1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐÀO THỊ TƯ DUYÊN
NHU CẦU VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI DÂN
Ở MỘT SỐ VÙNG ĐÔ THỊ HÓA TẠI HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Tâm lý học
Hà Nội – 2012
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐÀO THỊ TƯ DUYÊN
NHU CẦU VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI DÂN
Ở MỘT SỐ VÙNG ĐÔ THỊ HÓA TẠI HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 60 31 80
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hữu Thụ
Hà Nội - 2012
3
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CHXHCN: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
ĐTB: Điểm trung bình
ĐHQGHN: Đại học quốc gia Hà Nội
Nxb: Nhà xuất bản
TBC: Trung bình chung
THCS: Trung học cơ sở
THPT: Trung học phổ thông
4
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Nhận thức của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải
Phòng về ý nghĩa của việc làm đối với người dân vùng đô thị hóa. 51
Bảng 2: Nhận thức của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải
Phòng về giá trị của việc làm đối với bản thân và gia đình. 57
Bảng 3: Nhận thức của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải
Phòng về những thuận lợi để có việc làm nhằm thỏa mãn nhu cầu việc
làm của bản thân và gia đình. 62
Bảng 4: Đối tượng hướng tới của người dân ở một số vùng độ thị hóa tại
Hải Phòng. 78
Bảng 5: Một số hành động cụ thể của người dân ở một số vùng đô thị tại
Hải Phòng để thỏa mãn nhu cầu việc làm. 84
Bảng 6: Đánh giá mức độ nhu cầu việc làm của người dân ở một số
vùng đô thị hóa tại Hải Phòng 92
Bảng 7: Một số yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu việc làm của người dân ở
một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng 94
5
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Nhận thức của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải
Phòng về ý nghĩa của việc làm đối với người dân vùng đô thị hóa 56
Biểu đồ 2: Thông tin việc làm được người dân vùng đô thị hóa quan
tâm 65
Biểu đồ 3: Nhận thức của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải
Phòng về những khó khăn trong quá trình tìm kiếm việc làm để thỏa
mãn nhu cầu việc làm của người thân và gia đình. 77
Biểu đồ 4: Mức độ yên tâm của người dân vùng đô thị hóa tại Hải
Phòng đối với việc làm hiện tại 93
6
Mục lục
MỞ ĐẦU 8
1. Lý do chọn đề tài. 8
2. Mục đích nghiên cứu 9
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 9
4. Đối tượng nghiên cứu 10
5. Khách thể nghiên cứu 10
6. Phạm vi nghiên cứu 10
7. Giả thuyết nghiên cứu 10
8. Phương pháp nghiên cứu. 11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU VÀ NHU CẦU
VIỆC LÀM 12
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 12
1.1.1. Nghiên cứu về nhu cầu và nhu cầu việc làm của các nhà tâm
lý học ngoài nước. 12
1. 1.2. Nghiên cứu về nhu cầu và nhu cầu việc làm của các nhà tâm lý
học trong nước. 20
1.2. Một số khái niệm công cụ của đề tài 23
1.2.1. Khái niệm nhu cầu 23
1.2.2. Khái niệm việc làm 29
1.2.3. Khái niệm nhu cầu việc làm 30
1.2.4. Khái niệm nhu cầu việc làm của người dân ở vùng đô thị hóa 34
1.3. Một số yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu việc làm 38
1.3.1. Yếu tố khách quan 38
1.3.2. Yếu tố chủ quan 40
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43
2.1. Một vài nét về địa bàn nghiên cứu 43
2.2. Tổ chức nghiên cứu 45
2.2.1 Về mặt lý luận: 45
2.2.2. Về mặt thực tiễn 45
7
2.3. Phương pháp nghiên cứu 45
2.3.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu 45
2.3.2. Phương pháp chuyên gia 46
2.3.3. Phương pháp quan sát 46
2.3.4. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 46
2.3.5. Phương pháp phỏng vấn sâu 47
2.3.6. Phương pháp nghiên cứu chân dung tâm lý 48
2.3.7. Phương pháp xử lý kết quả bằng thống kê toán học. 49
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN 50
3.1. Thực trạng nhu cầu việc làm của người dân ở một số vùng đô thị
hóa tại Hải Phòng 50
3.1.1. Nhu cầu việc làm của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại
Hải Phòng biểu hiện qua nhận thức 50
3.1.2. Nhu cầu việc làm của người dân ở một số vùng đô thị hóa
biểu hiện qua việc làm mà họ hướng tới (đối tượng cụ thể). 77
3.1.3 Nhu cầu việc làm của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại
Hải Phòng thể hiện qua một số hành động cụ thể. 83
3.2. Đánh giá mức độ nhu cầu việc làm của người dân ở một số vùng
đô thị hóa tại Hải Phòng. 92
3.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu việc làm của người dân ở
một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng 94
3.4. Một số kết quả nghiên cứu chân dung tâm lý về nhu cầu việc làm
của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng 102
3.5. Một số giải pháp tâm lý - xã hội giúp người dân ở một số vùng đô
thị hóa tại Hải Phòng thỏa mãn nhu cầu việc làm của bản thân và gia
đình. 106
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
8
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Cuộc sống của chúng ta muôn màu, muôn sắc nhưng đều tuân
theo một quy luật nhất định, đó là quy luật hai chiều. Thế giới có âm, có
dương, vạn vật hữu sinh hữu diệt, con người có nam có nữ, có cái tích
cực tất yếu tồn tại cái tiêu cực và đô thị hóa cũng vậy. Một mặt đô thị
hóa mang đến cho người dân cảnh quan mới khang trang, sạch đẹp hơn
và hứa hẹn một tương lai hết sức tốt đẹp nhưng mặt khác, nó lại đẩy
người dân vào nỗi lo về việc làm.
Có thể nói việc làm mang rất nhiều ý nghĩa khác nhau, đối với
một số người nó là niềm vui, là uy tín, là thể diện, là tình yêu… nhưng
đối với người dân vùng đô thị hóa thì việc làm lại chính là cuộc sống của
họ, là cái . Trong những năm cần câu cơm để họ nuôi sống bản thân và
gia đình. Trong những năm gần đây, một số huyện của thành phố Hải
Phòng được tiến hành đô thị hóa và việc làm trở thành nỗi lo của người
dân nơi đây. Các dự án lớn, nhỏ đã lấy đi không ít ruộng đất của họ, vì
thế nó càng làm tăng quỹ thời gian nông nhàn và đẩy họ vào cảnh thiếu
hoặc không có việc làm. Nhàn cư vi bất thiện, một số người thì tụ tập
chơi bời, cờ bạc, trộm cắp, đánh nhau… một số khác lại tụ tập nói xấu
người này người khác làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn trong thôn, xóm.
Nhiều gia đình lục đục vì nỗi lo cơm áo, gạo, tiền, con cái hư hỏng,
nhiều em bé không đủ áo ấm trong mùa đông giá lạnh, không đủ sách vở
để học tập và con đường đến trường có thể bị dừng lại. Nếu tình trạng
thiếu và không có việc làm vẫn tiếp diễn trong thời gian tới thì cuộc
sống của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải phòng càng chồng
chất khó khăn, vất vả, các tệ nạn xã hội thừa dịp mà hoành hành. Nếu
giải quyết tốt vấn đề việc làm thì những ưu điểm của quá trình đô thị hóa
nhanh chóng phát huy tác dụng và đời sống của người dân ngày một
nâng cao, niềm vui, tiếng cười sẽ thay thế những giọt nước mắt, nỗi lo
của họ. Để làm được điều này thì nghiên cứu nhu cầu việc làm là điều
9
hết sức quan trọng và cấp bách, điều này tạo nên động lực thôi thúc
chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu: “Nhu cầu việc làm của người dân
ở một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng” dưới góc nhìn của tâm lý học
xã hội.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về nhu cầu, các mức độ của nhu
cầu việc làm cũng như một số yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu việc làm
của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng. Từ đó đề xuất
một số giải pháp tâm lý - xã hội giúp nhà nước đưa ra các chính sách
phát triển việc làm góp phần thỏa mãn nhu cầu việc làm cho người dân ở
vùng đô thị hóa.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Nghiên cứu lý luận
- Đọc và phân tích các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước
về nhu cầu, nhu cầu việc làm để làm rõ một số khái niệm cơ bản của đề
tài như: Khái niệm nhu cầu, khái niệm nhu cầu việc làm, khái niệm nhu
cầu việc làm của người dân ở vùng đô thị hóa để hoàn thành cơ sở lý
luận của đề tài.
- Nghiên cứu các văn bản, tài liệu của Đảng, nhà nước về việc làm
và tạo việc làm cho người dân vùng đô thị hóa.
3.2. Nghiên cứu thực tiễn
- Nghiên cứu thực trạng nhu cầu việc làm của người dân ở một số
vùng đô thị hóa tại Hải Phòng biểu hiện qua nhận thức, đối tượng hướng
tới và hành động cụ thể để thỏa mãn nhu cầu việc làm của bản thân và
gia đình.
- Đưa ra một số giải pháp tâm lý - xã hội giúp chính quyền địa
phương đưa ra giải pháp tạo việc làm nhằm thỏa mãn nhu cầu việc làm
của người dân.
10
4. Đối tượng nghiên cứu
Nhu cầu việc làm của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải
Phòng được biểu hiện qua: Nhận thức, đối tượng hướng tới và hành
động cụ thể để có việc làm nhằm thỏa mãn nhu cầu việc làm.
5. Khách thể nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu là 162 người dân, trong đó 55 người dân ở
huyện An Lão, 53 người dân ở huyện Tiên Lãng, 54 người dân ở huyện
Vĩnh Bảo và 7 cán bộ địa phương.
6. Phạm vi nghiên cứu
6.1. Phạm vi nội dung: Đề tài chỉ nghiên cứu nhu cầu việc làm
của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng biểu hiện ở nhận
thức, đối tượng hướng tới và hành động cụ thể để có việc làm nhằm thỏa
mãn nhu cầu việc làm. Đồng thời nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng
tới nhu cầu việc làm của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải
Phòng.
6.2. Phạm vi địa bàn: Đề tài chỉ nghiên cứu ở 3 huyện: Huyện An
Lão, huyện Tiên Lãng, huyện Vĩnh Bảo - Hải Phòng.
6.3. Phạm vi khách thể: Đề tài chỉ nghiên cứu những người dân
đang ở trong độ tuổi lao động (từ 18 đến 45 tuổi).
7. Giả thuyết nghiên cứu
Phần lớn người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải Phòng có
nhu cầu việc làm ở mức độ trung bình, một số người đạt mức độ cao
nhưng hầu hết trong số họ nhu cầu này chưa được thỏa mãn thực sự.
Việc thỏa mãn nhu cầu việc làm phụ thuộc rất nhiều yếu tố, bao gồm cả
chủ quan (nhận thức, động cơ, hứng thú, tâm thế sẵn sàng…) và khách
quan (điều kiện thỏa mãn, mức độ quan tâm của chính quyền địa
phương, chế độ đãi ngộ…), trong đó yếu tố chủ quan giữ vai trò chủ
đạo.
11
8. Phương pháp nghiên cứu.
8.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Nghiên cứu những tài liệu có liên quan đến đề tài để tìm hiểu sâu
hơn những khái niệm công cụ nhằm hoàn thiện cơ sở lý luận của đề tài.
8.2. Phương pháp chuyên gia
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để nâng cao sự hiểu biết về
lĩnh vực mà mình nghiên cứu cũng như cách thức tiến hành nghiên cứu.
8.3. Phương pháp quan sát
Phương pháp này được chúng tôi sử dụng để thu thập những
thông tin mà phiếu bảng hỏi chưa làm được.
8.4. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Chúng tôi sử dụng các câu hỏi đóng, câu hỏi mở nhằm thu thập
thông tin chính, liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu trên cơ sở thực
tiễn.
8.5. Phương pháp phỏng vấn sâu
Để có thêm thông tin chân thực, rõ ràng và chính xác phục vụ việc
nghiên cứu, chúng tôi đưa ra một số câu hỏi phỏng vấn sâu người dân và
chính quyền địa phương.
8.6. Phương pháp nghiên cứu chân dung tâm lý.
Phương pháp này được thực hiện nhằm phản ánh rõ nét hơn về
mức độ nhu cầu việc làm của người dân ở một số vùng đô thị hóa tại Hải
Phòng và nguyên nhân của mức độ đó.
8.7. Phương pháp xử lý kết quả nghiên cứu bằng thống kê toán
học
Chúng tôi sử dụng công thức tính trung bình, tính phần trăm và sử
dụng phần mềm SPSS để phân tích, xử lí kết quả thu được từ phiếu điều
tra bằng bảng hỏi.
12
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU VÀ NHU CẦU VIỆC LÀM
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Nghiên cứu về nhu cầu và nhu cầu việc làm của các nhà
tâm lý học ngoài nước.
Chủ nghĩa hành vi do nhà tâm lý hoc Mỹ J.Watson (1878 - 1895)
sáng lập và được Skinner phát triển triệt để. Tâm lý học hành vi cho
rằng: Tâm lý học không mô tả, giảng giải các trạng thái ý thức mà chỉ
nghiên cứu hành vi cơ thể. Hành vi được hiểu là tổng số các cử động bên
ngoài, nảy sinh ở cơ thể nhằm đáp ứng lại một kích thích nào đó, nó
được thể hiện bằng công thức hành vi nổi tiếng S - R.
Do vậy, mọi vấn đề tâm lý như ý thức, tư tưởng, tình cảm, ý chí,
nhu cầu, động cơ… đều là những khái niệm mơ hồ, không ai nhìn thấy
được, không ai sờ thấy được và cũng không ai đo đếm được. Tất cả
chúng đều là phi vật chất và không thể quyết định được một hiện tượng
vật chất.
Song nếu xét về thực chất, ngay từ đầu thế kỉ 19, các tác giả như
Wkoler, Ethordike, NE.Miller đã có những thí nghiệm nghiên cứu về
nhu cầu ở động vật và khẳng định: Các kiểu hành vi của con vật được
thúc đẩy bởi nhu cầu (bằng việc đưa ra “luật hiệu ứng” và giả thuyết về
mối liên hệ kích thích - phản ứng), từ đó kết luận: Nhu cầu có thể quyết
định hành vi.
Sau này, các đại biểu tâm lý hoc hành vi mới đưa vào công thức S
- R một biến số O - biến số trung gian đó là: Nhu cầu, trạng thái chờ
đón, kinh nghiệm sống… các tác giả này giải thích rằng: O là biến số
trung gian có tác dụng điều chỉnh đáp ứng phù hợp với các kích thích
vào cơ thể.
Xét về mặt quan điểm: Các nhà tâm lý học hành vi không coi nhu
cầu thuộc về tâm lý nhưng trên thực tế các thực nghiệm đã chỉ ra các nhà
13
tâm lý học hành vi nghiên cứu khá rõ và kĩ về nhu cầu, đặc biệt là những
nhu cầu cụ thể, nhu cầu sinh lý.
Clack Hull với thuyết xung năng theo hướng tiếp cận sinh học cho
rằng: Các nhu cầu sinh lý chi phối đời sống con người mặc dù ông
không phủ định sự có mặt của những nhu cầu, động cơ khác. Về bản
chất, thuyết xung năng đã sinh vật hóa nhu cầu của con người. Xem nhu
cầu như là xung năng mang tính sinh vật, nảy sinh từ sự thiếu hụt thức
ăn, nước uống, không khí, nguy hiểm… qua đó phủ nhận tính xã hội,
bản chất xã hội của nhu cầu. Quy gán: nhu cầu nội tâm và nhu cầu xã
hội đều do nhu cầu sinh vật tạo ra.
Trong lý thuyết phân tâm của mình, Freud (1856 - 1939) đã đề
cập đến vấn đề nhu cầu của cơ thể trong “Lý thuyết bản năng của con
người”. Ông khẳng định, Phân tâm học coi trọng nhu cầu tự do cá nhân
như các nhu cầu tự nhiên, đặc biệt là nhu cầu tình dục. Việc thoả mãn
nhu cầu tình dục sẽ giải phóng năng lượng tự nhiên và như thế tự do cá
nhân thực sự được tôn trọng, kìm hãm nhu cầu này sẽ dẫn đến hành vi
mất định hướng của con người. “Khát dục” trong Phân tâm học không
có ý nói đến việc thỏa mãn những khát khao thông thường mà là sự đòi
hỏi thỏa mãn những khát khao mãnh liệt. Những mong muốn này được
thỏa mãn sẽ đem lại cho con người những khoái cảm đặc biệt và sẽ tạo
ra một trạng thái tâm lý sung sướng, khoan khoái, dễ chịu. Khi một khát
vọng nào đó chưa được thỏa mãn thì sự căng thẳng về mặt tâm lý lên
đến tột đỉnh”.
Erich Fromm nhà Phân tâm học mới quan niệm: “Nhu cầu tạo ra
cái tự nhiên của con người, đó là những nhu cầu:
1. Nhu cầu quan hệ người - người.
2. Nhu cầu tồn tại “cái tâm” con người
3. Nhu cầu đồng nhất bản thân và xã hội với dân tộc, giai cấp, tôn
giáo.
14
4. Nhu cầu về sự bền vững và hài hòa.
5. Nhu cầu nhận thức, nghiên cứu. [2; 170]
Các nhà tâm lý học gestal đề cập đến nhân tố thúc đẩy hoạt động
của con người không chỉ có xung năng mà còn có cả nhu cầu xã hội. Khi
một nhu cầu nào đó xuất hiện thì đồng cũng xuất hiện liên tưởng có liên
quan đến nhu cầu đó của chủ thể. Mọi ý nghĩ của con người đều có liên
quan đến các nhu cầu khác nhau, vì vậy tạo ra một chuỗi những căng
thẳng là nguồn gốc tính cực của hoạt động, đồng thời mang tính tích cực
hoạt động làm giảm trạng thái căng thẳng đó.
A. Maslow (1908 - 1970) được xem là người sáng lập và dẫn đầu
trào lưu chủ nghĩa nhân văn trong tâm lý học Mỹ. Maslow khẳng định
cách tiếp cận nhân cách của ông là nhằm đánh giá đầy đủ tiềm năng
sáng tạo nhất của con người.
Theo Maslow, con người có 5 nhu cầu gốc (những nhu cầu khác
đều phát sinh từ những nhu cầu này) được sắp xếp thành bậc thang theo
thứ bậc từ thấp lên cao, chúng hoạt hóa và điều khiển hành vi con người.
Bậc thang đó bao gồm:
1. Physiological: Nhu cầu sinh học như: Ăn, uống, nghỉ ngơi…
2. Safety/security: Nhu cầu an toàn
3. Belonginess and Love: Nhu cầu được chấp nhận và yêu thương
4. Esteem: nhu cầu được tôn trọng
5. Actualization: Nhu cầu tự thể hiện
Theo ông muốn phát triển nhu cầu ở bậc cao hơn thì ít nhất nhu
cầu ở bậc thấp hơn (liền kề) phải được thỏa mãn đến mức độ nhất
định.Việc thỏa mãn nhu cầu ở bậc thang thấp hơn sẽ kích thích người ta
nghĩ tới việc phải thỏa mãn nhu cầu ở bậc cao hơn. Vì vậy, về nguyên
tắc ở cùng một thời điểm chỉ có một nhu cầu chiếm vị trí nổi trội trong
nhân cách của mỗi người. Sự phát triển của mỗi nhu cầu trong thang nhu
cầu đều phụ thuộc vào những nhu cầu khác có được thỏa mãn hay
15
không. Maslow gọi những nhu cầu ở bậc thang thấp là những nhu cầu bị
thiếu hụt (không được thỏa mãn dễ gây ra sự thiếu hụt cho cơ thể). Trái
lại, những nhu cầu ở bậc thang cao do ít cần thiết cho sự tồn tại nên việc
thỏa mãn những nhu cầu này có thể trì hoãn (không nhất thiết phải thỏa
mãn ngay). Tuy nhiên, việc thỏa mãn những nhu cầu ở bậc thang cao lại
quan trọng cho sự phát triển của cá nhân nên Maslow gọi các nhu cầu
này là nhu cầu phát triển. Nó có tác dụng kích thích sự xuất hiện những
nhu cầu mới hướng tới hoàn thiện con người qua sự tham gia vào những
hoạt động có tính thách thức ngày một nhiều hơn. [trích bởi 12, 126 -
127]
Thứ tự thỏa mãn nhu cầu lần lượt từ thấp đến cao theo kiểu “leo
thang” như cách luận giải của Maslow là một quan niệm máy móc và
cứng nhắc không phù hợp với thực tiễn diễn ra trong đời sống tâm lý
con người. Tuy nhiên, quan niệm này có ý nghĩa rất lớn đối với những
nghiên cứu về nhu cầu của các nhà Tâm lý học sau này.
Khi nghiên cứu về vấn đề nhu cầu Herry Murray khẳng định:
“Nhu cầu là một tổ chức cơ động, hướng dẫn và thúc đẩy hành vi. Nhu
cầu ở mỗi người khác nhau về cường độ, mức độ, đồng thời các loại nhu
cầu chiếm ưu thế cũng khác nhau ở mỗi người”. Do ảnh hưởng của phân
tâm học nên ông cho rằng nhu cầu quy định xu hướng nhân cách đều
xuất phát từ nguồn năng lượng libido vô thức.
Tuy nhiên, ông cũng đưa ra quan điểm tiến bộ về nhu cầu: Thể
nghiệm ban đầu là cảm giác băn khoăn luôn ám ảnh con người cũng như
con người cảm thấy thiếu thốn một cái gì đó, nó cần thiết cho hoạt động
sống của chủ thể và do đó gây cho chủ thể một mục đích tích cực nhất
định.
Carl Rogers (1902 - 1987) là nhà trị liệu tâm lý nổi tiếng với liệu
pháp “thân chủ trọng tâm”. Trong nghiên cứu của mình ông đã đề cập
đến vai trò của nhu cầu về sự quan tâm tích cực tới việc phát triển “cái
16
tôi” của đứa trẻ. Nhu cầu về sự quan tâm tích cực được hiểu là nhu cầu
được thừa nhận, được yêu thương, được ủng hộ từ những người khác,
đặc biệt là từ mẹ và những người thay thế mẹ khi trẻ ở tuổi sơ sinh.
Hành vi của trẻ được điều khiển tùy thuộc vào tính chất, nội dung và
mức độ của sự thừa nhận, yêu thương và ủng hộ mà trẻ nhận được từ
những người khác. Ông cũng nhấn mạnh, nhu cầu về sự quan tâm tích
cực có tính chất tương hỗ. Khi một người tự đòi hỏi mình phải làm việc
để đáp ứng nhu cầu của ai đó về sự quan tâm tích cực cũng được người
đó thoả mãn. [trích bởi 12, 133]
Philip Kotler khi nghiên cứu về nhu cầu trong hoạt động quản trị
kinh doanh đã đưa ra quan điểm để phân biệt nhu cầu, mong muốn và
yêu cầu. Theo ông, nhu cầu là trạng thái cảm giác thiếu hụt một sự thỏa
mãn cơ bản nào đó của cơ thể, tồn tại như một bộ phận cấu thành cơ thể
và nhân thân của con người.
Mong muốn là ước ao có được những thứ cụ thể để được thỏa
mãn nhu cầu sâu xa nào đó. Nó không ngừng phát triển và được định
hình bởi các lực lượng và chế định xã hội.
Yêu cầu là mong muốn có được những thứ cụ thể được hậu thuẫn
bởi khả năng có thể chiếm lĩnh và thái độ sẵn sàng chiếm lĩnh chúng
(trong kinh doanh, yêu cầu là những sản phẩm cụ thể được hậu thuẫn bởi
khả năng và thái độ sẵn sàng mua chúng). Từ đó, ông khẳng định:
“Những người làm makerting không tạo ra nhu cầu, nhu cầu đã tồn tại
trước khi có những người làm makerting”.
Ông cũng chia nhu cầu thành 5 kiểu khác nhau:
1. Nhu cầu được nói ra
2. Nhu cầu thực tế
3. Nhu cầu không được nói ra
4. Nhu cầu được thích thú
5. Nhu cầu thầm kín
17
Nhìn chung, quan điểm của ông về nhu cầu chỉ ứng dụng trong
hoạt động quản trị kinh doanh nhưng nó cũng đóng góp một phần trong
việc tìm hiểu nhu cầu của con người.
D. N. Uznatze là người đầu tiên trong tâm lý học Xô Viết nghiên
cứu về nhu cầu. Ông khám phá ra mối quan hệ giữa nhu cầu và hành vi,
tương ứng với mỗi kiểu hành vi là một nhu cầu. Ông cho rằng: “Không
có gì đặc trưng cho một cơ thể sống hơn sự có mặt của nó ở nhu cầu.
Nhu cầu, đó là cội nguồn của tính tích cực”. Với ý nghĩa này thì khái
niệm nhu cầu rất rộng, nhu cầu là một thuộc tính tâm lý đặc trưng giữ
vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hành vi. Theo ông: “Nhu cầu là
yếu tố quyết định tạo ra tính tích cực của chủ thể, nó xác định xu hướng,
tính chất hành vi”. Đồng thời Uznatze khẳng định: “Có thể dựa vào nhu
cầu của con người để phân loại hành vi của con người”. [15, 20]
X.L Rubinstein khẳng định: Con người có nhu cầu sinh vật nhưng
bản chất của con người là sản phẩm của xã hội vì thế phải xem xét đồng
thời các vấn đề cơ bản của con người với nhân cách. Nói đến nhu cầu
của con người là nói đến việc đòi hỏi một cái gì đó hay một điều gì đó
nằm ngoài con người có thể thỏa mãn nhu cầu. Khả năng đáp ứng những
đòi hỏi ấy một mặt phụ thuộc vào thế giới đối tượng trong những điều
kiện cụ thể, mặt khác nó phụ thuộc vào sự nỗ lực, năng lực của chính
chủ thể. Do đó, khi nói đến nhu cầu sẽ xuất hiện hai hệ thống là: thế giới
đối tượng và trạng thái tâm lý của chủ thể, tức là phải có mối quan hệ
thống nhất giữa hai yếu tố khách quan (của đối tượng) và yếu tố chủ
quan (của chủ thể) trong hoạt động thỏa mãn nhu cầu. [15, 21]
Nhu cầu mang tính tích cực thúc đẩy con người hoạt động tìm
kiếm cách thức, phương tiện, đối tượng thoả mãn nó.
P.X. Ximonov thì cho rằng: Trong trường hợp nhu cầu cấp bách
xuất hiện mà thiếu hụt thông tin về khả năng thoả mãn sẽ nảy sinh
những rung cảm âm tính làm tăng năng lượng nhu cầu. Tuy nhiên, kết
18
quả hành vi lại không thuận lợi, kết quả dương tính sẽ làm giảm tổng thể
các hành động thoả mãn nhu cầu. Theo ông, đặc điểm nhu cầu phụ thuộc
vào việc được trang bị thông tin, công cụ và cách thức nhằm thoả mãn
nhu cầu. [15, 18]
A.N.Leonchiep cho rằng: Nhu cầu với tính chất là sức mạnh nội
tại thì chỉ có thể được thực thi trong hoạt động. Lúc đầu nhu cầu chỉ xuất
hiện như là một điều kiện, một tiền đề cho hoạt động, chỉ đến khi chủ
thể thực sự bắt đầu hành động với đối tượng thì lập tức xảy ra sự biến
hóa của nhu cầu, nó không còn tồn tại một cách tiềm tàng nữa. Sự phát
triển của hoạt động càng đi xa bao nhiêu thì nhu cầu càng chuyển hóa
bấy nhiêu thành kết quả của hoạt động.
Ông phê phán việc tách nhu cầu ra khỏi hoạt động vì như vậy sẽ
coi nhu cầu là điểm xuất phát của hoạt động theo sơ đồ: Nhu cầu - hoạt
động - nhu cầu. Mối liên hệ giữa hoạt động với nhu cầu được ông mô tả
bằng sơ đồ: Hoạt động - Nhu cầu - Hoạt động. Luận điểm này đáp ứng
được quan điểm Macxit về nhu cầu khi cho rằng nhu cầu của con người
được sản xuất ra. Ông cũng cho rằng: Nhu cầu của con người không chỉ
được sản xuất ra mà còn được cải biến ngay trong quá trình sản xuất và
tiêu thụ. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu của con người cũng phát
triển theo hướng ngày càng đa dạng và phong phú, đồng thời cá nhân
cũng có những phương tiện, điều kiện khác nhau để thỏa mãn nhu cầu
của mình. Nhu cầu không phải là cái bất di bất dịch mà nó luôn luôn vận
động, biến đổi không ngừng trong môi trường xã hội. Mỗi con người
khác nhau với những mục đích khác nhau sẽ có nhu cầu khác nhau, thậm
chí ở một cá nhân, tại một thời điểm cũng có thể có nhiều nhu cầu khác
nhau cùng tồn tại nhưng sẽ có một nhu cầu cơ bản, thiết yếu nhất nổi lên
buộc cá nhân phải thỏa mãn ngay, các nhu cầu khác có thể tạm thời trì
hoãn được.
19
Khi xem xét mối quan hệ giữa nhu cầu với động cơ, ông cho rằng:
“Khi đối tượng của nhu cầu xuất hiện, được nhận biết (được cảm nhận,
được hình dung hoặc được tư duy) thì có được chức năng thúc đẩy,
hướng dẫn hoạt động tức là trở thành động cơ. Hay nội dung đối tượng
của nhu cầu chính là động cơ của hoạt động. Một hoạt động diễn ra bao
giờ cũng hướng vào việc đạt mục đích, đạt kết quả ở một mức độ nhất
định. Động cơ của hoạt động chính là cái nhu cầu đã được đối tượng hóa
và được hình dung trước dưới dạng các biểu tượng của kết quả hoạt
động”. [10, 21]
Như vậy, có rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu về nhu
cầu và họ đều đưa ra những quan điểm và dẫn chứng chứng minh cho
tính đúng đắn của nó dựa trên cách tiếp cận của riêng mình. Tuy nhiên,
quan điểm về nhu cầu của các nhà Tâm lý học Xô Viết dường như được
nhiều nhà khoa học đồng thuận hơn cả. Ở Việt Nam hiện nay, khi
nghiên cứu về nhu cầu cũng lấy quan điểm của các nhà Tâm lý học Xô
Viết làm nền tảng.
Trong nghiên cứu mới nhất của các nhà khoa học Mỹ về nhu cầu
việc làm công nghệ thông tin chỉ ra rằng: Nhu cầu về các nhà chuyên
nghiệp công nghệ thông tin (CNTT) đang dâng lên nhanh hơn mong đợi.
Bùng nổ của công nghệ thông tin trong kinh doanh toàn cầu nơi "dây
chuyền giá trị" được kết nối từ khách hàng tới nhà chế tạo và nhà cung
cấp và gần đây với thị trường ứng dụng di động đã làm tăng thêm nhiều
nhu cầu đối với việc thiếu hụt công nhân.
Trong nước Mĩ, việc sử dụng nhân công trong lĩnh vực CNTT đã
tăng 23% từ năm 2008 tới 2010 cho dù với suy thoái kinh tế. Cục thống
kê lao động Mĩ dự báo rằng CNTT là lĩnh vực có tiềm năng lớn nhất về
tăng trưởng trong mười năm tới. Tạp chí Money nhận diện "kĩ sư phần
mềm" ở hàng đầu của danh sách của họ về "Việc làm tốt nhất ở Mĩ." Và
trong mười việc làm hàng đầu thì bẩy việc làm có liên quan tới CNTT.
20
Đồng thời khẳng định: “Triển vọng nhu cầu cao và tăng trưởng mạnh
với mức lương đầu vào là quãng $95,500 tới $125,000 đưa nó lên hàng
đầu của danh sách như nghề nghiệp được thưởng nhiều nhất và tốt nhất
ngày nay"[20, 1].
1. 1.2. Nghiên cứu về nhu cầu và nhu cầu việc làm của các nhà
tâm lý học trong nước.
Đề cập đến quan niệm của các nhà Tâm lý học Việt Nam về nhu
cầu, chúng ta có thể tìm thấy qua một số tập sách như: Tâm lý học Liên
Xô - Tuyển những bài báo, Nxb Tiến Bộ năm 1978, Tâm lý học
Vưgôtxki, Nxb Giáo Dục năm 1997 của tác giả Phạm Minh Hạc, Tâm lý
học, Nxb ĐHQGHN năm 2000 của tác giả Bùi Văn Huệ, Tâm lý học đại
cương, Nxb ĐHSPHN năm 2003 của tác giả Nguyễn Quang Uẩn,
Nguyễn Văn Lũy, Đinh Văn Vang, Tâm lý học đại cương, Nxb Giáo
Dục năm 1989 của tác giả Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng
Thủy.
Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn: “Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu
mà con người thấy cần được thoả mãn để tồn tại và phát triển”.
Nhu cầu cũng có thể được định nghĩa là: “Trạng thái của cá nhân,
xuất phát từ chỗ nhận thấy các đối tượng cần thiết cho sự tồn tại và phát
triển của mình và đó là nguồn gốc tính tích cực của cá nhân”.
Trong Tâm lý học quản trị kinh doanh, tác giả Nguyễn Hữu Thụ
đưa ra quan niệm về nhu cầu như sau: “Nhu cầu là trạng thái tâm lý,
mong muốn của cá nhân đòi hỏi phải thỏa mãn để tồn tại và phát triển”
[16; 52].
Các tác giả Phạm Minh Hạc, Lê Khanh và Trần Trọng Thủy lại
viết rằng: “ Để tồn tại và phát triển cá nhân phải đòi hỏi ở môi trường
xung quanh những cái cần thiết (không thể thiếu) cho mình. Sự đòi hỏi
ấy là nhu cầu của cá nhân. Nói đến nhu cầu là nói đến sự đòi hỏi của cá
nhân về một cái gì đó ở ngoài nó, cái đó có thể là một sự vật, một hiện
21
tượng hoặc những cái khác. Trong ý nghĩa đó nhu cầu biểu lộ sự gắn bó
của cá nhân với thế giới xung quanh, sự phụ thuộc của cá nhân vào thế
giới đó”. Mặt khác “khi xuất hiện một nhu cầu cụ thể thì chủ thể sẽ
hướng trí lực của mình vào việc tìm kiếm các phương thức, điều kiện để
thoả mãn nhu cầu đó, vì vậy nảy sinh đòi hỏi với tư cách là phương thức
thoả mãn nhu cầu. Nhu cầu xuất hiện với cường độ mạnh, thúc đẩy con
người hoạt động nhằm thoả mãn nó. Khi nhu cầu không được thoả mãn,
ở chủ thể sẽ xuất hiện trạng thái căng thẳng, cảm xúc âm tính”.
Như vậy, các nhà Tâm lý học trong nước đã khẳng định nhu cầu
là hình thức tồn tại giữa cơ thể sống và thế giới xung quanh, là nguồn
gốc của tính tích cực. Mọi hoạt động của con người đều là quá trình tác
động vào đối tượng nhằm thoả mãn nhu cầu. Với ý nghĩa đó, nhu cầu
được hiểu là trạng thái cảm nhận được sự cần thiết của đối tượng đối với
sự tồn tại và phát triển của mình và xuất hiện như là nguồn gốc tạo ra
tính tích cực hoạt động. Nhu cầu được thoả mãn sẽ tạo ra nhu cầu mới ở
mức độ cao hơn, con người sau khi hoạt động để thoả mãn nhu cầu này
sẽ làm phát triển nó và nảy sinh ra nhu cầu khác cao hơn nữa.
Bên cạnh các tập sách viết về nhu cầu còn có nhiều công trình
nghiên cứu về nhu cầu trên khách thể là học sinh, sinh viên của các tác
giả như Nguyễn Thạc, Hoàng Thị Thu Hà, Hà Thị Hòa Bình… Ngoài ra,
cũng có khóa luận, luận văn, luận án của các bạn sinh viên, học viên,
nghiên cứu sinh nghiên cứu về nhu cầu. Chúng ta có thể kể đến:
Luận án tiến sĩ của tác giả Lã Thị Thu Thủy, cán bộ Viện Tâm lý
học được thực hiện năm 2006 với đề tài: “Nhu cầu thành đạt nghề
nghiệp của tri thức trẻ”. Trong nghiên cứu của mình, tác giả quan niệm:
“Nhu cầu thành đạt nói chung và nhu cầu thành đạt nghề nghiệp nói
riêng được hiểu là nhu cầu tinh thần, nhu cầu bậc cao của con người.
Sự thành công trong hoạt động nghề nghiệp chỉ có được khi nó xuất
phát từ chính nhu cầu phát triển nghề nghiệp của họ. Khi nhu cầu này
22
được thỏa mãn thì nảy sinh nhu cầu ở cấp độ cao hơn. Nó quy định
chiều hướng, tính chất của hoạt động. Nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu
là sức mạnh nội tại, là động lực thúc đẩy con người hoạt động, điều
chỉnh hành vi. Không giống với các loại nhu cầu vật chất đơn thuần
khác, nhu cầu thành đạt luôn có xu hướng phát triển” [17; 52].
“Nhu cầu thông tin của khách thể tuyên truyền” là đề tài luận án
tiến sĩ Tâm Lý Học của tác giả Hà Thị Hòa Bình năm 2001. Trong đề tài
này, tác giả quan niệm: “Nhu cầu thông tin của khách thể tuyên truyền
là những đòi hỏi mang tính tự giác của cá nhân và nhóm xã hội (trong
điều kiện cụ thể của hoạt động tuyên truyền) về những tin tức thông báo
có liên quan đến lợi ích của họ, những đòi hỏi đó quy định sự lựa chọn
thông tin của khách thể tuyên truyền”. Đồng thời, tác giả còn cho rằng:
Khách thể tuyên truyền là nông dân, công nhân và cán bộ phường xã có
nhu cầu thông tin khác nhau về các lĩnh vực: Kinh tế, thời sự, văn nghệ,
thể thao, giáo dục và quân sự, trong đó thông tin kinh tế, thời sự luôn
chiếm được sự quan tâm cao của khách thể. Tùy theo đòi hỏi của mỗi
nhóm và lợi ích do thông tin đem lại mà ở các thời điểm khác nhau thì
nhu cầu thông tin của các nhóm cũng khác nhau [2, 54].
Năm 2003, Hoàng Thị Thu Hòa với luận án tiến sĩ mang tên “Nhu
cầu học tập của sinh viên sư phạm” đã khẳng định: “Nhu cầu học tập
của sinh viên sư phạm là nhu cầu học tập chuyên nghiệp, ở trình độ cao
về nghề dạy học, là nhu cầu lĩnh hội hệ thống kiến thức khoa học, kỹ
năng, kỹ xảo mới, cách thức tiếp cận chúng; đáp ứng yêu cầu chuyên
môn, nghiệp vụ sư phạm hướng tới việc rèn luyện và hoàn thiện nhân
cách giáo viên tương lai. Nó là thành tố cơ bản của động cơ học tập
mang tính nghề nghiệp thúc đẩy sinh viên tích cực học tập, nâng cao kết
quả học tập” (10, 58).
Các công trình nghiên cứu trên đã làm rõ thêm lý luận về nhu cầu,
vai trò của nhu cầu trong thực tiễn đời sống tâm lý của con người.
23
Nhu cầu việc làm là nhu cầu được làm việc, được hoạt động, nó là
nhu cầu cấp cao, được con người sáng tạo ra và có sự tham gia mạnh mẽ
của ý thức, nó khác với nhu cầu sinh học. Hoạt động là yếu tố hiện thực
hóa nhu cầu, là bằng chứng thể hiện và khẳng định giá trị tồn tại của con
người, không ai sống mà không hoạt động, không làm việc. Bởi thế nhu
cầu việc làm có ở bất kỳ cá nhân nào trong xã hội và mức độ thiết thân,
thường trực của nó ở mỗi cá nhân khác nhau là khác nhau.
1.2. Một số khái niệm công cụ của đề tài
1.2.1. Khái niệm nhu cầu
1.2.1.1. Khái niệm
Theo “Từ điển tâm lí học” của tác giả Nguyễn Khắc Viện: “Nhu
cầu là điều cần thiết để đảm bảo sự tồn tại và phát triển. Được thỏa mãn
thì dễ chịu, thiếu hụt thì khó chịu, căng thẳng, ấm ức. Có nhu cầu của cá
nhân, nhu cầu của tập thể, khi hòa hợp, khi thu ẩn, có nhu cầu cơ bản
thiết yếu, có nhu cầu thứ yếu giả tạo. Nhu cầu do trình độ phát triển xã
hội mà biến đổi, cho nên cần xác định rõ ràng những tiêu chuẩn sinh lí,
xã hội, tâm sinh lí để phân biệt những nhu cầu xác đáng với những ham
muốn đòi hỏi không quan trọng”. [18, 266]
Trần Hiệp trong “Tâm lí học xã hội - những vấn đề lí luận” cho
rằng: “Nhu cầu là một trong những nguồn gốc nội tại sinh ra tính tích
cực của con người. Đó là trạng thái tâm lí xuất hiện khi cá nhân cảm
thấy mình cần phải có những điều kiện nhất định để đảm bảo sự tồn tại
và phát triển. Trạng thái tâm lí đó kích thích con người hoạt động nhằm
đạt được những điều mình mong muốn”.
“Nhu cầu là một trạng thái tâm lí liên quan đến sự thỏa mãn hay
không thỏa mãn của các điều kiện hàng hóa để tồn tại và phát triển”. Đó
chính là quan điểm của tác giả Nguyễn Đình Xuân. [19, 271]
Theo từ điển tâm lý học, nhà xuất bản xã hội năm 2006 của tác giả
Vũ Dũng chủ biên: “Nhu cầu là trạng thái tâm lý của cá nhân, xuất phát
24
từ chỗ nhận thấy cần những đối tượng cần thiết cho sự tồn tại và phát
triển của mình và đó là nguồn gốc của tính tích cực cá nhân”. [3,127]
Như vậy, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về nhu cầu nhưng đều
đi đến một sự thống nhất chung: Nhu cầu là nguyên nhân của hoạt động,
là một trạng thái tâm lý của nhân cách.
Nhu cầu gắn liền với hoạt động sản xuất của con người, nền sản
xuất càng phát triển, sản xuất ra càng nhiều cái mới thì nhu cầu của con
người càng cao. Nhu cầu vừa là tiền đề vừa là kết quả không chỉ của
hoạt động lao động mà còn là kết quả sự phát triển của con người. Chính
vì thế nhu cầu là trạng thái của cá nhân, nó có khả năng điều khiển hành
vi, xác định xu hướng tư duy, tình cảm và lí trí của con người.
Nhu cầu của con người hình thành trong quá trình giáo dục với
nghĩa rộng, tức là con người được tiếp xúc với văn hóa của loài người
vừa có tính vật thể (nhu cầu vật chất) vừa có tính chức năng (nhu cầu
tinh thần). Sự khác nhau của các hình thức văn hóa nhu cầu tinh thần
tương ứng được xác định bởi sự phát triển nội dung sản xuất. Thỏa mãn
nhu cầu của con người thực chất là quá trình chiếm lĩnh một hình thức
hoạt động nhất định trong xã hội.
Vì quá trình thỏa mãn nhu cầu của con người là hoạt động có định
hướng nên nhu cầu là nguồn gốc của tính tích cực. Nhu cầu và mục đích
của con người có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Mục đích của con người
là nhu cầu được ý thức chủ quan, con người tin rằng nhu cầu chỉ thực sự
thỏa mãn khi đạt được mục đích. Điều đó tạo cho họ khả năng cân nhắc
giữa hình dung chủ quan của họ về nhu cầu với nội dung khách quan của
nó khi tìm kiếm công cụ để đạt được mục đích tức là chiếm lĩnh đối
tượng. Nếu nhu cầu không được thỏa mãn sẽ làm nảy sinh xúc cảm âm
tính, kìm hãm hoạt động của con người gây ra những hậu quả nặng nề về
thể chất và tinh thần.
25
Như vậy, có rất nhiều quan niệm khác nhau về nhu cầu, trong đề
tài này, chúng tôi quan niệm: “Nhu cầu là trạng thái tâm lý của con
người, là mong muốn, là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được
thỏa mãn để tồn tại và phát triển với tư cách là một nhân cách”.
1.2.1.2. Đặc điểm của nhu cầu
+ Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng.
Theo X. L. Rubinstein ở cấp độ tâm lý nhu cầu bao giờ cũng có
đối tượng xác định. Đối tượng của nhu cầu nằm ngoài chủ thể lại là nơi
chứa đựng khả năng thỏa mãn nhu cầu ấy. Bản thân đối tượng đáp ứng
nhu cầu luôn tồn tại một cách khách quan và không tự bộc lộ ra khi chủ
thể có cảm giác thiếu hụt hay đòi hỏi. Nó chỉ bộc lộ ra khi chủ thể tiến
hành hoạt động, nhờ vậy mà nhu cầu có tính đối tượng.
Nhu cầu là yếu tố đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của con
người bởi nó luôn là động lực thúc đẩy con người hoạt động. Khi nhu
cầu gặp đối tượng làm xuất hiện những mối liên hệ cơ động giữa nhu
cầu với vật thể. Chính quá trình gặp gỡ giữa nhu cầu với vật thể đã làm
nảy sinh động cơ và hướng dẫn hoạt động của chủ thể. Ở con người, đối
tượng đáp ứng yêu cầu cũng như bản thân các trạng thái nhu cầu đều
được phản ánh vào đầu óc con người dưới dạng biểu tượng với tính chất
là một hiện tượng tinh thần. Ở đây sự biến đổi có ý nghĩa quan trọng
nhất đặc trưng cho sự chuyển tiếp sang cấp độ tâm lý là sự xuất hiện
những mối liên hệ cơ động giữa nhu cầu và đối tượng thỏa mãn nhu cầu.
+ Tính ổn định của nhu cầu:
Trong xu thế vận động, nhu cầu có thể xuất hiện lặp lại khi sự đòi
hỏi gây ra nhu cầu tái thiết. Ở cấp độ tâm lý, nhu cầu có tính ổn định.
+ Tính tích cực của nhu cầu:
Nhu cầu bao giờ cũng mang tính tích cực, nó thúc đẩy cá nhân
tiến hành hoạt động nhằm chiếm lĩnh đối tượng thỏa mãn nhu cầu của