Tải bản đầy đủ (.pdf) (123 trang)

Tổ chức hoạt động báo trực tuyến trong cơ quan báo in

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.72 MB, 123 trang )


1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


HUỲNH NGÔ TƯỜNG BÁCH



T
T




C
C
H
H


C
C


H
H
O


O


T
T


Đ
Đ


N
N
G
G


B
B
Á
Á
O
O


T
T
R
R



C
C


T
T
U
U
Y
Y


N
N




T
T
R
R
O
O
N
N
G
G



C
C
Ơ
Ơ


Q
Q
U
U
A
A
N
N


B
B
Á
Á
O
O


I
I
N
N






LUẬN VĂN THẠC SĨ
Báo chí học









TP HCM-2013

2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


HUỲNH NGÔ TƯỜNG BÁCH



TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG BÁO TRỰC TUYẾN
TRONG CƠ QUAN BÁO IN



Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60.32.01



Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Đức Dũng





TP HCM-2013


5


BẢNG CHỮ VIẾT TẮT














CHXHCNVN:
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
TPHCM:
Thành phố Hồ Chí Minh
TTXVN:
Thông tấn xã Việt Nam
NXB:
Nhà xuất bản
TTO:
Tuô
̉
i Tre
̉
Online
TNO:
Thanh Niên Online
BDO:
Bnh Dương Online

6

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……………………………………………………………… ………… 2
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT
ĐỘNG BÁO TRỰC TUYẾN TRONG CƠ QUAN BÁO IN…….…………… 15
1.1. Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan đến đề tài……………….……… 15
1.2. Cơ sở thực tiễn của việc nghiên cứu về báo trực tuyến ở Việt Nam…… 36
1.3. Những vấn đề đặt ra………………………………………………… 53

Tiểu kết chương 1………………………………………………………… 60
Chƣơng 2: TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG BÁO TRỰC TUYẾN Ở CÁC BÁO TUỔI
TRẺ, THANH NIÊN VÀ BÌNH DƢƠNG…… ……………………………….61
2.1. Vài nét về các báo Tuổi Trẻ, Thanh Niên Và Bình Dƣơng……………… 61
2.2. Phƣơng thức tổ chức hoạt động của các tòa soạn báo trực tuyến trong cơ
quan báo in……………………………………………… …………………… 79
Tiểu kết chương 2………………………………………………………… 83
Chƣơng 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG BÁO TRỰC
TUYẾN THUỘC CƠ QUAN BÁO IN……………………………………… …84
3.1. Nhóm các giải pháp chung…………………….…………………………….84
3.2. Nhóm các giải pháp cụ thể………………………………………………… 91
Tiểu kết chương 3………………………………………………………… 110
KẾT LUẬN………………………………………………………………………111
Tài liệu tham khảo………………………………………………………………115









7

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Ngày 31/12/2012 vừa qua, tờ Newsweek đã cho ra mắt bản in cuối
cùng kết thúc lịch sử 80 năm tồn tại ở vị trí hàng đầu của tạp chí này trong

làng báo Mỹ và thế giới. Nguyên nhân của kết cục buồn này chính là sự phát
triển mạnh mẽ của báo chí trực tuyến.
Những ngƣời quản lý tạp chí đã chứng kiến sự sụt giảm mạnh cả ở
doanh thu quảng cáo lẫn lƣợng phát hành. Theo họ, càng giữ tờ báo in sẽ càng
kiệt quệ với thua lỗ khoảng 40 triệu USD một năm. Sau khi ngừng bản in, kể
từ năm 2013, tờ tạp chí sẽ chuyển hoàn toàn sang bản trực tuyến với tên gọi
mới Newsweek Global.
Bà Tina Brown, Tổng biên tập của tờ Newsweek thừa nhận sự đóng
cửa này là kết cục không thể tránh khỏi trong một lời phát biểu: "Không một
ai có thể đảo ngƣợc lại xu hƣớng tất yếu trong kỷ nguyên công nghệ số nhƣ
hiện nay".
Trong một thống kế mới nhất từ Trung tâm Internet Việt Nam
(VNNIC), đến hết tháng 10/2012, tổng số ngƣời sử dụng phƣơng tiện thông
tin hiện đại này tại Việt Nam đã lên đến 31.247.223 ngƣời, chiếm 35,51% dân
số cả nƣớc. Đó là một con số hết sức ấn tƣợng của một đất nƣớc chƣa nằm
trong tốp các nƣớc đang phát triển của khu vực và châu Á. Đồng thời, một
khảo sát mới nhất về độc giả Internet của Công ty nghiên cứu thị trƣờng TNS
(toàn cầu) công bố mới đây cho thấy: 3/5 số ngƣời lƣớt web thích đọc báo
trực tuyến hơn các phiên bản phi trực tuyến.
Riêng thông tin đƣợc công bố trong dự án Yahoo! – Kanta Media Net
Index (2011), thì tại Việt Nam, Internet đã vƣợt qua radio và báo in để trở
thành phƣơng tiện thông tin đƣợc sử dụng hàng ngày phổ biến nhất, với tỷ lệ

8

42%. Cụ thể, hoạt động trực tuyến phổ biến nhất là đọc tin trên mạng (97%),
tiếp theo là tỷ lệ truy cập vào các cổng thông tin điện tử (96%). Số ngƣời sử
dụng Internet để truy cập vào các trang mạng xã hội tăng lên từ 41% năm
2010 lên 55% năm 2011. Giới trẻ cũng sử dụng Internet để cập nhật thông tin
trên mạng xã hội (52%), xem video và hình ảnh thú vị trên mạng (45%).

Cùng với sự phát triển chóng mặt của các công nghệ kết nối, giúp đẩy
nhanh tốc độ truy tải, số lƣợng các tờ báo trực tuyến cũng nở rộ khắp nơi trên
thế giới, truyền tải thông tin dƣới mọi hình thức mà các loại báo truyền thống
cung cấp. Có thể coi báo trực tuyến hiện nay là sự hội tụ của cả báo giấy
(text), báo tiếng (audio) và báo hình (video), chính xác hơn là nơi tích hợp
đầy đủ nhất truyền thông đa phƣơng tiện. Ngƣời lƣớt web không chỉ đƣợc cập
nhật tin tức dƣới dạng chữ viết mà còn có thể nghe phát thanh và xem truyền
hình ngay trên các website báo chí.
Có lẽ từ những tiện ích trên của báo trực tuyến cùng với nhu cầu hết
sức cấp thiết của độc giả thế hệ mới mà trong vòng 10 năm trở lại đây, hàng
loạt các cơ quan báo in tại Việt Nam đã nhanh chóng cho ra đời tờ báo trực
tuyến riêng của báo mình, nhằm có phƣơng tiện cung cấp cho nhu cầu của
độc giả muốn biết ngay tin tức nóng nhất; vừa để độc giả hƣởng thụ trọn vẹn
những tính năng hội tụ đặc trƣng của các loại hình báo chí trong một tờ báo.
Tuy nhiên, hiện nay đang có một thực tế là mặc dù rất nhiều cơ quan
báo in đã có báo trực tuyến, nhƣng hầu hết là chƣa chuyên nghiệp, thậm chí
có báo chỉ làm cho có. Nhiều tờ báo in mở ra trang thông tin điện tử theo
“phong trào” chứ chƣa thực sự tìm đƣợc hƣớng đi riêng cho nó, chƣa quan
tâm đến hiệu quả thiết thực của loại hình báo chí này để thu hút độc giả.
Hiện nay, có thể thấy rằng việc tổ chức hoạt động của bộ phận báo trực
tuyến (online) trong một cơ quan báo giấy ở nƣớc ta nói chung còn rất nhiều
điều bất cập. Báo trực tuyến chủ yếu chỉ là nơi để cập nhật “tức thì” những

9

thông tin mà báo giấy đã có. Các nhà báo chƣa chủ động trong việc tìm tòi,
phát hiện đề tài thông tin cho báo trực tuyến. Việc tác nghiệp hoặc kỹ năng
quản lý một tờ báo online của cơ quan báo in cũng chƣa đƣợc nghiên cứu và
thực hiện một cách bài bản. Về mặt tổ chức, hiện nay các trang tin điện tử của
hầu hết các cơ quan báo giấy đều chƣa độc lập, chƣa chủ động trong việc tổ

chức hoạt động một cách chuyên nghiệp nhƣ một tờ báo trực tuyến. Điều đó
đã khiến cho nhiều tiện ích vốn có của một tờ báo trực tuyến đã không đƣợc
phát huy, làm mất đi những tính năng ƣu việt của loại hình báo chí này. Đó là
chƣa kể rất nhiều tờ báo in không muốn có phiên bản điện tử vì lo ngại không
bán đƣợc báo giấy (!).
Từ những lý do trên chúng tôi đã quyết định chọn đề tài “Tổ chức hoạt
động báo trực tuyến trong cơ quan báo in” cho luận văn Thạc sỹ chuyên
ngành Báo chí học của mình với mong muốn góp một tiếng nói giúp các cơ
quan báo in nắm bắt rõ hơn cách thức tổ chức một tờ báo trực tuyến sao cho
hiệu quả nhất, thu hút đƣợc đông đảo độc giả quan tâm.
Việc thực hiện công trình nghiên cứu này cũng là cơ hội để chúng tôi
vận dụng những kiến thức lý luận báo chí học đã tiếp thu đƣợc trong quá trình
học tập và một số kinh nghiệm thực tế làm báo trực tuyến của bản thân mình
để giải quyết một vấn đề vừa có tính lý luận, vừa đáp ứng nhu cầu cần thiết
của thực tiễn.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã cố gắng tìm hiểu, sƣu
tầm và học hỏi từ rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các
nhà báo và các tác giả đã công bố. Điều may mắn đối với chúng là cho đến
nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về những vấn đề có liên quan đến
báo trực tuyến. Trong số đó, đã có một số nghiên cứu khá gần gũi với đề tài
của chúng tôi. Tuy nhiên, do loại hình báo trực tuyến mới xuất hiện, đang

10

phát triển nên lý luận về nó cũng chỉ mới ở trong giai đoạn sơ khai. Đó thực
sự là một khó khăn lớn đối với chúng tôi khi thực hiện đề tài này.
Về các công trình nghiên cứu đã đƣợc công bố trong những năm gần
đây, ít nhiều có liên quan đến đề tài luận văn, theo trình tự thời gian có thể kể
một số nghiên cứu tiêu biểu sau:

Tại Khoa Báo chí – Truyền thông của Trƣờng Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn Hà Nội trong những năm vừa qua đã có một số luận văn đề
cập đến một số vấn đề xung quanh loại hình báo trực tuyến. Năm 2005, tác
giả Trần Thị Thúy Bình đã bảo vệ thành công luận văn Thạc sỹ Báo chí học
có tiêu đề: ng dng truyn t ca
. Năm 2006 tác giả Nguyễn Thị Bình đã
bảo vệ thành công luận văn Thạc sỹ Báo chí học có tiêu đề: t
i gian ti; 














Phan Văn Tú: “Tm hiu mt s vn  v l lun v thc tin ca
bo ch trc tuyn  Vit Nam. Cũng năm 2006 còn có luận văn Thạc sỹ Báo
chí học của Đỗ Minh Hồng có tiêu đề: n t Vi 
c; năm 2007 có luận văn Thạc sỹ Báo chí của Nguyễn Thu Giang
i vi vin t v.v.
Tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền thời gian qua cũng có khá nhiều
nghiên cứu dƣới dạng các luận văn, khóa luận và đề tài nghiên cứu khoa học
có đề cập đến những vấn đề xung quanh loại hình báo mạng điện tử.

Năm 2004, sinh viên Trần Hồng Vân đã bảo vệ thành công một khóa
luận tốt nghiệp đại học báo chí, chuyên ngành Báo trực tuyến tại Học viện
Báo chí và Tuyên truyền với đề tài: Thc tr 
    c tuyn Vit Nam hin nay (Kh  
VnExpress, Tui tr n t). Qua việc khảo sát hoạt động
của các báo trong diện khảo sát, nghiên cứu này đã bƣớc đầu mô tả đƣợc cách

11

thức tổ chức hoạt động của các ban biên tập với những điểm chung và những
đặc điểm riêng, gắn với tình hình cụ thể của mỗi cơ quan báo tại thời điểm
đƣợc khảo sát (năm 2004).
Năm 2007, sinh viên Vũ Anh Tú đã bảo vệ khóa luận tốt nghiệp đại
học báo chí, chuyên ngành Báo trực tuyến tại Học viện Báo chí và Tuyên
truyền với đề tài: n t Vit Nam. Cũng năm
2007, tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, tác giả Đồng Tiến Việt đã bảo vệ
thành công luận văn thạc sỹ Truyền thông đại chúng, chuyên ngành Báo chí
học có tiêu đề:    mng n t  Vit Nam. Những
nghiên cứu này đã tập trung khảo sát, làm sáng tỏ đặc tính “đa phƣơng tiện”
và “tính tƣơng tác” vốn đƣợc coi là những đặc tính quan trọng nhất để tạo ra
sự khác biệt về đặc trƣng loại hình của báo trực tuyến so với các loại hình báo
chí khác. Mặc dù đã đạt đƣợc một số kết luận mang tính khoa học khá thú vị
nhƣng trong nội dung của những nghiên cứu này không thấy đề cập đến vấn
đề tổ chức hoạt động của báo trực tuyến trong một cơ quan báo in.
Năm 2011, sinh viên Đào Hồng Vân đã bảo vệ một khóa luận tốt
nghiệp đại học báo chí, chuyên ngành Báo trực tuyến có tiêu đề: X 
cn t. Đối tƣợng khảo sát của khóa luận này là
các tin, bài của hai tờ báo in Hà Nội mới và Tiền Phong đƣợc sử dụng cho các
phiên bản điện tử của hai tờ báo này là Hà Nội mới điện tử và Tiền Phong
online trong các tháng đầu năm 2011.

Trên cơ sở làm rõ thực trạng sử dụng tin, bài báo in cho phiên bản điện
tử và các ƣu, nhƣợc điểm của quá trình xử lí thông tin của hai tờ báo đã khảo
sát, khóa luận của Đào Hồng Vân đã đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần
nâng cao, cải thiện chất lƣợng tin, bài báo in đƣợc sử dụng trên phiên bản
điện tử để chúng thực sự phù hợp với đặc điểm, tính chất của báo trực tuyến.

12

Năm 2011, tác giả Nguyễn Thị Trƣờng Giang (giảng viên Học viện
Báo chí và Tuyên truyền) đã cho xuất bản một cuốn chuyên luận có tiêu đề:
n t - Nhng v n (sách do Nhà xuất bản Chính trị -
Hành chính ấn hành). Có thể nói đây là một trong những cuốn sách đầu tiên
nghiên cứu về loại hình báo chí hiện đại này. Trong đó, có tiêu đề
“Mô hình tòa soạn và quy trình sản xuất thông tin của báo mạng điện tử” (từ
trang 159 đến trang 192) đã phác thảo mô hình tòa soạn báo trực tuyến qua
hai dạng: Nhng t   n t thu   
ng t n t c lp.
Với mỗi mô hình kể trên, tác giả đã bƣớc đầu phác họa cung cách hoạt
động và nêu lên những ƣu thế và hạn chế của hoạt động đó. Tuy nhiên, do đây
là một trong những nghiên cứu đầu tiên nên những nội dung mà tác giả đã nêu
ra - nhất là với mô hình thứ nhất (những tờ báo mạng điện tử thuộc các cơ
quan báo in, đài phát thanh, đài truyền hình) còn rất sơ lƣợc, chủ yếu nặng về
mô tả chứ chƣa đi sâu vào những nguyên tắc hoạt động và những ƣu khuyết
điểm, những vấn đề đặt ra trong quá trình vận hành của báo trực tuyến trong
một cơ quan thuộc loại hình báo chí khác.
Cũng tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, trong những năm qua còn
có một số nghiên cứu dƣới dạng các đề tài khoa học, các khóa luận tốt nghiệp
đại học và luận văn thạc sỹ về những vấn đề có liên quan đến báo trực tuyến
nói chung, tiêu biểu nhƣ: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở trọng điểm:
T chn t  Vit Nam (của Nguyễn Thị Thoa năm

2007); Tập bài giảng Nh   c tuyn (của Nguyễn Thị Thoa và
Nguyễn Thị Trƣờng Giang năm 2008); Luận văn thạc sỹ Báo chí học của
Trần Quang Huy, năm 2006: Hot       n t
(Kh    n t       
5/2006); Luận văn thạc sỹ Báo chí học của Lê Hồng Liên, năm 2009: Li dn

13

    n t  Vit Nam (Kh  
VnExpre); Khóa luận tốt nghiệp đại học báo chí
của Nguyễn Hải Đăng, năm 2011: 
m n t c ta hin nay; Khóa luận tốt nghiệp đại học báo chí của
Nguyễn Thị Thanh Nga, năm 2011: S bii ca th long
n t.v.v.
Cũng liên quan đến lý luận về báo mạng điện tử, năm 2006, Nhà xuất
bản Thông tấn đã cho xuất bản một số tập sách nhỏ (dạng sổ tay, khoảng gần
100 trang khổ 10,5 cm x 17,5 cm) nhƣ: K  
Th thu thun t.v.v. Riêng tập sách 
thun t đã trình bày vắn tắt một số nội dung nhƣ: Thit k cho
n t; Gin t; Vin t .v.v.
Do đây là dạng sách hƣớng dẫn thực hành nên tính lý luận không cao và cũng
chƣa thấy đề cập đến vấn đề tổ chức hoạt động của báo trực tuyến trong một
cơ quan báo in.
Ngoài ra, trên các tạp chí của Hội nhà báo Việt Nam, Hội Nhà báo TP
Hồ Chí Minh và các website nghiên cứu báo chí nhƣ Vietnamjournalism.com,
songtre.vn… trong những năm qua đã đăng tải nhiều bài viết về những vấn đề
có liên quan đến loại hình báo trực tuyến. Trong đó, riêng trang web
Vietnamjournalism.com đã xây dựng hẳn một chuyên mục “Báo điện tử” và
thƣờng xuyên đăng tải hàng chục bài viết của các nhà nghiên cứu, nhà báo
trong và ngoài nƣớc về báo trực tuyến…

Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chƣa có nghiên cứu nào đã công bố có đề
cập đến vấn đề tổ chức hoạt động báo trực tuyến trong cơ quan báo in. Do đó,
đề tài của luận văn này là một đề tài mới, không trùng lặp với các đề tài đã
đƣợc công bố.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

14

3.1. Đối tượng nghiên cứu
Với tiêu đề: “Tổ chức hoạt động báo trực tuyến trong cơ quan báo in”,
khách thể khảo sát của luận văn này là một số phiên bản điện tử của các báo:
Tuổi Trẻ thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM), báo ThanhNiên và báo Bình
Dƣơng (báo BD).
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là những thành công, hạn chế và
những vấn đề đặt ra trong quá trình tổ chức hoạt động cho các phiên bản điện
tử tại các cơ quan báo in kể trên.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học,
chúng tôi chỉ có thể khảo sát tại ba cơ quan báo chí kể trên. Đây là những tờ
báo khá tiêu biểu cho báo in, trong đó báo Tuổi Trẻ TP HCM đại diện cho tờ
báo có hiệu ứng xã hội rất lớn từ trƣớc đến nay và là một trong những tờ báo
cho ra đời phiên bản báo trực tuyến sớm và khá bài bản; báo Thanh Niên đại
diện cho báo trực thuộc Trung ƣơng, cũng có bao trực tuyến cùng lúc với
Tuô
̉
i Tre
̉
và có sức lan tỏa lớn. Đây cũng là cơ quan báo in có phiên bản báo
trực tuyến khá thu hút bạn đọc. Tờ báo thứ ba là báo Bình Dƣơng, đƣợc coi
nhƣ đại diện của báo đảng địa phƣơng nhƣng đƣợc khá nhiều bạn đọc biết đến

nhờ phiên bản báo trực tuyến khá phong phú với nhiều thứ tiếng.
Quá trình khảo sát sẽ cố gắng tạo ra góc nhìn toàn diện về vai trò của
báo trực tuyến trong cơ quan báo in.
Với phạm vi và đối tƣợng khảo sát mang tính đại diện nhƣ vậy, hy
vọng luận văn sẽ giúp cho những ngƣời làm báo nói chung và làm báo trực
tuyến trong cơ quan báo in nói riêng có thêm đƣợc những cứ liệu cần thiết,
hữu ích để nâng cao chất lƣợng phối hợp hoạt động của hai loại hình báo chí
này, đem lại nhiều tiện ích vốn có của báo trực tuyến, đáp ứng ngày càng tốt
hơn nhu cầu của công chúng độc giả hiện nay

15

4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của công trình nghiên cứu này là nhằm cung cấp cho ngƣời
đọc một bức tranh sinh động, xác thực trong việc tổ chức hoạt động báo trực
tuyến trong một cơ quan báo in với những ƣu điểm, nhƣợc điểm, những thành
công và hạn chế và những vấn đề đang đặt ra. Qua đó, bƣớc đầu đề xuất một
số giải pháp, khuyến nghị để các cơ quan báo chí và những ngƣời làm báo có
thể xem xét, vận dụng để nâng cao chất lƣợng phối hợp hoạt động của hai loại
hình báo chí này trong cùng một cơ quan báo chí.
Chúng tôi cũng hy vọng đề tài này sẽ gợi ra những nghiên cứu tiếp theo
về những vấn đề đang đặt ra xung quanh hoạt động của loại hình báo trực
tuyến.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để có thể đạt đƣợc mục đích nêu trên, trong quá trình thực hiện luận
văn này, chúng tôi sẽ phải thực hiện một số nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu, khảo sát những tài liệu lý luận có liên quan đến báo trực
tuyến và vấn đề tổ chức hoạt động của báo trực tuyến trong cơ quan báo in
nhằm xây dựng khung lý thuyết cho đề tài;

- Khảo sát công tác tổ chức hoạt động của các phiên bản điện tử tại ba
cơ quan báo Tuổi trẻ TP HCM, Thanh Niên và Bình Dƣơng. Công việc khảo
sát phải chỉ ra đƣợc những thành công và những hạn chế cơ bản; phải tìm ra
những mâu thuẫn, xung đột và mối quan hệ tác động tƣơng hỗ lẫn nhau giữa
hai loại hình báo in và báo trực tuyến trong cùng một cơ quan báo chí và
nguyên nhân của những mâu thuẫn, xung đột đó;
- Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp có tính khả thi để các cơ quan
báo chí trong diện khảo sát và các cơ quan báo in, báo trực tuyến trong cả

16

nƣớc có thể xem xét, nghiên cứu, áp dụng nhằm nâng cao chất lƣợng hoạt
động một cách hiệu quả nhất.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi sẽ sử dụng kết hợp một
số phƣơng pháp nghiên cứu sau:
- Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu đƣợc thực hiện trong việc khảo sát
các công trình nghiên cứu, sách lý luận, các văn bản, chỉ thị, nghị quyết có
liên quan đến tổ chức hoạt động của báo trực tuyến. Phƣơng pháp này cũng
đƣợc sử dụng để hệ thống hóa những vấn đề của lý luận báo chí, truyền thông
tạo cơ sở lý thuyết cho đề tài nghiên cứu.
- Phƣơng pháp khảo sát thực tế đƣợc vận dụng để làm sáng tỏ thực
trạng trong công tác tổ chức hoạt động của ba cơ quan báo chí trong diện
khảo sát, qua đó chỉ ra đƣợc những ƣu điểm, hạn chế và những vấn đề đặt ra
trong việc tổ chức hoạt động báo trực tuyến trong một cơ quan báo in.
- Phƣơng pháp phỏng vấn sâu đƣợc thực hiện với khoảng 30 đối tƣợng
là các cán bộ lãnh đạo, quản lý và các phóng viên, biên tập viên đang trực tiếp
làm việc tại các báo trực tuyến của cơ quan báo in.
- Các phƣơng pháp phân tích, tổng hợp đƣợc sử dụng để đánh giá các
cứ liệu, các kết quả điều tra và rút ra những luận điểm khoa học, từ đó đề xuất

những giải pháp cần thiết nhằm phát huy ƣu điểm, hạn chế nhƣợc điểm, góp
phần nâng cao chất lƣợng, hiệu quả của việc tổ chức hoạt động của báo trực
tuyếntrong cơ quan báo in ở nƣớc ta hiện nay.
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi còn sử dụng các phƣơng
pháp: sƣu tầm tài liệu, thống kê, phân loại, hệ thống, so sánh…. nhằm thu
thập các cứ liệu và để sáng tỏ thêm các luận điểm trong luận văn.
Tất cả các phƣơng pháp kể trên đều có tác động tích cực vào kết quả
của luận văn.

17

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên đề cập đến vấn đề tổ chức hoạt
động tờ báo trực tuyến trong một cơ quan báo in ở nƣớc ta. Nếu đƣợc thực
hiện thành công, luận văn có thể góp phần vào lý luận về tổ chức hoạt động
của cơ quan báo chí.
Từ một góc độ khác, hy vọng luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo bổ
ích, tin cậy cho các sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh khi nghiên
cứu về những vấn đề liên quan đến báo trực tuyến nói chung và việc tổ chức
hoạt động báo trực tuyến trong cơ quan báo in nói riêng. Các giảng viên
chuyên ngành báo in, báo trực tuyến cũng có thể tìm thấy ở đây những tài liệu
tham khảo tin cậy.
Trong điều kiện còn thiếu rất nhiều những khảo sát, nghiên cứu có hệ
thống về vấn đề này, kết quả của luận văn sẽ ít nhiều có đóng góp trong việc
bổ sung, hoàn thiện lý luận về báo trực tuyến trong điều kiện cụ thể của Việt
Nam.
Về phƣơng diện thực tiễn, những cứ liệu của luận văn là một nguồn tài
liệu giúp các nhà quản lý cơ quan báo chí và những ngƣời làm báo trực tuyến
vận dụng để nâng cao tầm hiểu biết và năng lực chuyên môn trong nhiệm vụ
cụ thể của mình; góp phần định hƣớng cách thức tổ chức hoạt động báo trực

tuyến cho các cơ quan báo in đang có ý định cho ra đời báo trực tuyến.
Với kết quả của đề tài này, chúng tôi mong muốn các cơ quan báo in
chƣa có phiên bản điện tử quan tâm xem xét, nghiên cứu trƣớc khi đƣa ra
quyết định có hay không nên lập trang web cho báo và nếu ra web thì phải
lƣờng trƣớc điều gì, phải tổ chức hoạt động nhƣ thế nào để đạt đƣợc hiệu quả
cao nhất? Đó cũng chính là điều mà nhiều ngƣời quan tâm và mong muốn đối
với đề tài nghiên cứu của chúng tôi.


18

7. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần m u, kt lun, danh mu tham kho, những
nội dung chính của luận văn này đƣợc trình bày trong 3 chƣơng nhƣ sau:
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC
HOẠT ĐỘNG BÁO TRỰC TUYẾN TRONG CƠ QUAN BÁO IN
1.1. Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan đến đề tài
1.1.1. Khái niệm “báo in”
1.1.2. Internet và báo trực tuyến
1.1.2.1. Internet
1.1.2.2. Báo trực tuyến
1.2. Cơ sở thực tiễn của việc nghiên cứu về báo trực tuyến ở Việt Nam
1.2.1. Các loại hnh báo trực tuyến ở Việt Nam
1.2.2. Một số tên gọi đối với báo trực tuyến
1.2.3. Những đặc điểm của báo trực tuyến
1.2.3.1. Tính tức thời và phi định kỳ
1.2.3.2. Đa phƣơng tiện
1.2.3.3.Tính tƣơng tác cao
1.2.3.4. Phi tuyến tính
1.2.3.5. Lƣu trữ, truy xuất và siêu liên kết

1.2.3.6. Không gian vô hạn
1.2.3.7. Chi phí thấp và dễ sản xuất
1.2.3.8. Trực tuyến nhƣ một phƣơng tiện phát hành
1.2.3.9.Nhiều phiên bản ngôn ngữ
1.2.3.10. Quyền của độc giả
1.3. Những vấn đề đặt ra
1.3.1. Ưu và nhược điểm của báo trực tuyến trực thuộc báo in
1.3.2. Báo in sẽ thu hẹp v báo trực tuyến?
1.3.3. Sự cần thiết phải hnh thành báo trực tuyến thuộc cơ quan báo
in
Tiểu kết chương 1
Chƣơng 2: TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG BÁO TRỰC TUYẾN Ở CÁC BÁO

19

TUỔI TRẺ, THANH NIÊN VÀ BÌNH DƢƠNG
2.1. Vài nét về các báo Tuổi Trẻ, Thanh Niên và Bình Dƣơng
2.1.1. Báo Tuổi Trẻ
2.1.1.1. Sự ra đời và phát triển của báo Tuổi Trẻ
2.1.1.2. Sự ra đời và phát triểncủa Tuổi Trẻ Online
2.1.2. Báo Thanh Niên
2.1.2.1. Sự ra đời và phát triển của báo Thanh Niên
2.1.2.1. Sự ra đời và phát triển của Thanh Niên Online
2.1.3. Báo Bnh Dương
2.1.3.1.Sự ra đời và phát triển của báo Bình Dƣơng
2.1.3.2. Sự ra đời và phát triển của Bình Dƣơng Online
2.2. Phƣơng thức tổ chức hoạt động của các tòa soạn báo trực tuyến
trong cơ quan báo in
2.2.1. Cơ cấu nhân sự của ba cơ quan báo trực tuyến
2.2.2. Cơ chế tổ chức hoạt động và quy trnh sản xuất tin bài

Tiểu kết chƣơng 2
Chƣơng 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG
BÁO TRỰC TUYẾN THUỘC CƠ QUAN BÁO IN
3.1. Nhóm các giải pháp chung
3.1.1. Về cấu trúc vận hành
3.1.2. Giải pháp về quản lý
3.2.3. Giải pháp về con người
3.2.4. Giải pháp về công nghệ
3.2. Các nhóm giải pháp cụ thể
3.2.1. Nhóm giải pháp về nghiệp vụ
3.2.1.1. Xây dựng tòa soạn tích hợp
3.2.1.2. Khai thác các đặc trƣng của báo trực tuyến
3.2.1.3. Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ chuyên trách
3.2.1.4. Thay đổi cách viết
3.2.2. Nhóm giải pháp đối với công chúng
3.2.2.1 Xây dựng mối quan hệ mật thiết với công chúng

20

3.2.2.2. Biên tập, góp ý bài vở cho công chúng
3.2.2.3. Có chế độ đãi ngộ phù hợp đối với nhà báo công dân
Tiểu kết chương 3
KẾT LUẬN



































21

Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC

HOẠT ĐỘNG BÁO TRỰC TUYẾN TRONG CƠ QUAN BÁO IN


1.1. Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan đến đề tài
1.1.1. Khái niệm “báo in”
Sự hình thành và phát triển của một loại hình báo chí thƣờng gắn liền
với những phát minh công nghệ. Báo in ra đời đầu thế kỷ XVII sau khi
Johannes Gutenberg (1400-1468) phát minh ra máy in bằng khuôn đúc; Phát
thanh ra đời năm 1920 sau khi nhân loại phát minh ra đèn phát sóng và phát
minh của nhà khoa học ngƣời Canada Reginald Fessenden vào năm 1906 về
cơ chế phát sóng giọng nói và âm nhạc; "Báo hình" đầu tiên từ thập niên 1940
cũng nhờ những phát minh công nghệ truyền dẫn trƣớc đó và hiện nay, nhờ sự
ra đời của mạng Internet mà loại hình báo chí trực tuyến đã xuất hiện.
Trong hệ thống các loại hình báo chí, truyền thông đaị chúng, báo in là
những ấn phẩm định kỳ chuyển tải nội dung thông tin mang tính thời sự và
đƣợc phát hành rộng rãi trong xã hội.
Tính thời sự trong nội dung thông tin của báo đƣợc hiểu là sự phản ánh
nhanh những sự kiện, vấn đề mới nảy sinh hoặc vừa mới đƣợc phát hiện trong
xã hội và thiên nhiên. Đây cũng là những vấn đề, sự kiện có ý nghĩa xã hội,
đƣợc cả xã hội quan tâm.
Sản phẩm báo đƣợc phát hành rộng rãi trong xã hội, song đối với từng
loại báo, từng tờ báo, tạp chí vẫn có đối tƣợng xác định riêng. Ví dụ, báo
Nhân Dân dành cho cán bộ, đảng viên và tất cả ai quan tâm đến những vấn đề
chính trị, xã hội trong và ngoài nƣớc. Báo Nhi đồng, báo Phụ nữ Việt Nam,
báo Tiền Phong, tạp chí Cộng sản, tạp chí Quốc phòng toàn dân, v.v lại có
đối tƣợng bạn đọc xác định hơn, hẹp hơn và nội dung thông tin trong các ấn
phẩm đó quan tâm nhiều đến đối tƣợng của mình.

22


- Các loại báo in
Khác với  là những ấn phẩm định kỳ có nội dung nghiên cứu
chuyên sâu vào một hay một số vấn đề, lĩnh vực đời sống với định kỳ xuất
bản thông thƣờng là mỗi tháng một kỳ trở lên có những tạp chí xuất bản theo
định kỳ 3, 4, 5, 6 tháng một số), căn cứ vào các định kỳ và tính chất nội dung
thông tin, ngƣời ta chia báo in thành các loại sau đây:
(báo hàng ngày) là những tờ báo phát hành mỗi ngày một
lần vào buổi sáng hay buổi chiều. Nội dung những tờ báo này là những vấn
đề, sự kiện mang tính thời sự nóng hổi. Nhật báo thƣờng có số lƣợng phát
hành vào loại lớn nhất do nó đáp ứng đƣợc nhu cầu tin tức của các tầng lớp
xã hội rộng rãi và đƣợc phát hành trong phạm vi quốc gia hay ở những thành
phố - trung tâm kinh tế, chính trị - văn hóa lớn, cƣ dân đông. Ở nƣớc ta, ngoài
báo Nhân Dân là tờ báo chính trị - xã hội quan trọng nhất ra buổi sáng, còn có
những tờ nhật báo ra buổi sáng khác nhƣ: Quân đội nhân dân, Sài Gòn giải
phóng, Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Hải Phòng, … và tờ Tin tức của Thông tấn xã
Việt Nam ra buổi chiều, tờ Vietnam News bằng tiếng Anh của Thông tấn xã
Việt Nam, v.v
+  bao gồm báo ra 2, 3, 4, 5 ngày một kỳ, tuần báo, báo nửa
tháng hoặc hàng tháng. Báo ra 2, 3, 4, 5 ngày một kỳ thƣờng là báo của đảng
bộ tỉnh, thành phố hay của tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội trong nƣớc.
+  là các tờ báo xuất bản định kỳ một tuần một lần. Đó là các
tờ báo của các bộ, các ngành, các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp, các
doanh nghiệp kinh tế lớn, v.v
+  phần lớn là các đặc san, chuyên san
của các tờ nhật báo, thƣa kỳ hay tuần báo.
Đặc trưng việc tiếp nhận thông tin qua báo in:

23

Báo in chuyển tải nội dung thông tin thông qua văn bản in gồm: chữ in,

hình vẽ, tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ… Toàn bộ các yếu tố thể hiện nội dung
thông tin của tác phẩm báo in xuất hiện đồng thời trƣớc mắt ngƣời đọc hầu
nhƣ ngay trên cùng một trang báo. Sự đồng hiện của báo in đƣợc thể hiện
bằng những thông tin cùng xuất hiện đồng thời trên trang báo in, thông qua
việc trình bày tổ chức trang báo bao gồm các phần: tên chuyên mục, tiêu đề,
tít, sapô hoặc những dòng chữ gây chú ý, tít phụ cùng sự hỗ trợ của hình vẽ,
tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ…
Công chúng đọc một bài báo in có thể do tít và sapo hấp dẫn hay cũng
có thể do tranh ảnh, biểu đồ minh hoạ thêm gây chú ý cho họ. Cũng chính vì
vậy mà có thể nói sự đồng hiện thông tin của bài viết trên cùng một trang báo
in là một trong những lợi thế nhất định của báo in. Công chúng có thể cùng
lúc lƣớt mắt trên toàn bộ bài báo và sau đó có thể tìm những thông tin thú vị
hoặc cần thiết cho mình. Cũng chính sự đồng hiện các yếu tố thể hiện của một
bài báo trên một trang báo cũng làm ảnh hƣởng lớn đến công tác biên tập nội
dung, tít, sapo, và phần chính văn của một bài báo in. Do phƣơng thức thông
tin đặc thù trên, báo in có những đặc điểm ƣu việt sau:
Một là, công chúng tiếp nhận thông tin trên báo in thông qua thị giác –
giác quan quan trọng nhất của con ngƣời trong mối quan hệ với thế giới xung
quanh nên ngƣời đọc hoàn toàn chủ động trong việc tiếp nhận thông tin từ báo
in. Sự chủ động bao gồm từ việc bố trí thời điểm đọc, lựa chọn trình tự đọc
đến việc chủ động về tốc độ đọc, cách thức đọc khi trong tay có một tờ báo in
cụ thể. Buổi sáng ngƣời ta có thể mua một tờ báo in của một cơ quan báo chí
nào đó, đọc lƣớt qua các tin tức, bình luận quan trọng rồi chiều tối về nhà mới
đọc tiếp những tờ báo dài và đáng quan tâm nhƣ phóng sự, phản ánh, tiểu
luận, các loại bài ký…

24

Khi đọc các tờ báo in, ngƣời ta hoàn toàn có thể đọc lƣớt nhanh những
nội dung quen thuộc, đọc kỹ hay đọc lại những nội dung phức tạp mà đọc lần

đầu chƣa rõ. Đặc điểm này tạo cho báo in khả năng thông tin những nội dung
sâu sắc, phức tạp. Nhà báo có thể trình bày, lí giải các nội dung thông tin với
những mối quan hệ đan chéo, những biểu hiện trên nhiều bình diện, nhiều
tầng nhiều lớp khác nhau. Những thông tin có thể đƣợc tổ chức theo nhiều
cách khác nhau mà ngƣời đọc vẫn có thể hiểu, miễn là những thông tin, nội
dung bài viết là bổ ích, đáp ứng đƣợc nhu cầu của ngƣời đọc.
Hai là, vì sự tiếp nhận thông tin từ báo in của công chúng là quá trình
chủ động, đòi hỏi ngƣời đọc phải tập trung cao độ, phải huy động sự làm việc
tích cực của trí não. Vì thế, làm tăng khả năng ghi nhớ thông tin, giúp ngƣời
đọc có thể nhận thức sâu sắc những mối quan hệ bên trong phức tạp và tế nhị
của các vấn đề, sự kiện.
Không phải ngẫu nhiên mà ngƣời ta nói, báo phát thanh đƣa tin, truyền
hình diễn tả và báo in bình luận. Qua đó, có thể thấy rằng các loại hình báo
chí có phƣơng thức tác động tới công chúng khác nhau sẽ tạo ra những hiệu
ứng khác nhau. Trong đó, báo in với sự tác động riêng biệt tới công chúng
tiếp nhận, đó là sự đồng hiện thông tin, sự tiếp nhận bằng thị giác, đƣa thông
tin trong sự bình luận đánh giá có chiều sâu, đã tạo nên sự sâu sắc trong
truyền đạt thông tin và đã tác động mạnh mẽ vào tƣ duy của công chúng tiếp
nhận. Nhƣ vậy, nếu muốn chứng kiến tận mắt sự kiện, hiện tƣợng nào đó,
ngƣời ta xem truyền hình. Và muốn đi tìm hiểu sâu sắc, cặn kẽ về nguyên
nhân, kết quả, đánh giá về sự kiện, hiện tƣợng nào đó, thì ngƣời ta sẽ tìm đến
với báo in. Nhƣ vậy có thể nói, việc đi sâu bình luận, đánh giá về một sự kiện,
hiện tƣợng nào đó của báo in là một trong những ƣu thế của báo in so với các
loại hình truyền thông khác.

25

Ba là, việc lƣu trữ báo in rất đơn giản và thuận lợi, phù hợp với thói
quen của nhiều ngƣời đọc. Do đó, báo in trở thành nguồn tƣ liệu quý giá đối
với ngƣời đọc. Nguồn tƣ liệu đó có thể đƣợc lƣu trữ lâu dài (nguyên bản hoặc

lƣu giữ riêng những tin tức bài vở đƣợc quan tâm, dẫn liệu minh chứng trong
các công trình nghiên cứu xã hội, lịch sử).
Báo in chỉ xuất hiện trong một thời điểm cụ thể và nhất định với nội
dung thông tin đề cập các vấn đề, sự kiện trong cả một chu kỳ xuất bản.
Thông tin về các vấn đề, sự kiện thời sự diễn ra trong chu kỳ sau đó chỉ có thể
đƣợc đề cập trong sản phẩm đƣợc xuất bản vào thời điểm định kỳ sau. Vì thế
trong báo in bao giờ cũng tồn tại một khoảng thời gian trống thông tin, hay
nói cách khác, độ nhanh, tính thời sự của báo in bị hạn chế hơn so với các loại
hình phát thanh truyền hình và đặc biệt là báo mạng. Để khắc phục hạn chế
này khi mà phát thanh và truyền hình chƣa phát triển, ngƣời ta đƣa ra các tờ
báo buổi chiều.
Phạm vi tác động của báo in đôi khi có hạn chế vì chỉ có ngƣời biết chữ
mới có thể đọc báo. Riêng về mặt này, phát thanh và truyền hình có ƣu thế
hơn so với báo in khi mà hầu nhƣ tất cả các thành viên của xã hội bất kể trình
độ văn hoá nhƣ thế nào đều có thể tiếp nhận thông tin do chúng mang lại.
Việc phát hành báo in đƣợc thực hiện theo phƣơng thức trao tay, vì thế
việc báo in đến với ngƣời đọc sớm hay muộn phụ thuộc vào trình độ phát
triển giao thông và các phƣơng tiện chuyên chở, phân phối báo. Đối với các
nƣớc chậm phát triển, báo in chủ yếu chỉ đƣợc phát hành ở các thành phố, thị
trấn đông dân cƣ, thuận lợi về giao thông đi lại. Ở các địa phƣơng xa trung
tâm, báo in thƣờng đến muộn, tin tức trở thành lạc hậu. Vì thế ở khu vực này,
ảnh hƣởng của thông tin từ báo in rất hạn chế. Đối với những ngƣời đi công
tác xa theo những lộ trình đặc biệt, nhƣ các đoàn khảo sát địa chất, các đoàn

26

thám hiểm địa lý, phục vụ trên các con tàu trên đại dƣơng… việc phát hành
báo in hầu nhƣ không thể thực hiện đƣợc.
1.1.2. Internet và báo trực tuyến
1.1.2.1. Internet

Lịch sử khoa học - công nghệ đã có một bƣớc tiến dài với việc phát
sinh ra máy tính. Nhu cầu liên kết, truyền thông tin và dữ liệu ngày một tăng
cùng với sự phát triển của xã hội. Những chiếc máy lại là các thực tế độc lập,
không thể chuyển giao, giao lƣu với các máy tính khác và ý tƣởng về một
mạng máy tính đã dần xuất hiện để những chiếc máy tính đơn lẻ có thể liên
kết đƣợc với nhau. Internet đƣợc phát sinh từ những ý tƣởng ban đầu này.
Từ những năm 60 thế kỷ trƣớc, Cơ quan Dự án nghiên cứu cao cấp
(Advanced Research Projects Agency – ARPA) của Bộ Quốc phòng Mỹ đã
bảo trợ các nhà nghiên cứu tiến hành các thử nghiệm nhằm tìm ra sự liên kết
giữa các máy tính với nhau. Đây cũng là một trong những nỗ lực nhằm đƣa
khoa học kỹ thuật bậc cao vào quân đội, thử nghiệm độ tin cậy của hệ thống
thông tin trên mạng máy tính. Họ hy vọng rằng, khi một số máy bị sự cố thì
các máy tính còn lại vẫn có thể liên lạc bình thƣờng đƣợc với nhau.
Tháng 7-1968, ARPA liên kết máy tính tại 4 điểm trên nƣớc Mỹ với
nhau, đó là: Viện nghiên cứu Stanford, Đại học California ở Los Angeles,UC-
Stanta Barbara và Đại học Tổng hợp Utah. Năm 1969, liên kết thành công và
lấy tên là ARPANET. Đó là mạng liên khu vực (Wide Area Network – WAN)
đầu tiên đƣợc xây dựng và cũng là mốc quan trọng đánh dấu sự ra đời của
Internet. Tuy nhiên, những ngày đầu Internet còn ở quy mô nhỏ, máy tính và
đƣờng liên lạc có tốc độ xử lý chậm, chỉ đạt tối đa 50 kilobits/giây. Số lƣợng
máy tính nối mạng cũng rất ít, chỉ có 213 máy.

27

Năm 1980, một ngƣời Anh tên là Tim Berners Lee
(1)
đã tin học hóa ý
tƣởng của Ted Nelson
(2)
khi muốn tạo ra một siêu văn bản (Hypertext).

Hypertext về thực chất là loại văn bản muốn đọc thêm thì sẽ có cơ chế nở ra
vì có những tham chiếu tới những khái niệm hay các văn bản khác.
Đến năm 1990, Word Wide Web (gọi tắt là web hoặc www) bắt đầu
xuất hiện. Dự án thiết kế hệ thống thông tin toàn cầu dựa trên nền tảng siêu
văn bản này đƣợc Tim Berners Lee và Robert Cailliau (Bỉ) đƣa ra. Và kết quả
chỉ thực sự thành công khi Tim Berners Lee thử nghiệm với máy tính của nhà
vật lý Paul Kunz tại trung tâm gia tốc tuyến tính Stanford (SLAC)
(3)
vào ngày
12-12-1991. Máy chủ web nằm ngoài Châu Âu đầu tiên đã đi vào hoạt động
tại SLAC ở Stanford, California. Cơ sở dữ liệu Stanford đƣợc coi là ứng dụng
web đầy thuyết phục về việc sử dụng công nghệ mới.
Năm 1991, Word Wide Web chính thức đƣợc ra đời – www là hệ thống
các máy chủ (server) cung cấp thông tin đến bất kỳ máy khách (client) nào
trên Internet có yêu cầu. Đây là bƣớc ngoặt quan trọng của lịch sử hình thành
Internet, đánh dấu một kỷ nguyên mới vì mọi ngƣời có thể truy cập, trao đổi
thông tin một cách hết sức dễ dàng.
Web và Internetkhông phải là một. Internet (gọi tắt là NET) là mạng
lƣới toàn cầu bao gồm nhiều mạng máy tính từ nhỏ đến lớn đƣợc nối lại với
nhau, sử dụng giao thức Internet (Transmission Control Protocol/Internet
Protocol – TCP/IP) và tài nguyên Internet để trao đổi thông tin, cung cấp các
dịch vụ và ứng dụng khác nhau cho ngƣời sử dụng. Internet là cơ sở hạ tầng
cho phép các máy tính có thể kết nối với nhau trên toàn thế giới. Còn web là

1

a Internet.
2

n.

3

 


×