Tải bản đầy đủ (.pdf) (98 trang)

Tổ chức và hoạt động thanh tra Nhà nước tỉnh Sơn La

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (888.46 KB, 98 trang )

MỤC LỤC

Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
1
Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu……………………………
01
2
Tình hình nghiên cứu đề tài…………………………………….
03
3
Mục đích nghiên cứu………… ……………………………….
06
4
Phương pháp nghiên cứu……………………………………….
06
5
Giới hạn phạm vi nghiên cứu…………………………………
06
6
Tính mới của đề tài……………………………………………
07
7
Kết cấu đề tài…………………………………………………
07
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN
THANH TRA NHÀ NƢỚC
1.1.
Quan niệm về thanh tra………………………………………
08
1.1.1.


Khái niệm và đặc điểm thanh tra ………………………………
08
1.1.2.
Vai trò của thanh tra .…………………………………………
16
1.1.3.
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra nhà nước……
22
1.2.
Tổ chức và hoạt động của cơ quan thanh tra nhà nƣớc …
23
1.2.1.
Tổ chức của cơ quan thanh tra nhà nước……………………….
23
1.2.2.
Hoạt động của cơ quan thanh tra nhà nước…………………….
27
1.3.
Mối quan hệ giữa tổ chức thanh tra với các cơ quan, tổ
chức khác
33
1.3.1.
Quan hệ giữa tổ chức thanh tra với thủ trưởng cơ quan quản lý
trực tiếp………………………………………………………
33
1.3.2.
Quan hệ giữa các tổ chức thanh tra trong hệ thống thanh tra nhà
nước…………………………………………………………….
34
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH TRA

NHÀ NƢỚC TỈNH SƠN LA
2.1.
Những yếu tố tác động đến tổ chức và hoạt động thanh tra
nhà nƣớc tỉnh Sơn La…………………………………………
37
2.1.1.
Điều kiện tự nhiên ……………………………………………
37
2.1.2.
Về tình hình kinh tế, xã hội ………… ……………………….
39
2.1.3.
Sự tác động của nền kinh tế thị trường…………………………
40
2.2.
Thực trạng tổ chức thanh tra nhà nƣớc tỉnh Sơn La……….
41
2.2.1.
Quá trình hình thành và phát triển ……………………………
41
2.2.2.
Về cơ cấu tổ chức ……………. ……………………………
42
2.2.3.
Cơ cấu về nhân sự …………… ……………………………
45
2.3.4.
Nhận xét chung… ……………………………… …………
46
2.3.

Thực trạng về hoạt động thanh tra nhà nƣớc tỉnh Sơn La…
49
2.3.1.
Về công tác thanh tra …………………………
49
2.3.2.
Về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo………………………
61
2.3.4.
Về hoạt động phòng, chống tham nhũng……………………….
66
Chƣơng 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
THANH TRA NHÀ NƢỚC TỈNH SƠN LA
3.1.
Quan điểm đổi mới …………………… …………………….
69
3.1.1.
Dựa trên quan điểm xây dựng nhà nước pháp quyền của dân,
do dân, vì dân…………
69
3.1.2.
Đặt trong tổng thể quá trình cải cách hành chính và hiện đại
hóa nền hành chính……………………………………………
70
3.1.3.
Phải có những bước đi và giải pháp thích hợp theo quan điểm
của Đảng đã đề ra………………………………………………
71
3.1.4.
Đáp ứng nhu cầu mở cửa, hội nhập quốc tế……………………

72
3.2.
Một số giải pháp cụ thể ……….……………………………
73
3.2.1.
Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về thanh tra…………
73
3.2.2.
Kiện toàn tổ chức Thanh tra nhà nước tỉnh một cách hợp lý phù
hợp với yêu cầu cải hành chính nhà nước và thực tế ở địa
phương…………………………………………………………
75
3.2.3.
Đổi mới việc tuyển dụng, sử dụng và phát triển đội ngũ cán bộ,
thanh tra viên vững vàng trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ….
78
3.2.4.
Đổi mới hoạt động thanh tra…………………………………
80
3.2.5.
Ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào hoạt động thanh tra
82
KẾT LUẬN
84
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục



THUẬT NGỮ VIẾT TẮT




HĐND: Hội đồng nhân dân
UBND: Uỷ ban nhân dân
KNTC: Khiếu nại, tố cáo
PCTN: Phòng, chống tham nhũng


1
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Công tác thanh tra là một trong những nội dung cơ bản của hoạt động
quản lý hành chính nhà nước, là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước.
Về vấn đề này, Lênin đã viết: "Quản lý đồng thời phải có thanh tra, quản lý và
thanh tra là một chứ không phải là hai". Như vậy, quản lý nhà nước và thanh tra
có mối quan hệ mật thiết với nhau. Thanh tra chỉ xuất hiện khi có nhà nước và ở
đâu có quản lý nhà nước thì ở đó có thanh tra. Thực hiện có hiệu lực và hiệu quả
công tác thanh tra sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu lực và hiệu
quả quản lý hành chính nhà nước; bảo đảm trật tự, kỷ cương; bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức trong hoạt động quản lý hành
chính nhà nước. Thực tế cho thấy rằng, một thể chế hành chính và cơ chế quản
lý nhà nước sẽ không đầy đủ và kém hiệu quả nếu thiếu thanh tra. Hoạt động có
tính hiệu quả của thanh tra sẽ ngăn chặn được nguy cơ biến dạng, tuỳ tiện, thiếu
kỷ cương trong hoạt động của bộ máy nhà nước.
Tổ chức và hoạt động thanh tra Việt Nam ra đời và hoạt động từ rất sớm.
Ngay sau khi thành lập Nhà nước Việt Nam độc lập và dân chủ, ngày
23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh thành lập Ban Thanh tra đặc
biệt, tiền thân của các tổ chức Thanh tra Việt Nam ngày nay. Từ đó đến nay, tổ

chức thanh tra không ngừng lớn mạnh và phát triển, hoạt động thanh tra không
ngừng được mở rộng, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi những
nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong từng thời kỳ.
Kể từ khi tổ chức và hoạt động thanh tra được chính thức quy định tại các
văn bản quy phạm pháp luật chuyên biệt như Pháp lệnh Thanh tra năm 1990 và
Luật Thanh tra năm 2004 và hiện nay chúng ta có Luật Thanh tra 2010 công tác
thanh tra đã góp phần quan trọng trong việc phòng ngừa, phát hiện và xử lý các
sai phạm trong việc quản lý đời sống kinh tế, xã hội; đã kiến nghị xử lý và đề
xuất nhiều biện pháp để chấn chỉnh công tác quản lý nhà nước như đất đai, đầu
tư xây dựng cơ bản, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; thực hiện chính sách pháp

2
luật về thuế, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; đồng thời kiến nghị với cấp có
thẩm quyền sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách, pháp luật nhằm khắc phục
những khiếm khuyết, sơ hở trong công tác quản lý, góp phần phát triển kinh tế
và tăng cường trật tự, kỷ cương xã hội.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, tổ chức và hoạt động thanh tra
thời gian qua cũng còn bộc lộ nhiều yếu kém, bất cập như: Tổ chức thanh tra
còn dàn trải, thiếu tập trung, không thống nhất, hoạt động thanh tra còn chồng
chéo, trùng lặp cả về phạm vi, đối tượng. Quyền hạn thanh tra còn bị hạn chế,
các kết luận, kiến nghị thanh tra chưa được thực thi một cách nghiêm chỉnh và
còn thiếu những biện pháp cứng rắn, chế tài đủ mạnh. Một số cán bộ thanh tra
chưa đáp ứng được yêu cầu về trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, phẩm chất đạo
đức và bản lĩnh chính trị trong thực hiện nhiệm vụ được giao. Những yếu kém,
bất cập trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng, hiệu quả công tác thanh
tra, làm cho công tác thanh tra chưa đáp ứng được yêu cầu của quản lý và mong
mỏi của nhân dân trong công cuộc đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước.
Cùng với việc tiến hành cải cách bộ máy nhà nước, phục vụ yêu cầu
phát triển kinh tế - xã hội theo đường lối đổi mới của Đảng, việc đổi mới tổ chức

và hoạt động của các cơ quan thanh tra nhà nước nói chung và Thanh tra nhà nước
tỉnh nói riêng là một yêu cầu cấp thiết được Đảng và nhà nước quan tâm chỉ đạo. Để
làm được điều đó cần phải đánh giá được một cách trung thực tình hình thực tiễn
của công tác thanh tra nhà nước cấp tỉnh trong thời gian vừa qua, cũng như
những vấn đề vướng mắc đang đặt ra về tổ chức và hoạt động của thanh tra nhà
nước cấp tỉnh hiện nay để từ đó đề ra các giải pháp thích hợp nhằm nâng cao
hơn nữa hiệu lực, hiệu quả của hoạt động thanh tra nhà nước cấp tỉnh trong thời
gian tới.
Xuất phát từ những lý do nêu trên em đã chọn đề tài: “Tổ chức và hoạt
động thanh tra nhà nước tỉnh Sơn La” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học.



3
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học, nhiều bài viết chuyên khảo trên
các Báo thanh tra, Tạp chí thanh tra và các Báo, Tạp chí chuyên ngành đề cập
đến tổ chức và hoạt động của thanh tra nhà nước ở những khía cạnh và mức độ
khác nhau, trong đó có đưa ra những đánh giá, nhận xét về thực trạng tổ chức và
hoạt động của thanh tra nhà nước, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm
đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan thanh tra nhà nước.
Thứ nhất, về các đề tài nghiên cứu khoa học
- “Đổi mới hệ thống tổ chức và hoạt động của ngành Thanh tra trong cơ
chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa – Luận cứ khoa học phục vụ sửa đổi
Luật thanh tra và hoàn thiện pháp luật về thanh tra” đề tài nghiên cứu khoa học
cấp Bộ, năm 2007 do đồng chí Trần Văn Truyền – Tổng Thanh tra Chính phủ,
làm Chủ nhiệm; Đề tài đã tập trung làm rõ cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của việc
đổi mới tổ chức và hoạt động của ngành Thanh tra trong điều kiện phát triển cơ
chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở phân tích thực trạng và
những hạn chế trong tổ chức và hoạt động của Ngành, đề tài đã đề xuất những

định hướng và giải pháp nhằm đổi mới tổ chức và hoạt động của Ngành trong cơ
chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mang tính toàn diện, khả thi,
trong đó có các kiến nghị về sửa đổi và bổ sung Luật thanh tra. Cụ thể: Xây
dựng và hoàn thiện tổ chức của ngành Thanh tra đồng bộ, thông suốt và có tính
liên kết chặt chẽ; tăng cường thẩm quyền, phân định rành mạch chức năng,
nhiệm vụ của các cơ quan thanh tra phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và cải cách hành chính; Đổi mới phương
thức nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của ngành Thanh tra trong
từng lĩnh vực cụ thể đảm bảo tính khách quan, kịp thời, chính xác, hiệu quả của
công tác thanh tra; Đổi mới việc tuyển dụng, sử dụng và phát triển công chức
nhằm tạo dựng tính chuyên nghiệp, nhạy bén, bản lĩnh chính trị vững vàng cho
đội ngũ cán bộ thanh tra. Bên cạnh các giải pháp, đề tài cũng đưa ra các kiến
nghị cụ thể nhằm hoàn thiện thể chế cũng như năng lực hoạt động của ngành

4
Thanh tra trong điều kiện kinh tế thị trường, xây dựng nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa, cải cách hành chính và hội nhập quốc tế hiện nay.
- “Cơ sở xác định trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp
trong công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham
nhũng” đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, năm 2010 do đồng chí Nguyễn Tuấn
Khanh - Trưởng phòng nghiên cứu và đào tạo, Viện khoa học Thanh tra làm chủ
nhiệm. Đề tài nêu lên một số cơ sở lý luận của vấn đề trách nhiệm pháp lý của
Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp trong công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại,
tố cáo và phòng chống tham nhũng; đánh giá thực trạng thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn của chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, thực trạng thanh tra trách
nhiệm, đưa ra định hướng giải quyết, hệ thống giải pháp và một số kiến nghị cụ
thể.
- “Một số giải pháp nhằm hạn chế trùng lắp, chồng chéo trong hoạt động
thanh tra” đề tài khoa học cấp cơ sở, do đồng chí Lê Đức Trung, Phó trưởng
phòng Quản lý Khoa học, Viện Khoa học Thanh tra làm chủ nhiệm. Đề tài làm

rõ quan niệm về trùng lắp, chồng chéo, vai trò của công tác thanh tra, hoạt động
thanh tra và các dạng chồng chéo, trùng lắp trong hoạt động thanh tra; Kết quả
hoạt động thanh tra từ khi có Luật thanh tra năm 2004, phân tích, đánh giá thực
trạng và nguyên nhân dẫn đến sự trùng lắp, chồng chéo trong hoạt động thanh
tra; Quan điểm, phương hướng khắc phục và một số giải pháp nhằm hoàn thiện
pháp luật về thanh tra.
Thứ hai, sách chuyên khảo
“Kỷ yếu khoa học thanh tra” từ tập 1 đến tập 8 của Viện Khoa học thanh
tra phát hành năm 2003; cuốn “Cơ chế giám sát, kiểm toán và thanh tra ở Việt
Nam” do Viện Khoa học thanh tra phối hợp với Nhà xuất bản Tư pháp phát
hành năm 2004; Trong các ấn phẩm này, trên cơ sở làm rõ lý luận của chủ nghĩa
Mác -Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh tra, các tác giả đã đánh giá thực
trạng hoạt động thanh tra ở Việt Nam, và đưa ra các giải pháp đổi mới tổ chức
và hoạt động thanh tra. Tuy nhiên, các nghiên cứu đó mới chỉ đề cập ở mức độ
chung nhất, phù hợp với các văn bản pháp luật thanh tra của thời điểm đó.

5
Thứ ba, các bài nghiên cứu đăng trên Báo, Tạp chí
- Trịnh Xuân Thiện: “Suy nghĩ về các nguyên tắc hoạt động thanh tra”,
Tạp chí Thanh tra, số 03/2005;
- Nguyễn Ngọc Tản: “Về công tác xây dựng thể chế của ngành Thanh
tra”, Tạp chí Thanh tra, số 01/2007;
- Nguyễn Thành Vinh: “Những bất cập trong các quy định của pháp luật
về thanh tra”, Tạp chí Thanh tra, số 11/2007;
Các bài viết trên đã phân tích thực trạng hoạt động thanh tra trong thời
gian vừa qua, đồng thời nêu lên những bất cập, vướng mắc về các quy định pháp
luật thanh tra hiện hành khi áp dụng trên thực tế. Từ đó, các tác giả đã đề xuất
hướng sửa đổi cho phù hợp với tình hình mới.
Thứ tư, về các đề tài luận án, luận văn đã bảo vệ
Luận án tiến sỹ “Tổ chức và hoạt động của các tổ chức Thanh tra ở nước

ta trong giai đoạn hiện nay – thực trạng và giải pháp„ của nghiên cứu sinh
Trịnh Xuân Thiện. Luận án đã đề cập đến những vấn đề bất cập trong tổ chức và
hoạt động của các tổ chức thanh tra sau khi Luật thanh tra 2004 có hiệu lực thi
hành, trong đó đề cập cụ thể tới 4 tổ chức: thanh tra nhà nước, thanh tra chuyên
ngành, Ban thanh tra nhân dân và thanh tra của thủ trưởng đơn vị.
Luận văn thạc sỹ “Nâng cao hiệu quả hoạt động của thanh tra chuyên
ngành” của học viên Nguyễn Thị Kim Ngọc; “Vai trò của thanh tra Nhà nước
trong quản lý việc thực hiện dự án ở nước ta hiện nay” của học viên Nguyễn
Thanh Hải; “Đổi mới tổ chức và hoạt động của thanh tra chuyên ngành giáo
dục” của học viên Bùi Ngọc Âu….Tuy nhiên, các đề tài này chỉ tập trung phân
tích thực trạng về hoạt động thanh tra chuyên ngành hoặc vai trò của thanh tra
nhà nước trong lĩnh vực cụ thể, chưa có đề tài nào nghiên cứu về tổ chức và hoạt
động thanh tra nhà nước cấp tỉnh trong giai đoạn hiện nay.
Trên cơ sở kết quả các nghiên cứu trước đây và các quy định của pháp
luật hiện hành, em cho rằng việc chọn nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần làm
phong phú và sâu sắc thêm những luận cứ khoa học, cũng như cơ sở thực tiễn

6
cho việc đổi mới tổ chức, hoạt động Thanh tra nhà nước tỉnh mà nhu cầu khách
quan cuộc sống đang đặt ra.
3. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu với mục đích nhằm đảm bảo công tác thanh tra nhà
nước cấp tỉnh nói chung và Thanh tra nhà nước tỉnh Sơn La nói riêng có được
một cơ sở lý luận vững chắc để chuẩn hóa về tổ chức bộ máy và hoạt động thanh
tra nhà nước cấp tỉnh. Phân tích thực trạng về tổ chức và hoạt động của thanh tra
nhà nước tỉnh Sơn La nhằm tìm ra những ưu điểm và hạn chế, từ đó kiến nghị
phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thanh tra hành
chính. Qua đó kiến nghị, đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về
thanh tra và các văn bản hướng dẫn có liên quan để phù hợp với tình hình thực
tế.

4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật nói chung và
công tác thanh tra nói riêng.
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp phân tích,
phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh và một số
phương pháp khác để làm sáng tỏ bản chất của vấn đề.
5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của các tổ chức thanh tra nhà nước
nói chung là vấn đề rất rộng, phức tạp, có tầm bao quát lớn. Trong khuôn khổ
của luận văn, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề:
- Nghiên cứu và phân tích kỹ hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật
quy định về tổ chức và hoạt động của thanh tra nhà nước cấp tỉnh.
- Nghiên cứu và phân tích thực trạng về tổ chức và hoạt động thanh tra
nhà nước tỉnh Sơn La, đưa ra nhận xét về những ưu điểm và hạn chế, những bất
cập so với quy định hiện hành trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp phù hợp.



7
6. Tính mới của đề tài
Qua quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã xây dựng một cơ sở lý luận, cơ
sở thực tiễn cho việc kiện toàn và nâng cao tổ chức và hoạt động thanh tra nhà
nước cấp tỉnh dựa trên sự nghiên cứu và phân tích thực trạng về tổ chức và hoạt
động thanh tra nhà nước tỉnh Sơn La.
Phát hiện những vấn đề khó khăn, vướng mắc, chồng chéo của hoạt động
thanh tra nhà nước cấp tỉnh, từ đó đề ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực,
hiệu quả công tác thanh tra.
Kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định pháp luật về thanh tra nhằm
phù hợp với yêu cầu thực tiễn, hình thành một mô hình thanh tra nhà nước cấp

tỉnh đảm bảo về các mặt: Hoàn thiện về bộ máy, hoạt động có hiệu quả, đảm bảo
tốt về nguồn nhân lực và có thể nhân rộng sang các tỉnh thành khác của cả nước.
7. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
chia làm 03 chương như sau:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của cơ quan thanh tra
nhà nước.
Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của thanh tra nhà nước tỉnh
Sơn La.
Chƣơng 3: Quan điểm và giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động thanh
tra nhà nước tỉnh Sơn La.










8
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC
VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN THANH TRA NHÀ NƢỚC

1.1. Quan niệm về thanh tra
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm
1.1.1.1. Khái niệm
Theo tài liệu về “Các Tổng thanh tra” của Pháp thì thuật ngữ “inspection”

có nguồn gốc từ tiếng La tinh “in- spectare” nghĩa là “nhìn vào bên trong”, chỉ
một sự xem xét từ bên ngoài vào một đối tượng nhất định.
Theo Từ điển pháp luật Anh – Việt năm 1994, thanh tra là “sự kiểm soát,
kiểm kê đối với đối tượng bị thanh tra” [23, tr.203].
Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học năm 2002 thì thanh tra có
nghĩa là “kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí
nghiệp” [41, tr.882]. Với nghĩa này thì thanh tra bao hàm cả nghĩa kiểm soát.
Thanh tra thường đi với một chủ thể nhất định, có thể là “người làm nhiệm vụ
thanh tra” hoặc “đoàn thanh tra” và “đặt trong phạm vi quyền hành của một chủ
thể nhất định”.
Trong cuốn sách “Thuật ngữ pháp lý phổ thông” do Nhà xuất bản pháp lý
in năm 1986 định nghĩa: “thanh tra được xem là một biện pháp (phương pháp)
của kiểm tra. Nhiệm vụ thanh tra được uỷ quyền cho cho các cơ quan nhà nước
có trách nhiệm” [25, tr.453]. Theo nghĩa này, thanh tra hẹp hơn kiểm tra, thanh
tra gắn liền với chức năng pháp lý trong quản lý nhà nước. Nhiệm vụ của thanh
tra cũng là kiểm tra, nhưng chỉ là kiểm tra quyền sở hữu nhà nước, sở hữu tập
thể có được thực hiện đúng, có được bảo vệ hay không, thẩm tra tính hợp pháp
của các hoạt động kinh tế, tài chính, tính chính xác của các báo cáo thống kê,
của việc thanh lý tài sản tập thể…
Trong lịch sử Việt Nam, từ thời phong kiến tuy chưa xuất hiện thuật ngữ
“thanh tra” nhưng đã có các chức quan làm công việc giống như thanh tra: Thời
Lý có chức quan Gián nghị đại phu (tả, hữu gián nghị đại phu); thời Trần có cơ
quan “Ngự sử đài”, đứng đầu Ngự sử đài là chức “Quan ngự sử” với chức năng

9
gần giống như cơ quan thanh tra hiện nay; Thời Lê có hàm Gián nghị đại phu
phong tặng cho bất cứ bề tôi nào dám nói thẳng, nói đúng sự thật; đời Lê Thánh
Tông (1460-1497) đặt ra chức Giám sát ngự sử để xem xét công việc ở các đạo
cho khỏi nhũng nhiễu”; nhà Nguyễn (thời Gia Long 1802-1819) có lục bộ: Bộ
Lại, Bộ Hộ, Bộ Lễ, Bộ Binh, Bộ Hình, Bộ Công, ngoài lục bộ có Đô sát viện để

giữ việc can gián Vua và đàn hặc các quan. [42, tr.172]
Thời kỳ Việt Nam độc lập: Thuật ngữ “thanh tra” lần đầu tiên xuất hiện
tại Sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập Ban
thanh tra đặc biệt. Sắc lệnh nêu rõ: “Chính phủ sẽ thành lập ngay một Ban thanh
tra đặc biệt, có uỷ nhiệm là đi giám sát tất cả các công việc và các nhân viên
của Uỷ ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ” [16, tr.1]. Cũng từ Sắc lệnh
này quyền thanh tra được xác định và chính thức giao cho Chính phủ.
Sau đó khái niệm “thanh tra” được đề cập trong các Hiến pháp Việt Nam
và các văn bản pháp luật khác, khẳng định thanh tra là một hoạt động đặc biệt
không thể thiếu trong quản lý nhà nước. Hiến pháp Việt Nam năm 1946 chưa sử
dụng thuật ngữ “thanh tra”. Hoạt động thanh tra, kiểm tra chưa được giao cho
một cơ quan chuyên trách nào mà được giao cho Ban thường vụ của Nghị viện.
Hiến pháp năm 1959 đã đề cập đến một số nội dung về kiểm tra việc thi hành
các quyết định quản lý nhà nước. Hiến pháp năm 1980 thuật ngữ thanh tra được
sử dụng với nội dung là một chức năng của cơ quan quản lý nhà nước. Hiến
pháp năm 1992 khái niệm thanh tra được thể hiện rõ hơn tại các Điều 112, 115,
116 và 124. Khoản 7 Điều 112 quy định Chính phủ có nhiệm vụ “tổ chức và
lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê của Nhà nước, công tác thanh tra, kiểm tra
nhà nước, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước; công tác giải
quyết khiếu nại tố cáo của công dân” [5, tr.181]. Văn bản pháp lý đầu tiên của
hoạt động thanh tra là Pháp lệnh thanh tra năm 1990. Pháp lệnh đã cụ thể hoá
các quy định của Hiến pháp và khẳng định thanh tra là một chức năng thiết yếu
của cơ quan quản lý nhà nước. Điều 1 Pháp lệnh thanh tra quy định: “Thanh tra
là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước; là phương thức bảo

10
đảm pháp chế, tăng cường kỷ luật trong quản lý nhà nước, thực hiện quyền dân
chủ xã hội chủ nghĩa” [13, tr.1].
Theo quy định của Luật Thanh tra năm 2004 đã được thông qua tại kỳ họp
thứ 5 Quốc hội khóa IX thì “Thanh tra nhà nước là việc xem xét, đánh giá, xử lý

của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật,
nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý theo thẩm quyền, trình
tự, thủ tục được quy định trong luật này và các quy định khác của pháp luật.
Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên
ngành”[6, tr.1].
Luật Thanh tra năm 2010 thay thế Luật Thanh tra 2004 tiếp tục khẳng
định vai trò to lớn của công tác thanh tra và có những quy định mới nhằm nâng
cao vị trí và vai trò của các tổ chức thanh tra và tăng cường hiệu lực, hiệu quả
của công tác thanh tra. Khoản 1 Điều 3 Luật Thanh tra 2010 quy định: “Thanh
tra Nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do
pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện
chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên
ngành”[7, tr.1].
Như vậy, trong nội hàm khái niệm Thanh tra nhà nước theo Luật thanh tra
2010 nêu rõ mục đích của hoạt động thanh tra, chủ thể tiến hành thanh tra, nội
dung thanh tra và đối tượng của thanh tra.
Hiện nay, khái niệm thanh tra luôn tồn tại song song trong mối quan hệ
với các hoạt động khác như kiểm tra, giám sát. Đây đều là các hoạt động thực
hiện chức năng chung của nhà nước, mỗi loại hoạt động có vai trò, tác động xã
hội nhất định, chúng phối hợp với nhau tạo thành “công lực” để đảm bảo hiệu
lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Để hiểu hơn về thanh tra và phân định hoạt động
thanh tra với các hoạt động khác thì việc cần thiết phải tìm hiểu về các khái
niệm có liên quan.
Kiểm tra là “xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét” [24, tr.504]
để chỉ hoạt động của một chủ thể tác động vào đối tượng bị kiểm tra (có thể trực

11
thuộc hoặc không trực thuộc). Như vậy, kiểm tra là khái niệm rộng, được hiểu
theo hai góc độ: i) Kiểm tra là hoạt động thường xuyên của cơ quan nhà nước

cấp trên với cơ quan nhà nước cấp dưới (trong mối quan hệ trực thuộc) nhằm
xem xét, đánh giá mọi mặt hoạt động của cấp dưới khi thấy cần thiết hoặc trong
trường hợp cần kiểm tra một vấn đề cụ thể nào đó. Vì vậy, khi tiến hành kiểm
tra, cơ quan cấp trên hoặc thủ trưởng cơ quan có quyền áp dụng các biện pháp
cưỡng chế kỷ luật, biện pháp bồi thường thiệt hại vật chất hoặc áp dụng các biện
pháp tác động tích cực với đối tượng bị kiểm tra như động viên khen thưởng về
vật chất hoặc tinh thần; ii) Kiểm tra là hoạt động của các tổ chức chính trị - xã
hội như kiểm tra của Đảng, kiểm tra, giám sát của các tổ chức xã hội đối với
hoạt động hành chính nhà nước. Hoạt động này ít mang tính quyền lực nhà nước
và không trực tiếp áp dụng các biện pháp cưỡng chế mà chỉ áp dụng các biện
pháp tác động mang tính xã hội. Như vậy, xét về chủ thể thì phạm vi chủ thể tiến
hành hoạt động kiểm tra đa dạng hơn thanh tra rất nhiều. Rõ ràng, giữa kiểm tra
và thanh tra có một mảng giao thoa về chủ thể, đó là Nhà nước. Bởi vì, kiểm tra
và thanh tra đều là một chức năng chung của quản lý nhà nước, là hoạt động
mang tính chất “phản hồi” của chủ trình quản lý. Qua thanh tra và kiểm tra
người ta có thể phân tích, đánh giá, theo dõi quá trình thực hiện các mục tiêu,
nhiệm vụ, quản lý đã đề ra. Quan hệ giữa “thanh tra” và “kiểm tra” là quan hệ
giữa “cái chung” và “cái riêng”, là mối quan hệ đan chéo. Nếu hiểu theo nghĩa
rộng thì kiểm tra bao hàm cả thanh tra, hay nói cách khác thanh tra là một loại
hình đặc biệt của kiểm tra mà ở đó luôn luôn do một loại chủ thể là Nhà nước
tiến hành và luôn mang tính quyền lực nhà nước, với sự độc lập tương đối.
Ngược lại, nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì thanh tra cũng bao hàm kiểm tra. Các
hoạt động, các thao tác nghiệp vụ trong một cuộc thanh tra thường chính là kiểm
tra (kiểm tra sổ sách, giấy tờ, tài liệu; kiểm tra kho quỹ; so sánh, đối chiếu, đánh
giá các số liệu thu thập được trong quá trình thanh tra…). Như vậy, giữa thanh
tra và kiểm tra giống nhau về mục đích, bản chất đều là những hoạt động xem
xét việc thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật, nhưng khác nhau về phạm
vi, chủ thể, phương thức thực hiện. Tuy nhiên, việc so sánh và phân định sự

12

khác nhau giữa thanh tra và kiểm tra chỉ mang tính tương đối, trong nhận thức
và hoạt động thực tiễn không được tuyệt đối hóa sự phân biệt này mới thực hiện
tốt được các cuộc thanh tra, kiểm tra đồng thời tránh được sai lầm khi tiến hành
hoạt động thanh tra, kiểm tra.
Giám sát được hiểu là “sự theo dõi, xem xét làm đúng hoặc sai những
điều đã quy định” hoặc được hiểu là “theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện
đúng những điều quy định không” [24, tr.301]. Như vậy, giám sát luôn gắn với
một chủ thể nhất định, tức là phải trả lời được câu hỏi ai (người hoặc tổ chức
nào) có quyền thực hiện việc theo dõi, xem xét, kiểm tra và đưa ra những nhận
định về một việc làm nào đó đã được thực hiện đúng hoặc sai so với những điều
đã quy định. Đồng thời giám sát cũng luôn gắn với một đối tượng cụ thể, tức là
phải trả lời được câu hỏi giám sát ai? Giám sát việc gì? Điều này có ý nghĩa
quan trọng ở chỗ, nó phân biệt giữa “giám sát” và “kiểm tra”. “Kiểm tra” thì chủ
thể hoạt động và đối tượng chịu sự tác động có thể đồng nhất với nhau, đó là
việc tự kiểm tra của chủ thể hoạt động. Nói cách khác, chủ thể tự mình xem xét,
đánh giá tình trạng tốt, xấu của công việc mình đang làm. Nhưng “giám sát” thì
không thể tự mình giám sát hoạt động của chính mình. “Giám sát” là hoạt động
của chủ thể ngoài hệ thống đối với đối tượng thuộc hệ thống khác, tức là giữa cơ
quan giám sát và cơ quan chịu giám sát không nằm trong một hệ thống phụ
thuộc nhau. Có hai loại hình giám sát: i) Giám sát mang tính quyền lực nhà
nước: Là loại hình giám sát được tiến hành bởi chủ thể là các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền đối với một hay một số hệ thống các cơ quan nhà nước khác theo
những nguyên tắc nhất định về sự phân công quyền lực nhà nước. Ở nước ta, đó
là hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội, giám sát của Hội đồng nhân dân các
cấp, các cơ quan tư pháp. Các phương pháp, cách thức mà loại hình giám sát này
áp dụng luôn luôn mang tính quyền lực nhà nước và nó trực tiếp mang lại những
hậu quả có tính pháp lý. ii) Giám sát không mang tính quyền lực nhà nước được
tiến hành bởi các chủ thể phi Nhà nước. Ở nước ta, đó là hoạt động giám sát của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, giám sát của
nhân dân đối với bộ máy nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước.


13
Có thể nói, cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát là “cái bóng” của cơ chế
quản lý và thể chế chính trị, các phương thức này đều là những hoạt động xem
xét, đánh giá một việc gì đó đúng hay sai so với quy định nhưng dưới những góc
độ khác nhau, mức độ xử lý khác nhau, chủ thể và khách thể khác nhau. Vấn đề
đặt ra hiện nay là phải xác định vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ
quan có chức năng thanh tra, kiểm tra, giám sát một cách thật hợp lý nhằm khắc
phục tình trạng chồng chéo, trùng lắp, vừa dàn trải, gây khó khăn, phiền hà cho
đối tượng bị thanh tra, kiểm tra, giám sát và làm giảm hiệu lực, hiệu quả của
hoạt động quản lý nhà nước.
1.1.1.2. Đặc điểm của thanh tra
Thứ nhất, thanh tra luôn gắn với quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước và thanh tra có điểm chung là nhân danh quyền lực nhà
nước thực hiện sự tác động lên các đối tượng quản lý. Với tư cách là một chức
năng thiết yếu của quản lý nhà nước, thanh tra gắn liền với hoạt động quản lý
nhà nước. Lênin đã viết: “Quản lý đồng thời phải có thanh tra, quản lý và thanh
tra là một chứ không phải là hai” [28, tr.35]. Như vậy, quản lý nhà nước và thanh
tra có mối quan hệ mật thiết với nhau. Thanh tra chỉ xuất hiện khi có nhà nước
và ở đâu có quản lý nhà nước thì ở đó có thanh tra. Trong mối quan hệ này, quản
lý nhà nước giữ vai trò chủ đạo, chi phối hoạt động của thanh tra (thể hiện ở việc
xác định đường lối, chủ trương, quy định thẩm quyền của các cơ quan thanh tra;
sử dụng các kết quả, thông tin từ phía cơ quan thanh tra). Hơn nữa, hoạt động
chấp hành của quản lý nhà nước thường bao hàm cả sự điều hành, cho nên trong
quá trình chấp hành các văn bản pháp luật đòi hỏi phải có sự kiểm tra nghiêm
ngặt của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, xét về mặt cơ cấu,
chức năng của quản lý thì thanh tra chỉ là phương tiện, công cụ để quản lý nhà
nước.
Ngoài ra, với tư cách là một khâu trong chu trình quản lý, thanh tra bị
ràng buộc, chế ước bởi quản lý nhưng đồng thời lại tác động trở lại, góp phần

điều chỉnh cách thức, phương pháp quản lý của chủ thể quản lý. Nhờ có thanh
tra mà mục đích của quản lý được đảm bảo. Thực tế cho thấy, một thể chế hành

14
chính và cơ chế quản lý nhà nước sẽ không đầy đủ và kém hiệu quả nếu thiếu
thanh tra. Hoạt động có tính hiệu quả của thanh tra sẽ ngăn chặn được nguy cơ
biến dạng, tùy tiện, thiếu kỷ cương trong hoạt động của bộ máy nhà nước.
Thứ hai, thanh tra mang tính quyền lực nhà nước
Là một chức năng của quản lý nhà nước, thanh tra phải thể hiện như một
tác động tích cực nhằm thực hiện quyền lực của chủ thể quản lý đối với đối
tượng quản lý. Tính quyền lực nhà nước của hoạt động thanh tra gắn bó chặt chẽ
với tính quyền uy – phục tùng, một đặc tính quan trọng của quản lý nhà nước.
Nói về tính quyền lực nhà nước trong quá trình thanh tra cũng có nghĩa là xác
định về mặt pháp lý tính chất nhà nước của tổ chức thanh tra. Đối với các quốc
gia trên thế giới, chủ thể tiến hành thanh tra luôn là cơ quan nhà nước, dù mô
hình tổ chức thanh tra có khác nhau. Vì vậy, thanh tra phải được nhà nước sử
dụng như một công cụ có hiệu quả trong quá trình quản lý. Lênin đã viết “Thanh
tra mà thiếu quyền lực là thanh tra suông” [27, tr.34]. Tính quyền lực nhà nước
của hoạt động thanh tra được thể hiện ở những mặt: Ra các quyết định bắt buộc
thực hiện đối với đối tượng thanh tra về những vấn đề đã bị thanh; trong quá
trình thanh tra, trực tiếp áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước khi cần
thiết; Yêu cầu cấp có thẩm quyền giải quyết đề nghị của thanh tra; yêu cầu truy
cứu trách nhiệm pháp lý đối với những người vi phạm pháp luật…
Thứ ba, thanh tra có tính khách quan
Bản chất của thanh tra là xem xét, đánh giá một cách khách quan việc
thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá
nhân nhằm đưa ra kết luận đúng, sai, đánh giá ưu, khuyết điểm, “phát hiện
những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ
quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện
và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện

đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu
lực, hiệu quả của hoạt động quản lý Nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân” [7, tr.1]. Vì thế, hoạt
động thanh tra phải mang tính khách quan. Tính khách quan của hoạt động

15
thanh tra được biểu hiện ở chỗ mọi hoạt động thanh tra đều dựa trên cơ sở pháp
luật và phải tuân theo pháp luật. Không một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào được
can thiệp trái pháp luật vào hoạt động thanh tra. Mọi nhận định, đánh giá trong
quá trình thanh tra và đưa ra kết luận thanh tra phải dựa trên chứng cứ có thật, sự
kiện thực tế, không bình luận chủ quan. Tính khách quan đảm bảo hoạt động
thanh tra được minh bạch, khách quan, công bằng.
Thứ tư, thanh tra có tính độc lập tương đối
Tính độc lập tương đối là đặc điểm vốn có, xuất phát từ bản chất của
thanh tra. Khác với hoạt động kiểm tra thường do bản thân các cơ quan quản lý
nhà nước tự tiến hành, hoạt động thanh tra thường được tiến hành bởi một cơ
quan chuyên trách có nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định. Vì vậy, khi
thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, ngoài việc đảm bảo sự phối kết hợp
nhịp nhàng với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước, hoạt động thanh tra
còn có tính độc lập tương đối trong quá trình thực thi nhiệm vụ. Luật Thanh tra
2010 đã tập trung tăng cường các nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan thanh tra
cũng như người đứng đầu các cơ quan này: Các cơ quan thanh tra có quyền chủ
động tiến hành thanh tra theo kế hoạch đã được phê duyệt; Thủ trưởng cơ quan
thanh tra tự quyết định thanh tra khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật và
chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Việc bổ sung quyền này nhằm tăng
cường tính chủ động cho người đứng đầu các cơ quan thanh tra trong việc thực
hiện nhiệm vụ thanh tra, bảo đảm tính linh hoạt, nhanh nhạy của thanh tra trong
điều kiện phát triển kinh tế xã hội hiện nay; Thủ trưởng cơ quan thanh tra có
quyền yêu cầu thủ trưởng cơ quan chuyên môn cùng cấp hoặc Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp dưới trực tiếp tiến hành thanh tra khi phát hiện có dấu hiệu vi

phạm pháp luật, nếu các chủ thể này không đồng ý thì thủ trưởng cơ quan thanh
tra có quyền quyết định việc thanh tra đối với vụ việc đó; Thủ trưởng cơ quan
thanh tra có quyền theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các yêu cầu, kiến
nghị, quyết định xử lý về thanh tra, kết luận thanh tra, quyết định thanh tra lại vụ
việc đã được Thủ trưởng cơ quan quản lý cấp dưới của Thủ trưởng cơ quan quản
lý cùng cấp đã kết luận nhưng phát hiện có dấu hiệu vi phạm. Thực tế cho thấy

16
nhiều trường hợp vụ việc đã được các cơ quan thanh tra cấp dưới tiến hành, song
vì lý do nào đó mà không thể phát hiện hết các vi phạm pháp luật.
1.1.2. Vai trò của thanh tra
Thứ nhất, thanh tra là một trong những chức năng thiết yếu của hoạt
động quản lý hành chính nhà nước
Tiến hành hoạt động quản lý trên bất cứ lĩnh vực nào, với bất cứ phạm vi,
quy mô nào, chủ thể có thẩm quyền đều phải thực hiện cả ba loại công việc sau:
- Đề ra chủ trương, chính sách, nhiệm vụ, kế hoạch.
- Tổ chức chỉ đạo thực hiện những chủ trương, chính sách và biện pháp đã
đề ra.
- Thanh tra, kiểm tra đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của các đối tượng
quản lý thuộc quyền.
Điều đó cho thấy rằng, kiểm tra, thanh tra là một trong ba mặt thống nhất
của quản lý (hiểu theo nghĩa rộng), là một khâu không thể thiếu của hoạt động
quản lý nhà nước nói chung và hoạt động quản lý hành chính nói riêng. Bàn về
vai trò của hoạt động này, Hồ Chủ tịch nhấn mạnh:
“1. Có kiểm soát như thế mới biết rõ cán bộ, nhân dân tốt hay xấu.
2. Mới biết rõ ưu điểm, khuyết điểm của các cơ quan.
3.Mới biết rõ ưu điểm, khuyết điểm của các mệnh lệnh và nghị quyết”
[26, tr.73].
Vai trò quan trọng của hoạt động thanh tra luôn được Đảng và Nhà nước
ta nhấn mạnh trong mọi thời kỳ, giai đoạn. Thông qua thanh tra chủ thể quản lý

nắm bắt được tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao của các đối tượng thuộc
quyền quản lý, từ đó đề ra các biện pháp khắc phục, sửa chữa cũng như các biện
pháp tác động phù hợp nhằm phát huy, nhân rộng những điển hình tích cực.
Bên cạnh đó, thanh tra còn có vai trò quan trọng trong việc giúp cơ quan
quản lý nhà nước hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách. Một trong những
yêu cầu quan trọng nhất của việc xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, đó là xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, rõ
ràng, minh bạch, phù hợp với yêu cầu phát triển khách quan của nền kinh tế và

17
đảm bảo tính công bằng cho các chủ thể kinh tế. Tuy nhiên, hiện nay hệ thống
pháp luật nước ta còn một số lĩnh vực còn thiếu và chưa chặt chẽ, một số cơ chế
chính sách không đi vào thực tế đã phát sinh những sơ hở, dễ bị lợi dụng để trục
lợi làm ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển của đất nước. Qua hoạt động thanh tra,
những sai sót, gian lận trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp
luật được phát hiện và khắc phục kịp thời; những lỗ hổng, sự bất hợp lý trong
các chủ trương, chính sách pháp luật được điều chỉnh hợp lý.
Thứ hai, thanh tra là phương thức bảo đảm pháp chế, kỷ luật trong quản
lý nhà nước
Một trong những nguyên tắc cơ bản của hệ thống chính trị và bộ máy nhà
nước ta là nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa. Điều 12, Hiến pháp 1992 sửa
đổi, bổ sung năm 2001 quy định: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và
không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa". Nội dung của nguyên tắc
pháp chế là sự bảo đảm cho pháp luật được tuân thủ một cách tuyệt đối, không
có một thực thể nào đứng trên pháp luật hay đứng ngoài pháp luật.
Trong hoạt động quản lý nhà nước, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
thể hiện qua các yêu cầu cơ bản sau đây :
- Hệ thống chính sách, pháp luật phải hoàn chỉnh, thống nhất tạo thành cơ
sở pháp lý vững chắc cho hoạt động quản lý nhà nước. Tính tối cao của Hiến
pháp, giá trị của các đạo luật phải được đề lên hàng đầu, giá trị của các văn bản

quy phạm pháp luật phải được tôn trọng; bản thân các cơ quan quản lý nhà nước
phải được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Việc thành lập các
cơ quan quản lý nhà nước phải căn cứ vào pháp luật, phải theo trình tự, thủ tục
chặt chẽ và do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định. Sau khi được
thành lập, các cơ quan quản lý nhà nước phải thực hiện chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn do pháp luật quy định, nhất là việc ban hành các văn bản quy phạm
pháp luật và các quyết định quản lý, không được lộng quyền, lạm quyền mà phải
quán triệt nguyên tắc Nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép, nhân
dân được làm tất cả những gì pháp luật không cấm.

18
- Các cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng quản lý phải nghiêm chỉnh
chấp hành Hiến pháp, pháp luật, các văn bản quyết định quản lý của các cơ quan
quản lý nhà nước có thẩm quyền.
- Mọi hành vi vi phạm pháp luật từ phía cơ quan quản lý nhà nước hay
của bất kỳ đối tượng nào của quản lý nhà nước đều phải được phát hiện kịp thời
và xử lý nghiêm minh theo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo nguyên tắc
mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Các cơ quan Nhà nước, cán bộ
công chức nhà nước nếu có vi phạm gây thiệt hại tới quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân phải bị xử lý và chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy
định của pháp luật.
Với chức năng của mình cơ quan thanh tra nhà nước xem xét, đánh giá
việc chấp hành chính sách, pháp luật, chức trách, nhiệm vụ của cơ quan hành
chính nhà nước và công chức nhà nước; việc chấp hành chính sách, pháp luật
của các tổ chức, cá nhân và các đối tượng khác chịu sự quản lý của Nhà nước;
thanh tra kịp thời phát hiện những sai phạm và kiến nghị biện pháp xử lý. Bên
cạnh đó, với chức năng, nhiệm vụ xem xét, tham mưu cho thủ trưởng cơ quan
quản lý nhà nước trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với các quyết định
hành chính hoặc hành vi hành chính của cán bộ, công chức nhà nước trong việc
thực hiện chính sách, pháp luật, chức trách, nhiệm vụ được giao, kết luận và xử

lý kịp thời những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, cán bộ, công
chức nhà nước, thanh tra góp phần bảo đảm trật tự kỷ cương trong quản lý, làm
trong sạch bộ máy nhà nước.
Như vậy, hoạt động bảo đảm pháp chế không những phải trở thành một
chức năng quan trọng của mọi cơ quan quản lý, mà trong bộ máy Nhà nước và
nhất là trong bộ máy quản lý cần phải có những cơ quan, tổ chức chuyên nghiệp
thực hiện chức năng này, trong đó có cơ quan Thanh tra nhà nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người luôn đề cao vai trò của công tác thanh
tra trong việc bảo đảm pháp chế, giữ gìn kỷ cương, kỷ luật, đấu tranh chống các
biểu hiện tiêu cực trong bộ máy nhà nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng:
Lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quản lý mà thiếu sự kiểm tra, thanh tra thì đó

19
chính là nguyên nhân của bệnh quan liêu, dẫn đến tham ô, lãng phí. Trong bài
nói chuyện tại Hội nghị cán bộ thanh tra toàn miền Bắc năm 1960, Người chỉ rõ:
“lãng phí, quan liêu, mệnh lệnh trong cơ quan nhà nước, trong cán bộ lãnh đạo
còn nhiều. Ví dụ như dùng người không cẩn thận, dùng ẩu, không biết rõ lý lịch
tốt xấu, nên một số phần tử xấu chui vào cơ quan ăn trộm, ăn cắp tài sản của
Nhà nước, của nhân dân. Một số cán bộ phụ trách làm việc như “ông quan” ngày
xưa, chỉ ngồi bàn giấy, không đi sát thực tế, không hiểu tình hình của cải trong
kho còn thừa, thiếu bao nhiêu, thứ nào bị hư hỏng, thứ nào còn dùng được;
không hiểu rõ cán bộ, nhân viên của mình làm việc tốt hay xấu để khen thưởng,
cất nhắc người tốt, giáo dục người kém, tẩy trừ những phần tử xấu xa”. Để
chống bệnh quan liêu, mệnh lệnh, Người cho rằng chỉ có một cách, đó là kiểm
tra, kiểm soát. Người khẳng định: Người lãnh đạo phải “kiểm soát kết quả công
việc cán bộ của mình”, “Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy; muốn biết
các nghị quyết có được thi hành không, thi hành có đúng hay không; muốn biết
ai ra sức làm, ai làm cho qua chuyện, chỉ có một cách là khéo kiểm soát" và
“kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm soát khéo về
sau khuyết điểm nhất định bớt đi” [26, tr.135].

Thứ ba, thanh tra là phương thức bảo đảm việc thực hiện các quyền, tự
do công dân
Ở nước ta, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân là cội
nguồn, là chủ thể duy nhất của quyền lực nhà nước. Điều này được thể hiện tại
Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001: "Nhà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền
tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí
thức" [5, tr.1]
Dân chủ là một phạm trù có nội hàm rất rộng và có ý nghĩa sâu sắc, là
sản phẩm của sự phát triển và tiến bộ xã hội. Nội dung cơ bản của dân chủ xã
hội chủ nghĩa là bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân một cách thực
sự. Trên thực tế, Đảng và Nhà nước ta đã luôn coi trọng, chăm lo và phát huy

20
quyền dân chủ của nhân dân, coi quyền dân chủ của nhân dân vừa là mục đích,
vừa là động lực của cách mạng, là phương thức xây dựng và hoàn thiện Nhà
nước. Cùng với đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, Nhà nước ta không
ngừng mở rộng và nâng cao về chất các quyền dân chủ của nhân dân trên tất cả
các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, tự do dân chủ và tự do cá nhân.
Với vị trí, vai trò và chức năng nhiệm vụ do pháp luật quy định, thanh
tra là một công cụ quan trọng và hữu hiệu để đảm bảo và thực hiện quyền dân
chủ của nhân dân. Điều đó thể hiện trên các phương diện cơ bản sau:
-Thông qua hoạt động thanh tra nhân dân gián tiếp thực hiện quyền giám
sát công việc của bộ máy nhà nước, nhân viên nhà nước, tham gia công việc
quản lý của Nhà nước. Về việc thực hiện quyền kiểm tra, giám sát của nhân dân
đối với bộ máy Nhà nước thông qua các tổ chức Thanh tra, Nghị quyết số
26/HĐBT ngày 15/02/1984 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã xác
định: "Tổ chức thanh tra phải là một công cụ có hiệu lực của Nhà nước chuyên
chính vô sản, đồng thời phải là một hình thức tổ chức của quần chúng để thực

hiện quyền làm chủ của mình trong việc kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ
quan Nhà nước".
- Nhờ có hoạt động thanh tra mà những sơ hở, yếu kém trong cơ chế
chính sách, hệ thống pháp luật, nhất là những vấn đề liên quan đến quyền dân
chủ của nhân dân được phát hiện kịp thời. Từ đó, Đảng và Nhà nước có biện
pháp chấn chỉnh, hoàn thiện tạo cơ sở chính trị, pháp lý cho việc đảm bảo và
thực hiện các quyền dân chủ của nhân dân.
- Trong việc thực hiện các chủ trương đường lối, chính sách pháp luật về
quyền dân chủ của nhân dân, nhờ có phạm vi hoạt động rộng khắp trong tất cả
các lĩnh vực quản lý của nhà nước, thanh tra góp phần đấu tranh phòng, chống
các hành vi vi phạm pháp luật, bảo đảm bảo vệ các quyền tự do, lợi ích hợp
pháp của công dân. Có thể nói, hơn ở đâu hết, trong việc tổ chức thực hiện các
quyền dân chủ của nhân dân, hoạt động thanh tra giữ một vai trò quan trọng vì
"Chúng ta có chính sách đúng, có pháp luật phù hợp với thực tiễn nhưng nếu
không thanh tra, kiểm tra việc thực hiện thì các chủ trương, pháp luật đó sẽ

21
không đi vào đời sống và nạn tham nhũng, sách nhiễu, phiền hà dân vẫn sẽ xảy
ra".
- Thông qua khiếu nại, tố cáo của công dân và việc thẩm tra, xác minh
giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan thanh tra thì những hành vi tham
nhũng, tiêu cực, hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm quyền dân chủ của nhân
dân bị phát hiện và xử lý. Nhờ đó, các quyền dân chủ, lợi ích hợp pháp của nhân
dân được bảo vệ, lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước được củng
cố, Nhà nước có thêm thông tin về hoạt động của bộ máy, đội ngũ cán bộ công
chức của mình, từ đó có biện pháp chấn chỉnh về cơ chế chính sách và tổ chức,
bộ máy, hướng tới mục tiêu ngày càng phục vụ nhân dân tốt hơn.
Thứ tư, thanh tra là một biện pháp phòng ngừa, phát hiện và xử lý những
hành vi vi phạm pháp luật
Mục đích của thanh tra không chỉ phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật mà

quan trọng hơn, thanh tra còn hướng tới mục đích phòng ngừa vi phạm pháp
luật. Tính phòng ngừa của hoạt động này được thể hiện ở chỗ:
Hoạt động thanh tra dù được thực hiện bằng phương thức gì, do cơ quan
nào tiến hành luôn là sự hiện thân của kỷ cương phép nước. Chỉ riêng sự tồn tại
của các cơ quan thanh tra trong bộ máy nhà nước đã là sự nhắc nhở thường
xuyên đối với các đối tượng chịu sự tác động của thanh tra, trong bất luận
trường hợp nào pháp luật cũng phải được tuân thủ tuyệt đối.
Hoạt động thanh tra luôn là cách thức phân tích, mổ xẻ một cách sâu sắc,
đầy đủ nhất các nguyên nhân, động cơ, mục đích, tính chất, mức độ của hành vi
vi phạm pháp luật. Do vậy, các giải pháp mà các cơ quan thanh tra đưa ra không
chỉ hướng vào việc xử lý hành vi vi phạm mà còn nhằm khắc phục những kẽ hở,
những sự bất cập của chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Thanh tra dù thuộc loại hình nào cũng luôn mang tính định hướng và xây
dựng. Thông qua hoạt động thanh tra có thể dự báo được tình hình vi phạm pháp
luật sẽ xảy ra, từ đó có biện pháp phòng ngừa hữu hiệu.


×