Tải bản đầy đủ (.pdf) (207 trang)

Niềm tin vào Đạo Phật của người cao tuổi tại huyện Duy Tiên - tỉnh Hà Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.13 MB, 207 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA TÂM LÝ HỌC
*******************

CHU THỊ THƠ

NIỀM TIN VÀO ĐẠO PHẬT CỦA NGƯỜI CAO
TUỔI TẠI HUYỆN DUY TIÊN - TỈNH HÀ NAM

Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 60.31.80


LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC






HÀ NỘI: 2009

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA TÂM LÝ HỌC
*******************

CHU THỊ THƠ

NIỀM TIN VÀO ĐẠO PHẬT CỦA NGƯỜI CAO


TUỔI TẠI HUYỆN DUY TIÊN - TỈNH HÀ NAM

Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 60.31.80


LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC


Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS: NGUYỄN HỒI LOAN


HÀ NỘI: 2009


MỤC LỤC
Phần mở đầu Trang
1. Lý do chọn đề tài………………………………………………… 1
2. Mục đích nghiên cứu………………………………………………… 2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu…………………………………………………… 2
4. Đối tượng, khách thể nghiên cứu………………………………………… 3
5. Phạm vi nghiên cứu 3
6. Giả thuyết nghiên cứu 3
7. Phương pháp nghiên cứu 3
Phần 2: Nội dung nghiên cứu
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu 4
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu niềm tin 4
1.1.1 Một số nghiên cứu về niềm tin tôn giáo trên thế giới 4
1.1.2 Một số nghiên cứu niềm tin tôn giáo ở Việt Nam 6

1.2 Các lý thuyết về tôn giáo và niềm tin tôn giáo 6
1.3 Các khái niệm cơ bản 11
1.3.1 Khái niệm về tôn giáo 11
1.3.2 Khái niệm về Đạo Phật 15
1.3.2.1 Sơ lược về sự ra đời của Đạo Phật 15
1.3.2.2 Các giáo lý cơ bản của Đạo Phật 17
1.3.2.3 Các lễ nghi của Đạo Phật 20
1.3.2.4 Tổ chức nhân sự của Đạo Phật 21
1.3.2.5 Quá trình du nhập Phật giáo vào Việt Nam 23
1.3.3. Khái niệm về niềm tin, niềm tin tôn giáo 24
1.3.4 Người cao tuổi và một số đặc điểm tâm lý của người cao tuổi 37
1.3.4.1 Khái niệm người cao tuổi 37
1.3.4.2 Một số tâm lý của người cao tuổi 37
1.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển niềm tin của
người cao tuổi 39
Chương 2: Tổ chức nghiên cứu 42
2.1 Vài nét về khách thể và địa bàn nghiên cứu 43
2.2 Phương pháp nghiên cứu 43
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 43
2.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 44
2.2.3 Phương pháp quan sát 47
2.2.4 Phương pháp phỏng vấn sâu 48
2.2.5 Phương pháp thống kê toán học 48
2.3 Triển khai nghiên cứu 49
Chương 3: Kết quả nghiên cứu về niềm tin vào Đạo Phật của người cao
tuổi tại huyện Duy Tiên – Tỉnh Hà Nam 50
3.1 Nhận thức của NCT về một số giá trị cơ bản trong giáo lý Đạo Phật 50
3.1.1 Nhận thức của NCT về ý nghĩa của Đạo Phật trong cuộc sống 50
3.1.2 Nhận thức của NCT về sự tồn tại của một thế giới sau khi chết 61
3.1.3 Nhận thức của NCT về con đường giải thoát để đến với trạng thái

Niết Bàn 68
3.1.4 Nhận thức của NCT về Luận Nhân quả của Đạo Phật 76
3.1.5 Nhận thức của NCT về Kiếp Luân hồi trong Đạo Phật 81
3.1.6 Nhận thức của NCT về quan niệm Nhân duyên của Đạo Phật 85
3.2 Biểu hiện về mặt tình cảm của NCT đối với Đạo Phật 87
3.2.1 Thể hiện trong không gian chùa chiền 87
3.2.2 Thể hiện trong sinh hoạt hàng ngày 97
3.3 Niềm tin vào Đạo Phật của NCT biểu hiện ở mặt hành vi 100
3.3.1 Niềm tin biểu hiện qua hành vi vô thứcc 100
3.3.2 Niềm tin biểu hiện qua hành vi thờ cúng 103
3.3.3 Niềm tin biểu hiện qua hành vi giáo dục con cháu 115
3.3.4 Niềm tin biểu hiện qua hành vi sám hối 119
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 124
1. Kết luận 124
2. Kiến nghị 126
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Phiếu trưng cầu ý kiến dành cho NCT và trung niên
Phụ luc 2: Phiếu trưng cầu ý kiến dành cho thanh niên
Phụ lục 3: Phiếu bảng hỏi phỏng vấn sâu
Phụ lục 4: Kết quả xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS
Phụ lục 5: Hồ sơ phỏng vấn sâu























CÁC KÍ TỰ VIẾT TẮT

Người cao tuổi: NCT
Điểm trung bình: ĐTB


1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phật giáo là một tôn giáo lớn ở Việt Nam và rất gần gũi với ngƣời dân
Việt. Theo thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ (trích từ Cơ sở văn hoá Việt
Nam - GS.VS. Trần Ngọc Thêm), số phật tử xuất gia vào khoảng 3 triệu ngƣời,
số thƣờng xuyên đến chùa tham gia vào các phận sự vào khoảng 10 triệu ngƣời,
số chịu ảnh hƣởng của Phật giáo cũng khoảng 30 - 40 triệu ngƣời. Nhƣ vậy có
tới 1/3 dân số Việt Nam chịu ảnh hƣởng của Đạo Phật, dù là tín đồ hay không
phải là tín đồ thực sự của Đạo Phật thì đa phần ngƣời Việt đều có tình cảm với

Đạo Phật, nhất là ngƣời cao tuổi, lấy giáo lý, những điều răn dạy của Phật làm lẽ
sống, niềm tin của cuộc đời họ. Và đâu đâu trên đất nƣớc Việt Nam cũng bắt gặp
những ngôi Đình, Chùa vừa cổ kính, vừa khang trang hiện đại, thể hiện niềm tin
cũng nhƣ lòng thành của ngƣời dân đối với những vị thần của Đạo Phật. Ảnh
hƣởng của Đạo Phật là rất lớn đến đời sống của ngƣời Việt từ trong tâm thức cho
đến hành động. Ngƣời già thì lấy những điều răn dạy của Phật để giáo dục con
cháu, sống sao cho nhân nghĩa, tích đức tạo phúc cho thế hệ sau. Các cụ luôn
tâm niệm rằng “trần sao âm vậy”, vì thế mà các cụ luôn cố gắng sống sao cho
đúng mực, luôn hƣớng con cháu làm những điều đúng đắn, để các vị thần trên
cao không quở mắng, trách phạt. Và cũng để sau khi chết không bị đày đoạ, bị
trừng phạt ở dƣới âm tào địa phủ. Đạo Phật không chỉ góp phần điều chỉnh tƣ
duy, ý thức, hành vi của con ngƣời, mà còn góp phần tạo nên sự gắn bó, liên kết
giữa những tín đồ hay những ngƣời không phải là tín đồ thực sự trong quá trình
thực hiện hành vi thờ cúng, cầu khấn…Bên cạnh những mặt tích cực mà Đạo
Phật đem lại còn rất nhiều hạn chế nhƣ là tạo ra các hiện tƣợng mê tín dị đoan,
buôn thần bán thánh, dựa vào chùa chiền để tƣ lợi cá nhân…, làm tốn rất nhiều
thời gian, tiền bạc của ngƣời dân. Thậm chí có những ngƣời có niềm tin mù
quáng do bị lợi dụng gây ảnh hƣởng xấu đến sức khoẻ, hạnh phúc gia đình, tính
mạng con ngƣời.

2
Nhìn chung khi càng về già, con ngƣời thƣờng có xu hƣớng gắn bó với đời
sống tâm linh. Có thể khi còn trẻ họ xông pha trên mọi lĩnh vực, không tin vào
thần thánh, ma quỷ, nhƣng khi bƣớc vào tuổi già thì đa phần tâm lý của họ đều
hƣớng về cội nguồn đời sống tâm linh, thích đi thăm viếng các đền chùa, di tích
lịch sử Đôi khi họ sợ khi phải nghĩ đến cái chết, vì thế mà họ thƣờng đi đền,
chùa để xin thần thánh trên cao ban phƣớc cho đƣợc sống lâu, hay mong cho con
cháu mạnh khoẻ, làm ăn phát đạt. Có rất nhiều lý do để ngƣời cao tuổi tìm đến
Đạo Phật, nhƣng nhìn chung họ mong muốn có một cuộc sống an nhàn về thể
xác, bình an về tâm hồn Đó là niềm tin của ngƣời cao tuổi vào Đạo Phật.

Trên thực tế chƣa có nhiều công trình nghiên cứu đặc điểm tâm lý của
ngƣời già .Vì vậy qua việc tìm hiểu niềm tin vào Đạo phật của ngƣời già, chúng
ta sẽ nghiên cứu đƣợc đặc điểm tâm lý tuổi già, để qua đó nắm đƣợc tâm lý
chung của lứa tuổi này.
Trong các công trình nghiên cứu trong nƣớc, chƣa có nhiều công trình
nghiên cứu về niềm tin vào Đạo phật của ngƣời già nói chung và chƣa có đề tài
nghiên cứu nào nghiên cứu niềm tin vào Đạo phật của già ở huyện Duy Tiên -
Hà Nam
Từ những lý do trên đã thúc đẩy chúng tôi nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề:
“Niềm tin vào Đạo Phật của ngƣời cao tuổi tại huyện Duy Tiên- Tỉnh Hà Nam”.
2. Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ thực trạng niềm tin vào Đạo Phật của ngƣời cao tuổi tại huyện Duy
Tiên- Tỉnh Hà Nam.
- Trên cơ sở đó đƣa ra đề xuất, kiến nghị nhằm phát huy những yếu tố tích cực
của niềm tin của ngƣời cao tuổi vào Đạo Phật ở Hà Nam nói riêng và ngƣời cao
tuổi nói chung.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài, trong đó đƣa ra đƣợc những khái niệm cơ
bản: Tôn giáo, niềm tin và cấu trúc của niềm tin, niềm tin tôn giáo, đặc điểm của

3
niềm tin tôn giáo và cấu trúc của niềm tin tôn giáo, khái niệm về Đạo Phật, cấu
trúc tâm lý của niềm tin trong Đạo Phật, ngƣời cao tuổi và đặc điểm tâm lý của
ngƣời cao tuổi…
- Nghiên cứu thực trạng của niềm tin vào Đạo Phật của ngƣời cao tuổi.
- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và nghiên cứu thực tiễn đƣa ra kết luận, kiến
nghị.
4. Đối tượng, khách thể nghiên cứu
- Đối tƣợng: Tìm hiểu niềm tin của ngƣời cao tuổi vào Đạo Phật.
- Khách thể nghiên cứu: Ngƣời cao tuổi tại huyện Duy Tiên - Tỉnh Hà Nam.

5. Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn đối tƣợng nghiên cứu: Chỉ nghiên cứu niềm tin vào Đạo Phật thể hiện
ở niềm tin giáo lý, các hình thức thờ cúng và sự cầu khấn.
- Giới hạn khách thể:
+ Khách thể chính là 200 ngƣời cao tuổi (không phải là tín đồ của tôn giáo nào)
của huyện Duy Tiên, Tỉnh Hà Nam, từ tuổi 55 (nữ) và 60 (nam) trở đi,
+ Khách thể phụ: 50 ngƣời trung niên + 50 ngƣời thanh niên phân bố tại các xã
Yên Bắc, Bạch Thƣợng, Chuyên Ngoại, Yên Nam và thị trấn Hoà Mạc.
6. Giả thuyết nghiên cứu
Phần lớn ngƣời cao tuổi của huyện Duy Tiên – Tỉnh Hà Nam đều có niềm
tin vào Đạo Phật thể hiện ở sự nhận thức các giáo lý cơ bản của đạo Phật, thể
hiện ở tình cảm tích cực đối với đạo Phật và biểu hiện ở mặt ý chí, hành động.
Niềm tin này ảnh hƣởng tích cực đến lối sống, hành vi ứng xử, suy nghĩ…của
con ngƣời
7. Phương pháp nghiên cứu
- Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu.
- Phƣơng pháp điều tra bằng bảng hỏi (Ankét).
- Phƣơng pháp quan sát.
- Phƣơng pháp phỏng vấn sâu.
- Phƣơng pháp thống kê toán học

4

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài.
1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Một số nghiên cứu về niềm tin tôn giáo trên thế giới.
- Socrates (470-399 TCN), cho rằng không tồn tại một thế giới hƣ ảo nhƣ tôn
giáo vẫn đƣa ra (Thiên đƣờng). Ông bác bỏ những vị thần truyền thống của dân
tộc mình và tìm cho mình một Thƣợng đế riêng thể hiện ở trong lƣơng tâm, còn

thần linh, theo ông, đƣợc bắt nguồn từ chính tâm hồn và sự chấp nhận của con
ngƣời trong cuộc sống và cái chết [2,Tr.14].
- Gustav Theodor Fechner (1801- 1997): có niềm tin sâu sắc vào tôn giáo, ông
tin tƣởng rằng ý thức và vật chất thống nhất với nhau và ý thức lan toả đến mọi
hiện tƣợng, sự vật của cuộc sống[2, Tr.16].
- James H.Leuba (1868- 1646): Theo ông, có sự khác biệt về ý thức, tƣ tƣởng,
tình cảm của những ngƣời theo tôn giáo và những ngƣời không theo tôn giáo
[2,Tr.20].
Niềm tin tôn giáo là vấn đề cốt lõi của tôn giáo, đƣợc các nhà nghiên cứu
trên thế giới quan tâm chú ý nghiên cứu nhƣ:
- George A.Coe (1862 - 1951), nhà tâm lý học Mỹ cho rằng: con ngƣời tồn tại
bản năng tôn giáo nhƣ bản năng tái tạo nòi giống [2,Tr.42].
- Một nhà tâm lý học ngƣời Mỹ khác là R.V. Berxoi, đã giải thích các hiện tƣợng
tôn giáo, đặc biệt là niềm tin tôn giáo mang tính di truyền đặc biệt, chúng có cơ
sở sinh học nằm trong cấu trúc của vỏ não và mang tính vô thức [2,Tr.42].
- S.Freud (1856 - 1939) tìm hiểu niềm tin tôn giáo qua các bản năng sinh học,
qua kích thích của con ngƣời trong xung đột với các chuẩn mực xã hội [2,Tr.42].
- Lútvích Phơbách (1804 - 1872) cho rằng nguồn gốc của niềm tin tôn giáo
không chỉ bắt nguồn từ những cảm xúc tiêu cực, mà còn gồm cả những cảm xúc
tích cực (mong muốn, khát vọng…)

5
- Erix From (1900 - 1980) cho rằng nguồn gốc của niềm tin tôn giáo không chỉ
do những cảm xúc sợ hãi, mà còn xuất phát từ những xung đột trong quá trình
tồn tại của con ngƣời. Đó là xung đột giữa trí tuệ, khả năng của con ngƣời với
thực tại tự nhiên…[2,Tr.47].
Từ những nghiên cứu của những tác giả trên thế giới cho chúng ta cái nhìn
khái quát về lịch sử nghiên cứu về tôn giáo và niềm tin tôn giáo. Trƣớc công
nguyên, Socrates đã có tƣ tƣởng mang tính duy vật rất tiến bộ, ông cho rằng
không tồn tại một thế giới hƣ ảo, thần linh, Thƣợng đế chẳng qua bắt nguồn từ

chính tâm hồn con ngƣời. Cùng quan điểm tiến bộ với Socrates, là Lútvích
Phơbách, ông đã chỉ ra đƣợc nguồn gốc của niềm tin tôn giáo, đó là bắt nguồn từ
những cảm xúc tiêu cực (đau khổ, buồn phiền…) và cả những cảm xúc tích cực
(vui sƣớng, mong muốn, khát vọng…) của con ngƣời. Một thế kỷ sau, Erix From
cũng đồng tình với quan điểm của Lútvích Phơbách, nhƣng ông còn tìm ra đƣợc
một nguồn gốc khác của niềm tin tôn giáo, đó là xung đột giữa trí tuệ, khả năng
của con ngƣời với thực tại tự nhiên. Đó là nhƣng tƣ tƣởng hết sức tiến bộ, nhƣng
chƣa đầy đủ.
Mỗi tác giả tìm cho mình một hƣớng nghiên cứu, vì thế cách mà họ lý giải
sự tồn tại của tôn giáo và nguồn gốc của niềm tin tôn giáo còn mang tính phiếm
diện chƣa đầy đủ nhƣ Gustav Theodor Fechner sau khi bị đau đớn kịch liệt do
bệnh tật, đã làm thay đổi hƣớng nghiên cứu của ông, dẫn ông tới niềm tin tôn
giáo sâu sắc, ý thức lan toả đến mọi hiện tƣợng, sự vật của cuộc sống, tƣ tƣởng
này của ông mang tính duy tâm chủ quan, ông đi tìm nguyên nhân của tôn giáo
và niềm tin tôn giáo từ những vấn đề của cá nhân. Hay George A.Coe cho rằng
con ngƣời tồn tại bản năng tôn giáo nhƣ bản năng tái tạo nòi giống, đây là quan
niệm hết sức sai lầm, máy móc, thiếu lý lẽ thuyết phục…Còn S.Freud, cũng tìm
hiểu niềm tin tôn giáo qua các bản năng sinh học.
Nhìn chung, các quan điểm của những tác giả nêu trên còn thiếu tính thực
tiễn, họ vẫn chƣa lý giải hết đƣợc nguồn gốc của tôn giáo và niềm tin tôn giáo,

6
họ chỉ tìm nguyên nhân mang tính cá nhân, cảm xúc của cá nhân, mà chƣa đi vào
nghiên cứu nguồn gốc xuất phát từ điều kiện xã hội, kinh tế, văn hoá.

1.1.2. Một số nghiên cứu niềm tin tôn giáo ở Việt Nam
Một số nhà khoa học đã đi sâu vào nghiên cứu, tìm hiểu mang tính lý luận
về tôn giáo và niềm tin tôn giáo: Tâm lý học tôn giáo (Vũ Dũng), Chủ nghĩa Vô
thần khoa học (Nguyễn Hữu Vui), Ảnh hƣởng của hệ tƣ tƣởng và tôn giáo đối
với con ngƣời Việt Nam hiện nay (Nguyễn Tài Thƣ), Lý luận về tôn giáo và tình

hình tôn giáo ở Việt Nam (Đặng Nghiêm Vạn), Mƣời tôn giáo lớn trên thế giới
(Hoàng Tâm Xuyên), tác giả Nguyễn Đăng Duy với tác phẩm: Phật giáo Việt
Nam với văn hoá Việt Nam.…Tạp chí Tâm lý học Viêt Nam cũng đăng tải
nghiên cứu về: “Niềm tin vào một thế giới khác” (Vũ Dũng), hay “Bàn về niềm
tin tôn giáo” (Vƣơng Thị Kim Oanh).
Những nghiên cứu của các nhà khoa học trong nƣớc đã cho chúng ta cái
nhìn tổng thể mang tính lý luận và thực tiễn về tôn giáo và niềm tin tôn giáo và
những ảnh hƣởng của tôn giáo đến con ngƣời Việt Nam.
1.2. Các lý thuyết về Tôn giáo và niềm tin tôn giáo
1.2.1. Thuyết xung đột của Sigmud Freud (1856 - 1939).
- Thuyết xung đột của Sigmud Freud có một vị trí quan trọng. Bởi vì, phân tâm
học trong đó có thuyết xung đột của Freud đã ảnh hƣởng mạnh mẽ đến văn hoá
của thế kỷ chúng ta [2,Tr.26]
- Đối với Freud, tôn giáo siêu nhiên là ảo giác và các khái niệm tôn giáo là ý
niệm của ý thức hoặc là sự hiện hình tâm lý của những nhu cầu nội tâm
[2,Tr.27].
- Năm 1913, Freud cho xuất bản cuốn sách “Totem và Taboo” (Totem và cấm
kỵ). Trong cuốn sách này Freud đã dùng lý luận “Oedipus complex” ((Phức cảm
Ơdíp)- là ham muốn tình dục vô thức của một đứa trẻ đối với bố mẹ thuộc giới
tính khác với nó (nhất là của đứa con trai đối với ngƣời mẹ) và ghen với ngƣời

7
bố (hoặc với ngƣời mẹ)) để tìm hiểu nguồn gốc của đạo đức và tôn giáo. Ông coi
phức cảm Ơdíp là căn nguyên cuối cùng của đạo đức và tôn giáo [2,Tr.27].
- Freud cho rằng tại các bộ lạc nguyên thuỷ thời tiền sử, ngƣời cha là ngƣời có
quyền tối cao trong bộ lạc, kể cả trong việc quản lý tất cả phụ nữ và coi đó là sở
hữu của mình. Những đứa con trai của ngƣời cha do sự thôi thúc của Oedipus
complex (phức cảm Ơdíp) muốn cùng với ngƣời cha hƣởng các phụ nữ trong bộ
lạc. Song đã bị ngƣời cha khƣớc từ và đuổi ra khỏi bộ tộc. Những đứa con bị xua
đuổi liên kết lại giết ngƣời cha và ăn thịt ông. Sau khi giết cha, những ngƣời con

trai đã xuất hiện một cảm giác phạm tội, sự ăn năn, hối lỗi. Trong quá trình này,
khi thoả mãn cảm giác ghen ghét ngƣời cha (giết cha) thì họ lại nảy sinh tình
cảm thƣơng yêu kính trọng và sùng bái ngƣời cha. Do đó sự sùng bái Totem đã
đƣợc hình thành. Để chuộc lại lỗi lầm của mình, họ đã chọn một loại động vật
nào đó và coi đó là hoá thân của ngƣời cha và nghiêm cấm giết nó. Cùng với
việc tôn thờ Tôtem, họ còn cấm phát sinh quan hệ tình dục với những ngƣời phụ
nữ ngang với Tôtem. Điều cấm kỵ không đƣợc giết Tôtem và tôn thờ Tôtem,
theo Freud là cơ sở để manh nha tôn giáo, Freud chỉ rõ, tôn giáo đƣợc sản sinh
bởi cảm giác tội ác và tâm lý hối lỗi.
Nhƣ vậy, Freud cho rằng nguồn gốc của tôn giáo bắt nguồn từ những xung
đột. Tôn giáo có chức năng an ủi, nó không giúp con ngƣời bằng những sự việc
bên ngoài, nhƣng nó có thể giúp đỡ rất hiệu quả những ƣớc vọng nội tâm của con
ngƣời [2,Tr.28].
Đứng trên quan điểm của tôn giáo học mácxít, chúng tôi thấy, khi nghiên
cứu về tôn giáo, Freud không những chỉ ra nguồn gốc hình thành tôn giáo, mà
con khẳng định vai trò của nó đối với sự phát triển văn hoá của nhân loại. Tuy
nhiên Freud chỉ tìm nguồn gốc của tôn giáo theo tâm lý cá nhân nhƣ lỗi sợ hãi,
hối lỗi, xung đột của con ngƣời, mà không tìm hiểu nguồn gốc từ xã hội thực
tiễn, nhận thức của con ngƣời thời kỳ đó.
1.2.2. Thuyết tập thể.

8
Carl Gustav Jung (1875 – 1961) là đại biểu xuất sắc của học thuyết tập
thể về tôn giáo. Ông là bác sĩ tâm thần, nhà tâm lý học Thuỵ Sĩ, là ngƣời kế tục,
phát triển học thuyết của Freud.
Trong học thuyết tập thể về tôn giáo của Jung, vấn đề nổi lên là xung đột
và khắc phục xung đột. Thuyết này đƣợc Jung trình bày trong công trình nghiên
cứu về khả năng hiểu biết có ý thức. Ông đã phân tích và phân loại các thành tố
của xung đột, ông đặc bịêt muốn khám phá sự đồng nhất của vô thức [2,Tr.31].
- Đối với vấn đề tôn giáo, cả Freud và Jung, đều có mong muốn phác thảo những

vấn đề tâm lý tôn giáo. Với cách tiếp cận theo hƣớng cá nhân, Freud đã nhấn
mạnh tính cá biệt của cá nhân mà về bản chất theo ông là khó có thể thay đổi
đƣợc, Jung thừa nhận tính khác biệt và mâu thuẫn của con ngƣời, nhƣng theo
ông những đặc điểm này có thể thay đổi và bổ sung cho nhau, giống nhƣ các
màu sắc của quang phổi, chúng có khả năng pha trộn và hợp nhất với nhau. Còn
với một tập thể, ông tìm thấy những cái chung cái đặc trƣng hơn là yếu tố cá
nhân riêng biệt- những cái tạo nên sự hoà hợp và sáng tạo của tập thể. Đối với
ông, nhân cách không có ranh giới, chẳng hạn vô thức của cá nhân thể hiện ra
ngoài và tiếp tục trở thành vô thức của cộng đồng. Với cách tiếp cận này, Jung
đã giải quyết mọi vấn đề, đặc biệt là những vấn đề của tôn giáo [2,Tr.32].
- Theo Jung, kinh nghiệm tôn giáo đƣợc tạo nên từ vô thức tập thể của những
sinh lực có tính động lực và biểu tƣợng của sự vô tận và ý nghĩa chung. Khác với
Freud – ngƣời đã phân tích tôn giáo theo phƣơng pháp hƣớng vào trong và xem
tôn giáo là sản phẩm của những động cơ, mong muốn có tính chủ quan, còn Jung
lại tìm hiểu tôn giáo theo phƣơng pháp hƣớng ra ngoài, theo ông, tôn giáo đƣợc
hình thành từ những năng lƣợng vô thức vƣợt xa hơn ý thức cá nhân. Jung cố
gắng khám phá cái quyền lực thiêng liêng ở bên cá nhân (tức là những quyền lực
đƣợc tạo nên từ cộng đồng và tồn tại trong cộng đồng), những quyền lực này
đƣợc trải nghiệm qua các tính thần bí khác nhau [2,Tr.33].

9
- Theo Jung, những biểu tƣợng tôn giáo không phải là sự hƣ cấu, mà chúng đƣợc
hình thành phát triển trên cơ sở những điều kiện của cuộc sống tự nhiên của của
con ngƣời. Những biểu tƣợng trong giấc mơ, trong chuyện thần thoại, trong lịch
sử văn hoá và tôn giáo đã giải quyết những xung đột của con ngƣời. Mục đích
của tôn giáo là tác động đến tinh thần nói chung, chứ không phải là áp đặt cái ý
thức vào biển cả của vô thức [2,Tr.33].
Từ hƣớng nghiên cứu và những quan điểm của Jung, chúng tôi thấy Jung
đã tìm hiểu nguồn gốc tôn giáo theo phƣơng pháp hƣớng ra ngoài, không chỉ bó
hẹp trong phạm vi tâm lý cá nhân (theo quan điểm của Freud) mà mang tính chất

cộng đồng, xã hội, gắn với những điều kiện của cuộc sống tự nhiên của con
ngƣời. Quan điểm về tôn giáo của Jung còn phiếm diện chƣa đầy đủ, chƣa tìm
đƣợc nguồn gốc sâu xa của tôn giáo và niềm tin tôn giáo. Tuy vậy, những nghiên
cứu của Jung về tôn giáo và thần học, về biểu tƣợng và lễ nghi, về phong tục và
tín ngƣỡng đã ảnh hƣởng hầu hết các nền văn hóa trên thế giới.
1.2.3. Thuyết nhân cách.
Gordon W.Allport (1897 – 1976) là đại biểu tiêu biểu của thuyết nhân
cách. Ông là nhà tâm lý học Mỹ, ngƣời sáng lập ra cách tiếp cận hệ thống trong
nghiên cứu nhân cách.
- Allport với tƣ cách là nhà tâm lý học, ông đã sử dụng những tri thức khoa học
của mình để lý giải quá trình hình thành nhân cách. Allport cho rằng, tôn giáo là
sự tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống và hƣớng đến cuộc sống của con ngƣời. Nhƣng
mỗi cá nhân theo đuổi và khám phá cái ý nghĩa đó theo cách riêng của mình
[2,Tr.34].
- Theo ông, sự đặc biệt của tôn giáo là nó thống nhất, tập hợp đƣợc những mục
đích trọng tâm của cá nhân riêng lẻ. Mục đích ở đây có thể xem nhƣ sự cố gắng
một cách có ý thức của mỗi cá nhân. Mục đích là sự hƣớng tới tƣơng lai[2,Tr
34].

10
- Tôn giáo phát triển một cách hết sức nhạy cảm qua sự tác động tƣơng hỗ của xã
hội, thậm chí qua mỗi cá nhân và từ đó cá nhân có thể phát hiện ra chính mình
qua tôn giáo. Do vậy, có thể khái quát, mô tả những đặc điểm biểu hiện của tôn
giáo, trong đó có sự thay đổi của cá nhân trong quá trình hình thành tôn giáo.
- Theo ông, hệ thống sở thích, sự quan tâm trong cấu trúc nhân cách của cá nhân
là tiền đề quyết định tạo nên tình cảm tôn giáo. Tình cảm là động lực trong việc
thực hiện lợi ích của cá nhân, nó đóng vai trò quan trọng trong động cơ sống của
cá nhân. Tình cảm tôn giáo, ở một số khía cạnh, nó khác với các dạng tình cảm
khác của con ngƣời, đặc biệt về mức độ sâu sắc.
Nhƣ vậy, hƣớng nghiên cứu tâm lý tôn giáo theo hƣớng cá nhân của

Allport đƣợc các nhà nghiên cứu cùng thời đánh giá cao vì thuyết nhân cách của
ông mang tính độc đáo. Tuy nhiên theo quan điểm của chúng tôi, thì những
nghiên cứu của Allport về tôn giáo chƣa đầy đủ, chỉ nghiên cứu xét trên khía
cạnh nhân cách cá nhân, mà không đề cập đến điều kiện tự nhiên, xã hội thực
tiễn trong quá trình hình thành tôn giáo.
1.2.4. Thuyết tôn giáo và cá nhân
Thuyết tôn giáo và cá nhân do nhà tâm lý học Mỹ Paul E.Jonhson đƣa ra.
Ông là giáo sƣ tâm lý học và là ngƣời tƣ vấn cho nhà thờ của Trƣờng thần học
thuộc Đại học tổng hợp Boston [2,Tr.38].
Paul E.Jonhson đã đƣa ra định nghĩa tổng quát về tôn giáo nhƣ sau:
- Tôn giáo là phản ứng đối với sự chấp nhận các giá trị. Định nghĩa này bao
gồm một số khía cạnh. Nó thể hiện phản ứng sợ hãi và tin tƣởng, các hành động
và quan điểm thừa nhận quyền lực có thể điều chỉnh các giá trị, định nghĩa này
cũng thể hiện tôn giáo ở khía cạnh cảm xúc rộng lớn. Những chấp nhận bao gồm
sự giữ gìn hoặc phá huỷ, chấp nhận hoặc từ chối nhu cầu hay dục vọng. ở đây
tôn giáo thể hiện sự đòi hỏi. Sự chấp nhận có thể là cá nhân (Cha cố) hoặc không
liên quan đến con ngƣời (quá trình), có thể là một số ngƣời (cha mẹ) hoặc thần
thánh (những ngƣời ở thế giơi khác), có thể mang tính thực tại khách quan (các

11
lực lƣợng khoa học), có thể mang tính cá thể (đạo độc thần) hoặc tính xã hội
(chủ nghĩa nhân văn) và tính tổ chức (tinh thần yêu nƣớc hiến dâng cho dân tộc).
Định nghĩa này không loại trừ ma thuật và ma quỷ, các quy tắc của luật pháp và
đạo đức. Bản chất của tôn giáo là: a) Ham muốn các giá trị; b) Ý thức phụ thuộc
vào quyền lực của cá nhân mà có thể chấp nhận các giá trị; c) Phản ứng trong
việc xem xét một cách chính đáng sự thực hiện các giá trị bằng quyền lực. Tôn
giáo cần thiết phải phân ra các vấn đề nhƣ ma thuật và thần thoại, các phong tục
và tập quán xã hội, khoa học và triết học, đạo đức và thẩm mỹ [2,Tr.40].
- Tôn giáo là sự hiến dâng của cá nhân để trở thành con người dám chấp nhận
sự đóng góp tiềm năng sáng tạo cho cuộc sống nhân loại thông qua các mối

quan hệ mở. Theo Jonhson, đối với cá nhân, mỗi cuộc gặp gỡ là một mối quan
hệ liên nhân cách, quan hệ này có thể tăng lên hoặc giảm đi tuỳ thuộc vào giá trị
(đối với chủ thể và khách thể giao tiếp) - các cuộc gặp gỡ tôn giáo cũng là mối
quan hệ liên nhân cách. Trong mỗi trƣờng hợp, đối với các cá nhân quan hệ này
tuỳ thuộc vào ý nghĩa và giá trị của cuộc gặp gỡ. Các quan điểm tôn giáo đƣợc
hình thành trong các mối quan hệ liên nhân cách (nói cách khác là vai trò của
cộng đồng) trong việc hình thành và phát triển tôn giáo [2,Tr.40].
Đứng trên quan điểm của tâm lý học mácxít, chúng tôi thấy rằng những
quan điểm của Jonhson tuy đã thể hiện đƣợc mối quan hệ giữa cá nhân và tôn
giáo, giữa những mối quan hệ liên nhân cách trong việc hình thành và phát triển
tôn giáo. Tuy nhiên nghiên cứu của ông về tôn giáo dựa vào tìm hiểu đời sống cá
nhân, chƣa thể hiện rõ vai trò cuộc sống xã hội, kinh tế, tự nhiên của cuộc sống
thực tại. Nhƣ vậy, quan điểm về tôn giáo của Jonhson cũng chƣa đầy đủ, còn
mang tính phiếm diện.
1.3. Các khái niệm cơ bản
1.3.1 Khái niệm về tôn giáo
a. Định nghĩa.

12
- Theo Paul E. Jonhson (nhà tâm lý học Mỹ): “Tôn giáo là phản ứng đối với sự
chấp nhận các giá trị” và “Tôn giáo là sự hiến dâng của cá nhân để trở thành con
ngƣờ dám chấp nhận sự đóng góp tiềm năng sáng tạo cho cuộc sống nhân loại
thông qua các mối quan hệ mở” [2,Tr.39 - 40].
- Ph.Ăngghen: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hƣ ảo - vào
đầu óc của con ngƣời - của những lực lƣợng ở bên ngoài chi phối cuộc sống
hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lƣợng ở trần thế đã
mang những hình thức của lực lƣợng siêu trần thế” [31,Tr.20].
- Theo Cácmác chỉ ra tính hƣ ảo của tôn giáo. Theo ông, tôn giáo là trái tim của
thế giới không có trái tim, là tinh thần của xã hội không có tinh thần, là tiếng thở
dài của chúng sinh bị áp bức. Tôn giáo chỉ là mặt trời ảo tƣởng vận động xung

quanh bản thân mình.
- Từ những định nghĩa khác nhau nêu trên, chúng tôi đồng ý với quan điểm của
Ph.Ăngghen: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo - vào
đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống
hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã
mang những hình thức của lực lượng siêu trần thế”.
Bởi định nghĩa của Ăngghen đã chỉ ra chủ thể tạo ra tôn giáo chính là con
ngƣời, đối tƣợng của sự phản ánh mà con ngƣời sáng tạo ra tôn giáo là sức mạnh
ở bên ngoài thống trị cuộc sống hàng ngày của con ngƣời, còn phƣơng thức nhận
thức để tạo ra tôn giáo là phƣơng thức hƣ ảo. Với chủ thể, đối tƣợng và phƣơng
thức của nhận thức nhƣ vậy thì kết quả là con ngƣời đã tạo ra cái siêu nhiên thần
thánh trong đầu óc của mình thuộc lĩnh vực ý thức niềm tin. Ăngghen không
thừa nhận cái siêu nhiên thần thánh với tƣ cách là thực thể siêu nhiên và càng
không thừa nhận sự sáng tạo của cái siêu nhiên, của đấng tối cao đối với con
ngƣời. Nhƣng với tƣ cách là là ý thức, là niềm tin, tôn giáo cũng có vai trò tác
động ngƣợc trở lại con ngƣời đã sáng tạo ra nó.

13
Định nghĩa của Ăngghen, đã chỉ ra đƣợc bản chất của tôn giáo, đó là niềm
tin hay thế giới quan hoang đƣờng hƣ ảo của con ngƣời. Sự ra đời của tôn giáo
với bản chất nhƣ trên là tất yếu khách quan, vì khi con ngƣời bất lực trƣớc sức
mạnh của thế giới bên ngoài thì con ngƣời cần đến tôn giáo nhằm bù đắp cho sự
bất lực ấy.
b. Kết cấu và chức năng của tôn giáo
* Kết cấu của tôn giáo bao gồm 3 yếu tố cơ bản: ý thức tôn giáo, sự thờ cúng tôn
giáo và tổ chức tôn giáo. Trong đó ý thức tôn giáo là yếu tố quan trọng:
- Ý thức tôn giáo: bao gồm hai trình độ hiện tƣợng vừa liên hệ với nhau vừa có
tính độc lập đó là tâm lý tôn giáo và tƣ tƣởng tôn giáo:
+ Tâm lý tôn giáo là toàn bộ những biểu tƣợng, tình cảm, tâm trạng, thói quen,
truyền thống gắn với hệ thống nhất định những tƣ tƣởng tôn giáo và vốn có ở tất

cả quần chúng giáo dân [29,Tr.40].
+ Hệ tƣ tƣởng tôn giáo là hệ thống tƣơng đối vững chắc những tƣ tƣởng, quan
điểm tôn giáo đƣợc các nhà thần học, các tổ chức tôn giáo tạo ra và tuyên truyền
[29,Tr.41].
Tóm lại, với tƣ cách là thế giới quan hƣ ảo, tƣởng tƣợng, ý thức tôn giáo
đã có những tác động tiêu cực nhất định đến tƣ tƣởng và hành vi con ngƣời. Khi
hƣớng những lợi ích, sự suy nghĩ, sự nỗ lực của con ngƣời vào những khách thể
tƣởng tƣợng, siêu nhiên, ý thức tôn giáo là nhân tố có thể làm suy giảm sức lực
vật chất và tinh thần của con ngƣời, hạn chế sự phát triển của thế giới quan khoa
học và của sự tiến bộ xã hội nói chung [29,Tr.42].
- Sự thờ cúng tôn giáo: Thờ cúng tôn giáo là toàn bộ những hoạt động có tính
chất thực tế, hƣ ảo của tín đồ, nhằm cố gắng tác động vào khách thể tƣởng tƣợng
(thần thánh, đấng siêu nhiên nói chung) hoặc những khách thể thực (tƣợng thánh,
tƣợng Phật, vật thờ…) nhằm cầu mong sự che chở, sự trợ giúp của các khách thể
đó [29,Tr.42].

14
+ Chủ thể của sự thờ cúng là những con ngƣời có tín ngƣỡng tôn giáo
[29,Tr.43].
+ Đối tƣợng của sự thờ cúng là cái siêu nhiên thần thánh, song cái siêu nhiên
thần thánh này đƣợc biểu tƣợng hoá qua tranh, ảnh, tƣợng, vật thờ, vật thiêng
[29,Tr.44].
+ Công cụ, phƣơng tiện của sự thờ cúng là chuông, mõ, kinh thánh, tràng
hạt…nhờ có phƣơng tiện này mà chủ thể thờ cúng có thể tác động đến cái siêu
nhiên thần thánh. Đi liền với những công cụ, phƣơng tiện của sự thờ cúng là lễ
vật của sự thờ cúng, tuỳ theo từng tôn giáo quy định mà có những lễ vật khác
nhau [29,Tr.44].
- Tổ chức tôn giáo là sự liên kết của những ngƣời theo một tôn giáo nhất định,
hình thành trên cơ sở tính chất cộng đồng tín ngƣỡng và lễ nghi. Chức năng của
tổ chức tôn giáo là thoả mãn những nhu cầu tôn giáo của tín đồ, điểu chỉnh hoạt

động thờ cúng, bảo đảm tính bền vững và chỉnh thể của sự liên kết của tổ chức
tôn giáo [29,Tr.45].
* Chức năng của tôn giáo.
Tôn giáo ra đời đáp ứng nhu cầu đền bù sự hạn chế của các mối quan hệ
hiện thực của con ngƣời, vì thế chức năng đền bù hƣ ảo là chức năng chủ yếu
của tôn giáo, ngoài ra tôn giáo còn thực hiện nhiều chức năng khác nhƣ chức
năng điều chỉnh, giao tiếp, liên kết…
- Chức năng đền bù hƣ ảo: Con ngƣời trong thế giới đời thƣờng luôn bị sức ép
của những sức mạnh tự nhiên cũng nhƣ xã hội (sự bóc lột về giai cấp), không
tìm đƣợc lời giải thích chính xác của những nguyên nhân của sự bất bình đẳng xã
hội và biện pháp khắc phục nó cũng nhƣ bất lực trong cuộc đấu tranh giai cấp,
phải sống trong nỗi sợ khốn cùng, bất hạnh, trong khi chƣa đƣợc soi sáng bởi
chân lý - chân lý cách mạng, vì thế con ngƣời có thể tìm thấy trong tôn giáo
những giải đáp làm nguôi đi những khổ đau và ủ ấp một hy vọng hƣ ảo. Đó là sự
cứu rỗi của Chúa nhân từ, của Đức Phật từ bi, sự thƣởng phạt công minh đối với

15
hành vi của mỗi ngƣời trong trần thế và khả năng đến đƣợc cõi hạnh phúc vĩnh
hằng (Thiên đƣờng, Niết Bàn…), thông qua một số quy tắc an phận, chịu đựng,
hƣớng thiện, tu tâm dƣỡng tính, những phƣơng thức để đạt đƣợc mục đích cuối
cùng nhƣ tôn giáo chỉ ra. Sự đền bù của hƣ ảo tuy hƣ ảo, nhƣng lại có tác dụng
hiện thực, bởi nhờ có nó mà con ngƣời trong những đau khổ tuyệt vọng vƣợt
qua, hạn chế đƣợc những hành vi vô nghĩa hoặc tai hại cho đồng loại. Tuy là làm
nhẹ nỗi đau khổ của con ngƣời, an ủi cho những mất mát, những thiếu hụt hiện
tại của đời sống, đồng thời có thê gây ra những tác động có hại đối với con ngƣời
khi tạo ra ở họ nhu cầu thƣờng xuyên tách khỏi hiện thực, tiêm nhiễm cho họ
những quan niệm hƣ ảo.
- Chức năng thế giới quan: Khi phản ánh một cách tƣởng tƣợng, hƣ ảo thế giới
hiện thực, tôn giáo có tham vọng tạo ra một bức tranh của mình về thế giới nhằm
thoả mãn nhu cầu nhận thức của con ngƣời dƣới một hình thức xuyên tạc. Bức

tranh chung về thế giới bao gồm hai bộ phận: thế giới thần thánh và thế giới trần
tục, trong đó tôn giáo lý giải về các vấn đề tự nhiên, về con ngƣời, về xã hội. Sự
lý giải của tôn giáo về thế giới nhằm hƣớng con ngƣời tới cái siêu nhiên thần
thánh, do đó nó đã xem nhẹ đời sống hiện thực. Bức tranh của tôn giáo về thế
giới có thể tác động tiêu cực đến ý thức giáo dân, đến thái độ của họ đối với thế
giới xung quanh [29,Tr.49].
- Chức năng điều chỉnh: Tôn giáo đã tạo ra hệ thống những chuẩn mực giá trị
đạo đức. Những chuẩn mực ấy không chỉ duy trì trong quá trình thực hiện các
nghi thức tôn giáo mà còn điều chỉnh cả hành vi của con ngƣời trong đời sống
thƣờng nhật khi ứng xử với con ngƣời trong gia đình cũng nhƣ ngoài xã hội. Qua
những điều răn dạy đã điều chỉnh hành vi của mỗi tín đồ trong đời sống cộng
đồng [24,Tr.23].
- Chức năng giao tiếp của tôn giáo thể hiện khả năng liên kết giữa những ngƣời
có cùng tín ngƣỡng với nhau. Sự liên hệ, giao tiếp đƣợc thực hiện chủ yếu trong
hoạt động thờ cúng, và sự giao tiếp với thần thánh là sự giao tiếp tối cao. Ngoài

16
mối liên hệ, giao tiếp trong quá trình thờ cúng, ở giáo dân có mối liên hệ ngoài
tôn giáo: liên hệ kinh tế, liên hệ trong sinh hoạt thƣờng ngày, liên hệ trong gia
đình…Những mối liên hệ ngoài tôn giáo này sẽ củng cố và tăng cƣờng mối liên
hệ tôn giáo ở họ [29,Tr.50].
1.3.2. Khái niệm về Đạo Phật.
1.3.2.1. Sơ lƣợc về sự ra đời của Đạo Phật.
Phật giáo là một trong ba tôn giáo thế giới ra đời vào khoảng thế kỷ thứ
VI, thứ V trƣớc CN ở ấn Độ. Ngày nay, Phật giáo có mặt ở nhiều nƣớc trên thế
giới với số lƣợng tín đồ trên 300 triệu [29,Tr.83].
- Ấn độ là một trong những quốc gia có nền văn hoá, văn minh lớn và sớm trên
thế giới. Vào khoảng 1500 TCN, họ đã tạo ra nền văn minh Vêda với sự phát
triển mạnh mẽ về văn hoá, tín ngƣỡng tôn giáo, về kinh tế đồng thời cũng có
những biến động lớn về mặt xã hội. ở ấn Độ thời kỳ đó, đạo Bàlamôn giữ địa vị

thống trị, góp phần vào sự phân chia đẳng cấp xã hội khắc nghiệt. Xã hội ấn Độ
tồn tại 4 đẳng cấp: Tăng lữ (Bàlamôn); Quý tộc; Dân tự do; Nô lê.
Sự phân chia xã hội thành những đẳng cấp thứ bậc làm cho mâu thuẫn xã
hội ngày càng thêm sâu sắc, nó phản ánh sự bóc lột của tầng lớp trên đối với tầng
lớp dƣới. Đây là cơ sở quan trọng làm cho Phật giáo với tƣ cách là trào lƣu tƣ
tƣởng chống lại “sự nghèo nàn hiện thực” đƣa ra chủ trƣơng thực hiện “bình
đẳng xã hội” của mình.
Ngoài những tiền đề về kinh tế xã hội nói trên, sự ra đời của Phật giáo
gắn liền với vai trò của Thích ca mâu ni và những ngƣời kế tục ông.
- Thích ca mâu ni chính là thái tử Siddharth Gautama (Tất Đạt Đa), con vua Tịnh
Phạn (trị vì bộ tộc Sakya tại vƣơng quốc nhỏ ở vùng phía bắc ấn Độ ngày nay,
giáp với Napal) và hoàng hậu Ma-gia. Ông sinh ra khoảng năm 563 TCN
[17,Tr.447], ông là ngƣời rất thông minh và có lòng nhân từ. Đƣợc sống trong
nhung lụa giàu sang của cung điện, ông không biết đƣợc gì đen tối, cực nhọc, bất
hạnh diễn ra ngoài xã hội, chỉ sau 4 lần đi ra ngoài thành và trực tiếp chứng kiến

17
nỗi khổ của kiếp ngƣời. Ông trở về hoàng cung với trăn trở, suy tƣ: Tại sao
chúng sinh lại đau khổ trên cõi đời này? Cái gì là nguyên nhân của khổ đau? Sau
nhiều năm không tìm ra đƣợc câu trả lời, cuối cùng vào năm ngài 29 tuổi, Ngài
quyết định rời bỏ cung điện, từ bỏ vợ con để đi tìm con đƣờng thoát khổ cho
chúng sinh (tất nhiên là con đƣờng tôn giáo). Sự rời bỏ cung điện, cuộc sống trần
tục là “sự từ bỏ vĩ đại”. Sau 6 năm tu khổ hạnh, ông chợt nhận ra rằng, lối tu đó
cũng không giải thoát con ngƣời khỏi nỗi đau sinh, lão, bệnh, tử. Sau đó ông lại
kiên trì tập trung suy nghĩ và ngồi dƣới gốc cây Bồ đề 49 ngày, tƣ tƣởng của
ngài liền trở nên sáng rõ, ngài đã hiểu ra quy luật của cuộc đời, nỗi khổ của
chúng sinh. Từ đó ngài đƣợc gọi là Thích ca mâu ni tức là ngƣời giác ngộ chân
lý đầu tiên có họ là Thích ca. Sau đó ngài đi truyền bá tƣ tƣởng của mình, tập
hợp những ngƣời tin theo tƣ tƣởng ấy thành các đoàn thể Phật giáo đầu tiên ở Ấn
Độ. Nhƣ vậy có thể thấy rằng Thích ca mâu ni là ngƣời sáng lập ra Đạo Phật

nhƣng để trở thành một tôn giáo theo nghĩa đầy đủ của nó còn phải phụ thuộc
những ngƣời kế tục Thích ca và phụ thuộc vào 4 cuộc đại hội Phật giáo ở Ấn Độ.
Vào năm 483 TCN ngài tạ thế ở thọ 80 tuổi.
- Sau khi Thích ca mâu ni nhập “Niết Bàn” ở Ấn Độ đã diễn ra 4 cuộc đại hội
Phật giáo kết quả là hình thành hệ thống kinh điển gồm Kinh, Luật, và Luận,
hình thành hệ thống lễ nghi thờ cúng và hình thành tổ chức. Nhƣ vậy Phật giáo
đã trở thành một tôn giáo hoàn chỉnh. Đồng thời chia Phật giáo thành Phật giáo
Đại thừa có nghĩa là “cỗ xe lớn” (ngụ ý chở đƣợc nhiều ngƣời) và Phật giáo Tiểu
thừa có nghĩa là “cỗ xe nhỏ”(ngụ ý chỉ chở đƣợc 1 ngƣời). Có sự khác biệt giữa
phái Tiểu thừa và Đại thừa:
+ Thứ nhất: phái Tiểu thừa cho rằng những ngƣời xuất gia đi tu mới đƣợc cứu
vớt, nhƣng phái Đại thừa lại cho rằng không chỉ có những ngƣời tu hành mà cả
những ngƣời quy y theo Phật cũng đƣợc cứu vớt và ai cũng có thể trở thành Phật
[22,Tr.86].

18
+ Thứ hai: Phái Tiểu thừa quan niệm Niết Bàn là cảnh giới yên tĩnh, gắn với sự
giác ngộ, tức là hƣ vô, trong khi đó phái Đại thừa quan niệm Niết Bàn cũng nhƣ
thiên đƣờng, cũng là nơi cực lạc và đối lập với thiên đƣờng là địa ngục
[22,Tr.86]
1.3.2.2. Các giáo lý cơ bản của Đạo Phật
Mặc dù Phật giáo có nhiều tông phái, hơn nữa trong quá trình phát triển,
giáo lý liên tục đƣợc bổ sung, hoàn thiện nhƣng các tông phái đều đề cập đến
những vấn đề căn bản nhƣ: Pháp, Bản thể, Tâm, Vật, Vô thƣờng, Vô ngã, Nhân
duyên, Sắc - không, Luân hồi, Tứ diệu đế, giải thoát, Niết Bàn. Những nội dung
đó đƣợc quy vế quan niệm về vũ trụ, quan niệm về con ngƣời, quan niệm về khổ
con đƣờng cứu khổ và quan niệm về Niết Bàn [12,Tr.105].
a. Tứ diệu đế: đƣợc Phật giáo coi là 4 chân lý hay 4 nền tảng gồm Khổ đế, Tập
đế, Diệt đế và Đạo
- Khổ đế (Dukkha) là chân lý về bản chất của nỗi khổ cuộc sống quanh ta (thế

giới hiện tƣợng) đầy đau khổ. Khổ là gì? Đó là trạng thái buồn phiền phổ biến ở
con ngƣời do sinh, lão, bệnh, tử gây ra, hoặc do mọi thứ nguyện vọng không
đƣợc thoả mãn [17, Tr.448].
- Tập đế hay nhân đế (Samudaya) là chân lý về nguyên nhân của nỗi khổ. Con
ngƣời trong thế giới hiện thực này khổ vì đâu? Đó là do ái dục (ham muốn) và
vô minh (sự kém sáng suốt) do tham – sân – si (lòng tham, sự giận dữ, sự ngu
dốt thúc đẩy. Dục vọng thể hiện thành hành động gọi là Nghiệp (karma); hành
động (nghiệp) xấu khiến con ngƣời phải nhận lãnh lấy hậu quả của nó (luật nhân
quả, nghiệp báo), thành ra cứ luẩn quẩn trong vòng luân hồi không thoát ra đƣợc
[17,Tr.449].
- Diệt đế (Nirodka) là chân lý về cảnh giới diệt khổ. Nỗi khổ sẽ đƣợc tiêu diệt
khi nguyên nhân gây ra khổ (ái dục và vô minh) bị loại trừ. Sự tiêu diệt khổ đau
gọi là “Niết Bàn”(Nirvana) nghĩa đen là “dập tắt”: dập tắt ngọn lửa phiền lão).
Đó là thế giới lý tƣởng của sự giác ngộ và giải thoát. Mục đích của Phật tử là

19
thực hiện Niết Bàn. Khi đang tu dƣỡng là thực hiện đƣợc Niết Bàn từng phần, trở
thành Phật [17,Tr.449].
- Đạo đế (Magga) là chân lý chỉ ra con đƣờng (biện pháp) diệt khổ. Con đƣờng
diệt khổ, giải thoát và giác ngộ đòi hỏi phải rèn luyện đạo đức (giới), rèn luyện
tƣ tƣởng (định) và khai sáng trí tuệ (tuệ). Ba môn học này đƣợc cụ thể hoá trong
khái niệm Bát chính đạo [17, Tr.449], đó là 8 con đƣờng chính mà Phật giáo đã
chỉ ra để thoát khổ. Bát chính đạo gồm:
+ Chính kiến: hiểu biết đúng đắn, kiến giải chính xác.
+ Chính tƣ duy: suy nghĩ đúng đắn.
+ Chính ngữ: lời nói chân thật, hoà ái.
+ Chính nghiệp: làm những việc tốt (thiện nghiệp).
+ Chính mạng: nuôi sống thân mình bằng nghiệp chính đáng, lƣơng thiện.
+ Chính tinh tấn: nỗ lực tiến bộ một cách chính đáng
+ Chính niệm: luôn nhớ nghi những điều lành

+ Chính định: tĩnh tâm, tập trung tƣ tƣởng vào một đối tƣợng [17,TR.449].
Giáo lý 4 chân lý vừa là phƣơng tiện, vừa là cứu cánh. Một chân lý hoàn
chỉnh đầy tính nhân bản đem lại niềm tin, sức sống cho con ngƣời, xã hội đƣơng
thời và vẫn thiết thực lợi ích cho con ngƣời và xã hội hiện đại [27,Tr.105].
b. Niết Bàn: đƣợc Phật giáo coi là một trạng thái vắng lặng, tịch diệt, nếu con
ngƣời đạt tới thì sẽ sống an nhàn tự tại, vô ngã vị tha. Đây là một trạng thái lý
tƣởng. Đó là mục đích của các tín đồ, phật tử, mong có cuộc sống an nhàn, tự tại
trên cõi Bồng Lai, Thiên đàng sau khi chết. Tuy nhiên “Niết Bàn” không chỉ sau
khi chết con ngƣời mới đạt tới (với điều kiện khi còn sống luôn làm những điều
đúng, lƣơng thiện, không hại ngƣời, hại thân, không tà dâm, sát sinh…), mà
ngay con ngƣời tồn tại trong thế giới trần tục, con ngƣời cũng có thể đạt tới trạng
thái “Niết Bàn” khi con ngƣời loại bỏ đƣợc “tham, sân, si”, khi con ngƣời đã
thoát khỏi vô minh và sống cuộc sống tự do tự tại.
c. Quan niệm về vũ trụ của Đạo Phật theo 5 luận thuyết:

×