tảng khoa học công nghệ, hệ thống công cụ phục vụ cho công tác này. Ngân hàng
nên điều chỉnh chiến lược cho phù hợp với nội lực của mình sao cho có thể cân
bằng được lợi ích. Chẳng hạn như chi phí cho quản trị RRTD không được cao hơn
lợi ích mà quản trị RRTD mang lại.
- Chiến lược phát triển và chính sách tín dụng của ngân hàng: Nếu như cơ chế
chính sách pháp luật là những căn cứ pháp lý bên ngoài thì chiến lược kinh doanh
của ngân hàng là những căn cứ mang tính pháp lý bên trong đòi hỏi sự phù hợp của
chiến lược cụ thể. Chiến lược quản trị RRTD góp phần nâng cao chất lượng tín
dụng do đó có sự phù hợp giữa chiến lược phát triển, chính sách tín dụng và chiến
lược quản trị RRTD là tất yếu khách quan.
5.4.2 Tổ chức thực hiện công tác quản trị RRTD
* Phân tích và dự báo RRTD
Trong công tác quản trị RRTD, phân tích RRTD chính là khâu cần thực hiện

đầu tiên, phân tích RRTD là việc xác định mức độ RRTD của khách hàng trên cơ sở
phân tích các thông tin mà khách hàng cung cấp và những thông tin mà cán bộ tín
dụng thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau như: phỏng vấn trực tiếp người vay,
điều tra cơ sở kinh doanh của người vay, thông tin từ Trung tâm tín dụng quốc gia
CIC, các phương tiện thông tin đại chúng, thông tin nội bộ của ngân hàng… Hiện
nay các ngân hàng có thể sử dụng các mô hình sau để phân tích RRTD:
- Mô hình chất lượng 5C: Character (uy tín, tính cách của người vay),
Trần Quốc Tuấn Ngân hàng K11
19
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Capacity (năng lực của người vay), Cash (năng lực tài chính của người vay),
Collateral (bảo đảm tiền vay), Conditions (điều kiện môi trường). Sử dụng mô hình
này ngân hàng có thể đánh giá thiện chí trả nợ và kiểm soát được rủi ro đạo đức,
đánh giá được năng lực pháp lý, năng lực tài chính, tài sản đảm bảo tiền vay, điều
kiện môi trường. Từ đó đưa ra quyết định có cho khách hàng vay hay không, nếu
cho vay thì mức duyệt cho vay là bao nhiêu để nhằm hạn chể rủi ro một cách tốt
nhất cho ngân hàng.
- Mô hình phân biệt tuyến tính (Altman)
Mô hình tuyến tính này còn được gọi là mô hình số Z Altman do nhà kinh tế
E.I.Altman dùng để cho điểm tín dụng đối với các doanh nghiệp vay vốn. Nguyên
tắc để xây dựng mô hình này là xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến
RRTD và trọng số của các nhân tố đó từ đó thiết lập công thức để lượng hóa mức
độ an toàn của các doanh nghiệp.
Ưu điểm của mô hình này đó là cải thiện việc định giá RRTD so với phương
pháp cổ điển, tạo lập căn cứ vững chắc cho ngân hàng trong việc sàng lọc, lựa chọn
các đơn để nghị vay vốn , đồng thời tính toán hơn mức dự trữ cần thiết cho các
RRTD dự tính. Tuy nhiên, sử dụng mô hình này cũng có nhược điểm đó là mất
nhiều công sức hơn so với mô hình cổ điển đặc biệt là trong khâu xác định trọng số.
* Kiểm soát RRTD
- Sau giai đoạn phân tích RRTD, ngân hàng đã biết mình đối mặt với rủi ro ở

mức độ nào, thì việc tiếp theo đó là kiểm soát RRTD, mục đích của giai đoạn này là
thực hiện các biện pháp nhằm duy trì RRTD ở mức bằng hoặc thấp hơn mức rủi ro
chấp nhận được đã xác định ở khâu phân tích, từ đó đảm bảo khả năng thu hồi vốn
của ngân hàng.
- Khâu kiểm soát tín dụng là rất cần thiết bởi các yếu tố khách quan và chủ
quan luôn biến đổi không ngừng làm cho rủi ro của khoản tín dụng đã cấp cũng
không còn ở mức ban đầu. Trong khâu kiểm soát tín dụng, ngân hàng cần biết mức
độ RRTD mà mình đang phải đối mặt là bao nhiêu qua việc chấm điểm và xếp hạng
khách hàng hoặc thực hiện đo lường RRTD một cách cụ thể.
* Trích lập dự phòng RRTD.
- Trích lập dự phòng rủi ro là việc ngân hàng trích vào chi phí khoản tiền
nhằm tạo lập nguồn tiền bù đắp tổn thất đối với các khoản nợ trên cơ sở phân loại
các khoản nợ vào các nhóm có mức rủi ro tương ứng. Trích lập dự phòng là tấm
đệm khi có rủi ro xảy ra trong hoạt động của ngân hàng do đó có vai trò hết sức
quan trọng không chỉ đối với ngân hàng mà còn đối với các cổ đông, những người
Trần Quốc Tuấn Ngân hàng K11
20
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
gửi tiền và hệ thống tài chính nói chung.
- Đối với ngân hàng trích lập dự phòng trước tiên là nguồn bù đắp tổn thất khi
xảy ra đổ vỡ tín dụng nhưng nó cũng là căn cứ để ngân hàng quản lý danh mục đầu
tư của mình hiệu quả hơn.
- Đối với các cổ đồng và người gửi tiền, việc trích lập dự phòng rủi ro nhằm
đảm bảo an toàn cho hoạt động của ngân hàng cũng chính là đảm bảo an toàn cho
những đồng vốn mà họ đóng góp vào ngân hàng. Còn đối với hệ thống tài chính,
nếu ngân hàng nào cũng trích lập chính xác và đầy đủ thì sẽ nâng cao tính an toàn
cho toàn hệ thống, từ đó thúc đẩy hệ thống phát triển.
* Xử lý nợ quá hạn và nợ xấu
Việc xử lý nợ quá hạn và nợ xấu cần được các cán bộ tín dụng thực hiện theo
trình tự sau:

- Nếu vấn đề của khách hàng chỉ là luồng tiền vào và ra chưa thích hợp dẫn
đến luồng tiền thuần trong một khoảng thời gian xác định bị âm, khiến cho doanh
nghiệp làm ăn có lãi nhưng vẫn không thể trả nợ cho ngân hàng thì ngân hàng có
thể tư vấn cho khách hàng để có sự điều chỉnh kịp thời về luồng tiền hoặc điều
chỉnh kỳ hạn nợ cho khách hàng.
- Nếu vấn đề là tình hình tài chính khó khăn khiến khách hàng không thể trả
nợ đúng hạn cho ngân hàng song khách hàng vẫn còn khả năng trả nợ thì ngân hàng
nên tạo điểu kiện cho khách hàng có thể tiếp tục hoạt động kinh doanh như tư vấn
tài chính, gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ.
- Nếu mức độ rủi ro quá cao, ngân hàng thấy trước khách hàng không có khả
năng hoàn trả đầy đủ nợ gốc và lãi cho ngân hàng thì ngân hàng nên chủ động xử lý
khoản vay theo tuần tự: thu tiền của khách hàng, sử dụng tiền phát mại tài sản đảm
bảo, sử dụng dự phòng cụ thể của khoản vay đó, nếu vẫn chưa đủ thì sử dụng dự
phòng chung. Công tác xử lý khoản vay phải được giữ bí mật đối với khách hàng để
ngân hàng có thể thu hồi khoản nợ nếu khách hàng có nguồn tiền.
Trần Quốc Tuấn Ngân hàng K11
21
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU HƯNG YÊN
I. GIỚI THIỆU VỀ NHTM CỔ PHẦN Á CHÂU
Tên gọi: Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
Tên giao dịch quốc tế: ASIA COMMERCIAL BANK
Tên viết tắt: ACB
Trụ sở chính: 442 Nguyễn Thị Minh Khai, Q. 3, TP. Hồ Chí Minh.
Điện thoại: (08) 929 0999.
Website: www.acb.com.vn
Logo:
Vốn điều lệ: 9.376.965.060.000 đồng.

Giấy phép thành lập: Số 533/GP-UB do Ủy ban Nhân dân TP. Hồ Chí Minh
cấp ngày 13/5/1993.
Giấy phép hoạt động: Số 0032/NH-GP do Thống đốc NHNN cấp ngày
24/4/1993.
Giấy CNĐKKD: Số 059067 do Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Hồ Chí Minh
cấp cho đăng ký lần đầu ngày 19/5/1993, đăng ký thay đổi lần thứ chín ngày
23/2/2006.
Mã số thuế: 0301452948.
Ngành nghề kinh doanh:
- Huy động vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn dưới các hình thức tiền gửi có
kỳ hạn, không kỳ hạn, tiếp nhận vốn ủy thác đầu tư và phát triển của các tổ chức
trong nước, vay vốn của các tổ chức tín dụng khác
- Cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn; chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và
giấy tờ có giá; hùn vốn và liên doanh theo luật định
- Làm dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng
- Thực hiện kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc và thanh toán quốc tế, huy động các
Trần Quốc Tuấn Ngân hàng K11
22
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
loại vốn từ nước ngoài và các dịch vụ ngân hàng khác trong quan hệ với nước ngoài
khi được NHNN cho phép
Hoạt động bao thanh toán.
1. Sự hình thành và phát triển của Ngân hàng thương mại cổ phần Á châu
1.1 Bối cảnh thành lập.
Pháp lệnh về Ngân hàng Nhà nước và Pháp lệnh về NHTM, hợp tác xã tín
dụng và công ty tài chính được ban hành vào tháng 5 năm 1990, đã tạo dựng một
khung pháp lý cho hoạt động NHTM tại Việt Nam. Trong bối cảnh đó, NHTMCP Á
Châu (ACB) đã được thành lập theo Giấy phép số 0032/NH-GP do NHNNVN cấp
ngày 24/04/1993, Giấy phép số 533/GP-UB do Ủy ban Nhân dân TP.Hồ Chí Minh
cấp ngày 13/05/1993. Ngày 04/06/1993, ACB chính thức đi vào hoạt động.

1.2 Tầm nhìn.
Ngay từ ngày đầu hoạt động, ACB đã xác định tầm nhìn là trở thành
NHTMCP bán lẻ hàng đầu Việt Nam. Trong bối cảnh kinh tế xã hội Việt vào thời
điểm đó “Ngân hàng bán lẻ với khách hàng mục tiêu là cá nhân, doanh nghiệp vừa
và nhỏ” là một định hướng rất mới đối với ngân hàngViệt Nam, nhất là một ngân
hàng mới thành lập như ACB.
1.3 Chiến lược.
Cơ sở cho việc xây dựng chiến lược hoạt động qua các năm là:
- Tăng trưởng cao bằng cách tạo nên sự khác biệt trên cơ sở hiểu biết nhu cầu
khách hàng và hướng tới khách hàng
- Xây dựng hệ thống quản lý rủi ro đồng bộ, hiệu quả và chuyên nghiệp để
đảm bảo cho sự tăng trưởng được bền vững
- Duy trì tình trạng tài chính ở mức độ an toàn cao, tối ưu hóa việc sử dụng
vốn cổ đông (ROE mục tiêu là 30%) để xây dựng ACB trở thành một định chế tài
chính vững mạnh có khả năng vượt qua mọi thách thức trong môi trường kinh
doanh còn chưa hoàn hảo của ngành ngân hàng Việt Nam;
- Có chiến lược chuẩn bị nguồn nhân lực và đào tạo lực lượng nhân viên
chuyên nghiệp nhằm đảm bảo quá trình vận hành của hệ thống liên tục, thông suốt
và hiệu quả;
Xây dựng “Văn hóa ACB” trở thành yếu tố tinh thần gắn kết toàn hệ thống
một cách xuyên suốt.
ACB đang từng bước thực hiện chiến lược tăng trưởng ngang và đa dạng hóa.
Trần Quốc Tuấn Ngân hàng K11
23

×