ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HÀ ĐĂNG TIÊN
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG QUÁ TRÌNH HỘI
NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ
MÃ SỐ: 60.31.40
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Hoàng Phước Hiệp
Hà Nội - 2010
1
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
MỞ ĐẦU 7
1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài 7
2. Tình hình nghiên cứu đề tài 8
3. Mục đích, yêu cầu và phạm vi nghiên cứu 8
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài 9
5. Đóng góp mới của đề tài 9
6. Địa chỉ, cơ quan, tổ chức sử dụng đề tài 9
7. Cấu trúc của luận văn 9
CHƢƠNG 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1.1. Khái niệm thƣơng mại điện tử 11
1.1.1. Thương mại điện tử là gì? 11
1.1.2. Các hình thức ứng dụng của thương mại điện tử 15
1.1.3. Các mô hình thương mại điện tử và những khác biệt giữa thương mại truyền
thống và thương mại điện tử 16
1.2. Tác động của thƣơng mại điện tử đến quan hệ quốc tế 20
1.2.1. Vai trò của thương mại điện tử 24
1.2.2. Vai trò của thương mại điện tử đối với hội nhập kinh tế quốc tế 28
1.3. Những hạn chế của thƣơng mại điện tử 30
CHƢƠNG 2
THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG THỰC TIỄN QUAN HỆ QUỐC TẾ
2.1. Tình hình phát triển thƣơng mại điện tử trên thế giới 32
2.2. Những quy định pháp lý quốc tế đối với thƣơng mại điện tử 39
2.2.1. Hoạt động của một số tổ chức quốc tế liên quan đến thương mại điện tử . 39
2
2.2.1.1. Hoạt động của các tổ chức kinh tế thương mại khu vực 40
2.2.1.2. Hoạt động của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) 41
2.2.2. Luật mẫu về Thương mại điện tử của UNCITRAL 47
2.2.3. Các hiệp định của WTO liên quan về thương mại điện tử 48
2.2.3.1. Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS) 48
2.2.3.2. Hiệp định về Quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPS) 53
2.2.3.3. Hiệp định về Mua sắm chính phủ (GPA) 56
2.2.3.4. Hiệp định về việc Thực hiện Điều VII của GATT 1994 (CVA) 56
2.2.3.5. Hiệp định về các sản phẩm Công nghệ thông tin (ITA) 57
2.2.3.6. Trợ giúp thương mại 58
2.2.3.7. Tuyên bố về thương mại điện tử toàn cầu 58
2.3. Những thuận lợi và khó khăn trong việc thực thi thƣơng mại điện tử 59
2.3.1. Những thuận lợi 60
2.3.1.1. Giúp thiết lập và củng cố quan hệ đối tác và làm giảm các vấn đề toàn cầu
61
2.3.1.2. Tạo điều kiện sớm tiếp cận kinh tế số hóa và gia tăng của toàn cầu hóa kinh
tế, tác động tới xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển 63
2.3.2. Những khó khăn 65
2.3.2.1. Bất đồng giữa các quốc gia 66
2.3.2.2. Về trình độ 67
2.3.2.3. Ảnh hưởng của sản xuất nội địa 71
CHƢƠNG 3
VIỆT NAM THAM GIA VÀO THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
3.1. Tình hình phát triển thƣơng mại điện tử ở Việt Nam 74
3.1.1. Doanh nghiệp đã từng bước ứng dụng thương mại điện tử 75
3.1.2. Thương mại điện tử đã đang phát triển ở nhiều địa phương 75
3.1.3. Dịch vụ công trực tuyến tiếp tục có bước phát triển tích cực 76
3.1.4. Đào tạo trực tuyến đã hình thành 76
3.1.5. Mua bán hàng hóa và dịch vụ qua Internet đang quen thuộc với một bộ phận
người tiêu dùng tại các đô thị lớn 77
3
3.2. Những thuận lợi và khó khăn 78
3.3. Hệ thống chính sách, pháp luật về thƣơng mại điện tử 83
3.3.1. Các chính sách liên quan đến công nghệ thông tin và thương mại điện tử 84
3.3.2. Hợp tác quốc tế về thương mại điện tử 86
3.3.3. Hệ thống pháp luật về thương mại điện tử 87
3.4. Một số thách thức trong hoạt động thực thi pháp luật về thƣơng mại điện
tử 89
3.4.1. Nhiều văn bản pháp luật chưa thực sự đi vào cuộc sống 89
3.4.2. Ý thức thi hành của người dân chưa cao 89
3.4.3. Cơ chế giám sát, chế tài chưa đủ mạnh 90
3.4.4. Thiếu cơ chế giải quyết tranh chấp 90
3.5. Giải pháp 91
3.5.1. Đối với các cơ quan quản lý nhà nước 91
3.5.2. Đối với các doanh nghiệp 92
3.5.3. Đối với người tiêu dùng 93
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
APEC Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á- Thái Bình Dương (Asia
Pacific Economic Cooperation)
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast
Asia Nations)
ASEM Hội nghị Á – Âu (Asia – Europe Meeting)
ATA Liên minh các tổ chức cấp chứng nhận website thương mại
điện tử uy tín châu Á – Thái Bình Dương (Asia-Pacific
Trustmark Alliance)
B2B Giao dịch thương mại điện tử giữa doanh nghiệp với doanh
nghiệp (Business to Business)
B2C Giao dịch TMĐT giữa doanh nghiệp với cá nhân (Business to
Consumer)
B2G Giao dịch TMĐT giữa doanh nghiệp với chính phủ (Business
to Government)
CTG Hội đồng Thương mại hàng hóa (Council for Trade in Goods)
CVA Hiệp định Trị giá thuế quan (Customs Valuation Agreement)
CTS Hội đồng Thương mại dịch vụ (Council for Trade in Services)
C2C Giao dịch TMĐT giữa cá nhân với cá nhân (Consumer to
Consumer)
C2G Giao dịch TMĐT giữa cá nhân với chính phủ (Consumer to
Government)
CTD Ủy ban Thương mại và Phát triển (Committee on Trade and
Development)
EDI Trao đổi dữ liệu điện tử (Electronic Data Interchange)
EU Cộng đồng châu Âu (Europe Union)
GATS Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (General Agreement
on Trade in Services)
5
GATT Hiệp định chung về Thuế quan và thương mại
(General Agreement on Tariffs and Trade)
GDP Tổng sản phẩm nội địa (Gross Domestic Product)
GPA Hiệp định về Mua sắm chính phủ (Government Procurement
Agreement)
GNP Tổng sản phẩm trong nước (Gross National Product)
G2B Giao dịch TMĐT giữa chính phủ với doanh nghiệp
(Government to Business)
G2G Giao dịch TMĐT giữa các cơ quan nhà nước với nhau
(Government to Government)
ISO Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế (International Organization for
Standardization)
ICT Công nghệ thông tin và Truyền thông (Information technology
And Communications)
ITA Hiệp định về Công nghệ thông tin (Information Technology
Agreement)
ITU Tổ chức Viễn thông quốc tế (International Telecomunication
Union)
MFN Quy chế tối huệ quốc (Most Favoured Nation)
MUTRAP Dự án Hỗ trợ thương mại đa biên (Multilateral Trade
Assistance Project)
NT Nguyên tắc đối xử quốc gia (National Treatment)
OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (Organization for
Economic Co-operation and Development)
PAA Liên minh thương mại điện tử châu Á – Thái Bình Dương (Pan
– Asia e-Commerce Alliance)
R&D Nghiên cứu và Phát triển (Research and Development)
SNG Cộng đồng các quốc gia Độc lập (Sodrujestvo Nevavisimykh
Gosudarstv)
6
TDCC Ủy ban Phối hợp truyền dữ liệu (Transportation Data
Coordinating Committee)
TMĐT Thương mại điện tử
TNCs Công ty xuyên quốc gia (Trans National Corporations)
TRIPS Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến Thương mại của
quyền sở hữu trí tuệ (Trade-related aspects of Intellectual
Property rights)
UN Tổ chức Liên Hợp Quốc (United Nations)
UNCEFACT Ủy ban Liên Hợp Quốc về Tiêu chuẩn và quy trình kinh doanh
(United Nations Centre for Trade Facilitation and Electronic
Business)
UNCITRAL Ủy ban Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại quốc tế (United
Nations Conference on international Trade Law)
UNCTAD Cơ quan Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (United
Nations Conference on Trade and Development)
UNESCAP Ủy ban Kinh tế và Xã hội khu vực châu Á – Thái Bình
Dương thuộc Liên Hợp Quốc (United Nations Economic and
Social Commission for Asia and the Pacific)
VAN Mạng gia tăng giá trị (Electronic data interchange)
WIPO Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (World Intelectual Property
Organization)
WTO Tổ chức Thương mại thế giới (World Trade Organization)
XML Ngôn ngữ đánh dấu mở rộng (Extensible Markup Language)
7
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, vấn đề thƣơng mại điện tử mà đặc
biệt là pháp luật và chính sách về thƣơng mại điện tử trong điều kiện hội nhập kinh
tế quốc tế đƣợc nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nƣớc quan tâm.
Trong các Văn kiện của Đảng và Nhà nƣớc, đặc biệt là Nghị quyết số 07-NQ/TW
ngày 27.11.2001 của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế, Nghị quyết số 48-
NQ/TW ngày 24.5.2005 của Bộ Chính trị về chiến lƣợc xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hƣớng đến năm 2020 và Nghị quyết
số 08-NQ/TW ngày 05.02.2007 của Ban Chấp hành Trung ƣơng về một số chủ
trƣơng, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là
thành viên của Tổ chức Thƣơng mại thế giới (WTO) đã đặt nhiệm vụ nghiên cứu
nắm vững các vấn đề chính sách và pháp luật quốc tế trong đó có vấn đề chính sách
và pháp luật về thƣơng mại điện tử trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế để xử lý
các vấn đề thƣơng mại điện tử ở nƣớc ta. Trong thực tế, đã có một số báo cáo
nghiên cứu, phân tích, so sánh chính sách và pháp luật Việt Nam, chính sách và
pháp luật các nƣớc và các điều ƣớc quốc tế về thƣơng mại điện tử do Ủy ban Khoa
học - Công nghệ và Môi trƣờng của Quốc hội, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ
Thƣơng mại, Bộ Tƣ pháp và nhiều bộ, ngành, các tổ chức phi chính phủ thực hiện
trong quá trình xây dựng và thông qua Luật Thƣơng mại 1997/2005, Luật Giao dịch
điện tử và các văn bản liên quan, cũng nhƣ trong quá trình thảo luận các vấn đề kinh
tế, pháp luật và quan hệ liên chính phủ về e-commerce trong khuôn khổ Hiệp hội
các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình
Dƣơng (APEC), WTO. Một số hội thảo quốc tế và trong nƣớc về thƣơng mại điện
tử và quan hệ quốc tế phát sinh từ hoạt động thƣơng mại điện tử đã đƣợc tiến hành.
Tuy vậy, vẫn còn nhiều vấn đề chính sách, pháp lý, lý luận quan hệ quốc tế liên
quan đến thƣơng mại điện tử trong điều kiện hiện nay cần đƣợc tiếp tục nghiên cứu.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này là cần thiết đối với Khoa Quốc tế học.
Xuất phát từ lý do nhƣ vậy, Tôi chọn đề tài "THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG
8
QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ " làm đề tài tốt nghiệp chƣơng trình
cao học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở nƣớc ngoài, các vấn đề lý luận về thƣơng mại điện tử đã đƣợc nghiên cứu
khá nhiều. Nhiều tài liệu quan hệ quốc tế về thƣơng mại điện tử đã đƣợc đăng tải
trên các trang web của Liên Hợp Quốc (UN), WTO, ASEAN, APEC và trên nhiều
địa chỉ của các tổ chức quốc tế, của các quốc gia khác nhau.
Thƣơng mại điện tử là một vấn đề tƣơng đối mới tại Việt Nam. Các đề tài
khác nhau liên quan đến đề tài này đã đƣợc tiến hành trong một mức độ nhất định
trong khuôn khổ Dự án Hỗ trợ thƣơng mại đa biên (MUTRAP) và một số dự án
khác. Báo cáo về thƣơng mại điện tử hàng năm của Bộ Công Thƣơng cũng đăng tải
một số thông tin cần thiết liên quan. Ngoài ra, một số giáo trình, sách viết về thƣơng
mại điện tử của các tác giả trong nƣớc cũng đã đƣợc phát hành trong một mức độ
khiêm tốn, chủ yếu cho biết những thông tin cơ bản về các khía cạnh công nghệ
thông tin – cơ sở hạ tầng cho thƣơng mại điện tử phát triển mà chƣa có hoặc có
nhƣng trong một mức độ rất hạn chế về các vấn đề lý luận cơ bản của quan hệ quốc
tế về thƣơng mại điện tử. Về cơ bản, Việt Nam chƣa có một công trình nghiên cứu
cơ bản toàn bộ các vấn đề thƣơng mại điện tử.
3. Mục đích, yêu cầu và phạm vi nghiên cứu
Xuất phát từ tình hình nghiên cứu trong nƣớc nói trên, luận văn này cố gắng
nghiên cứu có hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản về thƣơng mại điện tử trong quan
hệ quốc tế thời kỳ sau chiến tranh lạnh; nghiên cứu những vấn đề phát sinh từ thực
tiễn quốc tế liên quan đến thƣơng mại điện tử trên thế giới trong quá trình hội nhập
kinh tế; so sánh các chính sách, quy định pháp luật về thƣơng mại điện tử ở Việt
Nam với các chính sách, quy định pháp luật tiêu biểu của cộng đồng quốc tế; đánh
giá tác động của thƣơng mại điện tử trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế lên
hoạt động của các cơ quan nhà nƣớc Việt Nam, các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân
Việt Nam. Qua đó giúp ngƣời đọc hiểu và áp dụng vào thực tiễn một cách tốt hơn
về việc áp dụng thƣơng mại điện tử trong việc ký kết và thực hiện các hợp đồng
mua bán hàng hóa trong nƣớc và quốc tế.
9
Luận văn không thể giải quyết hết tất cả các vấn đề lý luận quan hệ quốc tế
liên quan đến thƣơng mại điện tử mà chỉ chọn một số vấn đề trong khả năng có thể
trong khuôn khổ đề tài cao học này. Luận văn cũng không đặt ra mục đích giải đáp
đƣợc hết các tình huống thực tiễn quan hệ quốc tế phát sinh từ việc ứng dụng
thƣơng mại điện tử ở các nƣớc. Luận văn cũng không thể đề cập đến các vấn đề tác
nghiệp, vấn đề kỹ thuật công nghệ thông tin của đề tài này.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn này sử dụng tổng hợp các biện pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch
sử, phƣơng pháp tổng hợp, đối chiếu, so sánh và phân tích các vấn đề những vấn đề
thực tiễn của thƣơng mại điện tử trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Luận văn
này có kế thừa và sử dụng các kết quả nghiên cứu khoa học của các tác giả trong và
ngoài nƣớc làm cơ sở kết luận khoa học.
5. Đóng góp mới của đề tài
Đề tài đã đóng góp về mặt lý luận cũng nhƣ thực tiễn của việc áp dụng thƣơng
mại điện tử. Ngoài ra, đề tài cũng giúp ngƣời đọc có thể hiểu đƣợc tầm quan trọng
của việc áp dụng thƣơng mại phi giấy tờ đối với quá trình phát triển của kinh tế
quốc tế.
6. Địa chỉ cơ quan, tổ chức sử dụng đề tài
Đề tài này có thể đƣợc các doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nƣớc, các
trƣờng học, các tổ chức…, sử dụng với mục đích là nguồn tài liệu tham khảo để
phục vụ trong thực tiễn để giải quyết những vấn đề có liên quan trong việc áp dụng
thƣơng mại điện tử.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo. Luận văn này
gồm ba chƣơng:
Chƣơng 1: Lý luận cơ bản về thƣơng mại điện tử
Chƣơng này giới thiệu khái niệm về thƣơng mại điện tử nhằm cung cấp cho
ngƣời đọc những lý luận cơ bản về thƣơng mại điện tử để ngƣời đọc có thể nắm
đƣợc sơ lƣợc thƣơng mại điện tử. Tác giả cũng đƣa ra bảng so sánh giữa thƣơng
10
mại truyền thống và thƣơng mại điện tử, qua đó ngƣời đọc có thể đánh giá tầm quan
trọng của thƣơng mại điện tử trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Chƣơng 2: Thƣơng mại điện tử trong thực tiễn quan hệ quốc tế
Giới thiệu tình hình phát triển thƣơng mại điện tử trên thế giới và các quy định
pháp lý quốc tế về thƣơng mại điện tử. Từ đó, tác giả muốn đề cập thực tiễn các
quốc gia đang phát triển khi tham gia vào thƣơng mại điện tử sẽ gặp những khó
khăn và thuận lợi nhƣ thế nào? Vị trí của các nƣớc lớn với vai trò là trung tâm của
thƣơng mại điện tử thế giới sẽ có cách ứng xử với các quốc gia đang phát triển ra
sao? Có hình thành một trật tự thế giới mới khi tất cả các quốc gia tham gia vào nền
kinh tế toàn cầu hay không?
Chƣơng 3: Việt Nam tham gia vào thƣơng mại điện tử
Thực trạng thực thi Quyết định 222 của Thủ tƣớng Chính phủ về “Kế hoạch
tổng thể phát triển thƣơng mại điện tử giai đoạn 2006 – 2010”. Đánh giá sơ lƣợc
những thành tựu đã đạt đƣợc trong 5 năm triển khai thực hiện, từ đó rút ra những
khó khăn và hạn chế của Việt Nam trong việc áp dụng thƣơng mại điện tử trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế.
11
CHƢƠNG 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1.1. Khái niệm thƣơng mại điện tử
1.1.1. Thương mại điện tử là gì?
Khó có thể tìm một định nghĩa có ranh giới rõ rệt cho khái niệm này. Khái
niệm thị trƣờng điện tử
1
đƣợc biết đến lần đầu tiên qua các công trình của Malone,
Yates và Benjamin nhƣng lại không đƣợc định nghĩa cụ thể. Các công trình này
nhắc đến sự tồn tại của các thị trƣờng điện tử và các hệ thống điện tử thông qua sử
dụng công nghệ thông tin và công nghệ truyền thông. Chiến dịch quảng cáo của
IBM trong năm 1988 dựa trên khái niệm “e-commerce”
2
đƣợc sử dụng từ khoảng
năm 1995, khái niệm mà ngày nay đƣợc xem là một lãnh vực nằm trong kinh doanh
điện tử (e-business).
3
Các quy trình kinh doanh điện tử có thể đƣợc nhìn từ phƣơng
diện trong nội bộ của một doanh nghiệp (quản lý dây chuyền cung ứng, thu mua
điện tử) hay từ phƣơng diện ngoài doanh nghiệp (thị trƣờng điện tử, e-commerce…)
Khái niệm cửa hàng trực tuyến
4
(onlineshop) đƣợc dùng để diễn tả việc bán
hàng thông qua trang web trong Internet của một thƣơng nhân.
Hiện nay định nghĩa thƣơng mại điện tử đƣợc rất nhiều tổ chức quốc tế đƣa ra
song chƣa có một định nghĩa thống nhất về thƣơng mại điện tử. Nhìn một cách tổng
quát, các định nghĩa thƣơng mại điện tử đƣợc chia thành hai nhóm tùy thuộc vào
quan điểm:
Hiểu theo nghĩa hẹp
Theo nghĩa hẹp, thƣơng mại điện tử chỉ đơn thuần bó hẹp thƣơng mại điện tử trong
việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phƣơng tiện điện tử, nhất là qua
_____________________
1. www.vecomhcm.vn/kien-thuc-tmdt/tai-lieu/744-dinh-nghia-tmdt.html
2. www.vecomhcm.vn/kien-thuc-tmdt/tai-lieu/744-dinh-nghia-tmdt.html
3. www.vecomhcm.vn/kien-thuc-tmdt/tai-lieu/744-dinh-nghia-tmdt.html
4. www.vecomhcm.vn/kien-thuc-tmdt/tai-lieu/744-dinh-nghia-tmdt.html
12
Internet và các mạng liên thông khác.
Theo Tổ chức Thƣơng mại thế giới,
5
“Thương mại điện tử bao gồm việc sản
xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán
trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm
giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet”.
Theo Ủy ban Thƣơng mại điện tử của Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á - Thái
Bình Dƣơng,
6
“Thương mại điện tử là công việc kinh doanh được tiến hành thông
qua truyền thông số liệu và công nghệ tin học kỹ thuật số”.
Hiểu theo nghĩa rộng
Thƣơng mại điện tử hiểu theo nghĩa rộng là các giao dịch tài chính và thƣơng
mại bằng phƣơng tiện điện tử nhƣ: trao đổi dữ liệu điện tử, chuyển tiền điện tử và
các hoạt động nhƣ gửi/rút tiền bằng thẻ tín dụng.
Theo quan điểm này, có hai định nghĩa khái quát đƣợc đầy đủ nhất phạm vi
hoạt động của thƣơng mại điện tử:
Luật mẫu về Thƣơng mại điện tử
7
của Ủy ban Liên Hợp Quốc về Luật Thƣơng
mại quốc tế (UNCITRAL) định nghĩa: “Thuật ngữ thương mại [commerce] cần
được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ
mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng. Các quan hệ mang tính
thương mại [commercial] bao gồm, nhưng không chỉ bao gồm, các giao dịch sau
đây: bất cứ giao dịch nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá hoặc dịch vụ; thoả
thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại, uỷ thác hoa hồng (factoring),
cho thuê dài hạn (leasing); xây dựng các công trình; tư vấn, kỹ thuật công trình
(engineering); đầu tư; cấp vốn, ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô
nhượng, liên doanh và các hình thức về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh;
_____________________
5. www.vecomhcm.vn/kien-thuc-tmdt/tai-lieu/744-dinh-nghia-tmdt.html
6. www.vecomhcm.vn/kien-thuc-tmdt/tai-lieu/744-dinh-nghia-tmdt.html
7. Khóa luận tốt nghiệp của Trần Thị Thu Hiền – Trƣờng Đại học Ngọai thƣơng – Ngƣời hƣớng dẫn: PGS
Vũ Hữu Tửu.
13
chuyên chở hàng hoá hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt
hoặc đường bộ”.
Theo định nghĩa này, có thể thấy phạm vi hoạt động của thƣơng mại điện tử
rất rộng, bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế, trong đó hoạt động mua
bán hàng hóa và dịch vụ chỉ là một phạm vi rất nhỏ trong thƣơng mại điện tử.
Theo Ủy ban châu Âu (EU)
8
: “Thương mại điện tử được hiểu là việc thực hiện
hoạt động kinh doanh qua các phương tiện điện tử. Nó dựa trên việc xử lý và truyền
dữ liệu điện tử dưới dạng text, âm thanh và hình ảnh”.
Thƣơng mại điện tử trong định nghĩa này gồm nhiều hành vi trong đó: hoạt
động mua bán hàng hoá; dịch vụ; giao nhận các nội dung kỹ thuật số trên mạng;
chuyển tiền điện tử; mua bán cổ phiếu điện tử, vận đơn điện tử; đấu giá thƣơng mại;
hợp tác thiết kế; tài nguyên trên mạng; mua sắm công cộng; tiếp thị trực tiếp với
ngƣời tiêu dùng và các dịch vụ sau bán hàng; đối với thƣơng mại hàng hoá (nhƣ
hàng tiêu dùng, thiết bị y tế chuyên dụng) và thƣơng mại dịch vụ (nhƣ dịch vụ cung
cấp thông tin, dịch vụ pháp lý, tài chính); các hoạt động truyền thống (nhƣ chăm sóc
sức khoẻ, giáo dục) và các hoạt động mới (nhƣ siêu thị ảo).
Theo quan điểm thứ hai nêu trên, "thƣơng mại" (commerce) trong "thƣơng
mại điện tử" không chỉ là buôn bán hàng hoá và dịch vụ (trade) theo các hiểu thông
thƣờng, mà bao quát một phạm vi rộng lớn hơn nhiều, do đó việc áp dụng thƣơng
mại điện tử sẽ làm thay đổi hình thái hoạt động của hầu hết nền kinh tế.
Nhƣ vậy, có nhiều khái niệm về thƣơng mại điện tử, nhƣng hiểu một cách tổng
quát, thƣơng mại điện tử là việc tiến hành một phần hay toàn bộ hoạt động thƣơng
mại bằng những phƣơng tiện điện tử. Thƣơng mại điện tử vẫn mang bản chất nhƣ
các hoạt động thƣơng mại truyền thống. Tuy nhiên, thông qua các phƣơng tiện điện
tử, các hoạt động thƣơng mại đƣợc thực hiện nhanh hơn, hiệu quả hơn, giúp tiết
kiệm chi phí và mở rộng không gian kinh doanh.
_____________________
8. Sàn giao dịch điện tử VNemart cập nhật 17/6/2008.
14
Thƣơng mại điện tử đƣợc hình thành và phát triển cùng với sự phát triển mạnh
mẽ của các thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ thông tin và đƣợc biết tới nhƣ
một phƣơng thức thanh toán hiệu quả từ Internet. Chính vì vậy, nhiều ngƣời hiểu
thƣơng mại điện tử theo nghĩa cụ thể hơn là giao dịch thƣơng mại, mua sắm qua
Internet và mạng.
Thƣơng mại điện tử là một khái niệm tƣơng đối mới tại Việt Nam và pháp luật
Việt Nam cũng chƣa định nghĩa trực tiếp về thƣơng mại điện tử. Tuy nhiên, có thể
vận dụng các quy định pháp luật hiện hành để giải thích nội hàm khái niệm này, cụ
thể nhƣ sau:
- Điều 1 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 quy định phạm vi điều chỉnh “về
giao dịch điện tử trong hoạt động của các cơ quan nhà nước; trong lĩnh vực dân
sự; kinh doanh, thương mại và các lĩnh vực khác do pháp luật quy định”. Nói cách
khác, giao dịch điện tử trong lĩnh vực thƣơng mại là một nhóm thuộc giao dịch điện
tử nói chung và có đầy đủ đặc điểm của giao dịch điện tử;
- Theo khoản 6 Điều 4 Luật Giao dịch điện tử thì “Giao dịch điện tử là giao
dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử”.
Vì thế, dƣới góc độ khoa học pháp lý, xét mối quan hệ giữa giao dịch điện tử
và giao dịch thƣơng mại điện tử có thể định nghĩa một cách tổng quát “Thương mại
điện tử là việc tiến hành giao dịch thương mại bằng phương tiện điện tử” và
phƣơng tiện điện tử đƣợc hiểu là “phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện,
điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công
nghệ tương tự” (khoản 10 Điều 4 Luật Giao dịch điện tử).
Đồng thời, theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Thƣơng mại 2005 “Hoạt
động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa,
cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích
sinh lợi khác”.
Khái niệm về hoạt động thƣơng mại theo quy định của pháp luật Việt Nam
nhƣ đề cập ở trên phù hợp với cách hiểu về khái niệm thƣơng mại đƣợc quy định tại
Luật mẫu về Trọng tài thƣơng mại quốc tế của UNCITRAL và quy định của Luật
Giao dịch điện tử hoàn toàn phù hợp với định nghĩa của các tổ chức quốc tế trên thế
15
giới cũng nhƣ tinh thần của Luật mẫu của UNCITRAL về thƣơng mại điện tử. Do
đó, “Thương mại điện tử là việc tiến hành mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ,
đầu tư, xúc tiến thương mại và những hoạt động khác nhằm mục đích sinh lợi bằng
các phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính,
truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự”.
1.1.2. Các hình thức ứng dụng của thương mại điện tử
Thƣơng mại điện tử ngày càng đƣợc sử dụng phổ biến trong các hoạt động
thƣơng mại thế giới. Các hình thức ứng dụng phƣơng tiện điện tử vào hoạt động
thƣơng mại nhƣ sau:
1.1.2.1. Thƣ tín điện tử (Electronic mail)
Tổ chức, cá nhân có thể sử dụng thƣ tín điện tử để trao đổi, đàm phán với nhau
về các giao dịch thƣơng mại. Ƣu điểm của thƣ tín điện tử là tốc độ truyền gửi
nhanh, có thể gửi cùng lúc một nội dung đến nhiều đối tƣợng ở khắp nơi trên thế
giới, ngoài ra cƣớc phí của thƣ điện tử cũng thấp hơn rất nhiều so với gửi thƣ qua
bƣu điện và điện thoại.
1.1.2.2. Trong lĩnh vực thanh toán điện tử (Electronic payment)
Thanh toán điện tử là việc thanh toán tiền thông qua thông điệp điện tử
(electronic message) thay cho việc sử dụng tiền mặt. Việc ứng dụng phƣơng tiện
điện tử trong lĩnh vực thanh toán đƣợc thể hiện qua:
(i) Tiền mặt Internet (Internet Cash);
(ii) Ví điện tử;
(iii) Giao dịch ngân hàng số hóa (Digital/Electronic Banking).
1.1.2.3. Trao đổi dữ liệu điện tử (Electronic Data Interchange)
Dữ liệu điện tử trao đổi từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khác,
giữa những doanh nghiệp và tổ chức đã thỏa thuận mua bán với nhau theo cách này
một cách tự động mà không cần có sự can thiệp của con ngƣời.
1.1.2.4. Giao dịch số hóa các dung liệu (Digital Delivery of Content)
Dung liệu là “nội dung” của các loại hàng hóa vô hình đã đƣợc số hóa và
truyền gửi qua mạng (giao gửi số hóa).
1.1.2.5. Bán lẻ hàng hóa hữu hình (Electronic Retail)
16
Là việc tổ chức bán lẻ tất cả các sản phẩm hữu hình của doanh nghiệp thông
qua mạng Internet bằng cách xây dựng các cửa hàng ảo (virtual shop) nhằm tạo
kênh bán hàng trực tuyến có khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng mọi lúc,
mọi nơi.
1.1.3. Các mô hình thương mại điện tử và những khác biệt giữa thương mại
truyền thống và thương mại điện tử
1.1.3.1. Các mô hình thƣơng mại điện tử
Dựa vào các chủ thể tham gia giao dịch thƣơng mại điện tử, ngƣời ta
9
phân
thành các mô hình thƣơng mại điện tử gồm:
(i) Business to Business (B2B): Giao dịch giữa doanh nghiệp với
doanh nghiệp. Các giao dịch B2B chủ yếu đƣợc thực hiện trên các
hệ thống ứng dụng thƣơng mại điện tử nhƣ mạng giá trị gia tăng
(VAN); dây chuyền cung ứng hàng hóa, dịch vụ (SCM), các sàn
giao dịch thƣơng mại điện tử… Các doanh nghiệp có thể chào
hàng, tìm kiếm bạn hàng, đặt hàng, ký kết hợp đồng, thanh toán qua
các hệ thống này. Ở một mức độ cao, các giao dịch này có thể diễn
ra một cách tự động. Thƣơng mại điện tử B2B đem lại nhiều lợi ích
thực tế cho doanh nghiệp, đặc biệt giúp giảm các chi phí về thu
thập thông tin tìm hiểu thị trƣờng, quảng cáo, tiếp thị, đàm phán;
tăng cƣờng cơ hội kinh doanh…
(ii) Business to Consumer (B2C): Giao dịch giữa doanh nghiệp với cá
nhân. Doanh nghiệp sử dụng các phƣơng tiện điện tử để bán hàng
hóa, dịch vụ tới ngƣời tiêu dùng. Ngƣời tiêu dùng thông qua các
phƣơng tiện điện tử để lựa chọn, mặc cả, đặt hàng, thanh toán, nhận
hàng. Để tham gia hình thức kinh doanh này, thông thƣờng doanh
nghiệp sẽ thiết lập website, hình thành cơ sở dữ liệu hàng hóa, dịch
vụ, tiến hành các quy trình tiếp thị, quảng cáo, phân phối trực tiếp
tới ngƣời tiêu dùng. Thƣơng mại điện tử B2C đem lại lợi ích cho cả
_____________________
9. Cẩm nang thƣơng mại điện tử của Sở Công Thƣơng TP. Hồ Chí Minh tháng 12/2009.
17
doanh nghiệp lẫn ngƣời tiêu dùng. Doanh nghiệp tiết kiệm nhiều
chi phí bán hàng do không cần phòng trƣng bày hay thuê ngƣời giới
thiệu bán hàng, chi phí quản lý cũng giảm hơn. Ngƣời tiêu dùng sẽ
cảm thấy thuận tiện vì không phải tới tận cửa hàng, có khả năng lựa
chọn và so sánh nhiều mặt hàng cùng một lúc.
(iii) Consumer to Consumer (C2C): Giao dịch trực tiếp giữa các cá nhân
với nhau. Sự phát triển các phƣơng tiện điện tử làm cho nhiều cá
nhân có thể tham gia hoạt động thƣơng mại với tƣ cách là ngƣời
bán, ngƣời cung cấp dịch vụ. Một cá nhân có thể tự thiết lập
website để kinh doanh những mặt hàng do mình làm ra hoặc sử
dụng một website có sẵn để đấu giá một số món hàng mình có. C2C
góp phần tạo nên sự đa dạng của thị trƣờng.
(iv) Business to Government (B2G): Giao dịch giữa doanh nghiệp với
cơ quan nhà nƣớc, trong đó nhà nƣớc đóng vai trò khách hàng. Quá
trình trao đổi thông tin giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nƣớc
đƣợc tiến hành qua các phƣơng tiện điện tử. Cơ quan nhà nƣớc
cũng có thể thiết lập website, tại đó đăng tải thông tin về nhu cầu
mua hàng của các cơ quan nhà nƣớc, tiến hành việc đấu thầu hàng
hóa, dịch vụ và lựa chọn nhà cung cấp trên website. Điều này một
mặt giúp tiết kiệm các chi phí tìm nhà cung cấp, mặt khác giúp tăng
cƣờng tính minh bạch trong hoạt động mua sắm công.
(v) Consumer to Government (C2G): Là loại hình giao dịch giữa cá
nhân với cơ quan nhà nƣớc. Đây chủ yếu là các giao dịch mang tính
hành chính, nhƣng có thể mang những yếu tố của thƣơng mại điện
tử. Ví dụ, khi ngƣời dân đóng tiền thuế qua mạng, trả phí khi đăng
ký hồ sơ trực tuyến, v.v
(vi) Government to Government (G2G): Giao dịch giữa các cơ quan
nhà nƣớc với nhau;
18
(vii) Mobile Commerce (M-Commerce): Là phƣơng thức thƣơng mại
đƣợc tiến hành thông qua các thiết bị di động có đặc tính chug là
không cần dây dẫn (vô tuyến), kích thƣớc nhỏ gọn và luôn đi cùng
với một cá nhân nào đó. Vì thế, M-commerce có thể tiến hành ở
bất kỳ đâu, và bất kỳ lúc nào mà không cần đến các thiết bị cố
định nhƣ máy vi tính, modem, đƣờng dây điện thoại…
1.1.3.2. Những khác biệt giữa thƣơng mại truyền thống và thƣơng mại điện tử
Tiêu chí so sánh
Thƣơng mại truyền
thống
Thƣơng mại điện tử
Hình thức giao dịch
Trực tiếp.
Gián tiếp.
Tiếp cận thị trƣờng
Bị giới hạn về mặt phạm
vi vì để tìm kiếm một thị
trƣờng mới các doanh
nghiệp phải đến tận nơi,
tham gia các hội chợ
triển lãm, các cuộc gặp
gỡ trực tiếp.
Thị trƣờng là không biên
giới, doanh nghiệp có
thể mở một website kinh
doanh trên mạng và
thông qua các phƣơng
tiện quảng bá trên mạng
có thể quảng bá doanh
nghiệp mình ra thị
trƣờng toàn cầu mà
không bị giới hạn về mặt
phạm vi.
Thời gian giao dịch
Giới hạn.
24 giờ/ ngày.
Chủ thể tham gia
Ngƣời mua – Ngƣời bán
Ngƣời mua – Ngƣời bán
– Nhà cung cấp dịch vụ.
Mạng lƣới thông tin
Là phƣơng tiện để trao
đổi dữ liệu.
Là thị trƣờng.
19
Chứng từ trong giao
dịch
Giấy tờ, văn bản.
Nội dung số hóa, dữ liệu
điện tử.
Vốn đầu tƣ
Lớn.
Không lớn.
Độ rủi ro trong giao
dịch
Cao.
Thấp.
Ủy ban Kinh tế và Xã hội khu vực châu Á – Thái Bình Dƣơng thuộc Liên Hợp
Quốc (UNESCAP) cũng đƣa ra bảng so sánh giữa thƣơng mại điện tử và thƣơng
mại truyền thống:
Phƣơng tiện
Thƣơng mại truyền
thống
Thƣơng mại điện tử
Kênh bán hàng
Nhà sản xuất → Bán
buôn → Bán lẻ →
Khách hàng.
Doanh nghiệp → Internet
→ Khách hàng.
Thời gian/khu vực bán
hàng
Thời gian bán hàng
giới hạn.
Địa điểm bán hàng
giới hạn.
Bán hàng 24 giờ/ngày.
Bán hàng trên toàn thế
giới.
Cách thức bán hàng
Bán hàng tại cửa
hàng.
Bán hàng hóa trƣng
bày thực tế.
Không gian bán hàng trên
mạng.
Bán hàng dựa trên thông
tin và hình ảnh.
20
Thu thập thông tin
khách hàng
Thu thập thông tin
khách hàng qua khảo
sát thị trƣờng và nhân
viên bán hàng.
Thông tin cần phải
nhập lại.
Thu thập thông tin khách
hàng qua Internet.
Dữ liệu số, không cần
nhập lại.
Hoạt động tiếp thị
Tiếp thị một chiều đến
khách hàng.
Thông qua giao tiếp hai
chiều.
Hỗ trợ khách hàng
Khoảng trễ thời gian
trong hỗ trợ nhu cầu
khách hàng.
Khoảng trễ thời gian
trong nắm bắt nhu cầu
khách hàng.
Hỗ trợ trực tuyến nhu cầu
khách hàng.
Nắm bắt nhu cầu khách
hàng trực tiếp.
Vốn đầu tƣ
Lớn.
Nhỏ.
1.2. Tác động của thƣơng mại điện tử đến quan hệ quốc tế
Thƣơng mại điện tử tuy chƣa có bề dày lịch sử phát triển nhƣng nó đã và đang
có những đóng góp quan trọng đối với sự phát triển của thƣơng mại thế giới nói
chung và đến từng quốc gia nói riêng. Thƣơng mại điện tử có những đặc trƣng so
với hoạt động thƣơng mại truyền thống nhƣ đã đề cập ở phần trên, những nét đặc
trƣng đó đã mang lại rất nhiều lợi ích cho ngƣời sử dụng và ngày càng đóng góp
tích cực cho nền kinh tế thế giới. Nói tóm lại, thƣơng mại điện tử phụ thuộc nhiều
vào hạ tầng cơ sở của công nghệ thông tin, viễn thông, chính sách pháp luật, nguồn
nhân lực và năng lực quản lý của từng quốc gia. Thực tế cho thấy, trong những năm
qua cùng với sự phát triển của nền kinh tế hiện đại dƣới tác động của cách mạng
khoa học – công nghệ, đặc biệt là sự phát triển và sử dụng Internet vào hoạt động
21
kinh doanh, thế giới ngày một giàu lên, khoảng cách giàu nghèo trong nội bộ một
nƣớc cũng nhƣ giữa các nƣớc phát triển với các nƣớc chậm phát triển ngày càng có
xu hƣớng gia tăng nhanh chóng. Những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học –
công nghệ hiện đại chủ yếu thuộc về các nƣớc tƣ bản phát triển do họ có thực lực
kinh tế, tiềm lực khoa học hùng mạnh cùng với mạng lƣới công ty xuyên quốc gia
(TNCs) vƣơn rộng khắp thế giới.
Các công ty xuyên quốc gia này đã chuyển giao công nghệ thông qua đầu tƣ
trực tiếp nƣớc ngoài (FDI), TNCs thƣờng chuyển giao các công nghệ lạc hậu hơn
cho các doanh nghiệp liên doanh hoặc từ các chi nhánh của mình tới các công ty địa
phƣơng, doanh nghiệp nhà nƣớc của các nƣớc đang phát triển nhằm duy trì đƣợc
khoảng cách an toàn và bành trƣớng ảnh hƣởng của mình trên quy mô toàn cầu. Đối
với các nƣớc công nghiệp phát triển, các TNCs thƣờng chuyển giao công nghệ cao
22
cho nhau bằng phƣơng thức “bán đứt” kèm theo các “điều kiện”. Các điều kiện này
không chỉ phục vụ cho bản thân các TNCs nhƣ là chìa khóa để mở cửa thị trƣờng
các nƣớc phát triển khác, mà còn là phƣơng tiện nằm trong hàng loạt các sách lƣợc
của chính phủ có các TNCs đó, đặc biệt là phục vụ cho các mục đích chính trị và an
ninh. Đây thực sự trở thành nguy cơ chia cắt thế giới ra làm hai nửa khác biệt nhau:
Vài chục quốc gia tiên tiến tiếp tục vƣợt trƣớc hơn 100 quốc gia thuộc “Thế giới
Thứ Ba” và chi phối và can thiệp chính trị thế giới. Nhƣ vậy, thông qua các TNCs
nằm trong sách lƣợc của các chính phủ, trên thế giới sẽ có sự phân thành hai cực
Đông – Tây trong quan hệ quốc tế.
Công nghệ thông tin là cơ sở cho thƣơng mại điện tử, vấn đề bảo mật thông tin
và an ninh mạng đòi hỏi các quốc gia trên thế giới phải có sự hợp tác để thƣơng mại
điện tử phát triển. Trong tƣơng lai gần, liệu quốc gia nắm kỹ thuật công nghệ cho
thƣơng mại điện tử phát triển sẽ thiết lập một trật tự thế giới mới hay không? Trong
quan hệ quốc tế, nhiều quốc gia đã dùng lợi thế của mình để mặc cả ngoại giao hoặc
trả đũa hoặc sử dụng nhƣ một loại vũ khí đối với các nƣớc khác. Hoa Kỳ, quốc gia
có nền công nghệ thông tin đứng đầu thế giới, khi tham gia vào thƣơng mại điện tử
sẽ có khả năng kiểm soát công nghệ của các nƣớc khác, dễ dàng lôi kéo các quốc
gia khác theo mục đích chính trị của mình, từ đây sẽ hình thành một trật tự thế giới
đơn cực theo giá trị “Mỹ”. Điều chắc chắn rằng các quốc gia khác sẽ không chịu
“khoanh tay” để nhìn một trật tự thế giới đơn cực đang và sẽ hình thành trong cuộc
cách mạng khoa học – công nghệ - một cuộc chiến trên mạng sẽ có thể đƣợc bắt
đầu.
Nhƣ vậy, một quốc gia nắm quyền kiểm soát và thống trị thế giới bằng những
lợi ích do thƣơng mại điện tử đem lại thì cuộc chiến tranh mạng đang từ giả tƣởng
sẽ sang hiện thực và cuộc xung đột này có thể xảy ra trong tƣơng lai, mục tiêu của
xung đột tƣơng lai có thể là cơ sở hạ tầng của một quốc gia.
10
Cuộc “Chiến tranh
thông tin” (Cyber War) có thể đƣợc tiến hành bởi vài chiến binh, thậm chí chỉ một
chiến binh duy nhất còn rất trẻ với vũ khí là các virus máy tính và các phần mềm
_____________________
10.
23
phá hoại tự nhân bản trong khoảng khắc nhƣng có thể làm tê liệt cả một ngành, một
nền kinh tế, thậm chí cả một quốc gia. Cơ sở hạ tầng để thƣơng mại điện tử là việc
sử dụng Internet kết nối hàng trăm triệu máy tính trên toàn cầu để giao dịch, chia sẻ
thông tin, dữ liệu… đã làm cho cơ sở hạ tầng của xã hội, dù là quân sự hay kinh tế,
nhà nuớc hay tƣ nhân, bệnh viện hay doanh nghiệp đều trở nên dễ bị tổn thƣơng.
Các quốc gia thù địch đã nhìn thấy đây chính là “điểm yếu” để phá hoại nhau. Cho
dù Hoa Kỳ, quốc gia có nền công nghệ thông tin tiên tiến, giờ đây cũng có thể dễ
dàng bị tấn công. Do vậy, khó có thể nói sẽ thiết lập một trật tự thế giới đơn cực khi
các quốc gia ứng dụng thƣơng mại điện tử trong các giao dịch của mình. Có thể
thấy xu hƣớng chung trên thế giới trong tƣơng lai sẽ là hợp tác để phát triển, trật tự
thế giới đa cực vẫn tồn tại trong quan hệ quốc tế.
Sử dụng thƣơng mại điện tử trong các giao dịch sẽ không bị hạn chế về thời
gian và không gian, điều này dẫn đến hệ quả là biên giới quốc gia sẽ bị xóa nhòa và
quyền tự chủ của quốc gia có thể bị chi phối bởi một quốc gia khác có sức mạnh về
công nghệ thông tin. Nếu phải chấp nhận thực tế là các nƣớc lớn chi phối trật tự
quốc tế thì cũng phải chấp nhận một thực tế khác là các nƣớc lớn thƣờng tác động,
gây ảnh hƣởng tới các nƣớc nhỏ từ hình thức gây sức ép gián tiếp đến can thiệp trực
tiếp, hy sinh quyền lợi các nƣớc nhỏ để thỏa mãn quyền lợi các nƣớc lớn. Ngoài ra,
trên thực tế khả năng giữ vững độc lập, tự quyết dân tộc của các nƣớc nhỏ rất khó
khăn vì nƣớc nhỏ trong tƣơng quan so sánh với các nƣớc lớn luôn bị lép vế về thế
và lực. Các tập đoàn kinh tế, các công ty đa quốc gia lớn đang nắm giữ kỹ thuật ứng
dụng thƣơng mại điện tử trong kinh doanh sẽ chi phối nền kinh tế và phần nào nền
chính trị quốc tế. Cuộc tranh luận về chủ quyền quốc gia trong nền kinh tế cho thấy
các nƣớc đều gặp phải thách thức về quyền tự chủ khi phải đƣơng đầu với các công
ty đa quốc gia. Bên cạnh đó, các phong trào xã hội với những tiêu chuẩn và hành vi
mới cũng góp phần hạn chế quyền tự chủ hành động của các nƣớc: chính sách của
một nƣớc luôn bị săm soi, phê phán nếu mâu thuẫn với một số tiêu chí về hành vi
mà các phong trào xã hội đó chủ trƣơng. Đại hội X (tháng 4-2006) của Đảng Cộng
sản Việt Nam đã nêu: “Thực hiện nhất quán đƣờng lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa
bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phƣơng hóa, đa dạng
24
hóa các quan hệ quốc tế. Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời
mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác. Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của
các nƣớc trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế
và khu vực”.
11
Nhƣ vậy, về mặt nguyên tắc, độc lập tự chủ là mục đích chính sách
cao nhất, là nội dung cơ bản nhất của lợi ích quốc gia vì nó liên quan tới chủ quyền
quốc gia trong hệ thống quan hệ quốc tế. Độc lập tự chủ không đồng nghĩa với biệt
lập. Trái lại, và nhất là trong hoàn cảnh quan hệ quốc tế hiện nay, các nƣớc càng
phải tăng cƣờng hợp tác quốc tế. Nói cách khác, hợp tác xuất hiện khi các chủ thể
chủ động điều chỉnh hành vi của mình để đáp ứng lợi ích của bên đối tác mà vẫn
bảo đảm lợi ích của mình. Bản chất hội nhập kinh tế là tham gia vào nền kinh tế khu
vực và thế giới dựa trên lợi thế so sánh và từ đó tham gia vào phân công lao động
khu vực và thế giới, biến nền kinh tế Việt Nam trở thành một bộ phận không thể
tách rời của nền kinh tế khu vực và thế giới.
Tóm lại, vai trò của khoa học công nghệ đƣợc sử dụng trong thƣơng mại điện
tử là nhu cầu cấp thiết của các doanh nghiệp, của ngƣời tiêu dùng, của chính phủ
của từng quốc gia trong việc thúc đẩy việc hội nhập nền kinh tế khu vực và toàn cầu
đƣợc thể hiện cụ thể nhƣ sau:
1.2.1. Vai trò của thương mại điện tử
Trong thời đại Internet hiện nay, với những lợi thế ƣu việt của mình, thƣơng
mại điện tử đang trở dần thành công cụ, một giải pháp giúp các doanh nghiệp,
ngƣời tiêu dùng, xã hội liên kết với nhau trên phạm vi toàn cầu.
Thứ nhất, đối với doanh nghiệp
Thƣơng mại điện tử ra đời và đang trở thành xu thế mới thay thế dần phƣơng
thức kinh doanh cũ với rất nhiều ƣu thế nổi bật nhƣ nhanh hơn, rẻ hơn, tiện dụng
hơn, hiệu quả hơn và không bị giới hạn bởi không gian và thời gian…
Thƣơng mại điện tử hỗ trợ rất lớn cho các doanh nghiệp trong việc mở rộng
thị trƣờng. Nhờ sự hỗ trợ của các phƣơng tiện điện tử, các doanh nghiệp có thể dễ
dàng trong việc tìm kiếm, tiếp cận các nhà cung cấp, các khách hàng, đối tác trên
_____________________
11. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Sđd, tr.112.