1
LỜI CẢM ƠN
Trước hết em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo ThS. Lục Minh Diệp
đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em vượt qua mọi khó khăn trong quá trình thực
hiện đề tài.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS. Nguyễn Hữu Dũng cùng với các thầy
cô trong ban điều hành Trung tâm nghiên cứu sản xuất giống và dịch bệnh Thuỷ
sản-Trường Đại học Nha Trang, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất và
tinh thần để em hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp đúng thời gian quy định.
Qua đây em xin bày tỏ lời cảm ơn tới chị Phạm Thị Hạnh, anh Phan Văn Út đã
có những ý kiến đóng góp quý báu giúp em hoàn thành tốt nội dung nghiên cứu. Em
cũng xin cảm ơn các anh em kỹ sư, công nhân ở trung tâm đã giúp đỡ em trong thời
gian thực tập.
Cũng xin gửi lời cảm ơn tới bạn Lê Vũ Ni Na, bạn Đồng Xuân Quang cùng với
các bạn trong và ngoài lớp đã nhiệt tình giúp đỡ mình thu thập và xử lý số liệu trong
thời gian thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn!
2
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU 1
Phần I: TỔNG LUẬN 3
1. Sơ lược vài nét về đặc điểm sinh học của cá chẽm 3
1.1. Đặc điểm sinh học 3
1.1.1. Vị trí phân loại 3
1.1.2. Hình thái và đặc điểm nhận dạng 3
1.1.3. Phân bố 4
1.2. Đặc điểm dinh dưỡng 4
1.3. Đặc điểm sinh trưởng 5
1.4. Đặc điểm sinh học sinh sản 6
2. Sự phát triển phôi và ấu trùng cá chẽm 7
2.1 Sự phát triển phôi 7
2.2.Sự phát triển hình thái của cá chẽm con 8
2.3.Sự phát triển đường tiêu hoá ấu trùng cá chẽm 9
3.Khả năng chuyển đổi thức ăn sớm trong ương nuôi ấu trùng cá chẽm 11
4. Những nghiên cứu về cá chẽm ở Việt Nam 12
Phần II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
1.Thời gian, địa đểm và đối tượng nghiên cứu 14
2. Phương pháp nghiên cứu 14
2.1.Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 14
2.2.Phương pháp theo dõi sự phát triển đường tiêu hoá ấu trùng cá chẽm 14
2.2.1. Phương pháp theo dõi và xác định kích thước noãn hoàng giọt dầu 14
2.2.2. Phương pháp theo dõi thời gian mở miệng và sự biến đổi kích thước miệng 14
2.2.3. Phương pháp theo dõi sự hình thành và phát triển của đường ruột 16
2.2.4. Phương pháp theo dõi sự hình thành và phát triển của dạ dày 16
2.3. Thí nghiệm xác định khả năng chuyển đổi thức ăn sớm trong ưong nuôi ấu
trùng cá chẽm 16
2.3.1 Điều kiện thí nghiệm 16
2.3.2. Bố trí thí nghiệm 17
2.3.3. Chăm sóc và quản lý 17
3
3. Phương pháp xác định các chỉ tiêu 19
3.1. Phương pháp xác định các yếu tố môi trường 19
3.2. Phương pháp xác định các chỉ tiêu tăng trưởng và tỷ lệ sống 20
4. Phương pháp xử lý số liệu 20
Phần III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
1. Sự phát triển đường tiêu hoá của ấu trùng cá chẽm 22
1.1. Sự biến đổi kích thước noãn hoàng, giọt dầu 22
1.2. Sự hình thành và phát triển của đường ruột 24
1.3. Kết quả theo dõi thời gian cá mở miệng và sự phát triển kích thứơc miệng 26
1.3.1. Thời gian cá mở miệng 26
1.3.2. Sự phát triển kích thước miệng qua từng ngày tuổi 27
1.4. Quá trình hình thành và phát triển của dạ dày 31
2. Kết quả nuôi thử nghiệm chuyển đổi thức ăn sớm trong ương nuôi ấu trùng cá
chẽm 35
2.1. Biến động các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm 35
2.2. Ảnh hưởng của chuyển đổi thức ăn sớm đến tốc độ tăng trưởng cá chẽm con.36
2.3. Ảnh hưởng của chuyển đổi thức ăn sớm đến tỷ lệ sống cá chẽm con 38
Phần IV: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 41
1. Kết luận 41
2. Đề xuất ý kiến 42
4
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH
Trang
Danh mục các bảng
Bảng 1:Phát triển phôi của cá chẽm (Kungvankij, 1981) 8
Bảng 2: Thời gian cho ăn trong quá trình thí nghiệm 18
Bảng 3: Kích thước noãn hoàng, giọt dầu sau 132 giờ 23
Bảng 4: Kích thước miệng qua từng ngày tuổi (2 – 20 ngày tuổi) 27
Bảng 5: Tỷ lệ hình thành dạ dày của ấu trùng cá chẽm 33
Bảng 6: Yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm 35
Bảng 7: Kết quả tăng trưởng chiều dài cá của hai lô thí nghiệm 36
Bảng 8: Tỷ lệ sống ấu trùng cá chẽm ở hai lô thí nghiệm 38
Danh mục các hình
Hình 1: Sơ đồ khối nội dung đề tài 15
Hình 2: Hình ảnh và sơ đồ bố trí thí nghiệm chuyển đổi thức ăn sớm 17
Hình 3:
Đồ thị biểu diễn biến động kích thước noãn hoàng, giọt dầu 23
Hình 4:
Đồ thị biểu diễn thời gian và tỷ lệ hình thành đường ruột 25
Hình 5: Đồ thị biểu diển thời gian và tỷ lệ cá mở miệng 26
Hình 6: Biểu đồ biến đổi kích thước miệng 28
Hình 7: Tương quan giữa chiều dài miệng và chiều cao miệng 29
Hình 8: Tương quan giữa chiều dài miệng và chiều dài cá 30
Hình 9: Tương quan giữa chiều cao miệng và chiều dài cá 31
Hình 10:
Các hình ảnh thể hiện các mức phát triển khác nhau của dạ dày ấu
trùng cá chẽm 32
Hình 11: Biểu đồ biểu diễn tăng trưởng theo chiều dài cá của hai lô thí
nghiệm 37
Hình 12: Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ sống của hai lô thí nghiệm 39
5
GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
ppt : Phần nghìn
Lca : Chiều dài cá
DLG : Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối ngày về chiều dài
Arte : Artemia
Ge : Thức ăn công nghiệp Gemma micro 300
LT : Luân trùng
h :
Giờ
6
LỜI NÓI ĐẦU
Cá chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1790) là loài cá có giá trị kinh tế quan trọng
của vùng nhiệt đới Châu Á Thái Bình Dương. Với những ưu thế như: rộng muối,
phân bố rộng, tốc độ sinh trưởng nhanh, thịt thơm ngon giá trị dinh dưỡng cao nên
cá chẽm đã trở thành đối tượng nuôi chính của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó
nổi bật nhất là Thái Lan, Indonisia, Singapore, Đài Loan, Australia…. Ở Việt Nam,
trong những năm gần đây khi nghề nuôi tôm sú gặp nhiều khó khăn (dịch bệnh, thị
trường), nên người nuôi đã có xu hướng chuyển dịch sang nuôi đối tượng mới,
trong đó cá chẽm được người nuôi ưa chuộng nhất, nhu cầu về giống cá chẽm ngày
càng cao. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về cá chẽm để ứng dụng vào quá trình
sản xuất nhằm nâng cao số lượng và chất lượng con giống, tuy nhiên hầu hết những
nghiên cứu đó tập trung chủ yếu vào đặc điểm dinh dưỡng, mật độ và môi trường,
các nghiên cứu về đặc điểm phát triển và hình thành các cơ quan, đặc biệt là cơ
quan tiêu hoá vẫn còn hạn chế. Việc tìm hiểu sự phát triển của đường tiêu hoá và
xác định khả năng chuyển đổi thức ăn của ấu trùng cá chẽm, cũng có thể làm cơ sở
và biện pháp để hổ trợ cho quá trình ương nuôi ấu trùng cá chẽm đạt hiệu quả hơn,
từ đó nâng cao tỷ lệ sống và chất lượng con giống.
Trước những yêu cầu đó, được sự phân công của Khoa Nuôi trồng Thuỷ sản-
Trường Đại Học Nha Trang tôi thực hiện đề tài ‘‘Theo dõi sự phát triển đường
tiêu hoá và xác định khả năng chuyển đổi thức ăn sớm của ấu trùng cá chẽm
( Lates calcarifer Bloch, 1790)’’.
Đề tài gồm có những nội dung sau:
Theo dõi sự phát triển đường tiêu hoá của ấu trùng cá chẽm
Xác định khả năng chuyển đổi thức ăn sớm của ấu trùng cá chẽm
Mục tiêu của đề tài nhằm xác định:
- Thời gian cá hấp thụ hết noãn hoàng, giọt dầu, thời gian cá mở miệng và sự
phát triển kích thước miệng, thời gian hình thành và tỷ lệ cá hình thành ruột, dạ dày.
Từ đó tạo cơ sở để lựa chọn thức ăn, kích cỡ thức ăn thích hợp và lượng cho ăn phù
hợp với từng giai đoạn phát triển của ấu trùng cá chẽm, góp phần nâng cao tỷ lệ
sống trong quá trình ương nuôi.
7
- Khả năng chuyển đổi thức ăn sống bằng thức ăn tổng hợp ở giai đoạn sớm để
có thể ứng dụng vào thực tế sản xuất, làm đơn giản hóa trong quá trình chăm sóc
quản lý bể ương. Đồng thời góp phần giảm thiểu chi phí và nâng cao hiệu quả kinh
tế trong ương nuôi ấu trùng cá chẽm.
Tuy bản thân đã hết sức cố gắng, nhưng do tính mới của nội dung nghiên cứu và
những hạn chế về thời gian và trang thiết bị. Đặc biệt do lần đầu làm quen với
phương pháp nghiên cứu khoa học nên không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất
mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô và bạn đọc để đề tài của tôi được
hoàn thiện hơn.
Nha Trang, tháng 11 năm 2007
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Văn Mạnh
8
PHẦN I:
TỔNG LUẬN
1. Sơ lược vài nét về sinh học
1.1 Đặc điểm sinh học
1.1.1 Vị trí phân loại
Năm 1790, với mẫu thu từ khu vực Ấn Độ Thái Bình Dương cá chẽm lần đầu
tiên được Block mô tả và đặt tên khoa học là Holocentrus. Sau đó phân loại và đặt
tên cho loại cá này được nhiều nhà khoa học ở nhiều nước trên thế giới nghiên cứu.
Mãi đến năm 1974 tổ chức FAO đã đưa ra hệ thống phân loại đầy đủ về loài cá này
và được nhiều nhà ngư loại chấp nhận [4].
Ngành : Chordata
Ngành phụ : Vetebrata
Lớp : Osteichthyes
Bộ : Perciformes
Họ : Centropomidae
Giống : Lates
Loài : Lates calcarifer Bloch, 1790
Theo Mai Đình Yên (1979) và Nguyễn Nhật Thi (1991) thì ở Việt Nam chỉ có
một loài cá chẽm duy nhất và loài cá này được xếp vào họ cá mú (serranidae), tên
thường gọi là cá chẽm hoặc cá vược
[4].
1.1.2 Hình thái và đặc điểm nhận dạng.
Cá chẽm có thân hình ô van hơi dài, hẹp, cuối đuôi khuyết sâu. Đầu nhọn, nhìn
bên lõm phía lưng, lưng gù nhô cao, miệng rộng hơi so le, răng dạng lông nhung
không có răng nanh. Tỷ lệ deep 3 - 3,1 chiều dài đầu nhỏ hơn chiều dài toàn thân từ
2,7- 2,8 lần. Vây lưng có 7-9 tia vây cứng và 10-11 tia vây mềm, vây ngực ngắn và
tròn với công thức vây: 3 tia vây cứng và 7- 8 tia vây mềm. Vảy dạng lược. Xét về
màu sắc, ở giai đoạn đầu cá có màu nâu ô liu với màu sáng bạc ở hai bên và ở bụng
khi cá sống trong môi trường nước biển và màu nâu vàng khi sống trong môi trường
nước ngọt. Ở giai đoạn trưởng thành cá có màu xanh lục hay vàng nhạt ở phần trên
lưng và có màu bạc ở phần dưới bụng [3],
[
4].
9
1.1.3 Phân bố.
Theo Green Wood (1970) và Moor (1980) thì cá chẽm (Lates calcarifer) là loài
phân bố rộng, sống được ở các thuỷ vực (mặn, lợ, ngọt) ven bờ của các nước nhiệt
đới, cận nhiệt đới thuộc Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương bao gồm: Ấn Độ,
Burma, Srilanca, Philippin, Bangladesh, Malaysia, Java, Papua New Guinea, miền
bắc Australia, miền nam Trung Quốc và Đài Loan [4].
Giới hạn vùng phân bố của cá chẽm được xác định: phía Đông là phía Đông của
Papua New Guinea, phía Tây đến vịnh Persvan ( Zugmayer, 1973), phía Nam đến
sông Woosa (26
o
30S) thuộc Đông Australia (Grant, 1952) và sông Asburton
(22
o
33S) thuộc Đông Australia (Morrssy, 1985), còn giới hạn phía Bắc đến Amoy
(24
0
30s) thuộc địa phận Trung Quốc [3].
Theo FAO (1974) cá phân bố nhiều ở kinh tuyến 50
o
Đông-160
o
Tây, vĩ tuyến
20
o
Bắc–25
o
Nam [4].
Theo Mai Đình Yên (1979) ở Việt Nam, cá chẽm phân bố dọc theo các vùng
nước lợ, mặn ven biển từ Móng Cái đến Mũi Cà Mau và có ở cả những thuỷ vực
nước ngọt thông với biển [3].
Theo Bahatia va Kungvankij (1971), cá chẽm là loài rộng muối có tính di cư xuôi
dòng. Sự phân bố theo vùng sinh thái của cá chẽm tuân theo các giai đoạn phát triển
của cá thể, cá chẽm thành thục sinh dục tập trung ở vùng cửa sông ven biển, đẻ
trứng ở đây, cá con sau khi nở thì chúng được thuỷ triều đưa vào các thuỷ vực nước
lợ sinh sống, khi cá con trưởng thành thì chúng bơi ngược dòng lên các dòng sông
để sinh sống. Khi cá đạt tuổi thành thục, chúng di cư xuôi dòng về vùng cửa sông
ven biển tham gia sinh sản
[3].
1.2. Đặc điểm dinh dưỡng
Tính ăn và phổ thức ăn của cá chẽm đã được nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu.
Theo Chocko (1956) cá chẽm là loại cá dữ, ăn mồi sống và thậm chí chúng ăn thịt
cả đồng loại, đây cũng là kết luận của Davis (1986)
[3]
. Tính ăn của cá chẽm là săn
mồi, cá con (10-100 mm) có thể sử dụng thức ăn bất kì lúc nào nhưng mạnh nhất là
vào xế chiều (Barlow và ctv, 1993) [6].
Cũng theo Chocko (1936), cá chẽm ăn mồi sống chủ yếu là cá như: cá đối, cá
măng, giáp xác (tôm, cua, ruốc), nhuyễn thể hai vỏ và thực vật mềm bám trên đá
10
[3]. Tính ăn của cá chẽm thay đổi tuỳ theo từng giai đoạn phát triển của cơ thể. Ở
kích thước 11-20 mm về chiều dài thân, cá bắt đầu ăn các loại cá nhỏ với khối
lượng bằng 0,8% khẩu phần thức ăn, tuy nhiên khi kích thước 100 mm chiều dài
thân thì tỷ lệ cá nhỏ trong khẩu phần thức ăn sẽ tăng dần đến 87% (Davis,1980).
Theo Bahatia và Kungvankij (1971) thì trong khẩu phần ăn của cá kich thước cỡ
10–100 mm có 20% sinh vật phù du và 80% cá, tôm, cua nhỏ. Khi đạt kích cỡ 200
mm thức ăn chủ yều là mồi động vật, trong đó giáp xác ( tôm, cua nhỏ) chiếm 70%,
còn lại 30% là các loại cá nhỏ. Trong khi đó theo nghiên cứu của Borlow và ctv
(1993) thì cá có kích thước trung bình từ 19-49 mm, khẩu phần ăn có khoảng 96,0-
97,7% là giáp xác cỡ nhỏ, phần còn lại là động vật không xương sống và các loại
côn trùng khác [6].
Theo Kungvankij, Pudadea và Potestas nghiên cứu khẳng định rằng: Trong ương
nuôi ấu trúng cá chẽm thì 3 ngày đầu sau khi nở cá dinh dưỡng bằng noãn hoàng do
đó không cần cho ăn bất kì loại thức ăn nào. Tuy nhiên cần phải cho vào bể ương
một lượng tảo đơn bào như: Chlorellasp hoặc Tetracemis sp để ổn định môi trường
nước đồng thời cũng dùng chúng làm thức ăn cho luân trùng. Sau 3 ngày thì đưa
luân trùng (Brachionus plicatilis) vào làm thức ăn cho cá, kéo dài thời gian cho cá
ăn luân trùng khoảng một tuần thì chuyển sang cho ăn nauplius của Artemia
khoảng 10 ngày. Sau đó cho cá ăn Artemia trưởng thành, trong thời gian 20-30
ngày đến khi cá đạt đến 50 ngày tuổi. Khi chiều dài thân cá đạt 1,2-11,5 cm (khoảng
30 ngày tuổi ) thì có thể cho cá ăn thức ăn chế biến (thịt xay nhuyễn) [3].
1.3 Đặc điểm sinh trưởng
Cá chẽm là loài cá có tốc độ tăng trưởng nhanh, kích thước cá thể lớn, chiều dài
cá có thể đạt 200cm, còn khối lượng có thể đạt tới 30 kg (Babanal và Soesanto,
1982)
[3].
Theo Kungvankij (1981), tốc độ sinh trưởng của cá chẽm có dạng hình cong
sigma, cá sinh trưởng chậm vào giai đoạn đầu, nhưng khi đạt đến 20-30 kg thì tốc
độ tăng trưởng nhanh rồi chậm lại khi đạt khối lượng 40 kg. Chiều dài tương ứng
của cá ở độ tuổi 1
+
, 2
+
và 3
+
là 47 cm, 73 cm và 83 cm (Dunstan, 1939)
[6].
Theo NICA (1983) nghiên cứu và cho biết tốc độ tăng trưởng về chiều dài của cá
ở giai đoạn đầu như sau: Cá mới nở có chiều dài 1,5 mm sau 1-15 ngày tuổi đạt từ
11
1,5-5 mm. Cá 15-20 ngày tuổi đạt 5-8 mm, 20-25 ngày tuổi đạt 8-10 mm; 25-30
ngày tuổi đạt 10-13 mm và 30-40 ngày tuổi đạt 13–30 mm chiều dài thân. Cá chẽm
ở giai đoạn cá hương thả nuôi sau 5 tháng nuôi đạt 700–800 g/con; sau 12 tháng
nuôi đạt 1000 g/con và sau 20 tháng nuôi đạt 2000-3000 g/con.
Còn theo nghiên cứu của Moore (1979) thì cá chẽm ở độ tuổi 2
+
đạt 42 cm chiều
dài thân và 5
+
đạt 73 cm. Theo Davis (1982) nghiên cứu và cho biết cá chẽm tuổi từ
3
+
-4
+
có chiều dài thân từ 60–70 cm và đạt khối lượng thân từ 2,6-4,2 kg; 6
+
-8
+
đạt
từ 85-100 cm và 7-12 kg khối lượng thân. Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng của cá
chẽm còn phụ thuộc vào thức ăn và điều kiện môi trường sống của chúng [3].
1.4 Đặc điểm sinh học sinh sản
Kích cỡ và tuổi cá sinh dục lần đầu
Theo nghiên cứu của Russell và Garrett (1982) kết luận, cá chẽm ở Queenland
phát dục lần đầu tiên ở) trên cá chẽm đực ở India. tuổi 3
+
-4
+
với kích thước cơ thể
nhỏ nhất là 51cm. Đây cũng là kết quả nghiên cứu của Jana và Palnaik (1970Cũng
theo Moor (1982) ở Papu New Guinea cá chẽm đực có chiều dài thân từ 51-70 cm
và 55–68 cm đã phát dục [1].
Cá chẽm cái ở India có tuổi và có kích thước thành thục lần đầu với chiều dài là
70 cm (Patnaik và Jena, 1976). Ở Thái Lan người ta đã sử dụng cá cái có khối lượng
5 kg cho đẻ thí nghiệm thành công (Maneewongsa,1972)
[6].
Sức sinh sản của cá chẽm
Cá chẽm có sức sinh sản tương đối từ 0,6 x10
6
-10
6
trứng/kg trọng lượng thân cá
cái (Dunstan, 1962). Còn theo nghiên cứu của Wongsomnuk (1974), tại Thái Lan cá
chẽm cái có trọng lượng thân từ 5,5-11kg có sức sinh sản từ 2,1x10
6
-7,7x10
6
trứng.
Cá chẽm đẻ quanh năm (Kungvankịj, 1984), tuy nhiên thời điểm chính vụ là
tháng 4 đến tháng 8. Cá cỡ 1cm thu được nhiều từ tháng 5 đến tháng 8 (Bhatia và
Kungvankij, 1971) [6]. Còn theo Davis, cá chẽm cái ở Australia có chiều dài 122
cm có sức sinh sản 15,3x10
6
trứng và chiều dài cá đạt 124 cm thì sức sinh sản
4,7x10
6
trứng [4].
Sự chuyển đổi giới tính của cá chẽm
Theo các kết quả nghiên cứu của các tác giả (Moore, 1979; Davis, 1982; Russell
và Garrelt, 1983; Griffin, 1985) thì cá chẽm là loài cá đặc biệt, chúng có sự chuyển
12
đổi giới tính, trong đó yếu tố đực chín trước. Tuy nhiên không phải tất cả cá cái đều
là do cá đực chuyển đổi giới tính mà thành. Trong quần đàn vẫn có một phần rất
nhỏ cá cái phát triển trực tiếp từ cá cái chưa thành thục, những cá cái này được
Moor (1979) gọi là cá cái “đơn tính”, còn Davis (1984) thì gọi là cá cái “nguyên
thuỷ”. Con đực thành thục tham gia sinh sản một vài lần, cho đến khi đạt tới một
kích thước hay độ tuổi nào đó mới chuyển đổi giới tính thành con cái. Nhưng không
phải con đực nào cũng buộc phải chuyển đổi giới tính, có những con đực vẫn giữ
nguyên tính đực trong suốt vòng đời của nó (Grarrelt và Russell, 1982). Cũng theo
Davis (1984) thì kích cỡ chuyển đổi giới tính của cá đực ở các vùng khác nhau thì
khác nhau: cá đực ở vịnh Carpentaria chuyển thành con cái ở tuổi 4
+
-5
+
, dài khoảng
30-50 cm; ở Australia cá đực chuyển đổi giới tính ở tuổi 6
+
-8
+
, với khối luợng cơ
thể 7-12 kg và có chiều dài thân từ 85-100 cm.
Ngoài ra ông cũng khẳng định, sự
chuyển đổi giới tính của cá đực còn có mối liên quan chặt chẽ với mùa vụ sinh sản
[1].
2 Sự phát triển phôi và ấu trùng của cá chẽm .
2.1 Sự phát triển phôi .
Sự phát triển phôi của cá chẽm được nhiều tác giả như: Kungvankij (1981),
Taititanon và Maneeworg (1988) nghiên cứu và rút ra những kết quả như sau: trứng
phân cắt lần đầu tiên sau 35 phút kể từ khi thụ tinh. Sau đó sự phân chia tế bào diễn
ra liên tục từ 13-25 phút và trứng phát triển thành giai đoạn nhiều tế bào trong vòng
3 giờ. Sự phát triển phôi của trứng thông qua các giai đoạn: phôi nang, phôi vị, phôi
thần kinh và các giai đoạn phôi thể. Thời gian phát triển của phôi phụ thuộc vào
nhiệt độ nước, phôi nở sau 15-18 giờ ở 28-30
o
C, 17-18 giờ ở 26-28
o
C và 12-15 giờ
ở nhiệt độ 29-31
o
C, 12-14 giờ ở 30-32
o
C
[4].
Theo Dustand ( 1938) và Russel (1986) kết luận rằng cá chẽm ở Queensland đẻ
trứng nổi, trứng đã thụ tinh có đường kính 0,7 mm, bên trong có hạt dầu đường kính
0,2 mm. Trong khi đó theo nghiên cứu của Tattannon và maneewongsa (1988) thì
cho rằng đường kính giọt dầu thay đổi theo thời gian tương ứng: cá ở 0, 1, 2, 3, 4, 5
ngày tuổi thì có đường kính giọt dầu tương ứng là 0,8800 mm, 0,3525 mm, 0,2752
mm, 0,1530 mm, 0,1530 mm, 0,005 mm, 0,0 mm.
[3]
13
Theo nghiên cứu của Kungvankij ở nhiệt độ 28-30
o
C, độ muối 20-38 ‰ thì quá
trình phát triển phôi được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1: Phát triển phôi của cá chẽm (Kungvankij, 1981)
Thời gian sau khi đẻ
Giai đoạn phôi
Giờ Phút
thụ tinh
2 tb
4 tb
8 tb
16 b
32 tb
64 tb
128 tb
Phôi nang
Phôi vỏ
Phôi thần kinh
Phôi mầm
Phôi hoạt động
trứng nở
0
0
0
1
1
1
2
3
5
7
9
11
15
18
5
35
55
10
30
50
20
00
30
00
10
50
30
00
2.2 Sự phát triển hình thái của cá chẽm con
Sự phát triển của cá chẽm con đã được nhiều tác giả ở nhiều nước trên thế giới
nghiên cứu và mô tả.
Theo ngiên cứu của Kohno và Taki (1986) ấu trùng cá chẽm sau khi nở có chiều
dài thân 1,44 mm, có noãn hoàng to và giọt dầu nằm phía trước. Tuy nhiên noãn
hoàng đuơc hấp thụ theo hàm số mũ, trong khoảng 16h sau khi nở thì đã có 87,6%
noãn hoàng được hấp thụ. Giọt dầu biến đổi khi noãn hoàng được hấp thụ hết, giọt
dầu chuyển hoá hoàn toàn trong khoảng thời gian 120-145h sau khi nở
[9].
Theo mô tả Kosutarak và Watanabe (1984) ở Thái Lan, cá bột mới nở có chiều
dài toàn thân 1,6±0,4 mm, nhưng theo nghiên cứu của Kungvankij và ctv (1986), cá
chẽm bột mới nở có chiều dài từ 1,21–1,65 mm ( trung bình 1,49 mm), cá bột có
noãn hoàng dài trung bình 0,86 mm. Trong túi noãn hoàng có một hạt dầu đường
kính 0,2-0,28 mm ở phần trước, điều này làm cho cá bột lơ lửng trong nước theo
14
chiều thẳng đứng hay nghiêng một góc 45
0
so với mặt phẳng ngang. Lúc này sắc tố
chưa hình thành ở nhiều cơ quan, mới có thể nhìn thấy sắc tố ở mắt, trên thân và bề
mặt hạt dầu. Ống tiêu hoá đã nhìn thấy rõ nhưng miệng vẫn chưa mở. Cá 2 ngày
tuổi có chiều dài 2,52±0,06 mm, noãn hoàng gần như được hấp thụ hết, miệng đã
mở, cá có thể bắt đầu sử dụng thức ăn ngoài. Cá bột lúc này có tập tính hướng
quang. Cá 7 ngày tuổi có chiều dài 3,44±0,09 mm, tia vây lưng và tia vây hậu môn
bắt đầu xuất hiện, có răng cưa ở xương nắp mang trước. Sắc tố đen đã xuất hiện từ
đầu đến đuôi làm cho cá có màu đen. Cá 14 ngày tuổi có chiều dài 4,75±0,32 mm,
vây lưng và vây hậu môn đã tách ra khỏi vây đuôi, vây bụng bắt đầu xuất hiện. Tia
vây đuôi đã phát triển. Một dải băng trắng từ giữa vây lưng đến vây hậu môn có thể
nhìn thấy bằng mắt thường. Khi cá đạt từ 18–20 ngày tuổi, cá chẽm bước vào cuối
giai đoạn biến thái với sự xuất hiện của ba sọc phân biệt: một sọc ở cuống đuôi, một
sọc ở góc vây lưng giữa phần tia cứng và phần tia mềm và một sọc thứ 3 ngang qua
đầu. Cá 21 ngày tuổi có chiều dài 8,91±1,19mm, số lượng tia vây cứng và tia vây
mềm của vây lưng và vây hậu môn đã ổn định. Vảy xuất hiện ở bề mặt của hai bên
thân phía trên vây bụng. Màu sắc của cá chuyển từ màu đen sang màu nâu nhạt.
Theo Kungvankij và ctv (1986), có ít nhất hai giai đoạn hình thành sắc tố ở cá
chẽm bột, đó là giai đoạn từ 10–12 ngày tuổi sắc tố xuất hiện có màu xám đậm hay
đen. Giai đoạn thứ hai từ 25–30 ngày tuổi khi cá bột phát triển thành cá hương, lúc
này sắc tố chuyển đổi thành màu sáng bạc. Khi đạt 1 tháng tuổi cá hương chuyển
thành cá giống có hình dạng giống với cá bố mẹ. Cá giống lúc này có chiều dài từ
1,5–2cm. Cá giống tiếp tục sinh trưởng và phát triển thành cá con ở 3–4 tháng tuổi
và có kích cỡ từ 8–15cm
[3], [5].
2.3 Sự phát triển đường tiêu hoá của ấu trùng cá chẽm
Theo kết quả nghiên cứu của Walford và Lam (1992), sự phát triển đường tiêu
hoá ấu trùng cá chẽm được miêu tả như sau: ấu trùng cá chẽm sau khi nở (chiều dài
thân 1,60 mm), có noãn hoàng to và một giọt dầu nằm phía trước, đây cũng là kết
quả nghiên cứu của Kosutarak và Watanabe (1984). Cá một ngày tuổi có chiều dài
thân 2,20 mm, miệng vẫn chưa mở nhưng noãn hoàng đã bị hấp thụ gần hết, đường
tiêu hoá đã hình thành và là một ống thẳng. Miệng cá mở khi cá hai ngày tuổi, chiều
dài thân 2,52 mm, cá đã sử dụng được luân trùng. Ống tiêu hoá nằm ngay sau giọt
15
dầu và phân chia thành hai phần (phần ruột trước và ruột giữa), nhưng vẫn chưa gấp
khúc, có thể thấy van trực tràng [10]. Theo Kohno và Taki (1986) ấu trùng cá chẽm
47 giờ sau khi nở thì miệng và lổ niệu đã mở. Qua kết quả của hai nghiên cứu đó thì
ấu trùng cá chẽm mở miệng sau 2 ngày tuổi và chúng có thể sử dụng thức ăn ngoài
ngay
[11].
Ở giai đoạn 4 ngày tuổi cá có chiều dài thân 2,80 mm, noãn hoàng đã
được hấp thụ hết, giọt dầu vẫn còn và được chuyển hóa hoàn toàn chậm nhất đến 5
ngày tuổi. Đã thấy có những biến đổi nhỏ về hình thái đường ruột, phần ruột trước,
ruột giữa và phần trực tràng trở nên to hơn, thấy rõ van trực tràng tách thành hai
phần. Đường ruột tiếp tục phát triển mạnh và bắt đầu cuộn lại ở ngày tuổi thứ 6
(Walford và Lam, 1993) hay sau 121 giờ sau khi nở (Kohno và Taki, 1986).
Ở
ngày
tuổi thứ 8 (chiều dài thân 6,08 mm), sự cuộn lại của đường ruột đã hoàn tất, phần
đầu của ruột phình to tạo thành một túi rộng. Ấu trùng 11 ngày tuổi, đoạn phình này
bắt đầu biến dạng thành dạ dày. Sự chuyển dạng này rõ ràng ở 13 ngày tuổi (chiều
dài thân 11,04 mm), có thể thấy rõ sự co thắt môn vị và sự nhô ra của manh tràng.
Sự phát triển của dạ dày, cơ thắt môn vị và manh tràng gần như hoàn chỉnh ở ngày
tuổi 15 (chiều dài thân 11,50 mm). Lúc này, dạ dày đã có hình dạng nhất định, phần
trung tâm dạ dày liên kết với phần môn vị tại một góc nhọn tạo nên hình nhọn đặc
trưng của dạ dày. Ở ấu trùng 17 ngày tuổi (chiều dài thân 12,32 mm), đường tiêu
hoá đã hoàn chỉnh về mặt hình thái. Ở các giai đoạn lớn hơn, dạ dày to hơn và
manh tràng tiếp tục phát triển dài ra. Đến cá giống 80 ngày tuổi, hình dạng dạ dày
và manh tràng cơ bản không có sự biến đổi về hình dạng [10].
Cũng theo Walford và Lam (1993), có sự biến động lớn về pH ở trong ống tiêu
hoá của ấu trùng cá chẽm trước và sau khi hình thành dạ dày. Khi ấu trùng mới nở,
dạ dày chưa hình thành thì đường ruột là cơ quan tiêu hoá và hấp thụ dinh dưỡng.
Lúc này pH ở trong đường ruột mang tính kiềm ( pH từ 7,7–8,0 ), sau đó pH bắt
đầu giảm xuống dần dần ở các ngày tuổi tếp theo, khi dạ dày hình thành (ngày tuổi
17) thì pH của dạ dày mang tính acid (pH=5,0), đến 22 ngày tuổi thì pH của dạ dày
giảm xuống mạnh chỉ còn 3,7.
Sự hoạt động của các enzyme tiêu hóa protein xác định ở ấu trùng và cá con như
sau:
Ngay
sau khi nở, khả năng hoạt động của proteaza dạng kiềm (dạng trypsin)
khá cao (6,0 đơn vị/mg protein, một đơn vị protein tương ứng với 1µg tyrosine
16
được giải phóng ra trong một phút), nhưng nó giảm xuống chỉ còn 1,2 đơn vị/mg
protein chậm nhất đến 8 ngày tuổi, và tại 17 ngày tuổi, dạng enzyme này lại tăng
lên một lần nữa (5,0 đơn vị/mg protein), cao gấp 4 lần so với khả năng hoat động
tại 8 ngày tuổi. Sự hoạt động enzyme dạng trypsin giảm sau 17 ngày tuổi mặc dù
trong đường ruột vẫn duy trì tính kiềm. Cho đến 22 ngày tuổi, sự hoạt động của
enzyme dạng trypsin chỉ còn 1,3 đơn vị/mg protein và không còn tìm thấy ở cá 30
ngày tuổi. Sự hoạt động của proteaza dạng pepsin (dạng acid) thấp khi ấu trùng mới
nở (3,8 đơn vị/mg protein), không tăng cao cho đến 8 ngày tuổi, sau đó khả năng
hoạt động của enzyme này tăng và đạt 27,2 đơn vị/mg protein chậm nhất đến 17
ngày tuổi, khoảng thời gian này pH dạ dày cũng giảm từ 7,7 (ở 8 ngày tuổi) còn 5,0
(ở 17 ngày tuổi). Trong khoảng thời gian từ 17 đến 30 ngày tuổi, khả năng hoạt
động của enzyme dạng pepsin tăng đến 85,2 đơn vị/mg protein [10].
3. Khả năng chuyển đổi thức ăn sớm trong ương nuôi ấu trùng cá chẽm
Chuyển đổi thức ăn là giai đoạn cần thiết và quan trọng đối với ấu trùng cá, đặc
biệt là những loài có tập tính di cư ra biển. Ngoài tự nhiên, thức ăn của ấu trùng cá
là động, thực vật nổi. Trong sản xuất giống nhân tạo các loài sinh vật nổi như: luân
trùng, Artemia, … được cung cấp cho cá ở đầu giai đoạn của quá trình nuôi. Tuy
nhiên, thức ăn sống cho ấu trùng cá thường rất đắt tiền và rất tốn thời gian, yêu cầu
kỹ thuật quản lý cao, khó chủ động,… Do vậy, việc kéo dài thời gian sử dụng thức
ăn sống cho cá chẽm con sẽ làm cho cá giống trở nên đắt hơn. Điều này gây bất lợi
cho người sản xuất giống và người nuôi cá. Bởi vậy, việc sử dụng thức ăn nhân tạo
để dần thay thế thức ăn sống trong giai đoạn này có ý nghĩa rất to lớn đối với người
sản xuất nói riêng và ngành nuôi nói chung vì nó giảm bớt áp lực kinh tế cho con
người, đồng thời nâng cao tỷ lệ sống cho sản xuất cá giống.
Chuyển đổi thức ăn là giai đoạn chuyển từ sử dụng khẩu phần thức ăn làm mồi
sống sang sử dụng thức ăn nhân tạo, được tiến hành một cách liên tiếp và đồng thời
với sự thay đổi tập tính và khả năng tiêu hoá. Tuy nhiên, khi cơ thể cá đạt đến một
giai đoạn phát triển nhất định mà kích thước miệng lớn hơn kích thước thức ăn
chuyển đổi và trong quần đàn cá xuất hiện một tỷ lệ nhất định cá hình thành dạ dày,
thì có thể tiến hành chuyển đổi thức ăn được. Nhưng để đảm bảo an toàn thì cần
phải đợi cho đến khi hệ tiêu hoá của ấu trùng hoàn thiện thì mới tiến hành chuyển
17
đổi thức ăn cho cá. Trong giai đoạn này số lượng mồi sống cung cấp cho cá sẽ giảm
dần và được đền bù bằng việc tiêu hoá thức ăn tổng hợp.
Theo kết quả nghiên cứu của Barnabé (1989), tỷ lệ sống của cá chẽm châu Âu và
cá bánh đường ( Sparus aurata), trong giai đoạn chuyển đổi thức ăn là rất thấp, tỷ lệ
chết có thể lên tới 50%.
Theo Cao Khánh Ly (2004) khi tìm hiểu chuyển đổi thức ăn ở ấu trùng cá chẽm
đã đưa ra kết luận, tốc độ sinh trưởng của cá khi đưa vào chuyển đổi thức ăn tỷ lệ
thuận với thời gian chuyển đổi. Tiến hành thí nghiệm về ảnh hưởng của kích thước
cá đến khả năng chuyển đổi thức ăn cũng cho kết luận: không nên sử dụng cá có
kích thước nhỏ hơn 5,67±0,23 mm chiều dài, 4,68±0,4 mg khối lượng thân để đưa
vào chuyển đổi vì khả năng ăn mồi của nhóm cá đó là rất kém [6].
Theo Nguyễn Hoàng Anh (2006), khi thử nghiệm chuyển đổi thức ăn sớm ở
nhóm cá 14 ngày tuổi cho kết luận: có thể sử dụng thức ăn Gemma micro 300 để
chuyển đổi thức ăn sớm, cá giai đoạn đầu sinh trưởng tuy hơi chậm nhưng sau thời
gian tập cho ăn thì cá đạt tốc độ sinh trưởng khá cao [1].
Kỹ thuật chuyển đổi thức ăn đã được mô tả ở cá chẽm châu Âu, cá bánh đường,
và cá bơn. Để rút ngắn thời gian chuyển đổi thức ăn, giúp cho cá quen với thức ăn
tổng hợp nhưng đồng thời không làm ô nhiễm nước, Barnabé đề nghị sử dụng máy
cho thức ăn tự động để cung cấp vào bể một lượng thức ăn nhỏ nhưng thường
xuyên. Với thiết bị này, cá có thể bắt gặp các mẫu thức ăn và có thể tập dần để chấp
nhận một lượng thức ăn mỗi ngày.
4. Những nghiên cứu về cá chẽm ở Việt Nam
Nghiên cứu cá chẽm ở Việt Nam tập trung vào những đặc điểm hình thái, phân
bố, đặc điểm sinh sản và đánh giá nguồn lợi.
Võ Ngọc Thám (1995) nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản cá chẽm ở
đầm Nha Phu–Khánh Hoà, tác giả bước đầu xác định mùa vụ sinh sản, cỡ cá thành
thục và vị trí bãi đẻ của nó
[3].
Nguyễn Quang Huy (1998) cho đẻ thành công bằng phương pháp thụ tinh nhân
tạo từ trứng và sẹ của cá bố mẹ đã thành thục ở ngoài bải đẻ tự nhiên và thử nghiệm
ương nuôi thành công đối tượng này
[4].
18
Gần đây, một số Viện nghiên cứu, trường Đại học đã triển khai nghiên cứu về
mặt đặc điểm sinh học sinh sản và sản xuất giống cá chẽm đã đưa ra quy trình hoàn
thiện.
Trong đó, nghiên cứu có quy mô lớn về cá chẽm đã được thực hiện ở Việt Nam
là Dự án NUFU:
Giai đoạn 1 của dự án đã kết thúc với những kết quả nghiên cứu đã được công
bố. Lương Công Trung (1999), tiến hành thử nghiệm sản xuất giống nhân tạo cá
chẽm từ nguồn cá thành thục ngoài tự nhiên với kết quả tương đối cao: tỷ lệ thụ tinh
đạt 60,4% và 45,5%, tỷ lệ nở đạt 50,4% và 85%. Từ đó tác giả khẳng định rằng có
thể sử dụng đàn cá thành thục ngoài tự nhiên cho sinh sản nhân tạo có hiệu quả.
Những nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố vô sinh và hữu sinh đến sinh trưởng
và tỷ lệ sống của cá chẽm đã được một số tác giả nghiên cứu.
Giai đoạn 2 của Dự án NUFU hiện nay đang trong quá trình thực hiện với các
nghiên cứu chuyên sâu về chế độ dinh dưỡng, sản xuất cá loại thức ăn sống… nhằm
hoàn thiện quy trình nuôi.
Như vậy, mặc dù chậm hơn một số nước trên thế giới nhưng các nghiên cứu về
cá chẽm ở Việt Nam đã đáp ứng phần nào những nhu cầu về thực tế sản xuất đối
tượng này.
19
PHẦN II
:
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu
- Thời gian thực hiện : Từ 30-7-2007 đến 11-10-2007.
- Địa điểm nghiên cứu : Trung tâm nghiên cứu sản xuất giống và dịch bệnh
Thủy sản-Trường Đại học Nha Trang.
- Đối tượng nghiên cứu: cá chẽm (Lates calcarifer , Bloch, 1790)
2. Phương pháp nghiên cứu
2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu (xem hình 1)
2.2 Phương pháp theo dõi sự phát triển đường tiêu hoá ấu trùng cá chẽm
2.2.1 Phương pháp theo dõi và xác định kích thước noãn hoàng, giọt dầu
- Xác định thời điểm và thời gian trứng nở, khi trứng nở hoàn toàn tiến hành thu
mẫu và theo dõi sự biến đổi về kích thước của noãn hoàng, giọt dầu qua từng thời
gian.
Định kỳ thu mẫu 12h/lần, mỗi lần 30 con, theo dõi liên tục từ 0h (tại thời
điểm nở) cho tới 72h (cá sử dụng hết noãn hoàng) khoảng cách thời gian là 0h, 12h,
24h, 36h, 48h, 60h, 72h. Đo đường kính giọt dầu ở 0, 1, 2, 3, 4, 5 ngày tuổi.
Sử dụng kính hiển vi soi nổi để đo kích thước của noãn hoàng và giọt dầu nhờ
vào thước phân vạch ở trên mắt kính (vật kính 4).
2.2.2 Phương pháp theo dõi thời gian cá mở miệng và sự biến đổi kích thước
miệng
Phương pháp xác định thời gian cá mở miệng
Thu cá ở trong bể ương (30 con/mẫu) để quan sát:
sau khi cá nở hoàn toàn, định
kỳ thu mẫu đo 12 h/lần để quan sát cho đến khi cá mở miệng hoàn toàn. Sử dụng
kính hiển vi soi nổi (vật kính 4) để quan sát.
Phương pháp xác định sự biến đổi kích thước miệng.
Cũng giống như thu mẫu để xác định thời gian cá mở miệng,
cá sử dụng làm mẫu
được lấy từ bể sản xuất (10 m
3
), số lượng mẫu (30 con/mẫu).
Định kỳ thu mẫu theo
từng ngày tuổi, mỗi ngày thu mẫu 1 lần, vào lúc 19h30 phút. Giới hạn theo dõi là
giai đoạn cá từ 0 – 20 ngày tuổi.
20
Sử dụng kính hiển vi soi nổi để quan sát. Độ phóng đại của kính là 4, 2, 1 tuỳ vào
sự phát triển kích thước cá qua từng giai đoạn phát triển, các thông số theo dõi sau:
Chiều dài cá, chiều dài miệng và chiều cao miệng.
Hình 1: Sơ đồ khối nội dung đề tài
Theo dõi sự phát triển của
đư
ờng ti
êu hoá
Thí nghiệm chuyển đổi
th
ức ăn sớm
Theo
dõi
thời
gian
hấp
thụ
noãn
hoàn
gvà
giọt
dầu
Theo
dõi
thời
gian
hình
thành
và phát
triển
kích
thước
miệng
Theo
dõi
quá
trình
hình
thành
và
phát
triển
của
dạ
dày
Lô thí
nghiệm
chuyển
đổi
thức ăn
sớm
bằng
thức ăn
tổng hợp
(Gemma
micro
300)
Lô đối
chứng
(thực
hiện
theo
quy
trình
nuôi
)
Theo
dõi
thời
gian
và
tỷ
lệ
hình
thành
đường
ruột
Theo dõi sự phát triển đường tiêu
hoá và xác định khả năng chuyển
đổi thức ăn sớm ở ấu trùng cá chẽm
Đánh giá kết quả và nhận xét
- Xác định tỷ lệ
sống
- Xác định tốc
độ tăng trưởng
21
2.2.3 Phương pháp theo dõi sự hình thành và phát triển của đường ruột
Xác định thời gian và tỷ lệ hình thành đường ruột
- Thu mẫu cá trong bể ương để tiến hành quan sát và theo dõi, thời gian thu
mẫu kể từ khi trứng nở hoàn toàn cho tới khi đường ruột được hình thành 100%. Ở
giai đoạn này định kỳ thu mẫu 12 h/lần, mỗi lần 30 con/mẫu. Quan sát trên kính
hiển vi soi nổi (vật kính 4).
Phương pháp theo dõi sự phát triển của đường ruột
- Thu mẫu: cá sau khi đã hình thành đường ruột 100% thì tiến hành thu mẫu để
quan sát. Định kỳ thu mẫu 1 ngày/lần, mỗi lần 15 con/mẫu, thời gian thu mẫu là lúc
19h30
’
. Thời gian kết thúc thu mẫu được tính khi 100% đường ruột cá cuộn lại.
2.2.4 Phương pháp xác định quá trình phát triển của dạ dày
Sau khi cá hình thành đường ruột thì tiến hành thu mẫu định kì 1 ngày/lần (15
con/mẫu) và giải phẩu để quan sát. Cá sử dụng làm mẫu được lấy từ bể sản xuất (10
m
3
). Số lượng cá làm mẫu là 15 con/mẫu, thời gian thu mẫu là 20h.
Giới hạn thu mẫu là từ khi đường ruột cá cuộn lại cho đến khi dạ dày cá hình
thành hoàn toàn (100%).
Sự phát triển của dạ dày được biểu thị thông qua các mức: chưa hình thành (ruột
chưa có phình), ruột trước phình to, dạ dày bắt đầu hình thành và dạ dày hình thành
hoàn chỉnh (có hình dạng của loài) ở phía sau dạ dạy hình thành manh tràng.
2.3 Thí nghiệm xác định khả năng chuyển đổi thức ăn sớm trong ương nuôi ấu
trùng cá chẽm
Ấu trùng cá dùng làm thí nghiệm được lấy từ Trung tâm nghiên cứu sản xuất
giống và dịch bệnh Thủy sản của Trường Đại học Nha Trang.
2.3.1 Điều kiện thí nghiệm
- Bể compesite (200L), có 6 bể.
- Cá chẽm 10-12 ngày tuổi.
- Nguồn nước: nước biển sạch (đã qua xử lý).
- Mật độ ương: chia làm 2 giai đoạn nối tiếp nhau
+ Giai đoạn 1: được thực hiện kể từ khi bắt đầu chuyển đổi thức ăn cho tới khi
cá sử dụng được thức ăn chuyển đổi (Gemma micro 300), mật độ ương nuôi là 30
con/l.
22
+ Giai đoạn 2: tiến hành cho ăn thức ăn chuyển đổi (Gemma micro 300 và
NRD 3/5) bình thường ở lô chuyển đổi thức ăn sớm, đồng thời tập cho cá ăn thức ăn
chuyển đổi ở lô theo quá trình nuôi. Giai đoạn này kết thúc khi cá ở lô theo quy
trình nuôi sử dụng tốt thức ăn chuyển đổi. Mật độ ương tùy theo tỷ lệ sống của giai
đoạn 1.
- Thức ăn sử dụng cho quá trình thực hiện thí nghiệm là:
+ Thức ăn chuyển đổi: Gemma micro 300, NRD3/5
+ thức ăn tươi sống: luân trùng (Brachionus plicatilis), nauplius của Artemia.
2.3.2 Bố trí thí nghiệm
- Thí nghiệm chia làm hai đợt, mỗi đợt có hai giai đoạn nối tiếp nhau.
( a) Hình ảnh bố trí thí nghiệm (b) Sơ đồ thí
nghiệm
Hình 2: Hình ảnh và sơ đồ bố trí thí nghiệm chuyển đổi thức ăn
2.3.3. Chăm sóc và quản lý
Thức ăn, thời gian và lượng cho ăn trong quá trình tiến hành thí nghiệm được
trình bày ở bảng 2:
1 2 1
2 1 2
1 Lô chuyển đổi thức ăn sớm
2 Lô theo quy trình nuôi
23
Bảng 2: Thời gian cho ăn trong quá trình thí nghiệm
Thời gian và lượng cho ăn trong quá trình thí nghiệm
Lô thí
Nghiệm
Ngày
tuổi
6h 10h 13h 16h
10 – 12
13 – 19
20 – 22
Lô thí
nghiệm
chuyển
đổi thức
ăn sớm
23 – 29
Gemma Artemia (mới nở)
0,4 g/bể 0,5÷1 (con/mL)
Gemma Artemia(làm giàu)
1÷5 (g/bể) 1÷6 (con/mL)
Gemma + NRD 3/5 Artemia
2 ÷ 4 (g/bể) + 2 ÷3 (g/bể) 4÷8
con/mL
NRD 3/5 Artemia
5 ÷ 6 (g/bể)
5÷8con/mL
10 – 19
20 – 22
Lô đối
chứng (
thực
hiện
theo
quy
trình
nuôi)
23 – 29
Artemia (mới nở và làm giàu)
0,5÷8 (con/mL)
Gemma Artemia
2 g/bể 7÷10 (con/mL)
NRD 3/5 Artemia
3 ÷ 4 ( g /bể ) 9 ÷ 14
con/mL
Khoảng thời gian cho cá ăn thức ăn tổng hợp
Khoảng thời gian cho cá ăn thức ăn sống
- Luân trùng: làm giàu bằng Easy DHA Selcol nồng độ (50ppm), cho ăn ở cả
hai lô thí nghiệm từ giai đoạn 10 đến 13 ngày tuổi.
- Nauplius của Artemia: gồm có hai loại là loại mới nở và loại được làm giàu
bằng Easy DHA Selcol.
24
+ Loại mới nở: đây là nauplius của Artemia vừa mới nở không làm giàu, sử
dụng cho cá ở giai đoạn 10–13 ngày tuổi.
+ Loại được làm giàu: Artemia sau khi nở, đem làm giàu bằng Easy DHA
Selco (50 ppm) sau 6h cho ăn . Sử dụng cho cá lớn hơn 13 ngày tuổi trở đi.
+ Thức ăn công nghiệp (thức ăn chuyển đổi).
- Gemma micro 300 có các đặc điểm sau: thức ăn chuyển đổi dùng cho cá bột
do công ty Skretting (Na Uy) sản xuất từ các nguyên liêu là cá bột, dầu cá, dầu thực
vật, cacbonhydrate và khoáng. Thành phần dinh dưỡng của Gemma: 59% protein,
21% lipid, 10% tro, 1% xơ thô, vitamin D (5 UI/kg, vitamin E (240 mg/kg, Cu (5
mg/kg).
- NRD 3/5, thức ăn chuyển đổi dùng cho cá biển
Chế độ cho ăn
- Với thức ăn sống: cho ăn theo thời gian biểu trình bày ở bảng 2.
- Với thức ăn công nghiêp: định kỳ 30 phút cho ăn một lần.
Quản lý bể ương
- Cấp thêm tảo Nannochloropsis oculata (2 l/bể) để ổn định môi trường đồng
thời làm thức ăn cho luân trùng.
- Định kỳ 2 ngày/lần siphon thay nước cho bể ương, lượng nước thay từ 30-
50% thể tích nước.
- Sử dụng dụng cụ thu váng bề mặt (skimer) để gom váng ở trên mặt nước.
- Quản lý sục khí đảm bảo thuận lợi cho cá phát triển.
- Định kỳ 2 ngay/lần xử lý mazzal (1- 3 ppm).
- Che chắn không để cho nước mưa vào bể ương.
- Hàng ngày đo các yếu tố môi trường: pH, hàm lượng oxy hoà tan, độ mặn,
nhiệt độ, độ kiềm.
3. Phương pháp xác định các chỉ tiêu:
3.1 Phương pháp xác định các yếu tố môi trường
Hàng ngày đo các yếu tố môi trường vào hai buổi lúc 7h và 14h). Các thông số
môi trường cần đo gồm:
- T
0
(nhiệt độ), O
2
(oxy), đo bằng máy đo Oxy Guard độ chính xác 0.1.
- pH: xác định bằng máy đo điện tử Oxy Guard độ chính xác 0.01.
25
- S ‰ (độ mặn): đo bằng khúc xạ kế, độ chính xác 0.1.
- Độ kiềm: được đo bằng test độ kiềm.
3.2 Phương pháp xác định chỉ tiêu sinh trưởng, tỉ lệ sống
- Chỉ tiêu tăng trưởng chiều dài : cá từ 10–20 ngày tuổi đo bằng kính hiển vi soi
nổi có độ chuẩn xác 0,01 mm. Cá lớn hơn 20 ngày tuổi dùng giấy ôli (độ chuẩn xác
0,1mm)
- Xác định tỷ lệ sống bằng phương pháp đếm.
Đếm cá trước khi đưa vào thí nghiệm và khi kết thúc thí nghiệm.
4. Phương pháp xử lý số liệu .
- Xử lý số liệu dựa vào phương pháp thống kê sinh học (xử lí trên phần mềm
Microsoft excel 2003 )
- Một số công thức sử dụng
+ Tỉ lệ cá hình thành ruột =
+ Tỉ lệ cá hình thành dạ dày =
+ Tỷ lệ cá sống tại thời điểm kết thúc thí nghiệm
TLS =
+ Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối trung bình về chiều dài:
DLG = (mm/con/ngày)
L
1
, L
2:
chiều dài trung bình của cá tương ứng ở thời điểm T
1,
T
2.
+ Tốc độ sinh trưởng đặc trưng (%/ngày)
Tổng số cá kiểm tra
Số cá hình thành ruột
x 100%
Tổng số cá kiểm tra
Số cá hình thành dạ dày
x 100%
Số cá bố trí thí nghiệm
Số cá sống + số cá lấy mẫu + số cá chết do tác động cơ học
x 100%
T
2
– T
1
L
2
– L
1