Tải bản đầy đủ (.pdf) (159 trang)

Quan hệ Việt Nam - Thái Lan 2000-2009

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.57 MB, 159 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN




HÀ LÊ HUYỀN






QUAN HỆ VIỆT NAM - THÁI LAN
2000 - 2009





Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lịch sử Thế giới
Mã số: 60 22 50





Người hướng dẫn khoa học: TS. Hoàng Anh Tuấn








Hà Nội - 2010

2
MỤC LỤC


Trang
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU
CHƢƠNG 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ LỊCH SỬ CỦA QUAN HỆ
VIỆT NAM – THÁI LAN
1.1. Cơ sở hình thành quan hệ Việt Nam - Thái Lan
1.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
1.1.2. Mối liên hệ về kinh tế - văn hóa
1.1.3. Quan hệ tộc người
1.2. Vài nét về quan hệ Việt Nam - Thái Lan trong lịch sử
1.3. Bối cảnh thế giới và khu vực của quan hệ Việt Nam -
Thái Lan giai đoạn 2000 - 2009
1.3.1. Bối cảnh thế giới
1.3.2. Bối cảnh khu vực
1.3.3. Tình hình Việt Nam
1.3.4. Tình hình Thái Lan
CHƢƠNG 2: QUAN HỆ CHÍNH TRỊ - AN NINH, KINH TẾ
VÀ VĂN HÓA - XÃ HỘI GIỮA VIỆT NAM VÀ THÁI LAN
2000 - 2009

2.1. Quan hệ chính trị - an ninh
2.2. Quan hệ kinh tế Việt Nam - Thái Lan
2.2.1. Quan hệ thương mại - đầu tư Việt Nam - Thái Lan
4
6
7

16
16
16
16
17
17

28
28
33
38
43


49
49
60
61

3
2.2.2. Hợp tác phát triển du lịch
2.3. Quan hệ văn hóa - xã hội
2.3.1. Hội hữu nghị Việt Nam - Thái Lan và Thái Lan –

Việt Nam: cầu nối quan hệ hai nước trong thời kỳ mới…
2.3.2. Hợp tác giáo dục
2.3.3. Hợp tác khoa học kỹ thuật và công nghệ
2.3.4. Y tế cộng đồng
2.3.5. Hợp tác thể dục thể thao
2.3.6. Bản Nachoọc - Làng hữu nghị Thái Lan và Việt Nam
CHƢƠNG 3: ĐÁNH GIÁ VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM –
THÁI LAN 2000 – 2009
3.1. Thành tựu
3.2. Khó khăn
3.3. Tác động của Thái Lan đến Việt Nam
3.3.1. Tác động đến vị thế của Việt Nam
3.3.2. Tác động đến lựa chọn chính sách trong quan hệ với các
nước lớn
3.4. Triển vọng trong quan hệ Việt Nam - Thái Lan thời gian tới
3.4.1.Triển vọng về hợp tác song phương
3.4.2. Triển vọng về hợp tác đa phương
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

74
85

86
90
95
97
98
100


103
103
109
115
115

117
118
120
123
126
133
146



4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ACMECS

AFTA

AIPO

APEC

ARF


ASEAN

ASEM

BRIC

EU

GDP

GMS


Ayeyawady - Chaophraya - Mekong Economic Cooperation Strategy
Chiến lược hợp tác kinh tế Ayeyarwady - Chaophraya - Mekong
ASEAN Free Trade Area
Khu vực Thương mại tự do ASEAN
ASEAN Inter - Parliamentary Organization
Tổ chức liên Nghị viện các nước ASEAN
Asia Pacific Economic Cooperation
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
ASEAN Regional Forum
Diễn đàn khu vực ASEAN
Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Asia - Europe Meeting
Diễn đàn hợp tác Á - Âu
Brazil, Russia, India and China
Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc
European Union

Liên minh châu Âu
Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm quốc nội
Greater Mekong Subregion
Tiểu vùng sông Mekong mở rộng


5
GSP

FDI

FTA

ODA

NATO

SCO

SEATO

TAC

TREATI

WB

Generalized System of Preferences
Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập

Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Free Trade Agreement
Hiệp định thương mại tự do
Official Development Assistance
Hỗ trợ phát triển chính thức
North Atlantic Treaty Organization
Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây dương
Shanghai Cooperation Organisation
Tổ chức Hợp tác Thượng Hải
Southeast Asian Treaty Organization
Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á
Treaty of Amity and Cooperation in Southeast Asia
Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác Đông Nam Á
Trans-Regional EU-ASEAN Trade Initiative
Sáng kiến hợp tác thương mại xuyên vùng EU-ASEAN
World Bank
Ngân hàng thế giới







6
DANH MỤC BẢNG BIỂU


Trang

Bảng 2.1: Quan hệ thương mại Việt Nam – Thái Lan từ 1990 đến
2000 …………………………
Bảng 2.2: Kim ngạch xuất nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu của
Việt Nam sang Thái Lan năm 2007…………………………………….
Bảng 2.3: Quan hệ thương mại hai chiều Việt Nam - Thái Lan 2000-
2009………………………………………………………………
Bảng 2.4: Khách Thái Lan đến Việt Nam từ năm 2000 đến năm 2010……
Bảng 2.5: Khách Việt Nam đến Thái Lan từ năm 2000 đến năm 2010……


61

65

70
78
79
















7
MỞ ĐẦU

1. Mục đích, ý nghĩa của đề tài
Đông Nam Á là một trong những khu vực phát triển năng động trên thế
giới hiện nay, bao gồm mƣời một quốc gia với nhiều nét tƣơng đồng về tự nhiên,
văn hóa và xã hội, nên ngƣời dân các nƣớc trong khu vực có những phong tục,
tập quán, tín ngƣỡng rất gần gũi nhau. Chính những nét tƣơng đồng này là yếu tố
quan trọng thúc đẩy các quốc gia tăng cƣờng quan hệ hợp tác với nhau, vì “Việc
quan tâm đầy đủ đến quan hệ láng giềng là cần thiết và vô cùng quan trọng. Có
sự hội nhập tốt trong khu vực thì mới có điều kiện thuận lợi cho sự hội nhập với
thế giới” [62,79]. Quan hệ Việt Nam - Thái Lan cũng không phải là ngoại lệ.
Quan hệ Việt Nam - Thái Lan là mối quan hệ láng giềng hữu nghị vốn
có từ xa xƣa và đƣợc nuôi dƣỡng bởi nhiều thế hệ. Trải qua những thăng trầm
của lịch sử, mối quan hệ này ngày càng trở nên gắn bó. Việc thiết lập quan hệ
ngoại giao giữa Việt Nam và Thái Lan ngày 6/8/1976 đã mở ra một trang sử mới
trong quan hệ giữa hai nƣớc. Từ cuối năm 1980, cùng với những chuyển biến
chung ở khu vực và trên thế giới, quan hệ Việt Nam - Thái Lan đã đƣợc thúc
đẩy. Đặc biệt, sau khi Việt Nam gia nhập ASEAN (1995), hợp tác Việt Nam -
Thái Lan đã bƣớc sang giai đoạn phát triển mới về chất và ngày càng đƣợc củng
cố, phát triển trên nhiều lĩnh vực cả song phƣơng và đa phƣơng.
Ngày nay, ASEAN đang đứng trƣớc cục diện mới với nhiều cơ hội và
thuận lợi, khó khăn và thách thức đan xen. Để đáp ứng đòi hỏi của tình hình mới
trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam và Thái Lan đã đồng nhất nâng quan hệ
hợp tác và liên kết lên tầm cao mới. Thủ tƣớng Nguyễn Tấn Dũng từng phát
biểu: “Là nƣớc láng giềng gần gũi và là thành viên ASEAN, Việt Nam luôn quan
tâm theo dõi tình hình của Thái Lan. Chúng tôi hoan nghênh chính sách đối


8
ngoại của Thái Lan, coi trọng tăng cƣờng quan hệ với các nƣớc láng giềng, các
nƣớc ASEAN trong đó có Việt Nam. Về phần mình, Việt Nam luôn coi Thái Lan
là đối tác chiến lƣợc trong ASEAN” [40].
Xuất phát từ những thành quả đã đạt đƣợc và tầm quan trọng của quan
hệ hai nƣớc tác động đến lợi ích quốc gia, dân tộc và khu vực, tác giả đã chọn
“Quan hệ Việt Nam – Thái Lan 2000-2009” làm đề tài cho bản luận văn Thạc
sỹ Lịch sử nhằm đƣa ra cái nhìn xuyên suốt và bao quát về mối quan hệ hai nƣớc
dựa trên các lĩnh vực chính trị - an ninh, kinh tế và văn hóa - xã hội. Từ những
phân tích đó, tác giả mong muốn rút ra những bài học kinh nghiệm và có thêm
cơ sở khoa học để đƣa mối quan hệ giữa hai nƣớc ngày càng phát triển hơn.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Xét về mối quan hệ Việt Nam và Thái Lan, đây là đề tài đã thu hút đƣợc
rất nhiều sự quan tâm của các học giả trong nƣớc và ngoài nƣớc, nhiều ngành
khoa học khác nhau bởi vị trí và vai trò trong lịch sử, bởi yếu tố ảnh hƣởng tới
khu vực. Có nhiều cơ quan chuyên môn nghiên cứu về đề tài này nhƣ: Viện
nghiên cứu Đông Nam Á và Viện Sử học thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt
Nam, Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà
Nội, Học viện Ngoại giao - Bộ Ngoại giao và một số cơ quan khác đã có nhiều
công trình nghiên cứu về quan hệ hai nƣớc Việt Nam -Thái Lan. Có thể chia làm
các nhóm tƣ liệu nhƣ sau:
Các công trình nghiên cứu trong nước
- Các công trình nghiên cứu về tình hình thế giới và khu vực ảnh hƣởng
tới mối quan hệ Việt Nam - Thái Lan từ 2000 đến nay nhƣ: Thế giới năm2003,
2004, 2005, 2006, 2007, 2008 và 2009 [6,7,8,9,10,11,12]; Lịch sử thế giới hiện
đại [72]; Những vấn đề toàn cầu trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI [13];
Quan hệ quốc tế những khía cạnh lý thuyết và vấn đề [29]; Hòa bình - hợp tác và

9
phát triển: Xu thế lớn trên thế giới hiện nay [65]; Cục diện châu Á - Thái Bình

Dương [21]; Nhân tố địa-chính trị trong chiến lược toàn cầu mới của Mỹ đối với
khu vực Đông Nam Á [45]; Những vấn đề chính trị kinh tế Đông Nam Á thập
niên đầu thế kỷ XXI [44]; Tri thức Đông Nam Á [62]; Về tình hình thế giới hiện
nay và chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta [22]; Tổng quan kinh tế - xã
hội Việt Nam (2006-2010) [16]; Kinh tế Thái Lan, một số chính sách công
nghiệp hóa hướng về xuất khẩu trong ba thập niên cuối thế kỷ XX [23]; Việt
Nam-ASEAN: quan hệ đa phương và song phương [57]
- Các công trình nghiên cứu về quan hệ Việt Nam - Thái Lan:
+ Sách: Quan hệ Việt Nam – Thái Lan trong những năm 90 [47] do tác
giả Nguyễn Tƣơng Lai chủ biên đã tiến hành nghiên cứu chiều hƣớng phát triển
của quan hệ Việt Nam - Thái Lan. Từ đó khái quát ý nghĩa và tầm quan trọng
của quan hệ hợp tác giữa hai nƣớc không những đối với lợi ích dân tộc mà còn
ảnh hƣởng tới khu vực. Nhóm tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng 10 năm
của mối quan hệ Việt Nam - Thái Lan trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao,
kinh tế đồng thời nêu lên những thách thức và triển vọng trong quan hệ Việt
Nam - Thái Lan khi bƣớc vào thế kỷ XXI và đề xuất những việc trong điều chỉnh
và hoạch định chính sách quan hệ với Thái Lan trong những năm tới. Bên cạnh
đó còn có công trình nghiên cứu Quan hệ Việt Nam - Thái Lan 1976-2000 [55];
Việt kiều Thái Lan trong mối quan hệ Thái Lan-Việt Nam [75] của tác giả Trịnh
Diệu Thìn và Thanyathip Sripana đã giới thiệu về quá trình nhập cƣ của cộng
đồng ngƣời Việt vào Thái Lan, phong trào yêu nƣớc của cộng đồng Việt kiều
Thái Lan giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Nêu lên chủ trƣơng, đƣờng
lối, chính sách của chính phủ Thái Lan với cộng đồng ngƣời Việt ở Thái Lan,
quá trình Việt kiều Thái Lan hồi hƣơng và lối sống hòa đồng xã hội của Việt
kiều Thái Lan.

10
+ Tạp chí: Có rất nhiều tạp chí đăng tải các bài viết về quan hệ Việt Nam
- Thái Lan qua các thời kỳ lịch sử khác nhau: Nghiên cứu Đông Nam Á, Nghiên
cứu Lịch sử, Thông tấn xã Việt Nam, Nghiên cứu Kinh tế, Nghiên cứu Quốc tế

Ví dụ nhƣ bài: Quan hệ Đại Nam - Xiêm nửa cuối thế kỷ XIX [4]; Vài nét về
quan hệ Việt Nam - Thái Lan những năm đầu thế kỷ XXI [24]; 30 năm quan hệ
hợp tác Việt Nam - Thái Lan [25]; Cơ sở và triển vọng mở rộng quan hệ hợp tác
Việt Nam - Thái Lan trong thế kỷ 21 [15]; Quan hệ Việt Nam - Thái Lan từ đầu
thập kỷ 90 (thế kỷ XX) đến nay [28]
Đặc biệt, có công trình nghiên cứu về Quan hệ Việt Nam – Thái Lan
1976-2000 [55] của tác giả Hoàng Khắc Nam đã dựng lại quá trình diễn biến với
những đặc điểm và tính chất quan hệ Việt Nam - Thái Lan trong các thời kỳ khác
nhau. Tác giả đã khái quát quan hệ hai nƣớc qua từng giai đoạn lịch sử đến trƣớc
năm 1975 và đặt trọng tâm vào hai giai đoạn 1976 - 1989 và 1989 - 2000. Tác
giả đồng thời phân tích những động lực và yếu tố tác động làm sáng tỏ cấu trúc
và cơ chế vận hành của mối quan hệ này, từ đó góp phần nhận thức một cách sâu
sắc hơn về mối quan hệ hai nƣớc. Ngoài ra, còn có luận án Tiến sĩ Lịch sử Quan
hệ Thái Lan - Việt Nam (1976-2004) [68] của tác giả Thái Lan Thananan
Boonwanna, đây là công trình nghiên cứu góp phần nâng cao sự hiểu biết về ý
kiến, quan điểm của nhân dân Thái Lan nói chung và lãnh đạo Thái Lan nói
riêng về lịch sử quan hệ Việt Nam - Thái Lan. Tác giả tập trung chủ yếu vào
quan hệ chính trị và ngoại giao của hai nƣớc từ 1945 đến 2000.
Các công trình nghiên cứu nước ngoài:
Nghiên cứu về bối cảnh quốc tế và khu vực và mối quan hệ Việt Nam –
Thái Lan có rất nhiều công trình nƣớc ngoài nhƣ: Southeast Asian Development
[96]; Political and Security Dynamics of South and Southeast [99]; Southeast
Asian Affairs 2009 [100]; China and Southeast Asia: Global Changes and

11
Regional Challenges [108]; Islam in Southeast Asia: Political, Social and
Strategic Challenges for the 21st Century [109]
Trong cuốn The trade relationship between Dai Viet and Siam from the
XII century to mid XIX century [128] tác giả Nguyễn Thị Thi đã trình bày về
quan hệ thƣơng mại giữa Đại Việt và Xiêm từ thế kỷ XII đến thế kỷ XIX dựa

trên những tƣ liệu lịch sử và những phát hiện khảo cổ học.
Công trình nghiên cứu Thailand and Southeast Asia: Networks of the
Vietnam revolution 1885-1954 [105] tác giả Goscha Christopher E. đặt cách
mạng Việt Nam và chiến tranh chống thực dân Pháp trong bối cảnh khu vực
Đông Nam Á. Tác giả đã tìm hiểu cách mạng Việt Nam trong mối liên hệ với
khu vực, đặt biệt là với Thái Lan từ năm 1885 đến năm 1954, qua đó nghiên cứu
cách ngƣời Việt nhập cƣ vào Thái Lan thời kỳ trƣớc thuộc địa để giải thích sự
xây dựng mạng lƣới cộng sản chống thực dân của Việt Nam trong khu vực,
chính sách ngoại giao của Việt Nam thời hậu chiến
Hội thảo Seminar on Vietnamese Studies [123] của Nghiên cứu Việt
Nam học đƣợc tổ chức ở Thái Lan đã tập trung soi rọi các khía cạnh cụ thể nhƣ:
Quan hệ Việt Nam - ASEAN, quan hệ Việt Nam - Thái Lan trong lịch sử, ngƣời
Thái ở Việt Nam
Đặc biệt là cuốn sách Twenty - five years of Thai - Vietnamese
relationship [127] tập hợp những bài hội thảo về quan hệ Thái - Việt trong 25
năm qua, gồm có các bài viết: Phát triển quan hệ chính trị Thái Lan - Việt Nam,
Tƣ duy mới trong chính sách ngoại giao của Việt Nam hƣớng tới tƣơng lai sau
năm 1986, Sự hình thành cộng đồng ngƣời Việt ở Thái Lan




12
Các trang tin trên mạng
Bởi quan hệ Việt Nam - Thái Lan hiện đại đƣợc phản ánh hết sức cập
nhật qua các trang Web chuyên ngành, tác giả đã tranh thủ cập nhật thông tin
chính thức từ các trang Web uy tín sau:






Bên cạnh đó, còn có các nguồn tài liệu từ Đài Tiếng nói Việt Nam,
Chƣơng trình phát thanh tiếng Thái Lan cũng rất phong phú nhƣ: Cuộc gặp gỡ
hữu nghị Việt – Thái nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao
Việt Nam – Thái Lan [2]; Quan hệ Việt Nam – Thái Lan năm 2001 [30]; Đại sứ
Thái Lan tại Việt Nam ông Krit Kraichitti trả lời phỏng vấn nhân 27 năm thiết
lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Thái Lan [35]
Nói tóm lại, qua thu thập và phân tích nguồn tài liệu liên quan đến quan
hệ Việt Nam - Thái Lan (2000-2009) có thể thấy các công trình của các nhà
nghiên cứu tƣơng đối đa dạng. Các công trình nói trên, ở mức độ khác nhau, ở
thời điểm khác nhau đã giúp tác giả có một số tƣ liệu cần thiết để có thể hình
thành sự hiểu biết chung, là những gợi mở quý giá có tác dụng tham khảo bổ ích,
bổ sung cho quá trình thực hiện luận văn. Tuy nhiên cho đến nay, qua các công
trình tác giả tiếp cận đƣợc vẫn chƣa có một công trình nghiên cứu liên quan một
cách có hệ thống và toàn diện về mối quan hệ Việt Nam - Thái Lan từ năm 2000
đến năm 2009.



13
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Quan hệ Việt Nam - Thái Lan từ năm 2000 đến
năm 2009: những nội dung chính, thành tựu, các vấn đề đặt ra và triển vọng trong
thời gian tới.
Phạm vi nghiên cứu: đề tài tập trung vào các khía cạnh cụ thể của quan
hệ Việt Nam - Thái Lan giai đoạn này, gồm có: chính trị - an ninh, kinh tế và văn
hóa - xã hội.
Phạm vi thời gian: tác giả chọn giai đoạn 2000 - 2009 làm khung thời
gian của bản luận văn. Ngoài ra, để làm rõ nền tảng của quan hệ Việt - Thái giai

đoạn đầu thế kỷ XXI, tác giả cũng dành một dung lƣợng trang viết nhất định để
khái quát lịch sử quan hệ hai nƣớc trƣớc năm 2000 cũng nhƣ bối cảnh thế giới và
khu vực - vốn có ảnh hƣởng mạnh và thƣờng xuyên tới quan hệ song phƣơng Việt
Nam - Thái Lan.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu:
- Luân văn sử dụng phƣơng pháp lịch sử và phƣơng pháp logic nhằm tìm
hiểu các sự kiện, hiện tƣợng phát sinh trong các giai đoạn khác nhau, miêu tả cụ
thể và phân tích một cách hệ thống, đồng thời đƣa ra những lý giải hợp lý về mối
quan hệ Việt Nam - Thái Lan giai đoạn 2000 - 2009.
- Bên cạnh đó, luận văn đồng thời sử dụng các phƣơng pháp thống kê, so
sánh, đối chiếu để làm rõ hơn nữa những bƣớc phát triển trong quan hệ hai nƣớc.
5. Đóng góp của luận văn
Về tư liệu: Luận văn đã sƣu tầm và khai thác một khối tƣ liệu phong phú,
đa dạng kể cả tƣ liệu đã công bố và chƣa công bố chính thức. Nguồn tài liệu
tham khảo và phụ lục của luận văn góp phần cho việc nghiên cứu quan hệ Việt
Nam - Thái Lan nói riêng và đối với đề tài hợp tác chính trị, ngoại giao, kinh tế
của các nƣớc ASEAN nói chung.

14
Về nội dung khoa học:
- Luận văn nêu lên những tác động của bối cảnh thế giới và khu vực ảnh
hƣởng tới quan hệ Việt Nam - Thái Lan giai đoạn 2000 - 2009.
- Phân tích một cách có hệ thống về mối quan hệ chính trị - an ninh, kinh
tế và văn hóa - xã hội của hai nƣớc từ năm 2000 đến năm 2009. Từ đó đƣa ra
những nhận xét tổng quát về quan hệ Việt Nam - Thái Lan giai đoạn trên.
- Đánh giá mối quan hệ Việt Nam - Thái Lan dựa trên những thành tựu
đạt đƣợc và những khó khăn mà hai nƣớc gặp phải. Từ đó tìm ra những nguyên
nhân làm hạn chế mối quan hệ hai nƣớc. Đồng thời tác giả cũng nêu lên những
triển vọng của hai nƣớc trong thời gian tới và đƣa ra một số kiến nghị đế mối
quan hệ này ngày càng phát triển hơn.

6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Những tiền đề lịch sử của quan hệ Việt Nam - Thái Lan
Trong chƣơng này, luận văn trình bày 3 mục. Mục 1 là cơ sở hình thành
quan hệ Việt Nam - Thái Lan dựa trên 3 yếu tố vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên,
mối liên hệ về kinh tế - văn hóa và quan hệ tộc ngƣời. Mục 2 là vài nét về quan
hệ Việt Nam - Thái Lan trong lịch sử với mục đích khái quát quá trình hình
thành quan hệ Việt Nam - Thái Lan trƣớc năm 2000. Mục 3 là trình bày về bối
cảnh thế giới và khu vực ảnh hƣởng tới quan hệ Việt Nam - Thái Lan giai đoạn
2000 - 2009.
Chƣơng 2: Quan hệ chính trị - an ninh, kinh tế và văn hóa - xã hội
giữa Việt Nam - Thái Lan 2000 - 2009
Ở chƣơng 2, luận văn phân tích mối quan hệ Việt Nam - Thái Lan từ
năm 2000 đến năm 2009 trên lĩnh vực chính trị - an ninh, kinh tế và văn hóa - xã

15
hội. Về quan hệ chính trị - an ninh đây là cơ sở và nền móng vững chắc cho hợp
tác hai nƣớc không ngừng phát triển. Bên cạnh đó, quan hệ kinh tế của hai nƣớc
đƣợc thể hiện ở thƣơng mại, đầu tƣ và du lịch. Về văn hóa - xã hội, Việt Nam và
Thái Lan đã thành lập Hội hữu nghị Việt Nam - Thái Lan và Thái Lan - Việt
Nam, đây là cầu nối quan hệ hai nƣớc trong thời kỳ mới và có những hợp tác
phát triển giáo dục, khoa học kỹ thuật và công nghệ, y tế cộng đồng và thể dục
thể thao. Đặc biệt, hai nƣớc đã khánh thành Làng Hữu nghị Thái Lan - Việt Nam
tại tỉnh Nakhon Phanôm - đây là biểu tƣợng quan trọng của tình hữu nghị giữa
nhân dân hai nƣớc.
Chƣơng 3: Đánh giá về quan hệ Việt Nam - Thái Lan 2000 - 2009
Trên cơ sở những phân tích ở các chƣơng trƣớc, chƣơng 3 tập trung nhận
định những thành tựu đã đạt đƣợc trong quan hệ hai nƣớc Việt Nam - Thái Lan,
những tồn tại đặt ra và triển vọng về hợp tác song phƣơng cũng nhƣ đa phƣơng

trong những năm tới.













16
CHƢƠNG 1
NHỮNG TIỀN ĐỀ LỊCH SỬ CỦA QUAN HỆ VIỆT NAM - THÁI LAN

1.1. Cơ sở hình thành quan hệ Việt Nam - Thái Lan
1.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Việt Nam - Thái Lan là hai quốc gia cùng thuộc Đông Nam Á lục địa.
Tuy không có biên giới chung trên đất liền nhƣng hai nƣớc lại có biên giới chung
một vùng biển không phải nhỏ hẹp và có các đƣờng giao thông tự nhiên tƣơng
đối thuận lợi nhƣ sông Mê Kông. Hai quốc gia có kiến tạo địa lí tƣơng đối giống
nhau: có độ dốc thoai thoải ra phía biển, địa hình đa dạng gồm các vùng rừng núi,
cao nguyên, đồng bằng và ven biển. Bên cạnh đó, những con sông lớn nhƣ:
Chaophraya, Mê Kông của Thái Lan, sông Hồng và sông Cửu Long của Việt
Nam là những huyết mạch tạo nên những vựa lúa. Cùng với sự gần kề về vị trí
địa lí và tƣơng đồng về địa hình, khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm đƣa đến
những nét gần gũi về điều kiện tự nhiên nhƣ hệ sinh vật, cơ cấu cây trồng… Trên

cơ sở của những điều kiện khách quan đó, mối quan hệ Việt Nam - Thái Lan đã
đƣợc hình thành từ rất sớm.
1.1.2. Mối liên hệ về kinh tế - văn hóa
Từ những điểm chung về vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên đã ảnh hƣởng
tới mối liên hệ về kinh tế - văn hóa của Việt Nam và Thái Lan. Đó là cơ cấu kinh
tế bao gồm nông - lâm - ngƣ nghiệp mà nền nông nghiệp lúa nƣớc đóng vai trò
đặc trƣng. Đó là sự gần gũi và những nét tƣơng đồng về văn hóa từ văn hóa vật
chất đến văn hóa tinh thần, từ văn hóa lúa nƣớc đến văn hóa làng bản, từ đời sống
tâm linh tới hoạt động tôn giáo. Bên cạnh đó, hai nƣớc Việt Nam - Thái Lan còn
chịu ảnh hƣởng của nền văn hóa Trung Quốc và Ấn Độ cho nên cùng tiếp nhận

17
giáo lý đạo Phật mạnh mẽ… Những nhân tố trên tạo cơ sở khá vững chắc cho sự
hợp tác giữa Việt Nam và Thái Lan.
1.1.3. Quan hệ tộc người
Sự gần kề về mặt địa lí, nét tƣơng đồng về kinh tế và văn hóa đã tạo nên
sự giao thoa giữa các tộc ngƣời với nhau. Hai bên đã có nhiều cuộc di cƣ sang đất
nƣớc của nhau trong suốt chiều dài lịch sử. Mối quan hệ này tạo cho hai dân tộc
ngày càng xích lại gần hơn. Từ mối quan hệ tộc ngƣời, hai nƣớc Việt Nam và
Thái Lan càng có cơ hội trao đổi về kinh tế - chính trị và văn hóa - xã hội.
1.2. Vài nét về quan hệ Việt Nam - Thái Lan trong lịch sử
Trên cơ sở của những tiền đề nêu trên, mối quan hệ Việt - Thái đã hình
thành từ rất sớm trong lịch sử. Các tài liệu lịch sử ghi lại những mối liên hệ sớm
giữa hai cộng đồng ngƣời Thái - Việt qua mối giao thƣơng của đội ngũ thƣơng
nhân. Trên con đƣờng buôn bán qua vùng Biển Đông, các thƣơng nhân ngƣời
Thái đã đến vƣơng quốc của ngƣời Việt. Dƣới vƣơng triều Sukhothai (1238-
1583), thƣơng nhân Thái đã tìm đến thƣơng cảng Vân Đồn của Đại Việt để tiến
hành trao đổi lấy các thƣơng phẩm có giá trị thƣơng mại khu vực nhƣ gốm sứ và
tơ lụa Trên cơ sở các quan hệ thƣơng mại, quan hệ bang giao cũng đƣợc thiết
lập thông qua sự trao đổi sứ giả. Ví dụ, vào năm 1182, vua Xiêm đã cử sứ thần

sang Đại Việt để đặt quan hệ thông hiếu [50,317]. Mối quan hệ này tiếp tục đƣợc
duy trì qua nhiều thế kỷ. Thời Lê Sơ, triều đình còn tuyên bố giảm một nửa thuế
buôn cho các thƣơng nhân Xiêm [50,342]. Quan hệ giữa Việt Nam và Xiêm đƣợc
xác lập chính thức từ những năm đầu thời kì Băng Cốc của Thái Lan (tƣơng
đƣơng với thời kỳ Gia Long - Minh Mạng của Việt Nam, những năm 1782-
1833). Đặc biệt từ triều Gia Long, quan hệ thƣơng mại diễn ra khá sôi động:
trong thế kỷ XIX, hàng năm có khoảng 40-50 thuyền buôn của Xiêm đến buôn
bán tại Việt Nam [49,129].

18
Tuy nhiên, cũng từ nửa đầu thế kỷ XIX, có một diễn biến mới trong quan
hệ Việt Nam - Thái Lan: sự đối địch bắt nguồn từ sự tranh chấp ảnh hƣởng đối
với Campuchia. Tham vọng bành trƣớng vả mở rộng ảnh hƣởng là nguyên nhân
chủ yếu đƣa đến cuộc xung đột giữa Băng Cốc với Huế. Bên cạnh đó là sự đối
đầu trong vấn đề tranh chấp vùng đất Hà Tiên. Xung đột diễn ra liên tiếp và kéo
dài cho tới năm 1810 - khi vua Chakri II công nhận chủ quyền của Việt Nam đối
với vùng đất này [49,125]. Trƣớc đó, trong bối cảnh ngƣời Việt đang phải trải
qua thời kỳ loạn lạc trong cuộc cạnh tranh Nguyễn - Tây Sơn ở phía Nam, Xiêm
đã tổ chức can thiệp nhằm áp đặt ảnh hƣởng đến Đại Việt bằng việc cấu kết với
lực lƣợng của Nguyễn Ánh chống lại nhà Tây Sơn. Khi Xiêm có chiến tranh với
Miến Điện, Nguyễn Ánh cũng cho quân đi giúp. Nhƣ vậy, hợp tác Việt Nam -
Thái Lan thời kỳ này bắt đầu đƣợc định hình, có những bƣớc phát triển dù không
mạnh mẽ và liên tục.
Khi làn sóng chủ nghĩa thực dân xuất hiện cũng là thời kì quan hệ Việt
Nam - Thái Lan (từ năm 1883 đến năm 1945) có nhiều đặc điểm mới. Việt Nam
(cùng với Lào và Campuchia) lần lƣợt bị rơi vào ách thống trị của thực dân Pháp.
Vƣơng quốc Xiêm tuy vẫn giữ đƣợc nền độc lập tƣơng đối nhƣng chính sách đối
ngoại cũng bị phụ thuộc nặng nề. Trong thời kỳ này, quan hệ hai nƣớc đã chịu
thêm sự chi phối từ bên ngoài nhƣng càng khẳng định sự gắn bó và duy trì quan
hệ Việt - Xiêm sâu sắc. Khi Việt Nam bị thực dân Pháp đàn áp, nhiều nhà cách

mạng nổi tiếng nhƣ Phan Bội Châu, Ngô Quảng, Đặng Tử Kính… đã phải sang
Xiêm nƣơng náu. Xiêm còn đƣợc coi là cơ sở quan trọng cho hoạt động của cách
mạng Việt Nam. Sau khi Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đƣợc thành lập
năm 1925, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã cử Hồ Tùng Mậu sang Xiêm để gây
dựng và tổ chức lực lƣợng. Chi hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã đƣợc
thành lập ở Xiêm. Năm 1928, Nguyễn Ái Quốc đến Xiêm trực tiếp vận động kiều

19
bào tham gia cách mạng, lập Hội Thân ái Việt Nam. Quan hệ Việt - Xiêm thể
hiện sự gắn bó, đoàn kết và tƣơng trợ lẫn nhau rất rõ trong thời kì này.
Trong giai đoạn từ năm 1945 đến 1954, quan hệ Việt Nam - Thái Lan
bƣớc sang một chƣơng mới: trở thành quan hệ giữa hai quốc gia có chủ quyền ở
Đông Nam Á. Tính khu vực cũng bắt đầu đƣợc thể hiện rõ hơn.
Khi thực dân Pháp mở cuộc tấn công vào các đô thị của Lào, hàng vạn
kiều bào Việt Nam đã phải tản cƣ sang Thái Lan - nơi họ đƣợc nhân dân Thái
Lan giúp đỡ nhiệt tình từ chỗ ăn ở, đến lƣơng thực, thuốc men, việc làm… Bên
cạnh đó, Thái Lan còn trở thành hậu cứ cho cuộc kháng chiến chống Pháp của
nhân dân Việt Nam. Tổng hội Việt kiều yêu nƣớc thành lập một cơ sở để tập
trung quân và huấn luyện quân sự ngay trên đất Thái. Khi Chính phủ tiến bộ Pridi
Banomyong và chính phủ dân sự Khuông Apaivong cầm quyền, chính phủ Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa đã đặt đƣợc cơ quan đại diện đầu tiên ở Băng Cốc, chính
thức đi vào hoạt động từ ngày 14/4/1947. Tiếp theo đó đến tháng 2/1948, cơ quan
thông tin của Việt Nam đƣợc thành lập và có nhiệm vụ phát hành bản tin Việt
Nam bằng tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Thái. Bản tin đã đóng vai trò quan trọng
nhằm giúp nhân dân thế giới biết đến cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân
Việt Nam. Thời kì này, nhân dân Việt Nam đón nhận đƣợc sự giúp đỡ của nhân
dân Thái Lan về cả tinh thần và vật chất.
Tuy nhiên, sau khi Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, Thái Lan ở vào
địa vị một nƣớc bại trận do liên minh với phát xít Nhật tham gia cuộc chiến tranh
chống lại các nƣớc đồng minh. Vì vậy, quân đội Anh đã vào chiếm đóng ở Thái

Lan với âm mƣu khôi phục lại vị thế của mình. Tuy nhiên, Mỹ đã tìm mọi cách
để hất cẳng Anh ở Thái Lan. Với ƣu thế về kinh tế và quân sự, tƣ bản Mỹ ngày
càng xâm nhập mạnh mẽ vào Thái Lan. Sau luồng gió tự do dân chủ trong những
năm 1946-1947, Thái Lan thiết lập một chế độ độc tài quân sự. Trong thời gian

20
này, giới quân sự Thái Lan chi phối nền chính trị của đất nƣớc nên các cuộc đảo
chính quân sự thƣờng xảy ra với mục tiêu là thiết lập một chế độ độc tài quân sự,
chống lại các tƣ tƣởng tự do dân chủ, đặc biệt là đàn áp những ngƣời cộng sản,
thi hành chính sách thân Mỹ, chống lại cách mạng Đông Dƣơng. Vì vậy, năm
1950, Mỹ đã ký với chính quyền Thái Lan hiệp định viện trợ kinh tế và kỹ thuật
Mỹ - Thái và Hiệp định quân sự Mỹ - Thái. Vì vậy, viện trợ kinh tế của Mỹ cho
Thái Lan cũng không ngừng tăng lên và chính phủ tƣ sản Thái Lan không ngừng
tiếp tay cho đế quốc Mỹ thực hiện kế hoạch xâm lƣợc Đông Dƣơng. Ngày
24/2/1950, chính quyền tuớng Phibun công nhận chính phủ bù nhìn Bảo Đại.
Năm 1951, chính quyền Thái Lan yêu cầu Việt Nam chấm dứt các hoạt động
tuyên truyền trên đất Thái về cuộc kháng chiến chống Pháp và buộc Việt Nam
đóng cửa cơ quan đại diện chính phủ, ngừng hoạt động của cơ quan thông tin tại
Thái Lan. Đây chính là mở đầu cho thời kỳ căng thẳng trong quan hệ Việt Nam -
Thái Lan.
Bƣớc sang giai đoạn 1954-1975, quan hệ Việt Nam - Thái Lan gặp không
ít khó khăn, có lúc trở nên đối đầu. Sau 9 năm trƣờng kỳ kháng chiến, Việt Nam
giành đƣợc thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Pháp, cho dù đây là chiến
thắng chƣa trọn vẹn vì mới giải phóng đƣợc miền Bắc. Việt Nam lúc bấy giờ bị
chia cắt làm 2 miền Nam - Bắc. Miền Bắc tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội,
làm hậu phƣơng vững chắc cho miền Nam tiếp tục đấu tranh thực hiện nhiệm vụ
cách mạng dân tộc dân chủ. Sau Hiệp định Giơnevơ, Mỹ từng bƣớc thay thế vị trí
của Pháp ở miền Nam. Về chính trị, Mỹ đã ép Pháp trao quyền cai trị ở miền
Nam cho Ngô Đình Diệm. Từng bƣớc một, Diệm loại lực lƣợng thân Pháp khỏi
bộ máy hành chính. Miền Nam có vị trí quan trọng trong chiến lƣợc toàn cầu của

Mỹ. Mục tiêu của Mỹ ở đây là biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, làm căn
cứ quân sự, ngăn chặn “làn sóng đỏ” đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á,

21
chống lại phong trào giải phóng dân tộc đang bùng nổ ở khu vực này. Cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nƣớc của nhân dân Việt Nam lại bắt đầu.
Trong khi mâu thuẫn giữa Việt Nam và Mỹ đã trở nên gay gắt thì Thái
Lan ngày càng thể hiện chính sách đối đầu với Việt Nam: Thái Lan quan hệ hợp
tác với chính quyền Việt Nam Cộng hòa, mâu thuẫn với Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa, cùng với Mỹ trực tiếp tham chiến chống lại Việt Nam, can thiệp chống lại
phong trào cách mạng ở Lào và Campuchia. Ngƣợc lại chính sách đối đầu với
Việt Nam, Thái Lan càng ngày thân với Mỹ. Tháng 9 năm 1954, Thái Lan gia
nhập Tổ chức Hiệp ƣớc Đông Nam Á (SEATO) và Bộ Chỉ huy quân sự của khối
này đƣợc đặt tại Băng Cốc do các tƣớng lĩnh cao cấp Thái Lan đứng đầu. Viện
trợ kinh tế của Mỹ liên tiếp tăng lên. Nếu trong thời gian 1950-1956, tổng số tiền
viện trợ của Mỹ là 104,6 triệu USD thì đến năm 1957-1965 là 294 triệu USD.
Đáng chú ý là sau năm 1965, khi Thái Lan tham gia cuộc chiến của Mỹ ở Việt
Nam thì số tiền viện trợ càng tăng nhanh. Năm 1966 là 55 triệu USD, 1967 là 77
triệu USD, 1968 là 100 triệu USD [56,121-122]. Ngoài ra, Nhật Bản, Tây Đức và
Anh cũng tăng viện trợ cho Thái Lan. Với sự thâu tóm về kinh tế và sự căng
thẳng về chính trị, từ những năm 60 của thế kỷ XX, Thái Lan đã thực sự trở
thành một căn cứ quân sự của Mỹ. Trên lãnh thổ Thái Lan, 6 sân bay quân sự
đƣợc xây dựng trong đó có sân bay Utapao có thể đón nhận máy bay chiến lƣợc
B52 lên xuống. Cảng Satahip trở thành quân cảng lớn nhất ở Thái Lan dành cho
tàu chiến Mỹ. Từ các căn cứ này, máy bay và tàu chiến Mỹ xuất kích đánh phá
các nƣớc Đông Dƣơng. Hơn thế nữa, Thái Lan còn trực tiếp tham gia vào cuộc
chiến tranh Đông Dƣơng. Tháng 3/1967, một bộ phận sƣ đoàn “rắn hổ mang”
gồm 2.300 lính Thái Lan đƣợc điều sang miền Nam Việt Nam. Tháng 7/1968, số
binh lính Thái Lan ở chiến trƣờng Việt Nam lên đến 5.200 ngƣời [55,63].


22
Mặc dù vậy, quan hệ Việt Nam - Thái Lan thời kỳ này không phải chỉ
hoàn toàn đối đầu. Cùng với việc Mỹ leo thang chiến tranh ở Việt Nam và sự can
dự của chính phủ Thái Lan, sự ủng hộ của nhân dân Thái Lan đối với cuộc đấu
tranh của nhân dân Việt Nam cũng tăng lên. Tháng 11 năm 1967, Pridi lên án Mỹ
ném bom ở Hà Nội và Hải Phòng. Tháng 7 năm 1969, sinh viên trƣờng Luật
Băng Cốc biểu tình phản đối Nixon và đòi chính phủ Thái Lan rút quân khỏi Việt
Nam. Cùng với đó là bức thƣ ngỏ của 23 trí thức Thái Lan gửi lên tổng thống
Nixon tố cáo Mỹ gây tội ác chiến tranh. Sau khi Hiệp định Paris đƣợc ký kết
ngày 27/1/1973, sự đối đầu trong quan hệ Việt Nam - Thái Lan đƣợc giảm bớt.
Sự thay đổi tình thế ở Đông Dƣơng và việc Mỹ bắt đầu cuộc rút lui khỏi Đông
Nam Á đã tác động mạnh mẽ đến sự điều chỉnh chính sách này. Thái Lan không
thể tiếp tục duy trì sự đối đầu nhƣ trƣớc. Đến tháng 4 năm 1972, đội quân Thái
Lan rút khỏi Việt Nam.
Sự thất bại của Mỹ ở Việt Nam và dƣ luận phản đối sự hiện diện quân sự
của Mỹ ở Thái Lan đã khiến việc rút lui của Mỹ ở đây diễn ra nhanh chóng.
Tháng 8 năm 1973, Thái Lan và Mỹ ký tuyên bố chung về việc rút từng phần
quân Mỹ ra khỏi Thái Lan. Bên cạnh đó, những chính sách đối nội và đối ngoại
của Thái Lan càng làm cho tình hình kinh tế - xã hội cũng nhƣ bầu không khí
chính trị luôn ở trạng thái căng thẳng. Vì vậy, các cuộc đấu tranh đòi quyền tự do
dân chủ luôn diễn ra. Trong những năm 60, đã có những tổ chức chủ trƣơng tiến
hành đấu tranh vũ trang chống nền độc tài quân sự. Tổ chức “Mặt trận yêu nƣớc
Thái Lan” chủ trƣơng tiến hành đấu tranh vũ trang từ năm 1965. Đến năm 1968,
quân du kích đã nổi dậy ở nhiều nơi, tấn công vào cả sân bay Uđontani. Cùng với
đó là sự phối hợp đấu tranh với các tầng lớp trong xã hội. Từ những năm 70, sinh
viên Thái Lan đã liên tiếp tổ chức đấu tranh chính trị, lôi kéo các tầng lớp khác
trong xã hội tham gia nhƣ công nhân, viên chức Phong trào đấu tranh đặc biệt

23
lên cao vào năm 1973 khiến chính quyền phải huy động cảnh sát đàn áp. Nhà vua

đã phải nhƣợng bộ, tổ chức bầu cử, thành lập chính phủ mới. Sự bất ổn về chính
trị, xã hội do giới quân sự mang lại càng làm cho nền kinh tế Thái Lan gặp nhiều
khó khăn. Mặc dù Thái Lan thực hiện chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội với
các kế hoạch dài hạn nhƣ: kế hoạch 6 năm lần thứ nhất (1961-1966), kế hoạch 5
năm lần thứ hai (1967-1971), lần thứ ba (1971-1976) và lần thứ tƣ (1977-1981)…
nhƣng đại đa số nhân dân Thái Lan, đặc biệt là nông dân, hầu nhƣ không đƣợc
hƣởng lợi ích của sự phát triển. Tỷ lệ dân cƣ sống trong tình trạng nghèo khó vẫn
chiếm số đông. Sự bất bình đẳng trong thu nhập làm cho mâu thuẫn xã hội thêm
gay gắt, tạo thành mối đe dọa đối với sự ổn định chính trị của Thái Lan ngay từ
bên trong. Những thách thức của thế giới và tình hình rối ren trong nƣớc buộc
Thái Lan không còn con đƣờng lựa chọn nào khác là phải điều chỉnh mối quan hệ
của mình đối với các nƣớc Đông Dƣơng. Tháng 2 năm 1973, Hội nghị ngoại
trƣởng ASEAN lần đầu tiên nêu ra vấn đề quan hệ với Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa, kể cả khả năng Việt Nam tham gia vào tổ chức này. Tiếp theo, ngày
16/9/1973 hội nghị Ngoại trƣởng ASEAN đã kêu gọi thiết lập chƣơng trình viện
trợ và ủy ban phối hợp về tái thiết Đông Dƣơng. Hàng loạt các nƣớc nhƣ:
Australia, Malaysia, Singapore, Nhật Bản… đã bắt đầu đặt quan hệ ngoại giao
với Việt Nam.
Trƣớc tình hình đó, căn cứ vào tình hình và yêu cầu của cuộc đấu tranh
giải phóng dân tộc, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã chủ trƣơng xúc
tiến cải thiện quan hệ với Thái Lan. Ngày 27/11/1974, Bộ trƣởng Ngoại giao
Nguyễn Duy Trinh gửi thƣ cho Ngoại trƣởng Thái Lan nêu vấn đề cải thiện quan
hệ giữa hai nƣớc và đã có sự phản hồi mang tính tích cực. Tháng 12/1974, Bộ
Ngoại giao Thái Lan ra tuyên bố sẵn sàng đáp ứng đề nghị trao đổi văn hóa của
chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Để thể hiện tinh thần hòa hữu với Thái

24
Lan, ngày 25/01/1975, Bộ trƣởng Ngoại giao Việt Nam gửi thƣ cho Ngoại trƣởng
Thái Lan nêu rõ sự sẵn sàng từ phía Việt Nam và đề nghị ba nguyên tắc cơ bản
đối với việc bình thƣờng hóa quan hệ 2 nƣớc:

1. Tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản và quyền tự quyết của nhân dân
mỗi nƣớc, không xâm lƣợc lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của
nhau. Không tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào bất cứ hành động nào phƣơng
hại đến độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau.
2. Không để lãnh thổ của mình cho bất cứ nƣớc ngoài nào sử dụng làm
căn cứ xâm lƣợc và can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp vào nƣớc kia và các nƣớc
khác trong khu vực. Phía Thái Lan không để Mỹ sử dụng lãnh thổ Thái Lan
chống lại nhân dân Việt Nam và nhân dân các nƣớc khác ở Đông Dƣơng.
3. Thiếp lập quan hệ hữu nghị láng giềng tốt giữa hai nƣớc, trao đổi kinh
tế, văn hóa trên cơ sở bình đẳng, hai bên cùng có lợi [55, 69-70].
Đặc biệt, sau khi Việt Nam giành thắng lợi trong cuộc Tổng tiến công và
nổi dậy năm 1975, mối quan hệ Việt Nam - Thái Lan lại càng có chiều hƣớng
tích cực hơn. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nƣớc của nhân dân
Việt Nam làm tăng thêm sức mạnh của hệ thống xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy
phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới tiến lên, góp phần vào cuộc đấu tranh
đòi tự do, dân chủ và tiến bộ xã hội của nhân dân các nƣớc trên thế giới và tác
động trực tiếp vào sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân trên bán đảo Đông
Dƣơng. Ngày 6/8/1976, Ngoại trƣởng Thái Lan Bhichai Rattacun đã tới thăm
Việt Nam, và Tuyên bố chung về việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam
và Thái Lan đã đƣợc ký kết tại Hà Nội, chấm dứt một thời kỳ căng thẳng trong
quan hệ hai nƣớc.
Tính chất quan hệ chủ yếu của Việt Nam - Thái Lan thời kì 1954 - 1975
chủ yếu là đối đầu mà biểu hiện đỉnh cao của nó là sự tham gia trực tiếp của quân

25
đội Thái Lan trên chiến trƣờng miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, trong bối cảnh
thế giới và khu vực, quan hệ hai nƣớc cũng bắt đầu dần dần đƣợc cải thiện nhất là
sau khi Việt Nam hoàn toàn giải phóng (1975) mặc dù việc bình thƣờng hóa quan
hệ diễn ra rất chậm chạp nhƣng đó cũng là dấu hiệu tốt cho mối quan hệ của hai
nƣớc.

Đến giai đoạn 1976 - 1989, quan hệ Việt Nam - Thái Lan có nhiều diễn
biến phức tạp, lúc thăng, lúc trầm, khi hòa bình hữu nghị, khi mâu thuẫn…
Dấu mốc quan trọng trong hợp tác Việt Nam - Thái Lan là Tuyên bố
chung về việc thiết lập quan hệ ngoại giao hai nƣớc đƣợc ký kết tại Hà Nội ngày
6/8/1976. Đây chính là cơ sở để phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác giữa hai
nƣớc và cam kết tiến hành ngay những biện pháp nhằm bình thƣờng hóa quan hệ.
Sự cải thiện quan hệ Việt Nam - Thái Lan còn có sự thuận lợi bởi sự ổn định của
mối quan hệ Việt Nam - ASEAN. Trong 2 năm 1977 và 1978, Bộ trƣởng ngoại
giao Nguyễn Duy Trinh đã đi thăm hữu nghị các nƣớc Đông Nam Á nhƣ: Lào,
Indonesia, Malaysia, Philippin và Thái Lan.
Trong chuyến thăm Thái Lan, lần đầu tiên hai bên thiết lập đƣợc những
quan hệ kinh tế chính thức về mặt Nhà nƣớc thông qua việc ký Hiệp định hợp tác
thƣơng mại, kinh tế và kỹ thuật, Hiệp định vận chuyển hàng không giữa hai
nƣớc, đồng thời các nguyên tắc thiết lập quan hệ trong lĩnh vực bƣu điện và vô
tuyến viễn thông giữa hai nƣớc cũng đựoc thỏa thuận. Về mặt chính trị, hai bên
cùng giải quyết một cách hòa bình và hữu nghị những vấn đề còn lại của hai nƣớc
và sẽ lập sứ quán. Hàng loạt các chuyến thăm đƣợc diễn ra. Trong số đó phải kể
đến chuyến đi thăm Thái Lan của Thủ tƣớng Phạm Văn Đồng năm 1978, đây là
một bƣớc tiến lịch sử góp phần xây dựng cơ sở vững chắc nhằm tăng cƣờng tình
hữu nghị giữa hai nƣớc. Hai bên đã ký Tuyên bố chung, thỏa thuận sẽ đẩy mạnh
việc buôn bán, hợp tác kinh tế, khoa học kỹ thuật và khuyến khích trao đổi văn

×