1
Đề tài:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH
GIỮA CỦA CÁC DOANH DOANH NGHIỆP VỪA VÀ
NHỎ KHI GIA NHẬP WTO
2
Năng lực cạnh tranh là sức mạnh của doanh nghiệp được thể hiện trên thương
trường. Sự tồn tại và sức sống của một doanh nghiệp thể hiện trước hết ở năng lực
cạnh tranh. Để từng bước vươn lên giành thế chủ động trong quá trình hội nhập,
nâng cao năng lực cạnh tranh chính là tiêu chí phấn đấu của các doanh nghiệp Việt
Nam.
1 – Khái quát tình hình phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam
Trước thời kỳ đổi mới, các khái niệm doanh nghiệp, doanh nhân hầu như không
được sử dụng ở nước ta. Trong thời kỳ đổi mới, nhất là khi đất nước thực hiện nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế, các
khái niệm doanh nghiệp, doanh nhân ngày càng được sử dụng phổ biến trong lĩnh
vực khoa học, kinh tế… và trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Trong chương trình đổi mới toàn diện đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn chú
trọng đến việc hình thành, phát triển các doanh nghiệp, doanh nhân và coi đó là lực
lượng chủ lực của phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế. Nghị
quyết Hội nghị Trung ương lần thứ bảy, khóa IX, lần đầu tiên đã đặt ra yêu cầu xây
dựng đội ngũ doanh nhân Việt Nam cùng với nhiệm vụ xây dựng giai cấp công
nhân, nông dân và đội ngũ trí thức. Đại hội X của Đảng đã đưa ra chủ trương cho
phép đảng viên được làm kinh tế tư nhân và đặt ra yêu cầu xây dựng chiến lược
quốc gia về phát triển doanh nghiệp, trong đó đưa ra mục tiêu phấn đấu đến năm
2010 cả nước có 500.000 doanh nghiệp .
Cùng với đường lối đổi mới, các chính sách phát triển kinh tế, Luật Đầu tư nước
ngoài. Luật Doanh nghiệp, quỹ hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ… đi vào cuộc sống
thực sự thúc đẩy các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ra đời và ngày
3
càng phát triển nhanh về số lượng, rộng về quy mô, phong phú về các loại hình và
hoạt động ngày càng có hiệu quả. Đến nay, cả nước đã có khoảng hơn 240.000
doanh nghiệp, gần 3 triệu hộ kinh doanh, trên 200 ngành kinh doanh với hàng triệu
doanh nhân và hàng chục triệu người lao động[1].
Các doanh nghiệp, doanh nhân đã nhanh chóng tiếp cận thị trường trong và ngoài
nước, từng bước thích nghi với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, tích cực
áp dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh, cải
tiến công tác quản lý… Vì vậy, các doanh nghiệp đã đóng góp phần quan trọng vào
tăng trưởng kinh tế của đất nước, đã tạo ra khoảng 49% việc làm phi nông nghiệp,
26% lực lượng lao động cả nước; nếu năm 2001 trung bình gần 1.000 người dân
mới có một doanh nghiệp, thì năm 2005 cứ trên 500 người dân đã có 1 doanh
nghiệp. Từ năm 2000 đến nay, mỗi năm khu vực doanh nghiệp tư nhân đóng góp
hơn 6.000 tỉ đồng tiền thuế, chiếm 14,8% tổng thu ngân sách Nhà nước. Trong 6
năm thực hiện luật Đầu tư mới, các doanh nghiệp đã đăng ký số vốn khoảng
321.200 tỉ đồng (khoảng 21 tỉ USD) và số vốn đăng ký bổ sung trên 103.000 tỉ
đồng (khoảng 6,3 tỉ USD). Như vậy, tỷ trọng đầu tư của các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh trong tổng đầu tư phát triển toàn xã hội tăng từ 22,6% (năm 2000) lên
32% (năm 2005), đầu tư khu vực doanh nghiệp nhà nước là 50%. Tốc độ tăng
trưởng bình quân của doanh nghiệp tư nhân đạt 18 – 24%, khu vực nhà nước đạt
dưới 10%; song tỷ trọng trong GDP của cả hai khu vực này là tương đương nhau
(doanh nghiệp tư nhân 40,1% và khu vực Nhà nước 40,6% trong năm 2005).[2]
Như vậy, mặc dù mới ra đời và phát triển nhưng các doanh nghiệp Việt Nam đã
thực hiện tính năng động, linh hoạt thích ứng với điều kiện hội nhập, sự tự tin và ý
chí kinh doanh cao… và kết quả hoạt động là tích cực rất đáng khích lệ. Trong đó,
một số doanh nghiệp đã khẳng định được uy tín, chất lượng, hiệu quả và thương
4
hiệu của mình trên thị trường trong nước và quốc tế. Hoàn toàn có cơ sở khẳng
định rằng, các doanh nghiệp Việt Nam đang và sẽ trở thành đội quân chủ lực trong
sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước.
Tuy nhiên, trong bối cảnh của toàn cầu hóa, nhất là khi Việt Nam là thành viên của
Tổ chức Thương mại thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với các đối
thủ mới (các công ty xuyên quốc gia, đa quốc gia có tiềm lực tài chính, công nghệ,
kinh nghiệm và năng lực cạnh tranh cao), phải cạnh tranh quyết liệt trong điều kiện
mới (thị trường toàn cầu với những nguyên tắc nghiêm ngặt của định chế thương
mại và luật pháp quốc tế). Nói cách khác, các doanh nghiệp Việt Nam đang phải
đối mặt với những thách thức thật sự to lớn.
Thứ nhất, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam hiện còn rất
hạn chế. Bởi lẽ, đa số các doanh nghiệp đều có quy mô nhỏ và ít vốn. Theo điều
tra mới nhất hiện có 51,3% doanh nghiệp có dưới 10 người lao động, 44% doanh
nghiệp có từ 10 đến 200 lao động, chỉ có 1,43% doanh nghiệp có từ 200 đến 300
lao động, 42% doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỉ đồng, 37% doanh nghiệp có vốn từ 1
tỉ đến 5 tỉ đồng và chỉ có 8,18% doanh nghiệp có vốn từ 5 tỉ đến 10 tỉ đồng[3].
Trong điều kiện quy mô doanh nghiệp nhỏ, vốn ít các doanh nghiệp Việt Nam lại
gặp một thách thức rất lớn đó là chất lượng nhân lực của doanh nghiệp thấp. Đội
ngũ chủ doanh nghiệp, cán bộ quản lý doanh nghiệp còn rất thiếu kiến thức quản
trị và kỹ năng kinh nghiệm quản lý. Kết quả điều tra hơn 63.000 doanh nghiệp trên
cả nước cho thấy: 43,3% lãnh đạo doanh nghiệp có trình độ học vấn dưới trung học
phổ thông, số chủ doanh nghiệp có trình độ thạc sỹ trở lên chỉ có 2,99%.[4] Có thể
nói, đa số các chủ doanh nghiệp và giám đốc doanh nghiệp tư nhân chưa được đào
tạo một cách bài bản về kiến thức kinh doanh, quản lý, kinh tế – xã hội, văn hóa,
5
luật pháp… và kỹ năng quản trị kinh doanh, nhất là kỹ năng kinh doanh trong điều
kiện hội nhập quốc tế. Điều đó được thể hiện rõ trong việc nhiều doanh nghiệp
chưa chấp hành tốt các quy định về thuế, quản lý nhân sự, quản lý tài chính, chất
lượng hàng hóa, sở hữu công nghiệp…
Thứ hai, sự lạc hậu về khoa học – công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam.
Hiện nay, đa số các doanh nghiệp nước ta đang sử dụng công nghệ lạc hậu so với
mức trung bình của thế giới từ 2 đến 3 thế hệ, 76% máy móc, dây chuyền công
nghệ được sản xuất từ những năm 1950 – 1960, 75% số thiết bị đã hết khấu hao,
50% số thiết bị là đồ tân trang… Tóm lại, máy móc, thiết bị đang được sử dụng ở
các doanh nghiệp Việt Nam chỉ có 10% hiện đại, 38% trung bình và 52% là lạc hậu
và rất lạc hậu; tỷ lệ sử dụng công nghệ cao mới chỉ có 2% (tỷ lệ này ở Thái Lan là
31%, Ma-lai-xi-a là 51% và Xin-ga-po là 73%). Trong khi đó, các doanh nghiệp
nước ta đầu tư cho đổi mới công nghệ rất thấp, chi phí khoảng 0,2% – 0,3% tổng
doanh thu[5].
Thứ ba, hạn chế về khâu nguyên vật liệu và sự yếu kém về thương hiệu các
doanh nghiệp. Đa số các doanh nghiệp Việt Nam phải nhập khẩu nguyên vật liệu
cho sản xuất kinh doanh. Trong những năm qua, nhiều sản phẩm xuất khẩu và sản
phẩm có sự tăng trưởng cao (hàng da giày, dệt may, chế biến thực phẩm, đồ uống,
sản phẩm thép và kim loại màu, sản phẩm nhựa, hàng điện tử, ô tô, xe máy…) đều
phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu bán thành phẩm nhập khẩu từ nước ngoài. Trong
khi đó, giá cả các loại nguyên vật liệu này trên thế giới có xu hướng gia tăng, làm
cho nhiều nhóm sản phẩm có tỷ trọng chi phí nguyên vật liệu khá cao, chiếm hơn
60% giá thành sản phẩm.
6
Mặt khác, rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa xây dựng được thương hiệu
mạnh, chưa khẳng định được uy tín chất lượng và năng lực cạnh tranh trên thị
trường khu vực và quốc tế. Trên thực tế, trong nhiều sản phẩm của Việt Nam yếu
tố cấu thành của tri thức, công nghệ thấp, trong khi yếu tố sức lao động và nguyên
vật liệu cao… Điều đó làm cho sức cạnh tranh thấp, chất lượng sản phẩm không có
ưu thế rõ rệt trên thị trường.
Thứ tư, chiến lược phân phối, chiến lược truyền thông và xúc tiến thương mại
của các doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều hạn chế. Đa số các doanh nghiệp Việt
Nam có quy mô vừa và nhỏ nên hạn chế tầm hoạt động và mạng lưới phân phối
sản phẩm. Trong khi đó, hoạt động xúc tiến thương mại còn giản đơn, sơ lược và
không có hiệu quả thiết thực. Có rất ít doanh nghiệp xây dựng được chương trình
xúc tiến, giới thiệu một cách bài bản về sản phẩm cho khách hàng. Hầu hết các
doanh nghiệp chưa nhận thức đúng được giá trị và ý nghĩa của xúc tiến thương
mại, quảng cáo…Vì vậy, chi phí cho quảng cáo rất thấp, chỉ dưới 1% doanh thu (tỷ
lệ này của các doanh nghiệp nước ngoài chiếm khoảng 10% đến 20% doanh thu).
2 – Những giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt
Nam
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nhất là khi Việt Nam là thành viên của WTO thì
việc nâng cao năng lực cạnh tranh trở thành vấn đề sống còn của các doanh nghiệp.
Một là, nâng cao trình độ học vấn, hiểu biết về kinh tế – xã hội, văn hóa, luật
pháp… cho các chủ doanh nghiệp, các bộ quản lý và người lao động trong
doanh nghiệp. Như đã nhận xét ở phần trên, hiện còn tới 43,3% chủ doanh nghiệp
có trình độ học vấn dưới trung học phổ thông, số có trình độ thạc sỹ trở lên chỉ
7
chiếm 2,99%. Vì vậy, giáo dục – đào tạo cần trang bị học vấn ở trình độ cử nhân và
những tri thức cơ bản về kinh tế – xã hội, văn hóa, pháp luật… cho các chủ doanh
nghiệp, giám đốc, cán bộ quản lý doanh nghiệp và những người lao động.
Hai là, tăng cường năng lực của chủ doanh nghiệp, giám đốc và cán bộ quản
lý trong các doanh nghiệp về quản trị kinh doanh, quản trị chiến lược. Trong
mọi điều kiện, doanh nhân cần thường xuyên cập nhật tri thức mới, những kỹ năng
cần thiết (kỹ năng quản trị trong cạnh tranh, kỹ năng lãnh đạo doanh nghiệp, kỹ
năng quản lý sự biến đổi, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng đàm phán và giao tiếp
v.v…) để có đủ sức cạnh tranh trên thị trường và tiếp cận nền kinh tế tri thức.
Để có đủ sức cạnh tranh lâu dài và có thể tự tin bước vào kinh tế tri thức, các
doanh nghiệp cần phải xây dựng chiến lược phát triển bền vững. Trong đó, đặc biệt
chú trọng đến chiến lược cạnh tranh và những kỹ năng mang tính chiến lược như:
Quản trị chiến lược, quản trị rủi ro, và tính nhạy cảm trong quản lý, phân tích kinh
doanh, dự báo và định hướng chiến lược phát triển…
Ba là, hiện nay đa số các doanh nghiệp Việt Nam đều có quy mô nhỏ, vốn ít, trình
độ học vấn, kiến thức kinh doanh, hiểu biết luật pháp (nhất là luật pháp quốc tế)
không cao, trình độ tay nghề của người lao động thấp… Trong điều kiện này, để
thực hiện chiến lược cạnh tranh cần phải và nhất thiết phải thực hiện phương châm
liên kết và hợp tác để nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh trên
thị trường. Sự liên kết và hợp tác không phải là phép tính cộng tổng số các doanh
nghiệp, mà chính là tạo ra sức mạnh bội phần của các nhóm, các tập đoàn kinh tế
cùng sản xuất kinh doanh một (hoặc một số) sản phẩm nhất định và cùng thực hiện
chiến lược thương hiệu, xúc tiến thương mại và quảng bá sản phẩm trên thị trường.
8
Bốn là, tăng cường sự hỗ trợ của chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước về
vốn, cơ chế, chính sách, luật pháp, xúc tiến thương mại, giáo dục – đào tạo, tư vấn
về thiết bị, công nghệ hiện đại… cho các doanh nghiệp. Đồng thời, tăng cường hơn
nữa vai trò của các hiệp hội, các hội, các câu lạc bộ giám đốc và các tổ chức
chuyên môn, nghiệp vụ đối với sự phát triển của các doanh nghiệp.
Năm là, xây dựng văn hóa doanh nghiệp. Văn hóa có vai trò quan trọng trong sự
phát triển, vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế – xã hội. Từ xưa, cha
ông ta đã đúc kết: "Phi trí bất hưng, phi thương bất phú, phi công bất hoạt". Ngày
nay, trong xã hội hiện đại, quan niệm về giá trị, về lao động sáng tạo, ý thức cạnh
tranh, ý chí làm giàu, sự tín nhiệm xã hội… có ý nghĩa to lớn đối với việc nâng cao
năng lực cạnh tranh và xây dựng văn hóa doanh nghiệp.
Văn hóa doanh nghiệp, nói một cách khái quát là "đạo làm giàu", tức là làm giàu
một cách có văn hóa: Làm giàu cho bản thân, làm giàu cho doanh nghiệp, làm giàu
cho xã hội và cho đất nước. Sự giàu có về trí tuệ, về của cải và tính năng động sáng
tạo là những giá trị xã hội mà mỗi doanh nhân, mỗi doanh nghiệp phải có. Vì vậy,
xây dựng văn hóa doanh nghiệp tạo ra môi trường văn hóa lành mạnh, tích cực
luôn là động lực thúc đẩy sức sáng tạo và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp.
Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi gia nhập WTO
Khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) giữ một vị trí vô cùng quan trọng và
đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia. Trong thời gian qua,
các DNVVN của Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, bên cạnh việc mở ra
các cơ hội cho các DN thì những khó khăn và thách thức từ quá trình hội nhập. Bài
viết dưới đây đề cập đến những hạn chế về khả năng cạnh tranh của các DNVVN
và những giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của khu vực này.
9
Những hạn chế về khả năng cạnh tranh của các DNVVN ở Việt Nam hiện nay
Khả năng cạnh tranh (competitiveness) là thuật ngữ được dùng để nói đến các đặc
tính cho phép một hãng cạnh tranh một cách có hiệu quả với các hãng khác nhờ có
chi phí thấp hoặc sự vượt trội về công nghệ và kỹ thuật trong so sánh quốc tế(1).
Các DNVVN của Việt Nam có nhiều lợi thế cạnh tranh, tuy nhiên vẫn còn nhiều
hạn chế và yếu kém:
Thứ nhất: Chất lượng và khả năng cạnh tranh về mặt quản lý còn yếu kém. Đội
ngũ chủ DN, giám đốc và cán bộ quản lý DNVVN còn nhiều hạn chế về kiến thức
và kỹ năng quản lý. Số lượng DNVVN có chủ DN, giám đốc giỏi, trình độ chuyên
môn cao và năng lực quản lý tốt chưa nhiều. Một bộ phận lớn chủ DN và giám đốc
DN tư nhân chưa được đào tạo bài bản về kinh doanh và quản lý, còn thiếu kiến
thức kinh tế - xã hội và kỹ năng quản trị kinh doanh, đặc biệt là yếu về năng lực
kinh doanh quốc tế. Từ đó, khuynh hướng phổ biến là các DN hoạt động quản lý
theo kinh nghiệm, thiếu tầm nhìn chiến lược, thiếu kiến thức trên các phương diện:
Quản lý tổ chức, chiến lược cạnh tranh, phát triển thương hiệu, sử dụng máy tính
và công nghệ thông tin. Một số chủ DN mở công ty chỉ vì có sẵn tiền vốn và thích
kinh doanh, trong khi đó thiếu kiến thức và kỹ năng về kinh doanh, vì vậy đã dẫn
đến rủi ro và thất bại.
Thứ hai: Năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cao làm
yếu khả năng cạnh tranh của các DNVVN. So sánh giữa sản phẩm trong nước với
các nước như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Philipines, thì các sản phẩm sản
xuất của các DN Việt Nam có giá thành cao hơn từ 1,58 đến 9,25 lần mặc dù giá
nhân công lao động thuộc loại thấp so với các nước trong khu vực.
10
Thứ ba: Năng lực cạnh tranh về tài chính vẫn còn rất yếu kém. Quy mô vốn và
năng lực tài phantram.jpgchính (kể cả vốn của chủ sở hữu và tổng nguồn vốn) của
nhiều DN còn rất nhỏ bé, vừa kém hiệu quả, vừa thiếu tính bền vững. Số lượng DN
nhỏ và vô cùng nhỏ chiếm tỷ lệ khá cao. Việt Nam có hơn 72. 000 DN đang hoạt
động, số lượng có tăng lên nhưng quy mô chủ yếu là nhỏ và siêu nhỏ. Số DN có
vốn dưới 1 tỷ đồng chiếm tới 44,1%, quy mô lao động dưới 10 người chiếm
46,6%. Nếu so sánh năm 2004 với năm 2000, số vốn và số lượng lao động bình
quân trong mỗi DN đã giảm từ 26 tỷ đồng và 84 lao động xuống còn 24 tỷ đồng và
72 lao động (theo số liệu của Tổng cục Thống kê).
Thứ tư: Nhận thức và sự chấp hành luật pháp còn hạn chế. Một số khá lớn
DNVVN còn chưa chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật, đặc biệt là
các quy định về thuế, quản lý tài chính, quản lý nhân sự, chất lượng hàng hoá và sở
hữu công nghiệp. Tình trạng các DNVVN bị các cơ quan chức năng phàn nàn, xử
phạt vi phạm các chế độ về thuế, tài chính còn phổ biến. Nguyên nhân của tình
trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này cũng là do việc nhận thức, hiểu biết của
DN về luật pháp còn nhiều hạn chế. Tâm lý làm ăn chuôi vẫn còn khá phổ biến.
Thứ năm: Sự yếu kém về thương hiệu đã góp phần làm yếu khả năng cạnh tranh.
Hầu hết các DNVVN ở Việt Nam chưa xây dựng được các thương hiệu mạnh,
chưa khẳng định được uy tín và khả năng cạnh tranh trên thị trường khu vực và
quốc tế. Nhiều DN ở Việt Nam, đặc biệt là các DNVVN chưa có chiến lược xây
dựng thương hiệu, chưa tạo được uy tín về chất lượng sản phẩm và dịch vụ, do đó
khả năng cạnh tranh còn yếu. Theo số liệu khảo sát của VCCI, chỉ có gần 10% số
doanh nghiệp là thường xuyên tìm hiểu thị trường nước ngoài và trong số này chủ
yếu là các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có hoạt động
xuất nhập khẩu; Khoảng 42% doanh nghiệp tìm hiểu thị trường nước ngoài không
11
thường xuyên và khoảng 20% doanh nghiệp, chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và
vừa, không có các hoạt động tìm hiểu thị trường nước ngoài.
Hội nhập quốc tế đã buộc các DN phải nâng cao khả năng cạnh tranh để đủ sức
đứng vững trên thương trường. Năng lực của các nhà quản lý DN là một trong
những nhân tố quan trọng nhất có ảnh hưởng quyết định đến khả năng cạnh tranh
của DN. Doanh nhân ngày nay cần có những năng lực tổng hợp và ở mức độ cao
hơn hẳn 5 năm trước; trong đó cần đặc biệt chú trọng bồi dưỡng kiến thức và kỹ
năng về xây dựng và phát triển thương hiệu, về chiến lược cạnh tranh.
Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của DNVVN
Cộng đồng DN Việt Nam, trong đó có các DNVVN đã và đang đóng góp ngày
càng quan trọng hơn trong công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế của đất nước.
Các DNVVN đang đứng trước những thách thức và cơ hội to lớn, đòi hỏi phải đáp
ứng yêu cầu ngày càng gay gắt của cơ chế kinh tế thị trường và sức ép hội nhập
quốc tế. Nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các DNVVN Việt Nam trong bối
cảnh hội nhập, các DN cần phải giải quyết một số vấn đề sau:
Thứ nhất: Cần phải tăng cường năng lực quản trị kinh doanh của các giám đốc và
cán bộ quản lý trong các DNVVN.
small_127032.jpgTăng khả năng cạnh tranh của các DN trong đó có DNVVN bằng
cách nâng cao năng lực lảnh đạo của các chủ DN là yếu tố thiết yếu. Hai yếu tố
thiết yếu hình thành năng lực tổng hợp của một doanh nhân đó là tố chất nghiệp
chủ và năng lực quản lý.Tuy nhiên, ở nước ta trong nhiều trường hợp, một doanh
nhân có được yếu tố thứ nhất lại thiếu yếu tố thứ hai; hoặc phát triển các yếu tố đó
12
không đồng đều, không theo kịp sự phát triển nhanh chóng và sự đòi hỏi khắc
nghiệt của hoạt động kinh doanh với mức độ cạnh tranh quốc tế hoá ngày càng cao.
Để phát triển các năng lực nói trên, cần có sự nỗ lực của bản thân DN và sự hỗ trợ
của các cơ quan, tổ chức hữu quan; nhưng sự chủ động, tích cực phấn đấu của bản
thân mỗi giám đốc và nhà kinh doanh phải là nhân tố quyết định. Doanh nhân cần
được chú trọng nâng cao những kỹ năng cần thiết và cập nhật những kiến thức hiện
đại để đủ sức bước vào nền kinh tế tri thức. Một số kiến thức và kỹ năng có thể đã
có nhưng cần được hệ thống hoá và cập nhật, trong đó, cần đặc biệt chú ý những
kỹ năng hữu ích như: Kỹ năng quản trị hiệu quả trong môi trường cạnh tranh; kỹ
năng lãnh đạo của nghiệp chủ và giám đốc DN; kỹ năng quản lý sự thay đổi; kỹ
năng thuyết trình, đàm phán, giao tiếp và quan hệ công chúng; kỹ năng quản lý
thời gian. Những kỹ năng này kết hợp với các kiến thức quản trị có hiệu quả sẽ có
tác động quyết định đối với các doanh nhân, các nghiệp chủ và các nhà quản lý DN
trong đó có DNVVN, qua đó làm tăng khả năng cạnh tranh của các DN.
Thứ hai: phát triển năng lực quản trị chiến lược của cán bộ quản lý trong các
DNVVN.
Sự yếu kém về tầm nhìn chiến lược trong phát triển kinh doanh là một trong những
nguyên nhân của sự thất bại trong phát triển dài hạn. Có DN hoạt động rất thành
công ở quy mô nhỏ nhưng thất bại ngay khi bước vào giai đoạn mở rộng quy mô.
Các DNVVN đều phải xây dựng khả năng phát triển một cách bền vững, nếu
không sẽ khó trụ vững trong cuộc cạnh tranh. Những trường hợp DN phát triển
rầm rộ trong một vài năm, sau đó suy yếu nhanh, thậm chí tan vỡ là các minh
chứng.
13
Để bồi dưỡng, phát triển năng lực quản lý chiến lược và tư duy chiến lược cho đội
ngũ giám đốc và cán bộ kinh doanh trong các DNVVN, cần chú trọng đặc biệt
những kỹ năng: Phân tích kinh doanh, dự đoán và định hướng chiến lược, lý thuyết
và quản trị chiến lược, quản trị rủi ro và tính nhạy cảm trong quản lý.
Về mặt chiến lược cạnh tranh, các DN Việt Nam còn rất yếu về liên kết nhóm, đặc
biệt là trên phạm vi quốc gia. Vừa cạnh tranh vừa hợp tác, hợp tác để tăng cường
khả năng cạnh tranh; nếu các DN chỉ thuần tuý chú ý đến mặt cạnh tranh mà bỏ
qua mặt hợp tác thì rất sai lầm. Phải biết hợp tác đi đôi với cạnh tranh để giảm bớt
căng thẳng và tăng cường năng lực cạnh tranh của DN.
Thứ ba: xây dựng hệ thống kế toán quản trị cho các DN Việt Nam và khuyến khích
các DN áp dụng.
Hệ thống kế toán quản trị có thể giúp cho DN đánh giá được năng lực cạnh tranh
của mình, giúp cho các chủ DN đưa ra các quyết định ngắn hạn và dài hạn một
cách khoa học. Đồng thời có thể chỉ ra các nguyên nhân yếu kém trong khâu sản
xuất, đánh giá được trách nhiệm quản lý của các bộ phận quản lý. Nó cho phép
doanh nghiệp lập các dự toán sản xuất và kinh doanh, cung cấp thông tin cho việc
ra quyết định của nhà quản trị nhanh chóng.
Khi DNVVN phát triển mở rộng phạm vi hoạt động thì việc xây dựng hệ thống kế
toán quản trị giúp các DN này dể dàng thích nghi. Và việc quản lý theo kiểu gia
đình sẽ không còn phù hợp nữa, việc phát triển này là một tất yếu và phù hợp với
xu thế phát triển của các DN.
14
Thứ tư: tăng cường vai trò của các hiệp hội, các câu lạc bộ giám đốc và các tổ chức
chuyên môn đối với sự phát triển của các DNVVN.
So với nhiều nước có nền kinh tế phát triển, vai trò của các hiệp hội chuyên ngành,
các câu lạc bộ ở nước ta trong việc giao lưu, xúc tiến thương mại, trao đổi thông
tin và hỗ trợ phát triển chuyên môn còn hạn chế, mờ nhạt cả về số lượng, quy mô
và nội dung hoạt động. Vì vậy cần chú trọng hơn nữa việc tổ chức các buổi trao đổi
sinh hoạt, giới thiệu kinh nghiệm trong nước và quốc tế, cập nhật thông tin về
ngành và về hoạt động kinh doanh. Những hoạt động đó tuy đơn giản nhưng rất bổ
ích, tạo điều kiện phát triển và hoàn thiện năng lực của các giám đốc và cán bộ
quản lý kinh doanh.
Thứ năm: bồi dưỡng khả năng kinh doanh quốc tế và nâng cao năng lực cạnh tranh
quốc tế của DNVVN.
Hiện nay, mặc dù đã có những bước tiến lớn nhưng nếu so với trình độ quốc tế thì
hầu hết cá4.jpgc DNVVN Việt Nam còn tụt hậu một khoảng cách đáng kể. Muốn
nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN trên thương trường quốc tế thì chính bản
thân các giám đốc và cán bộ quản lý DN trước hết cần tăng cường khả năng đó.
Đây là đòn bẩy nhân tố con người trong các tổ chức kinh doanh. Điều này các
doanh nhân và nhà quản lý trong các DNVVN có thể thực hiện được (bằng chứng
là đã có những doanh nhân Việt Nam thành công trên thương trường quốc tế). Tuy
nhiên, con số này còn quá ít và phát triển còn mang tính tự phát. Đã đến lúc ở cấp
vĩ mô cần quan tâm có tính hệ thống nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh quốc tế.
Những kinh nghiệm và sự thành công của Hàn Quốc và Đài Loan trong lĩnh vực
này rất đáng được chúng ta nghiên cứu và chọn lọc.
15
Đối với giám đốc và nhà quản lý DN, để nâng cao khả năng làm việc và giao dịch
quốc tế, tiếp cận các tiêu chuẩn, các thông lệ của thế giới thì cần chú trọng phát
triển những kiến thức, kỹ năng chủ yếu như:
- Năng lực về ngoại ngữ (mặc dù có thể sử dụng người phiên dịch nhưng cần có
ngoại ngữ tối thiểu và nên hạn chế sự phụ thuộc hoàn toàn vào phiên dịch). Đ ây
có lẽ là một trong những điểm đáng chú ý nhất đối với các DN ở nước ta, đặc biệt
là các DNVVN.
- Kiến thức cơ bản về văn hoá, xã hội, lịch sử trong kinh doanh quốc tế.
- Giao tiếp quốc tế và xử lý sự khác biệt về văn hoá trong kinh doanh.
- Thông lệ quốc tế trong lĩnh vực /ngành kinh doanh.
Thứ sáu: tăng cường sự hỗ trợ của Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước
trong quá trình thúc đẩy sự phát triển của các DNVVN.
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, mục tiêu của kế hoạch phát triển DNVVN 2006-
2010 là đến năm 2010, các DNVVN tạo thêm được 2, 5 triệu chỗ làm việc mới,
xuất khẩu trực tiếp 3-6%. Cùng với sự tăng trưởng mạnh mẽ của các DNVVN, cơ
chế chính sách của Nhà nước cần được tiếp tục đổi mới, hoàn thiện và thực sự tạo
điều kiện hỗ trợ sức cạnh tranh cho các DNVVN trên thương trường trong và ngoài
nước.
23.jpgTrong thời gian gần đây, cơ chế chính sách quản lý của Nhà nước đối với các
DN, trong đó có DNVVN đã từng bước được hoàn thiện. Động lực kinh doanh đã
16
được phát huy, nhiều rào cản đã được loại bỏ, tạo điều kiện cho mọi DN hoạt động
trong và ngoài nước. Cục phát triển DNVVN đã được thành lập và có một số hoạt
động bước đầu. Một số công cụ chính sách vĩ mô đã phát huy tác dụng như: Luật
DN, Nghị định 90, Quỹ hỗ trợ DNVVN, cơ chế tín dụng Tuy nhiên, còn nhiều
việc phải làm trên con đường hoàn thiện hệ thống chính sách và cơ chế quản lý vĩ
mô nhằm tăng cường sức cạnh tranh, thúc đẩy sự phát triển năng động và có hiệu
quả của DNVVN.
Chính phủ và các cơ quan nhà nước cần góp phần mạnh mẽ hơn nữa trong việc xây
dựng và hỗ trợ phát triển các DNVVN. Các công cụ chính sách của Nhà nước và
sự hỗ trợ trên các mặt khác nhau là rất cần thiết. Môi trường kinh doanh, môi
trường pháp lý và các nhân tố xã hội có ảnh hưởng rất lớn đối với doanh nhân và
nền kinh tế của đất nước. Do đó, thông qua chủ trương chính sách cụ thể, Nhà
nước cần tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh phát triển, qua đó
hình thành một khu vực DNVVN hoạt động có hiệu quả và phát triển bền vững. Sự
phát triển của khu vực này sẽ góp phần đắc lực trong tiến trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá và sự phát triển phồn thịnh của nước nhà.
Thứ bảy: hỗ trợ tư vấn về thiết bị, công nghệ mới hiện đại, thích hợp và cung cấp
thông tin công nghệ, thị trường cho các DNVVN, tạo lập và phát triển thị trường
công nghệ, tạo điều kiện để các DN này tăng cường cạnh tranh trong sản xuất, chế
biến sản phẩm. Chính phủ cần thành lập một số tổ chức hỗ trợ tư vấn (bằng những
hình thức đa dạng) trong các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau, giúp các DNVVN
nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, có thêm một tiềm lực mới
trong công cuộc hội nhập quốc tế.
Thứ tám: xây dựng chiến lược Marketing và chiến lược hậu mãi.
17
18
Ngày nay, hội nhập đã trở thành một xu thế tất yếu, một nước không thể phát
triển nếu không tham gia hội nhập kinh tế quốc tế. Đứng trước tình hình đó, nền
kinh tế Việt Nam đang có cơ hội đầu tư, phát triển. Nhưng đối với doanh nghiệp
vừa và nhỏ, ngoài những cơ hội còn rất nhiều những thách thức, do quy mô vừa và
nhỏ nên khả năng cạnh tranh thấp, có nguy cơ bị phá sản trước các doanh nghiệp
lớn và trước các đối thủ nặng ký từ nước ngoài.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại đóng một vai trò rất quan trọng
trong nền kinh tế quốc dân, hàng năm góp phần lớn vào GDP của cả nước. Với vai
trò rất lớn, nhưng lại đứng trước nhiều khó khăn, em không khỏi băn khoăn về khả
năng tồn tại và phát triển của nó.
Chương I: Cơ sở lý luận về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
vừa và nhỏ.
- Chương II: Thực trạng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp
vừa và nhỏ ở việt nam hiện nay
- Chương III: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của các
doanh nghiệP