Tải bản đầy đủ (.pdf) (124 trang)

Can thiệp nhân đạo quốc tế.PDF

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.81 MB, 124 trang )



MỤC LỤC


Trang bìa

Trang
Lời cam đoan


Lời cảm ơn


Mục lục


Chữ viết tắt


PHẦN MỞ ĐẦU

1
PHẦN NỘI DUNG
10

Chương 1
Tổng quan về can thiệp nhân đạo quốc tế
10
1.1
Một số thuật ngữ và các quan điểm liên quan


15
1.1.1
Thiên tai
15
1.1.2
Xung đột vũ trang
16
1.1.3
Khủng hoảng nhân đạo
16
1.1.4
Thảm hoạ nhân đạo
19
1.1.5
Nghĩa vụ can thiệp, quyền can thiệp
19
1.1.6
Cứu trợ nhân đạo
19
1.1.7
Can thiệp nhân đạo
19
1.1.8
Quan điểm, lập trường của Việt Nam về vấn đề "can thiệp nhân đạo"
24
1.1.9
Quan điểm của tác giả về vấn đề "can thiệp nhân đạo"
25
1.2
Lịch sử xuất hiện, mục đích, ý nghĩa của hoạt động can thiệp nhân

đạo
28
1.2.1
Lịch sử xuất hiện hoạt động can thiệp nhân đạo
28
1.2.2
Mục đích, ý nghĩa của việc can thiệp nhân đạo
31
1.3
Cơ chế bảo đảm cho các hoạt động can thiệp nhân đạo
33
1.3.1
Cơ chế pháp lý
33
1.3.2
Nguồn nhân lực
34


1.3.3
Cơ sở vật chất
35
1.4
Các hình thức can thiệp nhân đạo
36
1.4.1
Can thiệp nhân đạo gián tiếp
37
1.4.2
Can thiệp can thiệp trực tiếp

39
1.5
Các chủ thể thực hiện việc can thiệp nhân đạo
40
1.5.1
Quốc gia
40
1.5.2
Các tổ chức quốc tế
41
1.5.3
Các cá nhân
44
1.6
Công tác cứu trơ nhân đạo và đối phó với tình hình khẩn cấp ở
Việt Nam
45
1.7
Cơ quan đối phó với tình hình khẩn cấp ở một số quốc gia
51
1.7.1
Cơ quan đối phó với tình hình khẩn cấp ở Hoa Kỳ
51
1.7.2
1.7.3
Cơ quan đối phó với tình hình khẩn cấp ở Liên bang Nga
Cơ quan đối phó với tình hình khẩn cấp ở Trung Quốc
53
54
CHƯƠNG 2

CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ PHÁP LÝ
CỦA CAN THIỆP NHÂN ĐẠO QUỐC TẾ
56
2.1
Cơ sở thực tiễn
56
2.1.1
Thảm hoạ thiên tai, dịch bệnh
56
2.1.2
Sự bùng nổ của xung đột vũ trang
57
2.2
Cơ sở pháp lý
57
2.2.1
Pháp luật quốc gia
58
2.2.2
Pháp luật quốc tế
60
2.2.2.1
Các điều ước quốc tế
60
2.2.2.2
Tập quán quốc tế
70
2.3
Cơ sở thực tiễn và pháp lý cuộc tấn công của Việt Nam vào
Campuchia năm 1979

71
2.3.1
Quan hệ Việt Nam – Campuchia từ 1975-1979
71
2.3.1.1
Chính sách đối nội của Khme Đỏ
71
2.3.1.2
Chính sách đối ngoại của Khme Đỏ
72
2.3.2
Cuộc phản công của Việt Nam và việc đưa quân Việt Nam vào
73


Campuchia – Hành vi can thiệp nhân đạo hay xâm lược?
2.3.2.1
Về việc đưa quân đội Việt Nam vào Campuchia tháng 01/1979
73
2.3.2.2
Việc quân đội Việt Nam ở lại Campuchia từ 1979-1989
76

Chương 3
Thực trạng can thiệp nhân đạo quốc tế
một số giải pháp, kiến nghị
80
3.1
Thực trạng công tác can thiệp nhân đạo
80

3.1.1
Sự hợp tác và thiện chí của các chủ thể
80
3.1.2
Hiệu quả của hoạt động can thiệp nhân đạo
81
3.1.3
Hoạt động và vai trò của Liên hợp quốc
83
3.1.4
An toàn cho các nhân viên dân sự và quân sự trong quá trình thực thi
nhiệm vụ
84
3.1.5
Tham nhũng trong cứu trợ, can thiệp nhân đạo
86
3.1.6
Vi phạm pháp luật trong khi thừa hành nhiệm vụ
87
3.2
Một số giải pháp, kiến nghị để nâng cao hiệu quả công tác can
thiệp, cứu trợ nhân đạo
88
3.2.1.
Đối với Việt Nam
88
3.2.1.1
Hoàn thiện thể chế pháp luật điều chỉnh riêng biệt lĩnh vực cứu trợ
nhân đạo và đối phó với các tình thế khẩn cấp
89

3.2.1.2.
Thay đổi cơ chế tiếp nhận và điều phối tiền, hàng viện trợ
92
3.2.1.3
Xây dựng kế hoạch cụ thể thực hiện Chiến lược quốc gia phòng
chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020
94
3.2.1.4
Chống thất thoát, tham nhũng trong cứu trợ nhân đạo
94
3.2.1.5
Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực can thiệp, cứu trợ nhân đạo
95
3.2.2
Đối với công tác can thiệp nhân đạo quốc tế
97
3.2.2.1
Ban hành công ước quốc tế về vấn đề can thiệp nhân đạo
97
3.2.2.2
Kiểm tra, giám sát giới hạn các hoạt động can thiệp nhân đạo
99
3.2.2.3
Tăng cường trách nhiệm, áp đặt chế tài cứng rắn đối với chính quyền
sở tại để xảy ra khủng hoảng, thảm hoạ nhân đạo
99
3.2.2.4
Tăng cường nguồn lực vật chất, kỹ thuật phục vụ cho công tác can thiệp,
100



cứu trợ nhân đạo.
3.2.2.5
Bảo đảm tính kịp thời; tăng cường thiện chí và sự hợp tác giữa các
quốc gia trong việc đối phó với nguy cơ chung
100
3.2.2.6
Chống tham nhũng, thất thoát trong viện trợ nhân đạo
102
Kết luận
103
Tµi liÖu tham kh¶o
105





DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

- ASEAN: Hiệp hội các nước Đông Nam Á (Association of Southeast Asian Nations)
- A.U: Liên minh Châu Phi (African Union)
- CH: Cộng hoà
- E.U: European Union (Liên minh Châu Âu)
- FAO: Food and Agriculture Organization (Tổ chức Nông Lương LHQ)
- FEMA: Cục cứu trợ khẩn cấp Liên bang (Federal Emergency Management Agency)
- HCFR: Cao uỷ LHQ về người tị nạn (High Commissioner For Refugees)
- HĐBA: Hội đồng bảo an
- IRCC: Uỷ ban Chữ thập đỏ quốc tế (International Committee for the Red Cross)
- LHQ: Liên hợp quốc

- MTTQ: Mặt trận tổ quốc
- NATO: Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (Nord Atlantic Treaty Organization)
- NQ: Nghị quyết
- PPC: Popular Party of Cambodia (Đảng nhân dân Campuchia)
- SLM: Sudanese Liberation Movement (Phong trào giải phóng Sudan)
- U.N: Liên hợp quốc (Unied Nations)
- U.N.D.P: Chương trình phát triển LHQ (United Nations Development Programme)
- XHCN: Xã hội chủ nghĩa








1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong những ngày đầu tháng 12/2007, các từ ngữ khủng hoảng nhân
đạo (humanitarian crisis), thảm hoạ (catastrophe) đã được cộng đồng quốc tế
đặc biệt quan tâm và đề cập từ các phương diện khác nhau. Một là, trong
phiên họp lần thứ 5789 diễn ra ngày 05/12/2007, Hội đồng bảo an Liên hợp
quốc đã bày tỏ sự quan ngại sâu sắc trước "khủng hoảng nhân đạo" đang tiếp
diễn nghiêm trọng tại Darfur (Sudan) trong bối cảnh việc triển khai lực lượng
hỗn hợp giữ gìn hoà bình của Liên hợp quốc và Liên minh Châu phi
(UNAMID) tại Darfur đang gặp bế tắc [116]. Hai là, trong chuyến thị sát dải
Gaza ngày 10/12/2007, Chủ tịch Uỷ ban chữ thập đỏ quốc tế Jakob
Kellenberger đã cảnh báo về tình trạng "khủng hoảng nhân đạo" đang ngày
một trầm trọng khi toàn bộ dải Gaza của Palestin đã bị Istrael ngừng cung cấp

nước, điện, xăng dầu, dịch vụ y tế từ cuối tháng 3/2007 để cô lập phe Hamas
đang kiểm soát khu vực này. Tình trạng tồi tệ ở dải Gaza đã làm hàng trăm
phụ nữ, trẻ em bị chết, hàng ngàn người mắc bệnh nhưng không có thuốc để
chữa trị. Cũng trong ngày
10/12/2007 tại Oslo-Na Uy, phát
biểu sau khi được trao tặng giải
thưởng Nobel hoà bình năm
2007 về những đóng góp của
mình cho vấn đề bảo vệ môi
trường toàn cầu, cựu Phó tổng thống Mỹ Al Gore đã tuyên bố: Thật bất công
khi hơn 90% lượng khí thải gây hiệu ứng lồng kính là do các nước giàu có thải
ra, nhưng 86% số nạn nhân bị ảnh hưởng trực tiếp của các thảm hoạ thiên tai
lại thuộc về các nước nghèo. Ba là, ngày 12/12/2007, phát biểu tại Hội nghị
quốc tế về thay đổi khí hậu (United Nations Climate Change Conference) ở
Bali, Indonesia, Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban-ki-moon đã cảnh báo thế giới
TTK LHQ Bankimoon phát biểu tại Hội nghị quốc tế về
thay đổi khí hậu tại Bali-Indonesia ngày 12/12/2007(ảnh
AP)


2
chuẩn bị đương đầu với các "thảm hoạ khủng khiếp" do lũ, lụt gây ra, tác động
trực tiếp đến khoảng 50 quốc gia (trong đó có Việt Nam) với khoảng 5 tỉ dân
từ nay cho đến năm 2020 do nguyên nhân bắt nguồn từ sự nóng dần lên của
trái đất (global warming). Theo ông Ban-ki-moon, Nghị định thư Kyoto đã đi
được 2/3 quãng đường, nhưng mục tiêu của nó đã bị phá sản do thái độ bất
hợp tác của các cường quốc gây ô nhiễm nặng nhất thế giới [117].
Cách đây 3 năm, qua các hãng thông tấn báo chí, chúng ta cũng đã được
biết cảnh tượng thế nào là khủng hoảng nhân đạo tại một loạt quốc gia ven bờ
Ấn Độ Dương từ Châu Á sang Châu Phi sau trận động đất dưới đáy đại dương

thuộc đảo Sumatra- Indonesia làm phát sinh các cơn sóng thần khủng khiếp
khiến gần 200 ngàn người thiệt mạng và mất tích [90]. Nếu như sự kiện sóng
thần ngày 26/12/2004 đã tác động mạnh vào “lương tâm cứu giúp” của con
người trong một thời gian ngắn; thì ngược lại, cuộc nội chiến đẫm máu và
khủng hoảng nhân đạo tại Darfur hiện nay đang thực sự trở thành một điểm
nóng thử thách "lòng can đảm và lương tâm nhân loại".
Nhìn lại lịch sử, một loạt các chiến dịch quân sự mà các nước đã thực
hiện kể từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX trở lại đây như: chiến
dịch can thiệp quân sự vào Haiti năm 1994 do Hoa Kỳ thực hiện, cuộc tấn
công vào Serbia, Kosovo năm 1999 do NATO tiến hành, cuộc chiến tranh Iraq
năm 2003 dưới chiêu bài ngăn chặn việc phát triển, tàng trữ, sử dụng vũ khí
giết người hàng loạt, phòng ngừa chủ nghĩa khủng bố đã làm méo mó trật tự
quan hệ quốc tế. Con người cũng đã chứng kiến các cuộc tàn sát, diệt chủng
dã man xảy ra trong hai cuộc đại chiến thế giới và thời gian gần đây như các
cuộc diệt chủng (do Khme Đỏ tiến hành cuối những năm 1970 ở Campuchia,
ở Rwanda năm 1994) và hiện nay là cuộc nội chiến tại Darfur. Sẽ không có gì
phải bàn cãi nếu như các thảm hoạ nhân đạo đó xuất phát từ các nguyên nhân
khách quan như thiên tai. Ở đây, tội ác diệt chủng, khủng hoảng, thảm hoạ
nhân đạo lại do chính con người gây ra (man made disasters), cụ thể là do


3
chính các bên tham gia xung đột vũ trang và chính quyền sở tại thực hiện.
Thay vì phải có một hành động cần thiết để ngăn chặn, cộng đồng quốc tế lại
thờ ơ, vô trách nhiệm hoặc lúng túng trong việc tìm kiếm giải pháp, thiếu các
biện pháp dứt khoát để khắc phục tình hình.
Như vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu các vấn đề liên quan đến sự can
thiệp từ bên ngoài của cộng đồng quốc tế vì mục đích nhân đạo, đặc biệt là các
vấn đề về mặt pháp lý làm cơ sở cho phép tiến hành các hoạt động đó đang đặt
ra như một nhiệm vụ cấp bách, giúp tìm kiếm các giải pháp cho việc giải

quyết khủng hoảng nhân đạo do nhiều nguyên nhân khác nhau, đặc biệt là
nguyên nhân chiến tranh xảy ra hiện nay ở nhiều khu vực như Trung Đông,
Châu Phi.
2. Tình hình nghiên cứu.
Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, thế giới luôn biến đổi với
những sự kiện xảy ra ở tất cả các lĩnh vực làm ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián
tiếp đến cuộc sống của con người ở các mức độ khác nhau. Chỉ riêng từ đầu
thế kỷ XX, thế giới đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh khốc liệt, từ phạm vi
xung đột nội bộ trong một quốc gia, (nội chiến) cho đến phạm vi toàn cầu
(chiến tranh thế giới). Các cuộc chiến tranh kéo dài khốc liệt, môi trường bị
huỷ hoại, khí hậu diễn biến phức tạp kéo theo các thiên tai khủng khiếp [53,
trang 230]. Tất cả những điều đó đã gây ra biết bao thiệt hại về vật chất và
nhân mạng cho nhiều quốc gia và toàn thế giới, để lại bao đau khổ cho con
người sống ở khắp nơi trên trái đất.
Nếu như chiến tranh (war) với tất cả tính chất khốc liệt của nó được coi
là thủ phạm số một cướp đi sinh mạng, sức khoẻ, tài sản của con người, thì
thiên tai (natural disasters) và dịch bệnh (diseases) được coi là thủ phạm thứ
hai. Thế giới ở thế kỷ 21 mà chúng ta đang sống đã đạt đến trình độ văn
minh, phát triển cao ở hầu hết các lĩnh vực, nhưng thử thách to lớn mang tính
toàn cầu mà toàn nhân loại phải đối phó vẫn không ngừng ra tăng, tác động


4
trực tiếp đến tình hình an ninh quốc tế [43, trang 32]. Sự phát triển giữa các
quốc gia, khu vực diễn ra không đồng đều; các tiến bộ về khoa học, công
nghệ chưa thể dập tắt hoặc chế ngự các thiên tai, dịch bệnh hiểm nghèo, nhất
là các dịch bệnh mới. Môi trường mà chúng ta đang sống ngày càng bị huỷ
hoại nghiêm trọng dẫn đến sự thay đổi khí hậu toàn cầu (climate change) và
hiện tượng nóng dần lên của trái đất (global warming), đó là những nguyên
nhân tiềm tàng mà con người cần phải tính đến để chuẩn bị các phương thức

đối phó hiệu quả. Mâu thuẫn về lợi ích giữa các quốc gia, tôn giáo, sắc tộc
vẫn diễn ra gay gắt và là nguyên nhân chính làm xuất hiện các cuộc chiến
tranh khốc liệt. Tất cả những điều đó đều gián tiếp hay trực tiếp gây ra đau
khổ cho con người, điều mà chúng ta gọi là khủng hoảng, thảm hoạ nhân đạo.
Khủng hoảng, thảm hoạ nhân đạo là cơ sở phát sinh trách nhiệm nhân đạo
của cộng đồng quốc tế, đó chính là trách nhiệm phải hành động can thiệp vì
mục đích nhân đạo.
Tuy tình trạng khủng hoảng, thảm hoạ nhân đạo xuất hiện phổ biến và
có từ lâu trên khắp các châu lục, con người cũng có nhiều cách thức, biện
pháp khác nhau để khắc phục, cái mà ngày nay chúng ta gọi là các hoạt động
"can thiệp". Trên thế giới, ngành Luật quốc tế nhiều nước đã nghiên cứu từ rất
sớm về vấn đề can thiệp nhân đạo quốc tế. Ngay từ thế kỷ 17, trong tác phẩm
"De iure belli ac pacis" xuất bản năm 1625, bằng các lập luận chắc chắn của
mình, Hugo Grotius
1
đã cổ xuý cho việc can thiệp từ bên ngoài vào một quốc
gia để ngăn chặn các hành động ngược đãi man dợ mà các chính quyền sở tại
thực hiện với chính người dân của mình. Cùng với thời gian, ý tưởng của H.
Grotius ít được chú ý, chỉ có một số ít các nhà nghiên cứu chính trị, pháp lý đề
cập.

1
1583-1645, nhà Triết học, Luật học, nhà thơ, nhà viết kịch Hà Lan. Ông là người đã đặt nền tảng
đầu tiên cho sự ra đời của ngành Luật quốc tế dựa trên cơ sở "luật tự nhiên" (natural laws) thông
qua một loạt tác phẩm nổi tiếng như: De Indis, Mare Liberum, De dominio maris


5
Kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, vấn đề can thiệp vào
công việc nội bộ của nước khác dường như là một vấn đề tế nhị, khó được

chấp nhận do bối cảnh tiến trình phi thực dân hoá (decolonisation) đang diến
ra mạnh mẽ ở Châu Phi, Mỹ La Tinh và Đông Nam Á. Các quốc gia ở các khu
vực này lo ngại núp dưới chiêu bài "can thiệp" để các nước đế quốc, thực dân
quay trở lại. Kể từ những năm cuối thập kỷ 60 trở đi, sau khi giành lại độc lập,
các chính quyền non trẻ ở nhiều nước, chủ yếu ở Châu Phi do thiếu khả năng
lãnh đạo, quản lý đã khiến tình trạng đất nước luôn rơi vào vòng soáy bạo lực,
nội chiến. Tình trạng khủng hoảng nhân đạo xảy ra thường xuyên tại lục địa
đen đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học chính trị, pháp lý quốc tế.
Đi đầu trong việc nghiên cứu về vấn đề can thiệp nhân đạo là các học giả
người Pháp. Ý tưởng can thiệp nhân đạo về mặt lý luận đã được giáo sư Luật
người Pháp là Mario Bettati
2
và vị bác sỹ, chính trị học người Pháp là Bernard
Kouchner (đương kim Ngoại trưởng Pháp hiện nay) phát triển vào cuối những
năm 1970 sau khi trực tiếp chứng kiến khủng hoảng nhân đạo tại Nigeria do
cuộc chiến Biafran gây ra. Hai ông M.Bettati và B.Kouchner đã đưa ra các học
thuyết về "quyền can thiệp" (droit d'ingérence), học thuyết về "nghĩa vụ can
thiệp" (responsabilité d'ingérence) [54] với các lập luận rằng: quyền được
sống (droit de vie) là quyền cơ bản nhất của con người. Ý tưởng “can thiệp
nhân đạo” lúc đầu xuất hiện chủ yếu dựa trên yêu câu về mặt lương tâm, đạo
đức (moral imperative), đó là “chúng ta không thể để mặc cho người dân bị
chết (we should not let people die) được thể hiện trong Tuyên ngôn của Liên
hợp quốc về quyền con người năm 1948. Tuy nhiên, các công trình nghiên
cứu ở thời kỳ này còn chưa thống nhất, thiếu tính hệ thống, các nghiên cứu
chủ yếu nói về vấn đề can thiệp dưới dạng cứu trợ nhân đạo thuần tuý, chưa
đề cập đến các giải pháp can thiệp mang tính chất quân sự vào các cuộc xung
đột vũ trang. Các cuộc chiến gần đây do Hoa Kỳ phát động nằm vào các quốc

2
Giáo sư Luật quốc tế tại Đại học Paris II



6
gia có chủ quyền đã góp phần làm thổi bùng lên các tranh cãi xung quanh vấn
đề can thiệp nhân đạo với nhiều quan điểm, lập trường khác biệt. Nhìn chung,
khủng hoảng nhân đạo, thảm hoạ nhân đạo, can thiệp nhân đạo là những khái
niệm hoàn toàn mới, chỉ được sử dụng nhiều trong luật quốc tế hiện đại kể từ
vài thập kỷ trở lại đây trên cơ sở những gì thực tế xảy ra từ các thảm hoạ thiên
tai, đặc biệt là các cuộc xung đột vũ trang.
Ở Việt Nam, Khoa học luật quốc tế Việt Nam tuy ra đời muộn nhưng
khá phát triển và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Can thiệp nhân đạo
còn là một vấn đề thực sự mới đối với các nhà hoạch định chính sách cũng
như giới nghiên cứu, các học giả trong lĩnh vực khoa học chính trị, pháp lý.
Các giáo trình giảng dạy tại các cơ sở đào tạo Luật học có đề cập tới Luật
nhân đạo quốc tế và Luật quốc tế về quyền con người, nhưng vấn đề can thiệp
nhân đạo chưa được đề cập chính thức, chưa có công trình nghiên cứu chuyên
sâu nào về vấn đề này. Cũng có nhiều bài viết trên trên báo chí, nhưng chủ
yếu là đưa tin nhân các sự kiện thiên tai, chủ yếu nói về vấn đề cứu trợ nhân
đạo thuần tuý do thiên tai gây ra. Cũng có một số bài xã luận trên báo chí
nhưng mang nặng tính chất chính trị, thiếu các lập luận pháp lý, nội dung chủ
yếu chỉ trích việc "can thiệp nhân đạo để can thiệp vào công việc nội bộ của
nước khác [50]" theo quan điểm không chấp nhận khái niệm "can thiệp
nhân đạo" theo nghĩa rộng.
3. Mục đích, đối tượng, phạm vị nghiên cứu.
- Mục đích nghiên cứu:
Dựa vào các phân tích về cở sở khoa học và thực tiễn nêu trên, đề tài
nghiên cứu này nhằm mục đích đưa ra một bản nghiên cứu tổng quan nhằm
làm rõ về một chế định được coi là mới, đó là chế định can thiệp nhân đạo
quốc tế vốn được các nhà nghiên cứu pháp luật của nhiều quốc gia đặc biệt
quan tâm dựa trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá các hoạt động, các chiến dịch

cứu trợ, can thiệp nhân đạo mà cộng đồng quốc tế đã và đang thực hiện. Thay


7
cho việc trình bầy về tầm quan trọng của việc can thiệp nhân đạo quốc tế, xin
trích ra dưới đây phát biểu của Tổng thư ký Liên Hợp quốc Kofi Anan sau sự
kiện Hội đồng bảo an thông qua Nghị quyết 1706 ngày 31/8/2006 cho phép
triển khai 20 ngàn quân thuộc lực lượng giữ gìn hoà bình của LHQ và 7 ngàn
quân của Liên minh Châu Phi tới Darfur Sudan: “Việc không triển khai tức thì
lượng giữ gìn hoà bình của LHQ tại Darfur sẽ là một thảm hoạ có thể còn
khủng khiếp hơn những gì chúng ta dự đoán khi mà cho đến thời điểm này đã
có trên 500 ngàn thường dân vô tội bị thiệt mạng do cuộc xung đột, hơn hai
triệu người cần cứu trợ khẩn cấp” [95].
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu chính là các hoạt động can thiệp nhân đạo mà
cộng đồng quốc tế tiến hành và các cơ sở thực tiễn, pháp lý cho các hoạt động
can thiệp nhân đạo. Cụ thể:
+ Hoạt động can thiệp, cứu trợ nhân đạo khi có khủng hoảng, thảm hoạ
nhân đạo xảy ra do thiên tai, dịch bệnh.
+ Hoạt động can thiệp, cứu trợ nhân đạo khi có khủng hoảng, thảm hoạ
nhân đạo xảy ra do xung đột vũ trang.
+ Cơ sở thực tiễn, pháp lý của các hoạt động can thiệp, cứu trợ nhân
đạo
- Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu về can thiệp nhân đạo quốc tế giới hạn trong phạm vi:
+ Can thiệp, cứu trợ nhân đạo quốc tế dưới danh nghĩa Liên Hợp quốc;
của các tổ chức quốc tế liên chính phủ và phi chính phủ. Đây là hình thức
can thiệp "được phép" mang tính chất tập thể do cộng đồng quốc tế thực hiện
khi xảy ra khủng hoảng, thảm hoạ nhân đạo nghiêm trọng ở mức báo động
ngoài tầm kiểm soát của các quốc gia mà cộng đồng quốc tế thấy cần phải

can thiệp khẩn cấp để tránh khủng hoảng nhân đạo trở nên trầm trọng.
+ Can thiệp, cứu trợ nhân đạo quốc tế do các quốc gia thực hiện trên cơ


8
sở có đề nghị, yêu cầu từ phía quốc gia nơi xảy ra khủng hoảng nhân đạo,
thảm hoạ nhân đạo vượt khỏi tầm kiểm soát, giải quyết của quốc gia đó.
+ Các hoạt động cứu trợ nhân đạo quốc tế do cá nhân riêng lẻ thực
hiện.
+ Các hoạt động cứu trợ nhân đạo do các tổ chức nhân đạo quốc tế thực
hiện.
+ Đề tài cũng sẽ nghiên cứu, đề cập đến một hình thức can thiệp quân
sự đơn phương, đó là can thiệp quân sự-nhân đạo (military humanitarian
intervention) mới xuất hiện và trở nên khá phổ biến và được thực hiện nhiều
trong thời gian gần đây. Hình thức can thiệp này được chủ thể thực hiên gọi
là can thiệp can thiệp nhân đạo, nhưng thực chất là để can thiệp quân sự,
không dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế và yêu cầu của quốc gia nơi có khủng
hoảng nhân đạo nhằm thực hiện mưu đồ chính trị, quân sự riêng của mình.
+ Thực trạng công tác can thiệp can thiệp nhân đạo quốc tế, trên cơ sở
phân tích một số vấn đề liên quan khi triển khai các hoạt động trên thực tế.
Đề tài cũng sẽ đề cập đến công tác can thiệp, cứu trợ nhân đạo của Việt Nam
và một số quốc gia trên thế giới. Đối với sự kiện lịch sử còn nhiều tranh cãi,
đề tài sẽ phân tích, đánh giá để chứng minh hành động Việt Nam đưa quân
vào Campuchia năm 1979 lật đổ Khme Đỏ là hành động can thiệp nhân đạo.
Trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động can thiệp, cứu trợ nhân đạo
quốc tế, tác giả đề tài sẽ đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nâng cao hơn nữa
hiệu quả hoạt động can thiệp, cứu trợ nhân đạo của Việt Nam và quốc tế.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, tác giả luôn dựa
trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng của chủ nghĩa nhân đạo Mark-

Lenin và tư tưởng nhân đạo Hồ Chí Minh. Do đề tài của luận văn còn khá
mới nên khi nghiên cứu, tác giả đã sử dụng phương pháp quan sát, phương


9
pháp miêu tả, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, cập nhật thông
tin, sự kiện để tiếp cận vấn đề.
5. Những đóng góp của luận văn.
- Về mặt chính trị:
Có thể làm tài liệu tham khảo cho việc bổ sung, hoàn thiện chính sách
nhân đạo của Đảng, trong đó có chính sách cứu trợ nhân đạo; làm sáng tỏ và
chỉ ra những vấn đề mới trong công tác tham mưu xây dựng chủ trương,
chính sách nhân đạo của Đảng ta, trong đó có công tác cứu trợ nhân đạo.
- Về mặt lý luận khoa học:
Làm sáng tỏ và phong phú thêm các quan điểm, lập trường khác nhau
liên quan đến việc nghiên cứu về vấn đề can thiệp nhân đạo quốc tế, từng
bước xây dựng và phát triển một học thuyết mới, chế định mới trong Luật
quốc tế hiện đại tại Việt Nam, đó là can thiệp nhân đạo quốc tế.
- Về mặt thực tiễn:
+ Trong công tác xây dựng thể chế : Luận văn có thể được dùng làm tài
liệu tham khảo cho việc hoàn thiện các văn bản QPPL điều chỉnh lĩnh vực
cứu trợ nhân đạo trong nước và quốc tế của Việt Nam.
+ Trong việc triển khai các hoạt động có liên quan: Các giải pháp mà
luận văn đưa ra có thể có mang lại một ý nghĩa nào đó trong việc tổ chức các
hoạt động cứu trợ nhân đạo trong nước và quốc tế trong bối cảnh Việt Nam
thường xuyên phải hứng chịu các thảm hoạ thiên tai, đặc biệt là khi Việt Nam
đã trở thành thành viên không thường trực của Hội đồng bảo an Liên hợp
quốc (Non permanent member of the U.N's Security Council) niên khoá
2008-2009 kể từ ngày 01/01/2008.
6. Bố cục của luận văn.

Căn cứ vào mục đích và phạm vi nghiên cứu của luận văn, ngoài các
phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung
luận văn được kết cấu thành 03 chương:


10
- Chương 1: Tổng quan về can thiệp nhân đạo quốc tế.
- Chương 2: Cơ sở thực tiễn, pháp lý của can thiệp nhân đạo quốc tế.
- Chương 3: Thực trạng can thiệp nhân đạo quốc tế- Một số giải pháp,
kiến nghị.

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ CAN THIỆP NHÂN ĐẠO QUỐC TẾ
Để tiếp cận các vấn đề khác nhau liên quan đến can thiệp nhân đạo, tác
giả đưa ra hai sự kiện sau đây làm tiền đề cho việc nghiên cứu xuyên suốt luận
văn.
Sự kiện thứ nhất: Vụ động đất tại Ấn Độ Dương năm 2004
(The 2004 Indian Ocean Earthquake)
Vào lúc 00 giờ 58 phút 53
giây (giờ GMT) tức 07 giờ 58
phút 53 giây (giờ địa phương)
ngày 26/12/2004, một trận động
đất mạnh 9,3 độ (trên thang độ
richter) đã xảy ra dưới đáy đại
dương thuộc đảo Sumatra
(Indonesia). Dư chấn mạnh của
trận động đất đã kích hoạt các đợt sóng thần (Tsunami) cao từ 10 đến 50m bất
ngờ đổ ập tàn phá nhiều quốc gia ven bờ Ấn Độ Dương từ Châu Á sang Châu
Phi. Đây là một trong những thảm hoạ thiên tai tồi tệ nhất xảy ra trong lịch sử
nhân loại để lại các ảnh hưởng nghiệm trọng về nhân mạng, kinh tế và môi

trường. Theo thống kê của Liên hợp quốc, có 186.983 người chết, 42.883
người mất tích, gần hai triệu người bị mất nhà cửa, tổng số thiệt hại ước tính
hàng trăm tỉ đô la. Các quốc gia bị thiệt hại nặng nhất là các nước: Indonesia,
Cảnh tan hoang tại trung tâm đảo Sumatra- Indonesia sau
khi bị Tsunami tấn công ngày 26/12/2004 (ảnh A.P)


11
khoảng 130 ngàn người; Srilanka, khoảng 35 ngàn người; Ấn Độ, khoảng 12
ngàn người; Thái Lan, khoảng 5 ngàn người [78].
Ngay sau khi thảm hoạ xảy ra, chính phủ các nước bị ảnh hưởng đã lập
tức tuyên bố tình trạng khẩn cấp (state of emergency). Cộng đồng quốc tế đã
nhanh chóng mở các chiến dịch cứu trợ khẩn cấp ồ ạt với quy mô lớn chưa
từng có trong lịch sử để cung cấp các nhu cầu tối cần thiết như nước sạch,
thực phẩm cho khoảng 5 triệu người bị ảnh hưởng trực tiếp. Phát biểu ngay
sau khi thảm hoạ xảy ra, Tổng thư ký Liên hợp quốc (lúc đó là ông Kofi
Annan) đã kêu gọi “toàn thế giới đoàn
kết, với trách nhiệm và tinh thần nhân
đạo hãy hướng về khu vực Ấn Độ
Dương”, đồng thời cảnh báo sự trậm
trễ trong việc đối phó với thảm hoạ
trên có thể sẽ làm nhân đôi số người bị
thiệt mạng vì đói rét, bệnh tật. Hưởng ứng lời kêu gọi của Tổng thư ký Liên
hợp quốc, các quốc gia, các tổ chức quốc tế đã nhanh chóng vào cuộc.
Australia là quốc gia có mức đóng góp viện trợ nhiều nhất với tổng số tiền lên
tới 1,99 tỷ USD, tiếp đó là Hoa Kỳ, 950 triệu USD; CHLB Đức, 660 triệu
USD; Nhật Bản, 500 triệu USD; Pháp, 302 triệu USD; Anh 140 triệu USD;
World Bank, 250 triệu USD [118]. Song song với việc cam kết viện trợ bằng
tiền mặt, quân đội một số nước như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Australia, CHLB
Đức, Canada đã được huy động tham gia trực tiếp vào công tác cứu trợ, phối

hợp với các lực lượng tại chỗ của các quốc gia bị nạn. Hoa Kỳ đã điều động cả
tầu sân bay với một lực lượng hùng hậu đang đồn trú tại Thái Bình Dương đến
khu vực Ấn Độ Dương, thiết lập một cầu hàng không đặc biệt làm điểm trung
chuyển, tiếp nhận và phân phát hàng hoá cứu trợ tới nhiều quốc gia bị ảnh
hưởng. Cho đến ngày nay, ba năm sau thảm hoạ động đất, sóng thần ở Ấn Độ
Máy bay vận tải của không quân Canada trở hàng cứu
trợ tới Indonesia (ảnh A.P)


12
Dương, nhiều vùng bị tàn phá vẫn chưa thể khắc phục xong những hậu quả
nặng nề mà thiên tai đã để lại.





Sự kiện thứ hai: Cuộc xung đột tại Darfur (Darfur conflict)
Darfur là một tỉnh ở phía Tây
Sudan có diện tích 493,180km
2
tiếp
giáp với CH Trung Phi, Libya, Chad.
Darfur có quy chế tự trị từ nhiều thế
kỷ nay nhưng vẫn trực thuộc Sudan.
Tại Darfur, mâu thuẫn giữa các
bộ tộc gốc Hồi giáo Arập là
Janjaweed (được chính phủ Sudan hậu thuẫn) và các bộ tộc theo đạo Cơ Đốc
tập hợp quanh Mặt trận giải phóng Sudan SLM
3

diễn ra gay gắt từ nhiều thập
kỷ nay. Cuộc chiến giữa hai phe này chính thức nổ ra vào ngày 26/ 02/2003.
Khác với cuộc nội chiến Sudan những năm cuối thập kỷ 80 (bắt nguồn từ
nguyên nhân tôn giáo), nguyên nhân đầu tiên làm bùng nổ cuộc xung đột hiện
nay tại Darfur xuất phát từ việc tranh
giành các nguồn tài nguyên sống
(quyền kiểm soát, khai thác các nguồn
nước, các mảnh đất để canh tác nông
nghiệp) để mưu sinh do hậu quả của
hạn hán, sa mạc hoá, dân số quá đông.

3
Sudanese Liberation Movement, do ông Minni Minnawi lãnh đạo. SLM là lực lượng ly khai đối
lập với chính phủ, được nhiều tổ chức quốc tế, nhiều quốc gia, trong đó có Hoa Kỳ, Chad và một số
nước láng giềng Châu Phi hậu thuẫn.
Bản đồ tỉnh Dafur- Sudan
Các trại tị nạn của người Sudan trải dài đến vô tận
dọc phía bên trong biên giới Sudan-Chad (ảnh AP)


13
Chính quyền Sudan bị tố cáo là thủ phạm chính, lợi dụng tình hình để kích
động sự hận thù và mâu thuẫn giữa hai bộ tộc trên. Khartoum
4
một mặt ngấm
ngầm ủng hộ người Hồi giáo gốc Arập Janjaweed, làm ngơ trước các cuộc
thảm sát diệt chủng của phe này nhằm vào Mặt trận giải phóng Sudan, mặt
khác tìm cách bưng bít tội ác diệt chủng bằng việc thủ tiêu báo chí, bắt bớ,
giết hại các nhà báo, phóng viên nước ngoài hoạt động đưa tin, cắt đứt mọi
thông tin liên lạc với bên ngoài, đặc biệt với thế giới phương Tây.

Trước các tội ác thảm sát, diệt chủng man dợ tại Darfur, Liên hợp quốc
và cộng đồng quốc tế, chủ yếu là Liên minh Châu phi đã có nhiều nỗ lực can
thiệp với nhiều mức độ khác nhau, hoà giải, thương lượng đến lên án, bao vây
cấm vận quân sự Tuy nhiên tất cả các nỗ lực đó đến nay đều không mang lại
hiệu quả. Chính quyền Khartoum tiếp tục ngăn cản các hoạt động cứu trợ nhân
đạo của cộng đồng quốc tế, từ chối cho phép Liên hợp quốc triển khai lực
lượng giữ gìn hoà bình tại Darfur. Theo các tổ chức nhân đạo quốc tế như Bác
sỹ thế giới, Uỷ ban chữ thập đỏ và trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế, nhiều nhân viên
của tổ chức này đã bị bắt cóc, thủ tiêu khi hoạt động tại Darfur. Theo báo cáo
thống kê của Liên hợp quốc, tính đến tháng 5/2007, cuộc xung đột tại Dafur
đã có khoảng 500 ngàn người thiệt mạng, 2,5 triệu người mất nhà cửa và phải
đi tị nạn tại các quốc gia lân cận, chủ yếu là Cộng hoà Chad [116].
Trước khủng hoảng nhân đạo đặc biệt nghiêm trọng đó, Liên hợp quốc
đã đi thêm một bước cứng rắn hơn với việc Hội đồng bảo an đã thông qua
Nghị quyết số 1706 ngày 31/8/2006 cho phép triển khai lực lượng giữ gìn hoà
bình tại Darfur với quân số 17.300 người, thay thế 7000 quân thuộc lực lượng
giữ gìn hoà bình của Liên minh Châu phi vốn được trang bị thô sơ, nghèo nàn
và luôn ở trạng thái bất động. Đáp lại, tổng thống Sudan Al- Bashir ngay lập
tức tuyên bố bác bỏ "nghị quyết sai trái" trên, coi đó là hành động chuẩn bị
xâm lược. Trong khi đó lãnh tụ SLM tuyên bố ủng hộ việc triển lực lượng giữ

4
Thủ đô của Sudan


14
gìn hoà bình của Liên hợp quốc tại Darfur, cáo buộc lực lượng giữ gìn hoà
bình của AU là không có vai trò gì.
Ngay ngày hôm sau (01/9/2006), quân
đội Sudan đã triển khai một lực lượng

hùng hậu tại Darfur. Ngày 05/9/2003,
chính phủ Sudan ra lệnh cho lực
lượng giữ gìn hoà bình của Liên minh
Châu phi phải rút hết khỏi Darfur vào cuối tháng 9. Trong khi A.U ủng hộ
việc U.N triển khai quân tại Darfur thì cũng là lúc Hoa Kỳ bất ngờ thay đổi
lập trường khi tuyên bố rằng A.U nên tiếp tục sứ mệnh của mình tại đó. Lý do
giải thích cho thái độ của Washington rất đơn giản: Thứ nhất, Hoa Kỳ đang
quá bận rộn và hầu như tập trung mọi sức lực cho cuộc chiến tại Iraq đang bị
xa lầy; Thứ hai, hơn ai hết, Hoa Kỳ hiểu rằng đất nước Sudan cằn cỗi, mênh
mông rộng lớn thiếu nước uống nhưng thừa dầu mỏ ấy đã có chủ từ lâu, đó
chính là người khổng lồ Trung Quốc, bạn hàng, nhà khai thác độc quyền dầu
mỏ duy nhất và cũng là nhà cung cấp vũ khí lớn nhất cho quân đội Sudan kể
từ cuối thập kỷ 80 [82]. Mối quan hệ khăng khít giữa Bắc Kinh và Khartoum
cũng dễ hiểu. Đối với Sudan: Thứ nhất, Khartoum phải dựa vào Bắc Kinh để
bảo đảm nguồn cung cấp vũ khí ổn định phục vụ cho cuộc chiến trong nước
và đối phó với nguy cơ chiến tranh có thể xảy ra bất kỳ lúc nào với những
quốc gia láng giềng thù địch (như Chad), đặc biệt trong bối cảnh Sudan bị
cộng đồng quốc tế cấm vận vũ khí; Thứ hai, Khartoum phải dựa vào Bắc Kinh
để được được che chở dưới cái ô an toàn, tránh các đòn trừng phạt trực tiếp
của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, ngăn chặn việc Hội đồng bảo an can
thiệp quân sự vào Darfur. Đối với Trung Quốc, yếu tố hấp dẫn duy nhất khiến
Bắc Kinh để mắt và hiện diện tại một nơi xa xôi đầy bất ổn như Sudan chính
là dầu mỏ. Từ trước khi cuộc xung đột Darfur bùng nổ, Trung Quốc đã luôn là
Tổng thư ký LHQ Ban Ki-moon tại thủ phủ El
Fasher của Darfur ngày 05/9/2007 (ảnh AP)


15
bạn hàng thương mại, quân sự gần như là duy nhất của Sudan. Sudan nằm
trong danh sách nhiều nước Châu Phi (khoảng 15 nước) mà Trung Quốc có

quan hợp tác chặt chẽ trong lĩnh vực khai thác dầu mỏ trong khuôn khổ chiến
lược ổn định và đa dạng hoá nguồn cung cấp năng lượng. Trong Báo cáo
chính trị đọc tại Đại hội Đảng cộng sản Trung Quốc lần thứ XII, Tổng bí thư
Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Hồ Cẩm Đào
xác định rõ: thực hiện tốt chiến lược ổn định và đa dạng hoá nguồn cung cấp
năng lượng để duy trì sự phát triển bền vững của nền kinh tế trước các nguy
cơ tiềm tàng có thể đe doạ sự gián đoạn nguồn cung cấp nhiên liệu. Chính
sách "ngoại giao dầu lửa" của Trung Quốc được triển khai từ đầu thập kỷ 90
đã "vươn vòi hút" tới các vùng đất cằn cỗi xa xôi nhất ở Châu Phi, đồng thời
biến lục địa này trở thành thị trường cung cấp vũ khí lạc hậu, bãi thải công
nghiệp lớn của Trung Quốc.
Sự bó tay của cộng đồng quốc tế đã làm tình hình tại Darfur ngày càng
thêm trầm trọng. Ngày 08/9/2006, Cao uỷ Liên hợp quốc về người tị nạn
U.N.H.C.F.R
5
, ông Antonio Guterres đã lên tiếng cảnh báo Darfur đang phải
đối mặt với "thảm hoạ nhân đạo" (humanitarian catastrophe). Ngày
12/9/2006, đặc phái viên của Liên minh Châu âu E.U ông Pekka Haavisto sau
chuyến thị sát tại khu vực chiến sự đã tố cáo: "quân đội Sudan đang ném bom
tàn sát dân thường tại Darfur" (Sudanese airforce is bombing civilians in
Darfur). Chương trình lương thực thế giới (FAO) cho biết khoảng 4,5 triệu
người dân tại Darfur và các tỉnh miền Tây Sudan đã bị cắt đứt nguồn tiếp tế
lương thực và đang cần được cứu trợ khẩn cấp. Yêu cầu về việc Liên hợp
quốc can thiệp khẩn cấp để ngăn chặn sự diệt chủng không chỉ đến từ chính
người dân Darfur, Sudan nói riêng mà còn từ phía người dân trên khắp thế
giới. Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban-ki-moon và người tiền nhiệm Kofi
Annan đã nhiều lần kêu gọi một hành động nhanh chóng nhằm vào

5
United Nations's High Commissioner For Refugees



16
Darfur Nhưng tiếc thay, tất cả vẫn chỉ là nhừng lời kêu gọi, hô hào từ bên
ngoài. Trong khi đó tại Darfur, hàng trăm dân thường vẫn tiếp tục bỏ mạng
mỗi ngày vì bom rơi đạn lạc, vì đói rét, bệnh tật
1.1. Một số thuật ngữ, khái niệm có liên quan:
1.1.1. Thiên tai:
Thiên tai (natural disaster) là thuật ngữ dùng để miêu tả hiện tượng tự
nhiên (như động đất, núi lửa, bão, lụt, sóng thần ) xảy ra vượt ngoài ý muốn
của con người, để lại những hậu quả nghiêm trọng về nhân mạng, tài sản và
môi trường. Thiên tai là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra khủng
hoảng, thảm hoạ nhân đạo. Trong thời gian gần đây thế giới đã chứng kiến rất
nhiều thiên tai nghiêm trọng. Theo cảnh báo của các tổ chức bảo vệ môi
trường, các thảm hoạ thiên tai sẽ còn tiếp tục xảy ra do sự thay đổi khí hậu,
đặc biệt là sự nóng dần lên của trái đất.
1.1.2. Xung đột vũ trang:
Xung đột vũ trang (armed conflict) là thuật ngữ dùng để chỉ tình trạng
có chiến tranh (war) giữa các quốc gia hay nội chiến (civil war) theo đó các
bên tham chiến xung đột sử dụng binh lính và các loại vũ khí, khí tài quân sự
nhằm mục đích trấn áp, đè bẹp sự kháng cự của đối phương.
1.1.3. Khủng hoảng nhân đạo:
1.1.3.1. Khái niệm.
Có nhiều khái niệm miêu tả khủng hoảng nhân đạo. Xét về mặt bản
chất, khủng hoảng nhân đạo là tình trạng tồi tệ mà một bộ phận lớn con người
phải chịu đựng do các nguyên nhân chủ quan hay khách quan gây ra. Theo
Mario Bettati, "khủng hoảng nhân đạo là sự xuống cấp trầm trọng về cuộc
sống của con người" [60].
Trước, trong và sau chiến tranh thế giới lần thứ II xảy ra, để miêu tả cảnh
tàn khốc của chiến tranh với hàng chục triệu chết vì nhiều nguyên nhân khác

nhau, hàng trăm triệu người trên khắp thế giới bị ảnh hưởng tiêu cực bởi cuộc


17
chiến, nhất là nhân dân các nước ở khu vực Châu Âu, Châu Á dưới ách cai trị
của phát xít Đức, Ý, Nhật, dẫn đến nạn đói, làn sóng tị nạn ồ ạt vượt khỏi sự
kiểm soát và khả năng giải quyết của các quốc gia. Trong bối cảnh khắc nghiệt
ấy của chiến tranh, thế giới thường dùng từ "thảm hoạ" (catastrophe) để miêu
tả mà chưa có ghi chép nào về việc sử dụng cụm từ "thảm họa nhân đạo" hay
"khủng hoảng nhân đạo" trong các văn kiện quốc tế hay trên các phương tiện
truyền thông, báo chí. Ông Bernard Kouchner
6
là người đầu tiên sử dụng thuật
ngữ "khủng hoảng nhân đạo" để miêu tả những gì ông được tận mắt chứng
kiến tại miền Nam Nigeria với cuộc chiến Biafran
7
khi hoạt động cứu trợ
trong lĩnh vực y tế với tư cách một bác sỹ. Ông Bernard Kouchner chính là
người đặt nền móng cho việc ra đời một học thuyết mới, học thuyết về can
thiệp nhân đạo, đồng thời cũng là một trong những người hoạt động nổi bật
nhất trong lĩnh vực nhân đạo trong những thập kỷ 60, 70, 80. Tổ chức bác sỹ
không biên giới, Tổ chức bác sỹ thế giới do ông đồng sáng lập ra đã có rất
nhiều đóng góp trong lĩnh vực cứu trợ nhân đạo.
1.1.3.2. Đặc điểm của khủng hoảng nhân đạo:
Khủng hoảng nhân đạo có một số đặc điểm sau:
+ Khủng hoảng nhân đạo là một phạm trù mang tính chất chính trị – xã hội.
+ Khủng hoảng nhân đạo xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng
chủ yếu là do thiên tai, chiến tranh giữa các quốc gia hoặc nội chiến (gọi
chung là xung đột vũ trang). Trong hai nguyên nhân trên thì xung đột vũ trang
là chủ yếu. Ví dụ như khủng hoảng nhân đạo do nội chiến tại: Biafran- Nigeria

từ 1967-1970, Somalia năm 1993, Rwanda năm 1994, Sebrenica năm 1995,

6
Đương kim Ngoại trưởng Pháp từ ngày 18/5/2007 trong chính phủ cánh hữu do Thủ tướng Francois Fillon
đứng đầu. Trước đó, ông B. Kouchner từng giữ nhiều trọng trách chính trị trong các chính phủ tiền nhiệm
như: Bộ trưởng Bộ Y tế, Quốc vụ khanh phụ trách vấn đề việc làm, Đại diện cấp cao của LHQ tại Kosovo từ
1999-2001.
7
Biafran là một tỉnh miền Nam Nigeria, tự tuyên bố độc lập với tên gọi Cộng hoà Biafan tồn tại từ 1967-1970
và được một số quốc gia nhỏ ở Châu Phi công nhận. Do đơn phương tuyên bố độc lập nên chính phủ Nigeria
đã dùng vũ lực trấn áp gây ra cuộc nội chiến làm 2 triệu người thiệt mạng.


18
CHDC Công-Gô từ 1997 đến năm 2001, Haiti năm 2004 và Darfur hiện nay
(từ 2003).
+ Khủng hoảng nhân đạo xảy ra trên một bình diện rộng, tác động trực tiếp
đến một khu vực lãnh thổ, một cộng đồng dân cư (ở quy mô nhỏ như một tỉnh,
một miền; ở phạm vi rộng hơn là một quốc gia, một khu vực)
+ Những nhân tố gây ra khủng hoảng nhân đạo thường xảy ra nhanh (như
động đất, sóng thần, tai nạn hạt nhân ) để lại hậu quả rất khó khắc phục được
trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên khủng hoảng nhân đạo cũng có thể xảy ra
chậm hơn như trong trường hợp xung đột vũ trang. Do cuộc chiến ác liệt giữa
các bên thường kéo dài, chỉ khi nào bên kia trấn áp được hoàn toàn đối
phương sau đó mới tiến hành các hành động tàn sát ở quy mô lớn mang tính
diệt chủng (genocide). Ở Rwanda, mâu thuẫn sâu sắc đã đẩy hai nhóm sắc tộc
là Hutu và Tutsis vào cuộc xung đột trong nhiều thập kỷ liên tiếp làm nhiều
chết và mất tích. Cuộc thảm sát diệt chủng thực sự bắt đầu xảy ra trên quy mô
lớn sau sự kiện tổng thổng nước này bị ám sát
8

. Cuộc diệt chủng ở Rwanda
năm 1994 đã làm uy tín của Liên hợp quốc bị tổn thương nghiêm trọng. Một
số nước lớn, đặc biệt là Hoa Kỳ đã bị chỉ trích nặng nề vì sự vô trách nhiệm
khi "nhắm mắt khoanh tay" để mặc cho cảnh tàn sát, diệt chủng xảy ra
9
.
+ Đối tượng chịu tác động của khủng hoảng nhân đạo chủ yếu là con người
và những yếu tố gắn liền với cuộc sống con người như: môi trường, khí hậu,
hệ sinh thái…
+ Khủng hoảng nhân đạo thường để lại hậu quả vượt quá khả năng khắc
phục của người dân và chính phủ quốc gia bị tác động.

8
Ngày 06/4/1994, tổng thống Rwanda Juvénal Habiarimana đã bị sát hại khi chiếc máy bay chở ông
bị bắn hạ khi đang đáp xuống sân bay quốc tế tại thủ đô Kigali. Sự kiện này đã châm ngòi làm nổi
bùng các cuộc tàn sát diệt chủng làm hơn 500 ngàn người thuộc cả hai sắc tộc Hutu và Tutsis thiệt
mạng, chủ yếu là người Tutsis
9
Phát biểu tại thủ đô Kigali ngày 03/3/2002 nhân chuyến thăm một số nước Châu phi để triển khai
dự án phòng chống AIDS do quỹ mang tên ông tài trợ, cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton phát biểu
lấy làm hối tiếc và ân hận sâu sắc vì đã không làm gì để ngăn chặn cuộc diệt chủng Rwanda khi còn
cầm quyền.


19
+ Khủng hoảng nhân đạo gây tác động to lớn đến mọi mặt đời sống xã hội
của một cộng đồng dân cư, một khu vực, hay một quốc gia.
+ Việc khắc phục hậu quả của khủng hoảng nhân đạo thường do một chủ
thể bên ngoài đối tượng chịu tác động trực tiếp tiến là chính.
+ Thông thường khi khủng hoảng nhân đạo xảy ra, các vùng lãng thổ, các

quốc gia thường không thể tự mình đứng ra khắc phục hậu quả mà thường kêu
gọi sự can thiệp, giúp đỡ của một quốc gia khác hay cộng đồng quốc tế. Lý do
là vì việc khắc khủng hoảng nhân đạo, thảm hoạ nhân đạo đòi hỏi một nguồn
nhân lực, tài chính to lớn mà một chủ thể chịu tác động không có khả năng tự
mình khắc phục giải quyết.



1.1.4. Thảm hoạ nhân đạo:
Thảm hoạ nhân đạo “humanitarian catastrophe” là một thuật ngữ có
đặc điểm gần giống như khủng hoảng nhân đạo, tuy nhiên thảm hoạ nhân đạo
được sử dụng để chỉ khủng hoảng nhân đạo ở mức độ tồi tệ, để lại những hậu
quả nghiêm trọng về nhân mạng, tài sản, môi trường trên một địa bàn rộng.
Khi trận động đất gây ra sóng thần ở Ấn Độ Dương cuối năm 2004 khiến gần
200 ngàn người chết và mất tích ở một loạt quốc gia ven bờ Ấn Độ Dương từ
Á sang Phi, thế giới thường được báo chí đưa tin và nhắc lại nhiều lần cụm từ
“thảm hoạ nhân đạo” để miêu tả thảm hoạ thiên tai tàn khốc đó.
1.1.5. Nghĩa vụ can thiệp, quyền can thiệp.
Nghĩa vụ can thiệp (duty to intervene), quyền can thiệp (righ to
intervene) là hai thuật ngữ dùng (trong nhiều trường hợp thay thế cho nhau) để
miêu tả mức độ cần thiết của việc can thiệp nhân đạo như một yêu cầu khách
quan, cấp thiết, chính đáng thuộc về nghĩa vụ của các chủ thể có điều kiện,
khả năng thực hiện công việc can dự vào các hoạt động trợ giúp đối tượng


20
chịu ảnh hưởng của khủng hoảng, thảm hoạ nhân đạo. Gần đây, nghĩa vụ can
thiệp, quyền can thiệp thường được sử dụng để biện minh cho các chiến dịch
can thiệp quân sự nhằm "mục đích nhân đạo" do một số quốc gia (chủ yếu là
Mỹ, Anh, Pháp thực hiện).

1.1.6. Cứu trợ nhân đạo:
Cứu trợ nhân đạo (humanitarian response) là thuật ngữ miêu tả hoạt
động cụ thể do một chủ thể tiến hành trong tổng thể các biện pháp nhằm thực
hiện việc can thiêp vào nơi có khủng hoảng, thảm hoạ nhân đạo. Cứu trợ nhân
đạo thường do các cá nhân của các tổ chức nhân đạo quốc tế trực tiếp triển
khai thực hiện như: các nhân viên y tế, nhân viên cứu trợ (rescue workers).
1.1.7. Can thiệp nhân đạo:
Can thiệp nhân đạo (tiếng Anh là humanitarian intervention, tiếng Pháp
là intervention humanitaire) là thuật ngữ mang tính chính trị- xã hội dùng để
chỉ hành động của một chủ thể can dự vào bên trong lãnh thổ một quốc gia
nhằm mục đích hỗ trợ, khắc phục khủng hoảng, thảm hoạ nhân đạo do xung
đột vũ trang, thiên tai, dịch bệnh và các thảm hoạ khác gây ra.
Bernard Kouchner là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ can thiệp nhân
đạo khi ông kêu gọi sự trách nhiệm của cộng đồng quốc tế trong việc cứu trợ
các nạn nhân trong cuộc chiến Biafran ở miền Nam Nigeria. Theo ông B.
Kouchner, "can thiệp nhân đạo là hành động ra tay cứu giúp trước các thảm
cảnh của con người" [54, trang 7]. Trong cuộc chiến Biafran, sự im lặng, thờ
ở của cộng đồng quốc tế khiến khủng hoảng nhân đạo xảy ra là lý do chính
khiến ông quyết định vận động đứng ra thành lập Tổ chức bác sỹ không biên
giới MSF
10
, và sau đó là Tổ chức Bác sỹ thế giới
11
. Còn nhiều quan điểm khác
nhau xung quanh cách hiểu, giải thích, bản chất của khái niệm " Can thiệp
nhân đạo".

10
Médecins Sans Frontier- Tổ chức Bác sỹ không biên giới, thành lập năm 1971
11

Médecins du monde- Tổ chức Bác sỹ thế giới do Bernard Kouchner đồng thành lập năm 1980

×