1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
KHOA NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
THỬ NGHIỆM ƯƠNG NUÔI THÂM CANH CÁ BIỂN
TRONG AO BẰNG MƯƠNG NỔI
Luận văn tốt nghiệp
Chuyên ngành Nuôi trồng Thủy sản, Khóa 2003 – 2008
Nha Trang, tháng 11 năm 2007
Sinh viên thực hiện:
VŨ HỒNG HIẾU
LỚP: 45 NT2
MSSV: 45DN050
Cán bộ hướng dẫn:
TS. HOÀNG THỊ BÍCH ĐÀO
2
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ
chân tình quý báu để hoàn thành tốt đề tài của mình. Qua đây tôi xin bày tỏ lời cảm ơn
chân thành.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn Trường Đại học Nha Trang, Khoa Nuôi trồng Thủy
sản, Bộ môn sinh học, các thầy cô trong khoa đã tận tình chỉ dạy, cung cấp những nền
tảng kiến thức và tạo điều ki
ện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực
hiện đề tài. Cám ơn sự hỗ trợ về cơ sở vật chất của dự án CARD, trại thực nghiệm
Nuôi trồng Thủy sản Ninh Lộc trong quá trình thực hiện đề tài.
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn đến cô TS. Hoàng Thị Bích Đào, thầy TS.
Hoàng Tùng, thầy Ngô Văn Mạnh, thầy Đinh Văn Khương đã trực tiếp hướng dẫn, tận
tình chỉ bảo và cung cấp những lời khuyên quý báu trong suôt thời gian tôi thực hiện
đề tài.
Trân trọng cám ơn các anh công nhân trại thực nghiệm NTTS Ninh Lộc, và các
bạn sinh viên đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài và hoàn thành
đồ án.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn tới bố mẹ, gia đình, bạn bẽ đã luôn động viên, chia sẻ,
giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
3
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC HÌNH v
GIẢI THÍCH CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
Phần 1. TỔNG LUẬN 3
1.1. Tình hình sản xuất giống và nuôi cá biển trong nước và trên thế giới 3
1.1.1. Tình hình sản xuất giống và nuôi cá biển trên thế giới 3
1.1.2. Tình hình sản xuất giống và nuôi cá biển ở Việt Nam 6
1.2. Vài nét về 2 đối tượng nuôi là cá giò (Rachycentron canadum) và cá mú chấm
nâu (Epinephelus coioides) 9
1.2.1. Cá giò 9
a. Đặc đ
iểm về sinh thái phân bố 9
b. Đặc điểm dinh dưỡng và sinh trưởng 10
c. Đặc điểm sinh sản 10
1.2.2. Cá mú 11
a. Đặc điểm sinh thái phân bố 12
b. Đặc điểm về dinh dưỡng và sinh trưởng 12
c. Đặc điểm sinh sản 13
1.3. Những nghiên cứu sử dụng mương nổi trong nuôi trồng thủy sản 13
Phần 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 19
2.2. S
ơ đồ khối nội dung nghiên cứu 19
2.3. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 26
2.3.1. Phương pháp thu thập số liệu 26
a. Tìm hiểu cấu tạo và nguyên lý hoạt động của hệ thống mương nổi 26
b. Kỹ thuật ương nuôi cá giò và cá mú chấm nâu trong ao bằng mương nổi26
2.3.2. Phương pháp xử lý số liệu 27
ii
4
Phần 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
3.1. Cấu tạo và nguyên lý vận hành hệ thống nuôi 29
3.1.1. Cấu tạo hệ thống nuôi 29
a. Ao nuôi 29
b. Mương nổi và hệ thống bè nổi 29
c. Hệ thống khí và ống nâng nước 31
3.1.2. Nguyên lý vận hành hệ thống nuôi 32
3.2. Kết quả ương nuôi 34
3.2.1. Kỹ thuật ương cá giò, cá mú chấm nâu 34
a. Vệ sinh mương 34
b. Nguồn giống và cách thả 34
c. Chăm sóc quản lý 35
d. Phòng bệnh 40
3.2.2. Tốc độ t
ăng trưởng, mức độ phân đàn, tỷ lệ sống của cá giò và cá mú 40
a. Đối với cá giò 40
e. Đối với cá mú 44
3.3. ý nghĩa của mô hình và hiệu quả kinh tế 47
Phần 4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 50
4.1. Kết luận 50
4.2. Đề xuất ý kiến 51
iii
5
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1. Sản lượng khai thác và Nuôi trồng Thủy sản (NTTS) trên thế giới 9
Bảng 1.2. Sản lượng nuôi trồng thủy sản của 10 quốc gia hàng đầu thế giới 10
Bảng 1.3: Kết quả ương nuôi ấu trùng cá chẽm mõm nhọn 13
Bảng 1.4: Kết quả nghiên cứu và sản xuât giống cá biển năm 2003 – 2004 13
Bảng 1.5: Sản lượng nuôi trồng nước mặn, lợ ở Việt Nam 14
Bảng 1.6: Tóm tắt nhu cầu dinh dưỡng c
ủa cá mú 19
Bảng 1.7: Một số kết quả nuôi cá bằng hệ thống SIFTS 23
Bảng 3.1. Thành phần thức ăn Grobest 35
Bảng 3.2: Kết quả quan trắc một số yếu tố môi trường trong đợt ương. 40
Bảng 3.3: Các chỉ tiêu sinh trưởng, tỷ lệ sống và FCR của cá giò 41
Bảng 3.4: Kết quả theo dõi ương nuôi cá mú 44
Bảng 3.5: Hoạch toán kinh tế của đợt thử nghiệm 49
iv
6
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1: Sản lượng cá giò ở Đài Loan từ năm 1999 – 2002 11
Hình 1.2: Cá giò (R. canadum) 9
Hình 1.3: Sơ đồ các pha ương nuôi cá giò ở Đài Loan 17
Hình 1.4: Cá mú (E. coioides) 11
Hình 1.5: Các dạng mương nổi và hệ thống mương nổi trong ao 20
Hình 1.6: ống nâng nước 21
Hình 1.7: Cấu tạo hệ thống SIFTS 24
Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 25
Hình 3.1:Vị trí hệ thống mương nổi trong ao 29
Hình 3.2: Cấu tạo mương nổi phiên bản SMART - 01 24
Hình 3.3: Máy nén khí và ống nâng nước 1
Hình 3.4: Hệ th
ống mương và bè nổi 32
Hình 3.5: Hoạt động của dòng chảy trong mương .28
Hình 3.6: Diễn biến nhiệt độ trong ao và mương 36
Hình 3.7: Diễn biến pH trong ao và mương 37
Hình 3.8: Diễn biến hàm lượng oxy trong ao và mương 39
Hình 3.9: Chiều dài và khối lượng thân trung bình của cá giò 41
Hình 3.10: Tăng trưởng tuyệt đối trung bình về chiều dài và khối lượng cá giò 42
Hình 3.11: Chiều dài và khối lượng thân trung bình của cá mú 45
Hình 3.12: Tăng trưởng tuyệt đối trung bình về chiều dài và khối lượng cá mú 45
v
7
MỞ ĐẦU
Việt Nam có bờ biển dài với nhiều eo vịnh, đầm phá, điều kiện môi trường tự
nhiên thuận lợi, nguồn lợi thủy sản phong phú để phát triển nghề Nuôi trồng Thủy sản
(NTTS) nói chung và nghề nuôi cá biển nói riêng. Nghề nuôi cá biển ngày càng phát
triển rộng khắp ở các tỉnh ven biển, nguồn giống cho nghề nuôi cá biển ở Việt Nam
chủ yếu được khai thác từ tự nhiên nên kích cỡ không đồng đều, chất lượng giống
không đảm bảo và sản lượng giống không đủ đáp ứng nhu cầu cho người nuôi.
Trong những năm gần đây, công nghệ sản xuất giống nhân tạo cá biển ở Việt
Nam đã thành công trên một số đối tượng có gí trị kinh tế như cá mú (Epinephelus
spp), cá giò (Rachycentron canadum), cá chẽm (Lates calcarifer) và một số đối tượng
khác đã phần nào đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của ng
ười nuôi. Tuy nhiên, đa số
các đối tượng nuôi biển đều được nuôi trong lồng. Kích thước con giống vì thế phải đủ
lớn, cỡ 8 – 10 cm hoặc lớn hơn nữa. Ương cá bột đến cỡ này trong các trại sản xuất rất
tốn kém và khó có thể cung cấp được số lượng lớn do hạn chế về diện tích bể ương.
Các thử nghiệm ương trong ao cho thấy tỷ lệ sống không cao và khó quản lý.
Trong khi đó, việc sử dụng hệ thống mương nổi để ương và để nuôi thương
phẩm những đối tượng trong nước ngọt đã thử nghiệm thành công tại các nước như
Nhật Bản, Australia và Mỹ. Mặc dù chi phí đầu tư và vận hành tương đối cao nhưng
dùng mương nổi để ương cá biển có nhiều thuận lợi như: (i) mật độ ương cao, hạn chế
địch hại; (ii) dễ dàng quản lý thức ăn, kích cỡ và dịch bệnh; (iii) vận hành đơn giản và
tốn ít nhân công; (iv) tận dụng được thức ăn tự nhiên khi ương cá giai đoạn nhỏ
(Hoàng Tùng, 2006; Lưu Thế Phương, 2006).
Dự án “Nuôi thâm canh cá biển trong ao bằng mương nổi” ở Việt Nam (do
CARD tài trợ) đã được triển khai thử nghiệm ương nuôi chẽm đã cho kết quả thành
công nhất định. Tuy nhiên, thử nghiệm này ch
ỉ mới ương cá chẽm với mật độ thấp
(3.000 – 4.000 con/m
3
), sử dụng kết hợp thức ăn INVE và Grobest để ương cỡ cá 1,8 –
2 cm lên cỡ 5 – 6 cm và 8-10 cm, trong thời gian từ 15 – 45 ngày, tỷ lệ sống đạt 51 –
83% (Hoàng Tùng, 2006; Lưu Thế Phương, 2006).
8
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi đã hực hiện đề tài “Thử nghiệm nuôi thâm
canh cá biển trong ao bằng mương nổi” với các nội dung sau:
1. Cấu tạo và nguyên lý vận hành hệ thống nuôi.
2. Đánh giá các chỉ tiêu ương nuôi.
3. Ý nghĩa của mô hình nuôi và kết luận.
Do thời gian và hiểu biết của bản thân còn có những hạn chế, tôi đã rất cố gắng
nhưng vẫn còn những thiếu sót, rất mong
được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và
các bạn để cuốn báo cáo của tôi được hoàn thiện hơn.
Sinh viên thực hiện
Vũ Hồng Hiếu
9
Phần 1
TỔNG LUẬN
1.1. Tình hình sản xuất giống và nuôi cá biển trong nước và trên thế giới
1.1.1. Tình hình sản xuất giống và nuôi cá biển trên thế giới
Cá biển là nhóm có sản lượng lớn nhất trong nhóm các đối tượng nuôi ven biển.
Theo báo cáo của FAO (2002) sản lượng cá biển vào khoảng 23 triệu tấn, cao hơn gấp
2 lần so với nhuyễn thể và rong biển, gấp 12 lần so với giáp xác [7]. Những năm gần
đây, sản lượng nuôi trồng thủy sản trên thế gi
ới ngày càng tăng thể hiện trong bảng 2.1
[22].
Bảng 1.1. Sản lượng khai thác và Nuôi trồng Thủy sản (NTTS) trên thế giới
Sản lượng ( triệu tấn)
2000 2001 2002 2003 2004 2005
Nội địa
Đánh bắt 8,8 8,9 8,8 9,0 9,2 9,6
NTTS 21,2 22,5 23,9 24,5 27,2 28,9
Tổng SL Nội địa 30,0 31,4 32,7 34,4 36,4 38,5
Biển
Đánh bắt 86,8 84,2 84,5 81,5 85,8 84,2
NTTS 14,3 15,4 16,5 17,3 18,3 18,9
Tổng SL Biển 101,1 96,6 101,1 98,8 104,1 103,1
SL Đánh bắt 95,6 93,1 93,3 90,5 90,5 93,8
SL NTTS 35,5 37,9 40,4 42,7 45,5 47,8
Tổng SL Thủy sản
131,1 131,0 137,7 133,2 104,5 141,6
Ghi chú: Sản lượng (SL) trên bao gồm cả thực vật ở nước
Nhật Bản là một trong những quốc gia Châu Á có nghề nuôi cá biển phát triển
lâu đời. Các loài cá như: cá hồng ( seabream – Pagrus major), cá cam (Seriola
quinqueradiata) đã được nuôi từ lâu. Cũng như các quốc gia khác, thời gian đầu người
nuôi cá biển Nhật Bản sử dụng con giống tự nhiên nay chuyển sang sinh sản nhân tạo
[7]. Tính đến năm 2005, Nhật Bản vẫn là một trong 10 quốc gia dẫn đầu về sản lượng
nuôi trồng thủy sản củ
a thế giới (bảng 1.2).
Riêng cá hồi (Salmonids) phát triển khá nhanh sau năm 1970 ở các nước Bắc Âu
như Na Uy, Đan Mạch, Úc… do đã chủ động được con giống nhân tạo. Sản lượng cá
10
hồi của Na Uy vào năm 1997 đạt 350.00 tấn tăng gấp 7 lần so với năm 1987 (50.000
tấn). Đến năm 2000 sản lượng cá biển của Na Uy là 550.000 tấn trong đó có 90% là cá
hồi Salmon, 10% là cá tuyết Bắc Đại Tây Dương (Gadus morluna) và cá bơn (Psetta
mexime) [7].
Bảng 1.2. Sản lượng nuôi trồng thủy sản của 10 quốc gia hàng đầu thế giới [22].
Sản lượng (tấn)
STT Quốc gia
2002 2004
Tốc độ tăng
trưởng năm
(%)*
1 Trung Quốc 27.767.251 30.614.968 5,0
2 Ấn Độ 2.187.189 2.472.335 6,3
3 Việt Nam 703.041 1.198.617 30,6
4 Thái Lan 954.567 1.172.866 10,8
5 Indonesia 9.140.701 1.045.057 6,9
6 Băng la des 786.604 914.752 7,8
7 Nhật Bản 826.715 776.44 -3,1
8 Chi Lê 545.655 647.979 11,2
9 Na Uy 550.290 637.993 7,7
10 Mỹ 497.346 606.549 10,7
Các nước khác 4.650.830 5.353.825 7,3
Tổng sản lượng 40.383.478 45.468.356 6,1
Ghi chú: * chỉ tính cho giai đoạn 2002 – 2004
So với nhiều nước nuôi cá biển khác thì Đài Loan là một trong những nước thành
công nhất trên phương diện sản xuất giống cá biển. Năm 1998, có 64 loài cá biển được
nuôi thì 90% trong số đó đã sản xuất được giống nhân tạo. Cá giò (Rachycentron
canadum) đã được sinh sản nhân tạo và ương nuôi rất thành công vào những năm
1990, đóng góp phần quan trọng vào nền kinh tế của quốc gia này [21], [23], [27]. Cá
giò có khối lượng khoảng 30 g sẽ được ươ
ng tiếp ở trong các ao ương hoặc chuyển ra
ương ở các lồng nuôi nội địa (gần bờ, ít sóng gió) đến khi đạt được kích thước lớn hơn
(600 – 1000 g) mới chuyển ra nuôi thương phẩm ở các lồng ngoài khơi. Cá đạt 6 – 10
kg/con sau 6 - 8 tháng nuôi mới tiến hành thu hoạch [21], [23]. Ở Đài Loan, cá giò đã
được sản xuất và nuôi thương phẩm rất thành công, sản lượng rất cao vào năm 2001
(hình 1.1) , tuy nhiên sản lượng giảm mạnh vào năm 2002 do sự bùng phát dị
ch bệnh
[21], [23], [27].
11
Những công trình nghiên cứu thành công bước đầu trong kích thích sinh sản
nhân tạo cá mú đã được báo cáo đầu tiên bởi Chen (1977) trên đối tượng E. tauvina
[20], Tseng và Ho (1988) trên E. akaara [29], Kuo & ctv trên đối tượng E. fario
(1988) [24]. Hiện nay Đài Loan là nước thành công nhất về công nghệ sản xuất giống
cá mú chủ yếu là: cá mú chấm nâu (E. coioides), cá mú chấm đen (E. malabaricus), cá
mú cọp (E. fuscoguttatus), cá mú nghệ (E. lanceolatus). Với hơn 10 trại giống quy mô
lớn ở miền Nam Đài Loan vào mùa sinh sản, mỗi ngày có tớ
i 300 cá bố mẹ sản xuất
trên 20 kg trứng (30 triệu trứng) trong một ao diện tích 0.2 ha. Mỗi năm các trại giống
có thể sản xuất ra 20 tỉ trứng cá mú đã được thụ tinh đáp ứng đủ nhu cầu cho hơn 1000
trại nuôi cá mú [5].
Hình 1.1: Sản lượng cá giò ở Đài Loan từ năm 1999 – 2002
Một số quốc gia Đông Nam Á cũng có những thành công nhất định trên quy mô
thí nghiệm với mốt số loài như Indonesia với cá mú chuột và cá mú hổ, hoặc Thái Lan
với cá mú chấm đen, Việt Nam và Trung Quốc Philippine với cá mú chấm nâu [19]. Ở
Đông Nam Á, Thái Lan là nước rất chú trọng phát triển nghề nuôi cá biển trong đó cá
mú đen là một trong những loài cá kinh tế quan trọng.
Đối với cá vược (Lates calcarifer
), Wongsumnuk và Manevonk (1973) đã có báo
cáo đầu tiên về những thành công trong nghiên cứu và sản xuất giống đại trà từ giữa
thập ký 1970 ở Thái Lan. Từ đó sản xuất giống ngày càng được phát triển rộng rãi ở
Úc và các nước Đông Nam Á [7], [8]. Loài cá biển được nuôi chính của Úc là cá vược,
12
cá cam (Seriola quinqueradiata), cá hồi Đại Tây Dương (Atlantic salmon), cá ngừ vây
xanh (Thunnus maccoyii)… được nuôi trong lồng hình tròn có đường kính khoảng 80
m trở lên, trong khi đó cá vược lại thường được nuôi trong lồng hình chữ nhật hoặc
hình tròn có chiều dài hoặc đường kính lớn hơn 20 m. Thức ăn chính để nuôi các đối
tượng này chủ yếu là thức ăn chế biến thành dạng viên chìm chậm (dành cho cá nuôi
lồng), hoặc nổi (dành cho cá cam và cá vược nuôi trong nước ngọt). Thành phần dinh
dưỡng c
ủa thức ăn cho cá vược chứa 45 – 50% Protein thô, chất béo từ 13 – 18% với
giá từ 1,1 – 1,2 USD/Kg. Thức ăn cho cá hồi Đại Tây Dương chứa 40 – 42% Protein
thô, chất béo 28 – 30% và giá từ 1,3 – 1,5 USD/Kg. Chỉ tính triêng sản lượng cá hồi
Đại Tây Dương và cá ngừ vây xanh đạt 12.000 tấn, xấp xỉ 1,5 triệu đô la Úc hàng năm
[7].
1.1.2. Tình hình sản xuất giống và nuôi cá biển ở Việt Nam
Nghề nuôi cá biển của Việt Nam chỉ bắt đầu từ giữa những năm 1990, kh
ởi đầu
khi một số nghiên cứu về sản xuất giống cá biển bắt đầu có những thành công. Những
khu vực nuôi chủ yếu ở nước ta là Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), Hải Phòng, Nghệ An,
Khánh Hòa ,Vũng Tàu… Phương thức nuôi cá biển chính hiện nay là nuôi trong các
ao đầm nước lợ hoặc nuôi lồng (lồng nổi cỡ nhỏ hay lớn, lồng cố định, lồng lưới, lồng
gỗ, lồng tròn…) ở
biển.
Những năm gần đây, Việt Nam đã khá thành công trong sinh sản nhân tạo và
nuôi thương phẩm nhiều đối tượng cá biển. “Nghiên cứu sản xuất giống cá chẽm
(Lates calcarifer) tại Khánh Hòa” (Võ Ngọc Thám, 2000) [11], hay “Báo cáo khoa
học về nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo cá chẽm mõm nhọn (Pasammopeca
vaigiensis)” của Nguyễn Trọng Nho (2003) đã có những thành công, tuy nhiên kết quả
ương nuôi ấu trùng còn thấp (bảng 1.3) [6]. Huỳnh Văn Lâm (2000) khi “Ngiên cứu
ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái lên sinh trưởng và phát triển của cá chẽm
(Lates calcarifer) giai đoạn sau khi nở đến 25 ngày tuổi và thử nghiệm ương nuôi cá
chẽm trong hệ thống bể nhỏ” cho thấy cá sinh trưởng nhanh và cho tỷ lệ sống cao ở 28
– 31
o
C và độ mặn 25 – 35 ‰ [4]. Nguyễn Duy Toàn (2005) tiến hành ương cá chẽm
mõm nhọn giai đoạn cá hương lên cá giống bằng 3 loại thức ăn là mực tươi, cá mối và
thức ăn dạng viên. Ương cá trong bể xi măng với mật độ 104 con/m
3
, sau 20 ngày
13
ương thấy cho ăn bằng cá mối tươi có tốc độ tăng trưởng nhanh (0,918 mm/ngày &
0,061 g/ngày) và tỷ lệ sống (84,1%) cao nhất [13].
Bảng 1.3: Kết quả ương nuôi ấu trùng cá chẽm mõm nhọn
Năm
Số đợt sản
xuất
Số cá bột
(con)
Số cá giống
(con)
Tỷ lệ sống
(%)
2001 2 586.000 33.912 5.79
2002 4 2.176 560 2.112 1.1
Năm 2001 Viện nghiên cứu NTTS II đã thành công trong việc ương nuôi cá mú
đen (E. malabaricus), nhưng tạo được số lượng giống không đáng kể vì tỷ lệ cá mới
nở sống và phát triển được vào thời điểm này mới chỉ đạt trên dưới 1%. Năm 2003,
Viện nghiên cứu NTTS I đã thành công trên các đối tượng: cá mú chấm nâu (E.
coioides), cá giò (Rachycentron canadum), cá hồng Mỹ (Sciaenop ocelatus). Với công
trình nghiên cứu “Kết quả bước
đầu về nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ sản
xuất giống cá song chấm nâu (Epnephelus coioides)” của Lê Xân, Nguyễn Xuân Sinh,
Bùi Khánh Tùng, Lê Đức Cường và ctv, năm 2003 đã có kết quả ương nuôi tuy nhiên
tỷ lệ sống sau khi ương 40-45 ngày đạt 5.8-6.2% còn tương đối thấp [19].
Bảng 1.4: Kết quả nghiên cứu và sản xuât giống cá biển năm 2003 – 2004 [7]
TT Đối tượng
Số lượng
(1.000 con)
Ghi chú
1 Cá mú chấm nâu 400 Viện NCNTTS I, II
2 Cá giò 500 Viện NCNTTS I
3 Cá hồng mỹ 750 Viện NCNTTS I
4 Cá vược (chẽm) 400
Viện NCNTTS II,
ĐHTS
Năm 2001, tổng số lồng nuôi trên biển là 23.989 chiếc, nhiều hơn năm 2000 là
5.244 chiếc trong đó số lồng muôi cá biển là 4.077 chiếc. Sản lượng nuôi lồng bè nước
mặn năm 2001 đạt 2.635 tấn, cao hơn năm 2000 là 853 tấn, trong đó sản lượng cá biển
là 1.898 tấn. Năng suất cá nuôi từ 8 – 10 kg/m
3
/lồng [7].
14
Bảng 1.5: Sản lượng nuôi trồng nước mặn, lợ ở Việt Nam [31]
2001 2002 2003
So với năm trước (%)
Năm
Đối tượng
2002/2001 2003/2002
SLTS
nuôi trồng mặn, lợ
319 070.6 396099.2 443 135.0 124.1 111.9
Cá 37 833.4 44 593.7 56 270.0 117.9 126.2
Tôm 149 978.1 181851.1 233 086.0 121.3 128.2
Thuỷ sản khác 131 259.1 169654.4 153 779.0 129.3 90.6
Hiện nay cả nước có 6.800 lồng nuôi cá biển trong đó 80% là lồng nuôi cá mú và
500 ha ao nuôi cá mú với sản lượng ước tính 3000 tấn, đạt giá trị trên 300 tỷ VNĐ
[15]. Năm 2004, các đối tượng nuôi cá biển ngày càng phong phú với nhiều loài có giá
trị kinh tế như: cá giò, cá mú, cá vược… với nhiều phương thức nuôi rất khác nhau.
Diện tích nuôi cá biển trong ao 1.750 ha và nuôi lồng trên biển 8.850 lồng, sản lượng
đạt 7.675 tấn. Ngoài ra tại các đầm nước lợ ven biển, cá được thả nuôi vớ
i các đối
tượng khác. Sản lượng cá nuôi nước lợ mặn đạt 13.865 tấn. Kết quả này còn hạn chế,
nguyên nhân là chưa chủ động giống, thiếu công nghệ nuôi và còn khó khăn về thị
trường [7].
Việt Nam phấn đấu đến năm 2010 sản xuất được 200.000 tấn cá biển trong đó
các đối tượng nuôi chính là cá mú ( Epinephelus spp), cá chẽm ( Lates spp), cá giò
(Rachycentron canadum) và cá hồng (Lutjanus spp). Tuy nhiên hiện nay mới đạt
khoảng 1.8% (3510 tấn) so với mục tiêu đề ra nguyên nhân chủ yếu là do con giống, ô
nhiễm và dịch bệnh [1].
Tóm lại, để thúc đẩy nghề nuôi biển nói chung và nghề nuôi cá biển nói riêng
trong thời gian tới, nước ta cần đẩy mạnh hơn nữa trong sản xuất giống các đối tượng
cá biển có giá trị kinh tế, đa dạng hóa đối tượng nuôi, đáp ứng đủ nguồn giống cho
nghề nuôi. Từng bước hoàn thiện các quy trình nuôi thương phẩm, xây dự
ng các vùng
nuôi tập trung phù hợp với các tiêu chuẩn về môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm.
Tăng cường mở rộng và đa dạng hóa các thị trường trong và ngoài nước.
15
1.2. Vài nét về 2 đối tượng nuôi là cá giò (Rachycentron canadum) và cá mú chấm
nâu (Epinephelus coioides)
1.2.1. Cá giò
Cá giò (cá bớp biển) có tên tiếng Anh blacking fish, hoặc cobia. Là loài duy nhất
trong họ Rachycentridae có vị trí phân loại như sau:
Ngành: Vertebrata
Lớp: Osteichthyes
Bộ: Perciformes
Họ: Rachycentridae
Giống: Rachycentron
Loài: Rachycentron canadum (Linaeus, 1766)
Hình 1.2: Cá giò (R. canadum)
a. Đặc điểm về sinh thái phân bố
Cá giò phân bố rộng trên thế giới, chúng được tìm thấy ở vùng nhiệt đới, cận
nhiệt đới và vùng nước ẩm. Phân b
ố ở bờ tây Đại Tây Dương, có từ Massachusetts và
Bermude tới Riodela Plata, Achentina (Briggs, 1985; Menni et al, 1984, Nichols &
Breder, 1926). Phía Bắc của Đại Tây Dương chúng xuất hiện ở thềm lục địa Scottian-
Canada (Markle et al, 1980). Đây là loài cá nổi, nhưng người ta đã thấy chúng xuất
hiện ở nhũng vùng có độ sâu 50m, thậm chí còn thấy ở những nơi sâu tới 1.200 m.
Chúng sống ở những vùng có nền đáy bùn, đá, cát và những vùng có rạn đá san hô [3].
Nhiệt độ là yếu tố
ảnh hưởng rất lớn đối với sự sinh trưởng, phát triển và sự sống
của cá giò. Nhiệt độ thích hợp cho cá giò từ 20-30
0
C, ở nhiệt độ 37,7
0
C có thể gây chết
với cá giò giống, tính ăn của cá giảm và ngừng hẳn ở nhiệt độ 17-18
0
C (Minh, 2003),
chúng chỉ bắt mồi trở lại khi nhiệt độ nước tăng lên 19
o
C [2], [8]. Khoảng chịu đựng
độ mặn của cá giò từ 22,5 ppt dến 44,5 ppt (Christesen, 1965; Roessler, 1967) [2]. Tuy
nhiên Mathew và ctv (2006) đã tiến hành thử nghiệm ảnh hưởng của độ mặn lên tốc độ
16
tăng trưởng, tỷ lệ sống cá hương (6g) trong hệ thống tuần hoàn nước cho thấy cá có
thể sống được ở độ mặn 5 ‰ nhưng tỷ lệ sống (68,3%) thấp hơn ở độ mặn 15 và 30 ‰
(tương ứng là 90 và 92%). pH thích hợp cho cá dao động trong khoảng từ 7,5-8,3 [3].
b. Đặc điểm dinh dưỡng và sinh trưởng
Cá giò là loài cá dữ bắt mồi chủ động, ăn thịt và rất phàm ăn. Thức ăn của chúng
là giáp xác, chân đầu và các loài cá nhỏ như cá đối, lươn, cá trích… trong đó ưu thế
nhất là cua. Khi nghiên cứu thành phần thức ăn trong dạ dày cá giò thấy 42% là
Callinectes, 46% là tôm (Michael, 2001). Chúng thường bắt mồi sát đáy, tuy nhiên có
thể bắt mồi trên tầng mặt và bơi theo nhóm từ 3 – 100 con, săn mồi trong khi di cư ở
vùng nước nông dọc theo bờ. Khẩu phần ăn của cá giò thay đổi tùy theo trọng lượng
thân của cá (BW) và loại thức ăn sử dụ
ng. Cho cá ăn bằng thức ăn viên nhỏ dạng nổi
thì khẩu phần ăn của cá là 5% (BW) với cá có khối lượng từ 10 - 30 g, 2 - 3% khi cá
đạt từ 100 - 200 g trở lên [21].
Theo Ruey-Liang Chou, Mao-Sen Su & Houng-Yung Chen (2000) khi nghiên
cứu hàm lượng Lipid, Protein tối ưu cho cá giò giai đoạn giống (juvenile). Sau 8 tuần
thí nghiệm cho thấy với hàm lượng Protein chiếm 44%, 48%, 52%, và Lipid là 18%,
15%, 9% cho tốc độ tăng trưởng của cá cao nhất [27]; Jr., Glenn M. Hitzfelder,
Cynthis K. Faulk & G. Joan Holt * (2006) theo dõi sự tăng trưởng của cá giò khi thả ở
3 mật độ khác nhau trong h
ệ thống nuôi nước chảy. Thí nghiệm tiến hành trong 10
tuần với các mật độ thả ban đầu là 0,04 g, 0,22 g và 0,44 g/L (trọng lượng cá thả ban
đầu là 6,7 ± 0,02 g/con), cho tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống cao [23].
c. Đặc điểm sinh sản
Cá thành thục sau 1,5 – 2 năm khi đó cá có trọng lượng khoảng 10 kg, cá được
chọn từ các lồng nuôi ngoài biển và chuyển vào các ao nuôi trong nội địa để cho đẻ (S
= 400 - 600 m
2
, h = 1,5 m). Mật độ thả là 100 con với tỷ lệ đực/cái = 1/1. Cá được cho
ăn theo nhu cầu tối đa bằng thức ăn tươi (cá mòi, mực ống…), cho ăn từ 1-2 lần/ngày
[21]. Sức sinh sản của cá giò khá lớn từ 1,9 - 5,4 triệu trứng/cá cái, tùy thuộc vào kích
thước và tuổi cá, cá có tuổi càng lớn thì sức sinh sản càng cao.
Trứng thụ tinh nở ra sau 21 – 27h ở nhiệt độ dao động từ 22 – 31
o
C, 3 ngày sau
khi nở cá có thể sử dụng thức ăn ngoài, bổ sung Luân trùng (Rotifer), hoặc Nauplius
17
Copepod để cho cá ăn. Cá có tăng tốc độ tăng trưởng rất nhanh (hình 1.3) [21], nó có
thể đạt 6-8 kg sau 1 năm nuôi. Sự phát triển của cá thể hiện ở hình 1.3.
Hình 1.3: Sơ đồ các pha ương nuôi cá giò ở Đài Loan
1.2.2. Cá mú
Cá mú chấm nâu có hệ thống phân loại như sau:
Ngành: Vertebrata
Lớp: Osteichthyes
Bộ: Perciformes
Họ: Serranidae
Giống: Epinephelus
Loài: Epinephelus coioides (Hamilton, 1822)
Có tên tiếng Anh là Orange-spotted grouper [9].
Hình 1.4: Cá mú (E. coioides)
Cá bố mẹ
(
> 2 tuổi
)
Ấp trứng
(
30
g
iờ
)
Ương ấu trùng
tron
g
ao
(
20
Pha 2 ương ngoài ao
cỡ cá 2-5g đến 30g
(30 ngày)
Pha 1 ương ngoài ao
cỡ cá 0,2 đến 2-5g
(25 ngày)
Nuôi thương phẩm lồng
ngoài khơi 6-10kg
(6 – 8 tháng)
Pha ương ngoài ao hoặc
lồng gần bờ 30g đến 600 –
1000g
18
a. Đặc điểm sinh thái phân bố
Cá mú thuộc loài cá vùng nước ấm, phân bố chủ yếu ở biển Á nhiệt đới từ Đông
Phi, Ấn độ đến Indonesia, Philippine, Nhật Bản, Trung Quốc, Hồng Kông, Bắc Úc và
một số nước khác thuộc khu vực Đông Nam Á, rất ít bắt gặp ở vùng Ôn đới [10].
Giống cá mú (Epinephelus) có khoảng 30 loài phân bố trong vùng này. Ở Việt Nam cá
mú phân bố từ vịnh Bắc Bộ
đến vịnh Thái Lan nhưng thành phần loài tập trung chủ
yếu ở miền Trung. Đây là khu vực có thềm lục địa ngắn và dốc, nhiệt độ, độ mặn cao
và tương đối ổn định. Đặc biệt chất đáy là cát đá, có nhiều rạn san hô, môi trường
trong sạch giàu thức ăn là điều kiện sinh sống lý tưởng cho các loài hải sản nói chung
và cá mú nói riêng.
Cá mú chấm nâu thích sống ở vùng đáy cứng, lúc nhỏ chúng s
ống ở cửa sông,
khi trưởng thành thích sống ở vùng cát hoặc phù sa ở biển. Nhiều loài phát triển ở độ
sâu 100 – 200 m [9]. Đây là đối tượng có tính ưa mặn rộng, chúng có thể sống được ở
độ mặn từ 11 - 45‰. Tuy nhiên, chúng thích sống ở độ mặn từ 15 – 30 ‰, và nhiệt độ
từ 22 – 28
o
C [9].
b. Đặc điểm về dinh dưỡng và sinh trưởng
Tất cả các loài cá mú đều là cá dữ ăn động vật. Ngoài tự nhiên cá thường ẩn nấp
trong hang hốc để rình mồi, đôi khi chúng đợi con mồi mà không ra khỏi chỗ ẩn nấp
lúc này chỉ nhận biết nhờ chuyển động của nắp mang và đôi mắt màu vàng. Khi con
mồi xuất hiện chúng lao cực nhanh bắt mồi rồi quay trở lại chỗ c
ũ.
Là loài cá dữ nên cá mú trở thành động vật dữ từ rất sớm khi cá mở miệng (khi
cá hết noãn hoàng) đã ăn động vật phù du, khi cá có chiều dài 2-3 cm ăn cá là chủ yếu.
Cá cỡ 8-12 cm ăn động vật sống như cá, tôm, mực…khi đói chúng ăn thịt lẫn nhau,
con lớn có thể ăn con nhỏ kích thước bằng nửa nó thậm chí còn lớn hơn thế. Tính dữ
của cá mú còn hiện ở cấu tạo r
ăng chắc, khỏe, nhọn và sắc [12]. Thức ăn của cá mú là
các thủy hải sản sống, chúng rất ít ăn mồi chết và mồi chìm ở đáy. Nhu cầu dinh
dưỡng của cá mú cũng đã được nghiên cứu và được tóm tắt như bảng 1.6.
19
Bảng 1.6: Tóm tắt nhu cầu dinh dưỡng của cá mú [9].
Chất dinh dưỡng Nhu cầu Tác giả
Protein (% thức ăn) 45-50
Teng et al, 1978; Tacon et al, 1991;
Chen and Tsai, 1994; Shiau and Lan,
1996
Lipid (% thức ăn) 13-14
Teng et al, 1978; New, 1997 citied in
Boonyaratpalin, 1993-1997
DE/P (kcal/g) 3302 Teng and Chua, 1978
Cá mú có tốc độ tăng trưởng khác nhau giữa các loài. Trung bình cỡ cá từ 30 –
50 g sau 6 – 8 tháng nuôi đạt khối lượng từ 500 – 1000 g. Tốc độ tăng trưởng của cá
mú chấm nâu tương đối nhanh, nó có thể đạt 0,8 kg/năm, trong khi đó của cá mú đỏ
(Cephalopholis miniata) là 0,3 – 0,4 kg/năm [16].
c. Đặc điểm sinh sản
Cá mú thuộc loài sinh sản biến tính, khi còn nhỏ đều là cá cái khi lớn lên một số
biến tính thành cá đực. Thời điểm chuyển đổi giới tính thay đổi theo từng loài. Cá mú
chấm đỏ (Epinephelus akaara) chuyển đối giới tính lúc có chiều dài 27 – 30 cm, với
trọng lượng 0,7 – 1 kg, loài mú mỡ (E. tauvina) lúc có chiều dài 65 – 75 cm, loài cá
mú chuột (Cromileptes altivelis) có trọng lượng trên 3 kg. Sức sinh sản cá mú cũng
khác nhau giữa các loài: cá mú chấm đen có sức sinh sản cao nhất vào tháng 12 là
3,18 ± 0,61 x 106 và thấp nhất vào tháng 8 là 0,13 x 106 trứng. Sức sinh sản của cá mú
chấm đỏ (E. akaara): 150.000 - 500.000 trứng/kg, cá mú chấm nâu: 600.000 -
1.900.000 trứng/kg [16].
1.3. Những nghiên cứu sử dụng mương n
ổi trong nuôi trồng thủy sản
Mương nổi được sử dụng trong ương nuôi thương phẩm một số đối thủy sản ở
các nước Châu Âu, Úc, Mỹ… từ những năm 1992. Phần lớn các thử nghiệm trên các
đối tượng nước ngọt và khá thành công. Mương nổi nhỏ nhất được sử dụng để ương cá
bột có thể tích khoảng 2 m
3
(1,8 ×1,2 × 1 m). Mương lớn nhất được sử dụng để nuôi
thương phẩm cá da trơn có thể tích khoảng 18 m
3
(7,2 × 2,4 × 1 m) [7]. Tại Úc đã tiến
hành thả nuôi cá chẽm, tốc độ tăng trưởng nhanh (> 1kg/năm), mật độ khi thu hoạch
có thể lớn hơn 100 kg/m
3
[25].
Vật liệu chế tạo mương có thể là nhựa dẻo, gỗ, composite…. Mương được đặt cố
định trong ao bằng bè nổi hoặc tự nổi trong ao (Hình 1.5). Kích thước mương lớn hay
20
nhở tùy thuộc vào nhu cầu và khả năng đầu tư của người sản xuất. Mương nổi có thể
làm thành một mương hoàn chỉnh hoặc là các “modun” ghép lại. Thường thì mương
nổi bao gồm các bộ phận như hệ thống ống nâng nước, tấm chắn chống cá nhảy và
địch hại, thiết bị cho cá ăn tự động, lưới chắn… [7], [17], [26].
Hình 1.5: Các dạng m
ương nổi và hệ thống mương nổi trong ao
Ương nuôi cá bằng mương nổi là hình thức nuôi nước chảy với mật độ cao.
Mương có thể đặt trong ao nuôi nước tĩnh, nhờ hệ thống ống nâng nước, nước sẽ được
bơm từ ngoài ao vào trong mương [26], [28]. Với khả năng trao đổi nước tốt hơn hẳn
các hệ thống nuôi khác và những ưu điểm vượt trội như
: (i) mật độ nuôi lớn, (ii) cải
thiện chất lượng nước, (iii) tận dụng được cơ sở thức ăn tự nhiên trong ao, (iv) giảm
hiện tượng phân đàn, khả năng phòng trị bệnh dễ dàng, giảm công thu hoạch… [7],
a
b
c
d
e
f
Ghi chú: a: khung gỗ + bạt nhựa b: Mương nổi bằng vật liệu thép không rỉ - USA
c: nhựa đức d: composite
e, f: hệ thống mương được lắp ở trong ao
21
[17], đã tạo cho hệ thống một lợi thế về mặt quản lý và chăm sóc các đối tượng ương
nuôi.
Nguyên lý hoạt động của mương nổi đó là nước được đẩy vào mương nhờ vào hệ
thống ống nâng nước và máy nén khí. Thức ăn tự nhiên ở trong ao sẽ theo ống nâng
nước đi vào mương, là thức ăn bổ sung rất tốt cho cá ương có kích thước nhỏ. Ống
nâng nướ
c là ống nhựa PVC được thiết kế dạng chữ “L” ngược có đường kính từ 75 –
100 mm hoặc lớn hơn, chiều cao khoảng 1 m (Hình 1.6). Các ống nâng nước này được
gắn lại với nhau tạo thành một hệ thống ống nâng nước (khoảng 4 – 9 ống) và đẩy vào
trong mương nhờ hệ thống máy nén khí. Lượng nước đẩy vào trong mương của một
ống nâng nước có đường kính 100 mm dao động trong khoảng 190 – 128 L/phút. Với
hệ thống g
ồm 09 ống nâng nước thì lượng nước đẩy vào mương khoảng 1.703 L/phút.
Như vậy, với mương có kích thước 4,88 × 1,22 × 1 m thì thời gian thay đổi toàn bộ
nước trong mương vào khoảng 04 phút. Ngoài ra, hàm lượng oxy trong mương sẽ
được cung cấp thêm do khả năng làm giàu của hệ thống ống nâng nước. Đã có kết quả
nghiên cứu cho thấy hàm lượng oxy ở ngoài mương dưới 2 ppm, trong khi đó hàm
lượng oxy hòa tan trong mương là 3 ppm với sinh khối cá trong mương rất lớn. Do đ
ó,
khi có sự cố mất điện hay các nguyên nhân khác dẫn đến máy nén khí không hoạt
động thì hệ thống điều khiển sẽ tự động mở van cung cấp oxy nguyên chất vào mương
thông qua hệ thống sục khí và phát tín hiệu cảnh báo đến người quản lý [7], [26].
Hình 1.6: ống nâng nước
Các đối tượng nuôi trong mương nổi thường là những loài ăn mồi trực tiếp như
cá rô phi, cá da trơn, cá hồi, cá pecca có sọc (striped bass), bluegill, … Ngườ
i nuôi sử
a
b
c
22
dụng thức ăn công nghiệp là chính và thường sử dụng các thiết bị cho ăn tự động. Hệ
số chuyển đổi thức ăn của cá rô phi và cá da trơn nuôi trong mương nổi vào khoảng
1,45 [7], [26].
Kinh phí để làm một mương nổi phụ thuộc vào vật liệu làm và kích thước của
mương. Với mương có kích thước 4,48 × 1,22 × 1,22 m có giá khoảng 3.000 USD vào
năm 1994. Tuy giá thành làm mương lớn, nhưng tuổi thọ của mương khá cao (khoảng
5 – 10 n
ăm tùy vào từng vật liệu). Ngoài ra chi phí sản xuất còn phụ thuộc rất lớn vào
chi phí nhiên liệu, thức ăn, con giống và nhân công chăm sóc [7], [26].
G.J.Partridge và ctv (2006) đã tiến hành nuôi nhóm cá xương nước mặn trong ao
nước tĩnh bằng hệ thống nuôi bể nổi bán thâm canh (Semi-intensive Floating Tank
System (SIFTS)). Đây là hệ thống nuôi có nguyên lý hoạt động tương tự như hệ thống
mương nổi, tuy nhiên bể có dạng hình trụ với V = 10 m
3
(Φ = 3,1 m × 1,4 m), độ cao
lưu không = 100 mm so với mặt nước trong ao (hình 1.7). Mỗi bể được sử dụng 2 hệ
thống ống nâng nước được đặt đối xứng nhau, hệ thống có cấu tạo tương tự như những
mô tả của Masser & Lazur (1997) [28]. Mỗi ống cấu tạo bằng ống nhựa PVC có Φ =
100 mm và đẩy được 300 L/phút, cao hơn so với thí nghiệm của Masser & Lazur (190-
228 L/phút). Sự khác nhau này có thể do có sự khác nhau về kích thướ
c ống nâng
nước và hệ thống máy nén khí.
Khoảng 90% nước chảy vào bể sẽ thoát ra qua lỗ tràn ở trên bề mặt, phần còn lại
chủ yếu là chất rắn có trọng lượng nặng hơn đi xuống đáy bể vào vị trí trung tâm, các
chất này được lắng xuống vị trí trung tâm nhanh hơn nhờ hệ thống ống nâng nước
[28]. Như vậy, ngoài khả năng làm tăng hàm lượng oxy hòa tan thì hệ thống ố
ng nâng
nước còn có tác dụng đẩy nhanh quá trình gom tụ chất thải ở đáy bể.
Có 3 đối tượng được sử dụng trong thí nghiệm này là: cá hồi vân (Oncorhynchus
mykiss), cá đù (Agyrosomus japonicus) và cá chẽm mõm nhọn (Lates calcarifer). Kết
quả ương nuôi thể hiện ở bảng 1.7.
Qua bảng 1.7 thấy kết quả ương nuôi còn chưa cao, mật độ cá sau khi thu hoạch
còn thấp so với mật của Michael Burke (2006) là 100 kg/m
3
. Tuy nhiên, tốc độ tăng
trưởng của cá hồi trong thí nghiệm (1,91 ± 0,01) cao hơn so với một số báo cáo của
Lever & ctv (2004) từ các hệ thống nuôi cá hồi thâm canh và bán thâm canh là 1,09 –
1,21 %/ngày [28].
23
Ở Việt Nam đã tiến hành thử nghiêm ương nuôi cá chẽm bằng hệ thống mương
nổi và đạt được thành công nhất định, tốc độ tăng trưởng về khối lượng đạt 9,26 ±
0.11, và 4,66 ± 0,05 (%/ngày) khi ương cá từ cỡ 1,8 - 2 cm lên 5 - 6 cm và 8 – 10 cm
[7], [17]
Bảng 1.7: Một số kết quả nuôi cá bằng hệ thống SIFTS
Cá đù
Cá hồi
Mùa thu Mùa hè
Cá chẽm
Thời gian nuôi
(ngày)
111 292 174 138
Trọng lượng ban
đầu (g)
83 100 116 40
Trọng lượng khi
thu hoạch (g)
697 ± 5
348 ± 3
435 ± 5
Tốc độ tăng
trưởng (%/ngày)
1,91 ± 0,01 0,46 ± 0.01 0,69 ± 0,01 1,73 ± 0,14
Tỷ lệ sống (%)
90,4 ± 0,8
87,7 ± 0,4
83,3 ± 2,2
Hệ số thức ăn
(FCR)
0,97 ± 0,03 1,45 ± 0,02 1,39 ± 0,005 0,9 ± 0,05
Mật độ thu khi
hoạch (kg/m
3
)
43,1 ± 1,2 39,9 ± 0,1 53,6 ± 2,28
Hình thức ương nuôi nước chảy (Raceway culture) ở nước ta đã có từ rất lâu và
chủ yếu áp dụng để ương nuôi các đối tượng cá nước ngọt. Cá có thể được ương nuôi
trong các ao nước chảy hoặc trong lồng – bề đặt ở các dòng sông, dòng suối hay ở
những nơi có nước chảy qua thường xuyên. Hình thức này cũng có ưu điểm giống với
ương nuôi bằng mương nổi như (i) thả nuôi v
ới mật độ cao, (ii) sinh trưởng nhanh và
tỷ lệ sống cao, (iii), thân thiện với môi trường… Tuy nhiên, hình thức này có nhược
điểm lớn nhất là phụ thuộc hoàn toàn phụ thuộc vào dòng chảy tự nhiên của sông,
suối, khó kiểm soát được chất lượng nước và dịch bệnh trong quá trình ương nuôi.
24
Hình 1.7: Cấu tạo hệ thống SIFTS
Chú thích:
- 100 mm air distribution manifold: ống dẫn khí quanh bè có Φ = 100 mm
- Vertical inlet manifold: ống dẫn nước thẳng đứng
- Air – water lift: ống nâng nước
- 10 m
3
SIFTS: Semi-Intensive Floating Tank System – Hệ thống nuôi bể
nổi bán thâm canh
- Air distribution manifold: ống dẫn khí vào bể
- Central waste arm: đường ống thu gom chất thải từ giữa đáy bể
- Solid waste collector: nơi thu gom chất thải rắn
- 50 mm air delivery line from shore: dây dẫn khí từ ngoài vào
- Channel opening: lỗ tràn
- Floating walkway : đường đi lại trên bè
- Walkway to shore: cầu công tác
25
Phần 2
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
Đối tượng: Đối tượng nghiên cứu là cá giò Rachycentron canadum (Linaeus,
1766) và cá mú chấm nâu Epinephelus coioides (Hamilton, 1822)
Địa điểm nghiên cứu: Trại thực nghiệm Nuôi trồng Thủy sản - Trung tâm Khuyến
ngư Khánh Hòa, xã Ninh Lộc, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.
Thời gian thực hiện: Từ tháng 8 đến tháng 11 năm 2007
2.2. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Ý nghĩa của mô hình và kết luận
Thử nghiệm ương nuôi thâm canh cá biển trong ao bằng mương nổi
Cấu tạo và nguyên lý
vận hành hệ thống nuôi
Đánh giá các chỉ tiêu
ương nuôi.
Cấu
tạo hệ
thống
mương
nổi
Nguyên
lý vận
hành hệ
thống
nuôi
- Tốc độ tăng trưởng
- Tỷ lệ sống
- Mức độ phân đàn
- Quan trắc các chỉ tiêu
chất lư
ợ
n
g
nước