Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC VIẾT TẮT 2
DANH MỤC BẢNG BIỂU 3
LỜI MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI 6
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN KỸ THƯƠNG VIỆT NAM 28
CHƯƠNG III GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG KỸ THƯƠNG
VIỆT NAM 64
KẾT LUẬN 86
Đinh Thị Hồng Hạnh Lớp: Ngân hàng 49B
Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC VIẾT TẮT
TMCP Thương mại cổ phần
NHNN Ngân hàng nhà nước
CVTD Cho vay tiêu dùng
TCTD Tổ chức tín dụng
NHTM Ngân hàng thương mại
TSĐB Tài sản đảm bảo
Đinh Thị Hồng Hạnh Lớp: Ngân hàng 49B
Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC BẢNG BIỂU
MỤC LỤC 1
DANH MỤC VIẾT TẮT 2
DANH MỤC BẢNG BIỂU 3
LỜI MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI 6
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN KỸ THƯƠNG VIỆT NAM 28
CHƯƠNG III GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG KỸ THƯƠNG
VIỆT NAM 64
KẾT LUẬN 86
Đinh Thị Hồng Hạnh Lớp: Ngân hàng 49B
Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Sau 20 năm đổi mới kể từ Đại hội Đảng VI năm 1986, đất nước ta đã và
đang đạt được những thành tựu to lớn , đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế. Đời
sống vật chất và tinh thần của người dân Việt nam được nâng cao, nhu cầu mua
sắm và tiêu dùng do đó cũng tăng lên nhanh chóng.Nắm được xu hướng đó, các
ngân hàng thương mại Việt Nam đã tích cực phát triển hoạt động cho vay tiêu
dùng nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh cũng như góp phần vào sự phát triển
chung của nền kinh tế.
Là một trong những ngân hàng cổ phần hàng đầu Việt Nam , ngân hàng
Kĩ Thương đang hướng tới trở thành ngân hàng bán lẻ thành công nhất. Chính
v́ vậy việc mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng là rất cần thiết trong giai
đoạn hiện nay khi mà sự cạnh tranh của các ngân hàng diễn ra gay gắt.
Sau thời gian thực tập tại Trung tâm phát triển tín dụng cá nhân - Ngân
hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam, em nhận thấy Ngân hàng đã
có những quan tâm tới hoạt động cho vay tiêu dùng và hoạt động này đang
dần trở thành hoạt động lớn của Ngân hàng. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu
và đưa ra các giải pháp để phát triển nghiệp vụ cho vay tiêu dùng sẽ có ý
nghĩa về phương diện lý luận và thực tiễn đối với sự đa dạng hóa hoạt động
của ngân hàng.Vì vậy nên em chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả cho vay tiêu
dùng tại ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam” làm đề tài
nghiên cứu của mình.Mục đích của đề tài này nhằm tìm hiểu hơn nữa về lý
thuyết thuộc đề tài và bước đầu vận dụng vào thực tiễn.Đề tài này gồm 3
chương:
Chương I Những vấn đề chung về hiệu quả hoạt động cho vay tiêu
dùng của ngân hàng thương mại
Chương II Thực trạng hiệu quả cho vay tiêu dùng tại ngân hàng
Đinh Thị Hồng Hạnh Lớp: Ngân hàng 49B
4
Chuyên đề tốt nghiệp
TMCP Kỹ thương Việt Nam
Chương III Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay tiêu dùng tại Ngân
hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam
Phạm vi của đề tài là nghiên cứu hoạt động cho vay tại Ngân hàng
TMCP Kỹ thương Việt Nam trong khoảng từ 3 đến 5 năm trở lại đây. Dựa
vào cơ sở lý thuyết cũng như tình hình thực tiễn, bài viết sẽ đưa ra một số ý
kiến nhằm phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của thầy giáo
PGS.TS Lê Đức Lữ cũng như các cô,chú,anh,chị tại Trung tâm tín dụng cá
nhân – Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam để em có thể hoàn thành báo
cáo này.
Đinh Thị Hồng Hạnh Lớp: Ngân hàng 49B
5
Chuyên đề tốt nghiệp
Chương I TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại
1.1.1. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại.
Quan hệ vay mượn hay còn gọi là quan hệ tín dụng đã xuất hiện từ rất xa
xưa khi có sự phân chia giữa quyền sở hữu và phân công lao động xã hội.
Trong giai đoạn sản xuất hàng hóa chưa phát triển, quan hệ tín dụng xuất hiện
khi những người nông dân, thợ thủ công nghèo phải vay mượn giai cấp thống
trị những tư liệu sản xuất để đảm bảo cuộc sống.Về sau, khi sản xuất hàng
hóa đã phát triển, sự khác nhau về đặc điểm tuần hoàn và luân chuyển vốn
giữa các chủ thế trong nền kinh tế đã được giải quyết bằng con đường tín
dụng.
Vì vậy, tín dụng là quan hệ vay mượn hay quan hệ sử dụng vốn của lẫn
nhau dựa trên nguyên tắc hoàn trả và sự tin tưởng.
Đinh Thị Hồng Hạnh Lớp: Ngân hàng 49B
6
Chuyên đề tốt nghiệp
Cũng theo nghĩa đó, tín dụng ngân hàng là mối quan hệ tín dụng giữa
ngân hàng và phần còn lại của nền kinh tế (các doanh nghiệp, cá nhân, các
ngân hàng khác, Chính phủ). Cụ thể, ngân hàng vừa là người đi vay, vừa là
người cho vay với đối tượng cụ thể là tiền.
Khái niệm: Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại (NHTM) là
việc ngân hàng nhường quyền sử dụng vốn cho đối tượng cần vay vốn trong
một khoảng thời gian nhất định. Sau một thời gian, NHTM có quyền thu hồi
cả vốn và lãi.
Cho vay không chỉ là hoạt động đặc trưng của NHTM mà còn mang lại
nguồn thu chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng lợi nhuận. Mỗi món vay dù ít
hay nhiều đều được thẩm định kỹ lưỡng và chỉ được đáp ứng khi khách hàng
thỏa mãn mọi điều kiện do NHTM quy định. “Giá cả” của mỗi khoản vay có
thể đo lương bằng lãi suất, thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao. Căn cứ vào
những tiêu thức khác nhau, có thể phân chia hoạt động này thành nhiều loại.
1.1.2. Khái niệm cho vay tiêu dùng
Cách đây khoảng 20 năm về trước "Cho vay tiêu dùng" còn là khái niệm
"khá mới" đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng (TCTD) Việt Nam,
nhưng chỉ một vài năm trở lại đây, hoạt động cho vay tiêu dùng đã trở thành
mục tiêu của nhiều TCTD, nhất là các TCTD ngoài Nhà nước. Cùng với sự
phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, đời sống của nhân dân đã được cải thiện
đáng kể, nhu cầu chi tiêu phục vụ đời sống ngày càng cao, đó là điều kiện
thuận lợi cho cho vay tiêu dùng phát triển. Với tốc độ phát triển kinh tế mạnh
mẽ như hiện nay mở ra thị trường cho vay tiêu dùng vô cùng rộng lớn và đầy
tiềm năng.
Các nghiệp vụ cho vay của ngân hàng có thể được chia làm nhiều loại,
nếu căn cứ vào mục đích sử dụng tiền vay thì cho vay có 2 loại là cho vay tiêu
dùng và cho vay để sản xuất kinh doanh:
Đinh Thị Hồng Hạnh Lớp: Ngân hàng 49B
7
Chuyên đề tốt nghiệp
Cho vay tiêu dùng là nghiệp vụ trong đó ngân hàng là người cho vay,
người đi vay là các cá nhân, hộ gia đình trên nguyên tắc người đi vay cam kết
hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định nhằm giúp người tiêu
dùng sử dụng hàng hóa, dich vụ trước khi họ có khả năng chi trả, tạo điều
kiện cho họ hưởng mức sống cao hơn.
Bên cạnh đó, cho vay để sản xuất kinh doanh là các khoản tài trợ của
ngân hàng cho doanh nghiệp, hộ gia đình, tổ chức trong nền kinh tế để sản
xuất tạo ra sản phẩm cho xã hội.Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng rất đa
dạng, chủ yếu vay với mục đích mua nhà, du học, mua xe hơi v.v…
1.2 Đặc điểm hoạt động cho vay tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng được hiểu là hình thức tài trợ cho mục đích chi tiêu
của cá nhân, hộ gia đình. Các khoản cho vay tiêu dùng là nguồn tài chính
quan trọng giúp người tiêu dùng có thể trang trải các nhu cầu trong cuộc sống
như nhà ở, phương tiện đi lại, tiện nghi sinh hoạt, học tập, du lịch, y tế…
trước khi họ có đủ khả năng về tài chính để hưởng thụ. Do đó, cho vay tiêu
dùng có những đặc điểm riêng khác với tín dụng ngân hàng nói chung:
Khách hàng vay là cá nhân và các hộ gia đình. Do vậy nên việc
chứng
minh tài chính thường khó. Nếu như các doanh nghiệp có bảng cân đối
kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh để chứng minh nguồn thu nhập và chi
tiêu của mình thì các cá nhân vay tiêu dùng muốn chứng minh tài chính cùa
mình thường phải dựa vào tiền lương, sự suy đoán chứ không có bằng chứng
rõ ràng.
Quy mô món vay nhỏ nhưng số lượng món vay lớn
Đối tượng của các khoản cho vay tiêu dùng là các cá nhân và hộ gia
đình. Nhu cầu vay của cá nhân và hộ gia đình chủ yếu phụ thuộc vào thu nhập
của họ.Thông thường những khoản cho vay tiêu dùng có quy mô nhỏ, đối với
Đinh Thị Hồng Hạnh Lớp: Ngân hàng 49B
8
Chuyên đề tốt nghiệp
cho vay bất động sản quy mô có thể lớn hơn nhưng vẫn không thể bằng cho
vay kinh doanh hay các khoản cho vay khác. Đó là do giá trị của các hàng hóa
tiêu dùng thường không quá lớn, hay khách hàng chỉ vay để bổ sung thêm vào
số tiền mà họ đang tích lũy nhưng còn thiếu, hoặc do những yêu cầu về hạn
chế rủi ro mà ngân hàng thường không cho vay với số tiền lớn đối với khách
hàng có mục đích tiêu dùng, nhất là đối với trường hợp vay không có tài sản
đảm bảo. Tuy nhiên tổng số lượng các khoản cho vay tiêu dùng lại lớn bởi vì
nhu cầu vay tiêu dùng ngày càng tăng một cách thường xuyên, liên tục.
Ngày nay, khi mà thu nhập của người dân ngày một nâng cao, trình độ
dân trí càng tăng thì nhu cầu vay tiêu dùng của người dân càng tăng mạnh
phục vụ nhu cầu sinh hoạt và cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống, mức
hưởng thụ.
Đối với các ngân hàng thương mại thì quy trình xét duyệt cho vay tiêu
dùng ít phức tạp hơn so với cho vay các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh,
nguyên nhân chủ yếu là do các khoản cho vay tiêu dùng có quy mô nhỏ hơn
nhiều so với cho vay sản xuất kinh doanh. Do đó tại các ngân hàng thương
mại thì quyền cho vay đối với khách hàng cho vay tiêu dùng chủ yếu do nhân
viên tín dụng khách hàng quyết định có sự phê duyệt của trưởng, phó
phòng.Trong khi đó, thì đối với các khoản vay sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp, quy mô món vay lớn hơn thì chỉ có ban giám đốc mới được
quyền phê duyệt cho khoản vay.
Lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn so với cho vay khác
Các khoản cho vay tiêu dùng thường là những khoản tín dụng mang lại
nhiều rủi ro nhất đối với các ngân hàng. Nguyên nhân đầu tiên là do lãi suất
áp dụng cho vay tiêu dùng là lãi suất cứng nhắc trong khi đó những khoản cho
vay kinh doanh hiện nay thường áp dụng lãi suất thả nổi theo thị trường.
Chính vì vậy một khi có sự tăng lên trong chi phí huy động vốn của các
Đinh Thị Hồng Hạnh Lớp: Ngân hàng 49B
9
Chuyên đề tốt nghiệp
ngân hàng thì các ngân hàng sẽ gặp rủi ro lãi suất trong cho vay tiêu dùng.
Ngoài ra nguồn trả nợ của các khoản cho vay tiêu dùng phụ thuộc chủ yếu
vào thu nhập của người vay, nên nếu người vay gặp phải sự cố bất ngờ như
là ốm đau, tai nạn, mất việc hoặc chết thì nhân viên ngân hàng sẽ rất khó
thu hồi nợ. Mặt khác, các cá nhân lại dễ dàng giữ kín các thông tin cần phải
trình bày hơn so với các tổ chức kinh doanh khác bởi vì các tổ chức này
phải gửi kèm theo các đơn xin vay mọi giấy tờ chứng nhận tài chính đã
được kiểm toán.
Mặt khác, do quy mô của các món vay tiêu dùng nhỏ nhưng số lượng các
khoản vay lại lớn, số lượng khách hàng đông nên ngân hàng phải mất nhiều
thời gian và sử dụng một đội ngũ nhân viên khá đông cho công việc cho vay,
từ khâu tiếp khách hàng, nhận hồ sơ, thẩm định khách hàng, giải ngân, theo
dõi khách hàng cho đến việc thu hồi nợ. Vì thế, chi phí của ngân hàng gồm cả
chi phí về thời gian và nhân lực cho việc phục vụ cho vay tiêu dùng là không
nhỏ.
Do chi phí để cho vay cao, và rủi ro của khoản cho vay lớn nên lãi suất
áp dụng trong cho vay tiêu dùng thường cao hơn lãi suất các khoản cho vay
khác.
1.3 Phân loại cho vay tiêu dùng
1.3.1 Căn cứ theo phương thức hoàn trả
Căn cứ vào phương thức hoàn trả, cho vay tiêu dùng được chia làm 3
loại:
1.3.1.1 Cho vay tiêu dùng trả góp
Đây là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó người đi vay trả nợ (gồm số
tiền gốc và lãi) cho ngân hàng nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định đối với
những mặt hàng có giá trị lớn hoặc do thu nhập của người đi vay không đủ
khả năng thanh toán hết một lần số nợ vay.Đối với loại cho vay tiêu dùng này,
Đinh Thị Hồng Hạnh Lớp: Ngân hàng 49B
10
Chuyên đề tốt nghiệp
ngân hàng thường chú ý tới một số vấn đề cơ bản sau đây:
Loại tài sản được tài trợ:
Ngân hàng thường muốn tài trợ cho những tài sản có thời gian sử dụng
lâu dài hoặc có giá trị lớn, với những tài sản như vậy, người tiêu dùng sẽ được
hưởng những tiện ích từ chúng trong một thời gian dài, khách hang sẽ có thiện
chí trả nợ hơn.
Sồ tiền trả trước:
Thông thường ngân hàng yêu cầu người đi vay phải thanh toán trước một
phần giá trị tài sản cần tài trợ ( tối thiểu là từ 30% - 40% giá trị hang hóa dịch
vụ ), số còn lại ngân hàng sẽ cho vay. Điều này một phần giúp ngân hàng hạn
chế rủi ro, mặt khác tạo cho người đi vay có trách nhiệm hơn với tài sản mình
định mua bởi họ cũng đã đóng góp một phần số tiền của mình vào trong đó.
Khi khách hàng không trả được nợ, trong nhiều trường hợp ngân hàng sẽ phải
phát mại tài sản để thu hồi nợ. Hầu hết các tài sản đã qua sử dụng đều bị giảm
giá trị cho nên số tiền trả trước có vai trò vô cùng quan trọng giúp ngân hàng
hạn chế rủi ro.
Số tiền trả trước nhiều hay ít phụ thuộc:
- Loại tài sản: Đối với các loại tài sản có mức độ giảm giá nhanh thì số
tiền trả trước nhiều và ngược lại, đối với các loại tài sản có mức độ giảm giá
chậm thì số tiền trả trước ít hơn.
- Thị trường tiêu thụ tài sản sau khi sử dụng: yếu tố này rất quan trọng.
Nếu đó là tài sản thuộc loại dễ bán thì số tiền trả trước sẽ ít hơn loại tài sản
khó bán sau khi sử dụng.
- Môi trường kinh tế
- Năng lực tài chính của người đi vay
Chi phí khoản vay
Là số tiền người đi vay trả cho ngân hàng trong việc sử dụng vốn.Chi phí
Đinh Thị Hồng Hạnh Lớp: Ngân hàng 49B
11
Chuyên đề tốt nghiệp
này bao gồm lãi vay và các chi phí khác có liên quan.Khoản chi phí này phải
đủ lớn để bù đắp các chi phí mà ngân hàng bỏ ra như chi phí huy động vốn,
chi phí quản lý… đồng thời đảm bảo mang lại lợi nhuận thỏa đáng cho ngân
hàng.
Điều khoản thanh toán:
- Số tiền thanh toán mỗi định kỳ phù hợp về khả năng thu nhập, chi tiêu
của khách hàng. Số tiền này có thể được tính bằng một trong các phương
pháp sau :
Phương pháp lãi gộp: là phương pháp thường được áp dụng trong cho
vay tiêu dùng trả góp. Tiền trả hàng năm được tính theo công thức sau:
C + I
T =
N
Với I = C x i x n
Trong đó: T là số tiền phải trả nợ cho ngân hàng mỗi kỳ hạn
I là số lãi vay mà khách hàng phải trả cho ngân hàng
n là số kỳ hạn
i là lãi suất cho vay mỗi kỳ hạn
Phương pháp lãi đơn: số vốn gốc phải trả từng kỳ được tính đều nhau,
còn lãi phải trả được tính dựa trên số dư nợ còn lại. Ta có công thức:
T
(K)
= T
V
+ T
L(K)
Trong đó:
T
V
= C/ n
Với T
(K)
: Số tiền thanh toán ở kỳ k
T
V
: Vốn gốc thanh toán ở mỗi kỳ hạn
C : vốn gốc
Đinh Thị Hồng Hạnh Lớp: Ngân hàng 49B
12
Chuyên đề tốt nghiệp
N : số kỳ hạ thanh toán tiền vay
T
L(K)
: lãi khách hàng phải trả trong kỳ k
i : lãi suất cho vay mỗi kỳ hạn
Phương pháp hiện giá: theo phương pháp này tiền vay được thanh toán
đều nhau ở các kỳ hạn và tính theo công thức sau:
C x I x (1 +i)
n
T =
(1+ i)
n
- 1
- Giá trị của tài sản tài trợ không được thấp hơn số tiền tài trợ chưa được
thu hồi.
- Kỳ hạn trả nợ phải thuận lợi cho việc trả nợ của khách hàng nhưng
không nên quá dài vì nếu quá dài, giá trị của tài sản tài trợ sẽ bị giảm mạnh và
việc thu hồi nợ có thể gặp rắc rối.
1.3.1.2 Cho vay tiêu dùng phi trả góp
Cho vay tiêu dùng phi trả góp là khoản vay ngắn hạn của cá nhân và hộ
gia đình để đáp ứng nhu cầu tiền mặt tức thời hoặc mua hàng hóa có giá trị
không lớn và được thanh toán một lần khi khoản vay đáo hạn. Phần lớn các
khoản vay này được dùng để chi trả cho các chuyến du lịch, tiền viện phí,
mua đồ dùng guia đình, sửa chữa ô tô, nhà ở.
Tiền gốc và lãi được thanh toán như sau:
- Tiền gốc( C) được thanh toán một lần vào cuối hạn cho vay
- Tiền lãi mỗi kỳ ( C
K
) được thanh toán đều vào mỗi kỳ:
C
K
= C x i
Với I là lãi suất cho vay mỗi kỳ hạn
1.3.1.3 Cho vay tiêu dùng tuần hoàn
Đinh Thị Hồng Hạnh Lớp: Ngân hàng 49B
13
Chuyên đề tốt nghiệp
Cho vay tiêu dùng tuần hoàn là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó
ngân hàng cho phép khách hàng vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn,
theo một hạn mức tín dụng bằng cách sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành sec
được phép thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai. Theo phương thức này, trong
thời hạn được thỏa thuận trước, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm
được từng kỳ, khách hàng được Ngân hàng cho phép vay và trả nợ nhiều kỳ
một cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng.Nếu chi vượt quá hạn mức,
ngân hàng sẽ ngừng cung cấp dịch vụ và có các hình thức phạt tương ứng.
1.3.2 Căn cứ theo mục đích vay
Căn cứ theo mục đích vay có thể chia cho vay tiêu dùng thành 2 loại:
1.3.2.1 Cho vay tiêu dùng cư trú (residential morage loan):
Cho vay tiêu dùng cư trú là các khoản cho vaynhằm tài trợ cho nhu cầu
xây dựng, mua sắm hoặc cải tạo nhà ở của cá nhân, hộ gia đình.
1.3.2.2 Cho vay tiêu dùng không cư trú (nonresidential morage loan):
Cho vay tiêu dùng không cư trú là các khoản cho vay phục vụ nhu cầu
cải thiện đời sống như mua sắm phương tiện, đồ dùng, du lịch, học hành hoặc
giải trí…
1.3.3 Căn cứ vào biện pháp bảo đảm tiền vay
Căn cứ vào biện pháo bảo đảm tiền vay, cho vay tiêu dùng chia làm 2
loại: cho vay có tài sản đảm bảo và cho vay không có tài sản đảm bảo
1.3.3.1 Cho vay tiêu dùng có tài sản đảm bảo
Cho vay tiêu dùng có tài sản đảm bảo là cho vay tiêu dùng mà tài sản
đảm bảo thường là bất động sản, động sản( tàu, thuyền, ô tô…) hình thành từ
vốn vay hoặc tài sản thuộc quyền sở hữu của khách hàng trước khi vay vốn
ngân hàng. Tài sản đảm bảo làm tăng tính an toàn cho khoản vay vì ngân
hàng có thể tạo áp lực buộc khách hàng phải trả nợ, nếu trong trường hợp
Đinh Thị Hồng Hạnh Lớp: Ngân hàng 49B
14
Chuyên đề tốt nghiệp
khách hàng không thể trả được nợ thì ngân hàng có thể phát mại tài sản để
giảm bớt tổn thất cho ngân hàng.
1.3.3.2 Cho vay tiêu dùng không có tài sản đảm bảo
Cho vay tiêu dùng không có tài sản đảm bảo là loại cho vay tiêu dùng
không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba.Việc
cho vay ở đây chỉ dựa vào uy tín của bản than khách hàng là chính.
So với cho vay có TSĐB thì cho vay không có TSĐB không yêu cầu
khách hàng phải có TSĐB, do đó trường hợp khách hàng không có TSĐB
hoặc TSĐB giá trị không lớn thì vẫn có thể vay được tiền của ngân hàng.Tuy
nhiên hình thức cho vay này có thể dẫn đến khách hàng không quyết tâm trả
nợ cho ngân hàng và có thể gây thiệt hại cho ngân hàng.
1.3.4 Căn cứ vào nguồn gốc trả nợ
Căn cứ vào nguồn gốc khoản nợ thì cho vay tiêu dùng được chia làm 2
loại: cho vay tiêu dùng gián tiếp và cho vay tiêu dùng trực tiếp
1.3.4.1 Cho vay tiêu dùng gián tiếp ( indirect consumer loan )
Cho vay tiêu dùng gián tiếp là khoản cho vay tiêu dùng được thực hiện
thông qua việc mua lại các khế ước hay chứng từ nợ phát sinh ( do những
công ty bán lẻ chịu hàng hóa và dịch vụ cho người tiêu dùng) và còn trong
hạn thanh toán.
Cho vay tiêu dùng gián tiếp được thực hiện theo sơ đồ sau:
Đinh Thị Hồng Hạnh Lớp: Ngân hàng 49B
15
Chuyên đề tốt nghiệp
(1) Ngân hàngvà công ty bán lẻ ký kết hợp đồng mua bán nợ. Trong hợp
đồng, ngân hàng thường đưa ra các điều kiện về đối tượng khách hàng được
bán chịu, số tiền bán chịu tối đa và các loại tài sản bán chịu…
(2) Công ty bán lẻ và người tiêu dùng ký kết hợp đồng mua bán chịu
hàng hóa. Thông thường người tiêu dùng phải trả trước một phần giá trị tài
sản.
(3) Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng
(4) Công ty bán lẻ bán bộ chứng từ bán chịu hàng hóa cho ngân hàng
(5) Ngân hàng thanh toán tiền cho công ty bán lẻ
(6) Người tiêu dùng thanh toán tiền trả góp cho ngân hàng
Với hình thức cho vay này nó có những ưu điểm là đồng thời có lợi cho
cả ngân hang, người tiêu dùng cũng như nhà bán lẻ
- Các ngân hàng thương mại dễ dàng mở rộng và tăng doanh số cho vay,
tiết kiệm và giảm được các chi phí khi cho vay. Ngân hàng không cần phải
mở rộng các chi nhánh của ngân hàng nhiều mà vẫn có thể bán được các sản
phẩm của mình tới khách hàng thông qua các công ty bán lẻ.
- Nếu ngân hàng thương mại quan hệ tốt với các doanh nghiệp bán lẻ,
thì hình thức cho vay tiêu dùng gián tiếp có mức độ rủi ro thấp hơn cho vay
Đinh Thị Hồng Hạnh Lớp: Ngân hàng 49B
NGÂN HÀNG CÔNG TY BÁN
LẺ
NGƯỜI TIÊU DÙNG
(4 )
(5 )
(2 )
(3 )
(6 )
(1 )
16
Chuyên đề tốt nghiệp
tiêu dùng trực tiếp.
Tuy nhiên, hình thức cho vay này có những hạn chế là:
- Khi cho vay, các ngân hàng thương mại không tiếp xúc trực tiếp với
khách hàng (người vay vốn) nên gây khó khăn trong việc kiểm tra, giám sát
cả trước, trong và sau khi vay vốn.
- Kỹ thuật và quy trình nghiệp vụ với hình thức cho vay này có tính phức
tạp cao do phỉa qua thêm một bên trung gian giữa ngân hang và khách hang là
các doanh nghiệp bán lẻ.
1.3.4.2 Cho vay tiêu dùng trực tiếp(Direct consumer loan)
Cho vay tiêu dùng trực tiếp là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó ngân
hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay phải trực
tiếp hoàn trả nợ cho ngân hàng.
Sơ đồ cho vay tiêu dùng trực tiếp như sau:
(1) Ngân hàng và người tiêu dùng ký kết hợp đồng vay vốn
Đinh Thị Hồng Hạnh Lớp: Ngân hàng 49B
CÔNG TY BÁN LẺ
NGƯỜI TIÊU DÙNG
NGÂN HÀNG
(3 )
(2 )
(4)
(5)
(1)
17
Chuyên đề tốt nghiệp
(2) Người vay vốn trả trước một phần số tiền mua tài sản cho công ty
bán lẻ
(3) Ngân hàng thanh toán số tiền còn thiếu cho công ty bán lẻ
(4) Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng
(5) Người tiêu dùng thanh toán nợ vay cho ngân hàng
Hình thức này có những ưu điểm sau:
Ngân hàng có thể sử dụng triệt để trình độ, kiến thức, kinh nghiệm và kỹ
năng của cán bộ tín dụng, do đó các khoản cho vay này thường có chất lượng
cao hơn so với cho vay thông qua doanh nghiệp bán lẻ;
* Cán bộ tín dụng khi cho vay đặc biệt coi trọng đến chất lượng các
khoản vay, song doanh nghiệp bán lẻ hàng hoá, dịch vụ thường coi trọng
nhiều đến việc tăng doanh số bán hàng hơn là chất lượng các khoản vay, hơn
nữa các doanh nghiệp thường đưa ra quyết định "tín dụng" một cách nhanh
chóng, nên dẫn đến tình trạng có những khoản tín dụng cấp ra không chính
đáng, ngược lại có thể từ chối đối với những khách hàng tốt của mình;
* Hình thức cho vay tiêu dùng trực tiếp linh hoạt hơn hình thức cho vay
gián tiếp, vì khi quan hệ trực tiếp giữa ngân hàng với khách hàng sẽ xử lý tốt
các phát sinh, hơn nữa có khả năng làm thoả mãn quyền lợi cho cả ngân hàng
và khách hàng;
* Do đối tượng khách hàng rất rộng do đó việc đưa ra các dịch vụ, tiện
ích mới là rất thuận lợi, đồng thời là hình thức để tăng cường quảng bá hình
ảnh của ngân hàng đến với khách hàng.
1.4 Hiệu quả cho vay tiêu dùng
1.4.1 Quan điểm về hiệu quả cho vay tiêu dùng
“ Hiệu quả hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại được hiểu là
việc đáp ứng nhu cầu vốn vay của khách hàng phù hợp với yêu cầu phát triển
kinh tế xã hội của đất nước, phù hợp với chiến lược phát triển của ngân hàng
Đinh Thị Hồng Hạnh Lớp: Ngân hàng 49B
18
Chuyên đề tốt nghiệp
thương mại và mang lại hiệu quả trong sử dụng vốn của khách hàng”
Có thể nói hiệu quả cho vay là sự thống nhất lợi ích giữa khách hàng,
ngân hàng và nền kinh tế quốc dân. Đối với khách hàng là việc sử dụng vốn
vay đúng mục đích; với ngân hàng là việc thu nợ đúng hạn, giảm tối đa rủi ro
tín dụng và phù hợp với mục tiêu phát triển của ngân hang; với xã hội, hoạt
động cho vay phải gắn liền với mục tiêu phát triển chung của nền kinh tế.
Hiệu quả cho vay là điều kiện tiên quyết đối với sự tồn tại và phát triển
của ngân hàng vì hoạt động cho vay là hoạt động mang lại chủ yếu lợi nhuận
cho ngân hàng, nhưng lại tiềm ẩn nhiều rủi ro đe dọa hoạt động kinh doanh
của ngân hàng. Do vậy, việc nâng cao hiệu quả cho vay trong hoạt động kinh
doanh của ngân hàng là mối quan tâm lớn của mỗi ngân hàng.
1.4.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng
1.4.2.1 Dư nợ cho vay tiêu dùng trong tổng dư nợ
Đây là một trong những chỉ tiêu cơ bản và quan trọng nhất để đánh giá
mức độ phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng. Chỉ tiêu này
mang tính chất thời điểm phản ánh số tiền cho vay tiêu dùng mà Ngân hàng
đã giải ngân cho khách hàng nhưng chưa thu hồi được do khoản vay chưa đến
hạn thanh toán hoặc khoản vay đang bị nợ quá hạn.
Mặc dù bao gồm cả những khoản vay quá hạn nhưng chỉ tiêu Dư nợ nói
chung và Dư nợ cho vay tiêu dùng nói riêng rất được các ngân hàng quan
tâm. Chỉ tiêu này cho biết quy mô tín dụng trung và dài hạn của một ngân
hàng và thông qua việc so sánh giữa các thời kỳ khác nhau ngân hàng sẽ đánh
giá được tốc độ phát triển cho vay tiêu dùng của ngân hàng mình.
Từ chỉ tiêu dư nợ cho vay tiêu dùng, ta cũng có thể tính toán và đánh
giá việc phát triển của cho vay tiêu dùng thông qua một chỉ tiêu khác là:
Tỷ trọng dư nợ cho vay tiêu dùng = Dư nợ cho vay tiêu dùng/Tổng dư
nợ
Đinh Thị Hồng Hạnh Lớp: Ngân hàng 49B
19
Chuyên đề tốt nghiệp
Chỉ tiêu này cho biết vị trí và vai trò của cho vay tiêu dùng trong tổng
thể hoạt động tín dụng của Ngân hàng.Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ tín
dụng trung và dài hạn đang chiếm một vị trí ngày càng quan trọng trong hoạt
động của ngân hàng, và để có được điều đó thì chắc hẳn chất lượng cho vay
tiêu dùng của ngân hàng đang được nâng cao.
1.4.2.2 Nợ quá hạn trong tổng dư nợ cho vay tiêu dùng
Nợ quá hạn là các khoản nợ đến kỳ hạn trả nợ hoặc hết hạn cho vay vốn
cộng thêm thời gian gia hạn (nếu có) mà khách hàng vẫn không trả nợ cả gốc
lẫn lãi (hoặc gốc, hoặc lãi). Chỉ tiêu nợ quá hạn trong tổng dư nợ cho vay tiêu
dùng phản ánh chất lượng tín dụng cho vay tiêu dùng, mức độ rủi ro trong cho
vay tiêu dùng của ngân hàng, bao gồm số dư nợ quá hạn và tỷ trọng nợ quá
hạn trong tổng dư nợ cho vay tiêu dùng. Trong hoạt động cho vay, một ngân
hàng không thể tránh khỏi việc gặp phải nợ quá hạn (không thu hồi được gốc
và lãi vay từ khách hàng khi đến hạn thanh toán), điều này có thể do khách
hàng cố tình không thanh toán khi đến hạn hoặc do tình hình tài chính của
khách hàng không lành mạnh dẫn đến việc trả nợ không đầy đủ hoặc không
đúng hạn. Do đó hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng được coi là có
hiệu quả khi có tỷ lệ nợ quá hạn nằm trong giới hạn cho phép và phải thấp
hơn kỳ trước. Để làm được điều đó thì ngân hàng cần phải thẩm định kỹ các
điều kiện trước khi quyết định cho vay, khi đã cho vay phải giám sát và theo
dõi khách hàng vay trong suốt thời gian sử dụng vốn vay nhằm đốc thúc
khách hàng thanh toán đầy đủ, đúng hạn.
1.4.2.3 Lợi nhuận từ hoạt động cho vay tiêu dùng
Nhìn vào chỉ tiêu này chúng ta có thể thấy được hiệu quả và mức độ phát
triển hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng qua các năm, các thời kỳ từ
đó ngân hàng sẽ đưa ra chính sách nhằm tăng lợi nhuận cho ngân hàng trên cơ
sở hợp lý hóa chi phí và nâng cao chất lượng tín dụng. Chỉ tiêu này bao gồm
Đinh Thị Hồng Hạnh Lớp: Ngân hàng 49B
20
Chuyên đề tốt nghiệp
việc xem xét mức tăng lợi nhuận từ cho vay tiêu dùng và mức tăng lợi nhuận
đó trong tổng lợi nhuận từ hoạt động tín dụng. Thế nên nếu chỉ xem xét tốc độ
tăng lợi nhuận từ cho vay tiêu dùng mà đưa ra kết luận về mức độ phát triển
hoạt động cho vay tiêu dùng thì chưa chính xác vì điều này còn phụ thuộc vào
tốc độ tăng tổng lợi nhuận từ hoạt động tín dụng. Do đó, mức độ phát triển
hoạt động cho vay của một ngân hàng sẽ được phản ánh chính xác thông qua
tốc độ tăng lợi nhuận từ hoạt động cho vay tiêu dùng trong tổng lợi nhuận từ
hoạt động tín dụng.
Đóng góp của cho vay tiêu dùng = Lợi nhuận từ cho vay TD/Tổng lợi
nhuận
Chỉ tiêu này đánh giá tầm quan trọng của cho vay tiêu dùng trong hoạt
động của ngân hàng.Tỷ lệ này cao chứng tỏ lợi nhuận cho vay tiêu dùng mang
lại lớn, chứng tỏ việc mở rộng quy mô cho vay tiêu dùng đạt hiệu quả.
1.4.2.4 Thị phần cho vay tiêu dùng của ngân hàng
Chỉ tiêu này cho biết khả năng cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường cũng
như cho biết mức độ phát triển về mặt lượng của ngân hàng. Trong khi so
sánh với các đối thủ cạnh tranh cùng thị trường, ngân hàng có thể đưa ra
những đánh giá chính xác về khả năng, tiềm lực của mình cũng như của đối
thủ, về khả năng mở rộng và chiếm lĩnh thị trường cho vay tiêu dùng của
ngân hàng trong tương lai. Từ đó ngân hàng đưa ra các chính sách và hành
động cụ thể để ngày càng phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng của mình
trên thị trường này, đủ sức cạn tranh đối với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp
của ngân hàng.
1.4.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả cho vay tiêu dùng
1.4.3.1 Các nhân tố thuộc về ngân hàng
Chính sách cho vay của ngân hàng
Yếu tố góp phần không nhỏ tới thành công của cho vay tiều dùng là các
Đinh Thị Hồng Hạnh Lớp: Ngân hàng 49B
21
Chuyên đề tốt nghiệp
chính sách, quy định về cho vay của ngân hàng. Đó là chính sách chăm sóc
khách hàng trước và sau khi cho vay, các quy định về lãi suất và phí tín dụng
cao hay thấp, có linh hoạt và phù hợp với thu nhập hiện có của người dân hay
không, các quy định về thời hạn tín dụng và kỳ hạn nợ, tài sản đảm bảo,
phương thức giải ngân và thanh toán, thủ tục xin vay vốn phức tạp hay đơn
giản, thời gian thẩm định hồ sơ vay vốn.
Một yếu tố khác cũng quan trọng không kém là định hướng phát triển
của ngân hàng, nó quyết định đến việc ngân hàng sẽ tập trung nguồn lực vào
hoạt động nào. Những định hướng này được ban lãnh đạo ngân hàng, Hội
đồng quản trị (đối với NHTM cổ phần) đưa ra dựa trên tình hình cụ thể mỗi
ngân hàng trong điều kiện kinh tế xã hội cụ thể. Nếu cho vay tiêu dùng không
nằm trong chính sách cho vay của ngân hàng hoặc chủ trương của ngân hàng
không đẩy mạnh phát triển cho vay tiêu dùng thì các khách hàng khó có thể
vay được những khoản tiền đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mình. Chỉ trừ những
trường hợp ngân hàng thấy chắc chắn sẽ thu hồi được nợ từ những khách
hàng có uy tín. Nghĩa là ở đây, chính sách cho vay này không khuyến khích
người dân vay vốn đáp ứng nhu cầu sinh hoạt nên họ sẽ gặp khó khăn trong
quá trình vay vốn. Ngược lại, khi ngân hàng xác định cho vay tiêu dùng là
một hướng để phát triển kinh doanh thì ngân hàng sẽ đề ra chính sách để đẩy
mạnh hoạt động này.
Vì vậy, định hướng phát triển của mỗi NHTM ảnh hưởng rất lớn đến
hoạt động cho vay tiêu dùng. Tuy nhiên, vào từng thời kỳ kinh tế khác nhau,
sự tác động của định hướng phát triển sẽ khác nhau.
Khả năng về vốn của ngân hàng
Cho vay tiêu dùng nằm trong danh mục cho vay của ngân hàng và
thường chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng dư nợ.Tuy nhiên, để phát triển hoạt
Đinh Thị Hồng Hạnh Lớp: Ngân hàng 49B
22
Chuyên đề tốt nghiệp
động cho vay tiêu dùng ngân hàng phải đảm bảo dành một lượng vốn đủ lớn
để cung cấp cho các khoản cho vay tiêu dùng khi số lượng và quy mô các
khỏan cho vay tiêu dùng tăng lên.Hơn nữa, ngân hàng là loại hình kinh doanh
mà tâm lý của khách hàng có ảnh hưởng rất lớn đến việc ra quyết định của họ.
Một ngân hàng có tiềm lực, có uy tín, có vị thế lớn trên thị trường sẽ giúp
khách hàng an tâm hơn khi giao dịch. Do đó, với một ngân hàng có quy mô
vốn lớn thì đó là một lợi thế của ngân hàng trong cuộc cạnh tranh giành thị
phần với các ngân hàng cùng thị trường.
Trình độ nghiệp vụ của đội ngũ nhân viên ngân hàng
Do sản phẩm của các ngân hàng là những sản phẩm mang tính chất dịch
vụ vì thế trong lĩnh vực ngân hàng nhân tố con người đóng một vai trò hết sức
quan trọng . Trong quá trình cho vay thì việc tiếp xúc giữa khách hàng với
nhân viên ngân hàng diễn ra thường xuyên và liên tục, do đó vai trò của nhân
viên tín dụng là hết sức quan trọng trong việc tạo ấn tượng và quan hệ tốt với
khách hàng. Đây là cơ sở để ngân hàng phát triển và mở rộng thị trường cho
vay tiêu dùng của ngân hàng.Hơn nữa, trong điều kiện cạnh tranh hiện nay thì
khách hàng sẽ chọn những ngân hàng nào có chất lượng phục vụ của nhân
viên tốt hơn vì sự khác biệt giữa dịch vụ của các ngân hàng là không lớn.Thế
nên để có thể phát triển cho vay tiêu dùng thì ngân hàng phải chú trọng đến
việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực cả về trình độ, nhân cách, đạo đức
nghề nghiệp. Một đội ngũ nhân viên yêu nghề, giỏi chuyên môn nghiệp vụ,
tinh thần trách nhiệm cao sẽ góp phần nâng cao vị thế của ngân hàng và thúc
đẩy hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng ngày càng phát triển. Trình
độ, thái độ cán bộ tín dụng của ngân hàng cũng là yếu tố mang tính quyết
định thành công của cho vay tiêu dùng. Cán bộ tín dụng cần có trình độ
chuyên môn tốt thì mới thẩm định chính xác khách hàng và dự án vốn, từ đó
đưa ra các quyết định đúng đắn, nhiệt tình giúp đỡ, chi bảo khách hàng các
Đinh Thị Hồng Hạnh Lớp: Ngân hàng 49B
23
Chuyên đề tốt nghiệp
thủ tục cần thiết.
Công nghệ thông tin trong ngân hàng và khả năng quản lý
Hiện nay, việc ứng dụng triển khai và phát triển các thành tựu của công
nghệ thông tin trong lĩnh vực ngân hàng cũng đang diễn ra nhanh chóng và
rộng khắp.Các ngân hàng đang áp dụng nhiều công nghệ hiện đại trong việc
quản lý và phát triển các sản phẩm mới của ngân hàng.Vì vậy, nhân tố công
nghệ là một trong các yếu tố quyết định đến sự thành bại của một ngân hàng
trong cuộc chiến tranh giành giật thị trường với các ngân hàng khác.Nếu ngân
hàng có công nghệ hiện đại sẽ dấn tới việc giải quyết các thủ tục được nhanh
chóng, chính xác, giảm bớt các thủ tục rườm rà cho khách hàng và việc quản
lý hồ sơ khách hàng cũng được thuận tiện hơn. Từ đó, khả năng tìm hiểu cũng
như phục vụ khách hàng sẽ tốt hơn, ngân hàng sẽ tạo dựng được niềm tin và
nâng cao uy tín đối với khách hàng, góp phần thu hút khách hàng đến với
ngân hàng, tạo cơ sở vững chắc để phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng
trong ngân hàng.
1.4.3.2 Các nhân tố không thuộc về ngân hàng
Môi trường vĩ mô
Môi trường vĩ mô bao gồm các tác nhân nằm ngoài sự quản lý của Ngân
hàng nhưng lại ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới toàn bộ hoạt động của
Ngân hàng. Những thay đổi và xu thế của môi trường vĩ mô có thể tạo ra
những cơ hội hoặc gây ra những hiểm họa đối với Ngân hàng.
Có 6 yếu tố môi trường vĩ mô:
•Môi trường dân số bao gồm các nhân tố về: tỉ lệ tăng dân số, những thay
đổi về
cấu trúc dân số, xu thế di chuyển địa dư dân cư, chính sách dân số của
vùng, khu vực hay quốc gia. Đây là một yếu tố quan trọng, bởi nó không chỉ
tạo thành nhu cầu và kết cấu nhu cầu của dân cư về dịch vụ ngân hàng mà còn
Đinh Thị Hồng Hạnh Lớp: Ngân hàng 49B
24
Chuyên đề tốt nghiệp
là căn cứ trong việc hình thành hệ thống phân phối của ngân hàng.
•Môi trường địa lý: Các vùng địa lý khác nhau có những đặc điểm rất
khác nhau về điều kiện giao thông, sông núi, tài nguyên cũng như phong tục
tập quán, cách thức giao tiếp, nhu cầu về hàng hóa cũng như sản phẩm
dịch vụ tài chính ngân hàng.
•Môi trường kinh tế: Môi trường kinh tế bao gồm những yếu tố ảnh
hưởng đến khả
năng thu nhập, thanh toán, chi tiêu và nhu cầu về vốn của dân cư. Khi
nền kinh tế suy thoái, thu nhập giảm sút, lạm phát và thất nghiệp tăng cao,
môi trường kinh doanh không thuận lợi cũng làm ảnh hưởng tới các kế hoạch
kinh doanh của ngân hàng. Mặt khác khi nền kinh tế hưng thịnh, hoạt động
sản xuất kinh doanh phát triển sẽ là cơ hội tốt để thực hiện các hoạt động kinh
doanh ngân hàng.
•Môi trường văn hóa, xã hội
Con người sống trong bất kì xã hội nào thì đều mang trong mình những
giá trị văn hóa riêng. Bản sắc văn hòa là khác nhau do những giá trị chuẩn
mực khác nhau. Thông qua những giá trị chuẩn mực này nó ảnh hưởng đến
hành vi ra quyết định của khách hàng. Từ đó dẫn đến nhu cầu cho vay tiêu
dùng của khách hàng tại ngân hàng. Văn hóa có thể ảnh hưởng đến đạo đức
của người đi vay. Như vậy có thể làm giảm hoăc tăng rủi ro tín dụng trong
hoạt động cho vay tại ngân hàng. Khi trình độ văn hóa của người dân tăng lên
thì nhu cầu cải thiện mức sống cũng tăng lên. Người dân có thể tiếp cận dễ
dàng hơn với các dịch vụ ngân hàng.Điều này dẫn đến nhu cầu vay vốn của
khách hàng tăng.
•Môi trường chính trị, luật pháp: Do đặc thù của ngành Ngân hàng
luôn mang tính
rủi ro cao và gây đổ vỡ có tính chất dây chuyền, kinh doanh Ngân hàng
Đinh Thị Hồng Hạnh Lớp: Ngân hàng 49B
25