ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỀN THỊ NGỌC ANH
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
KHU CÔNG NGHIỆP Ở HÀ NỘI (1995 - 2008)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60 22 54
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Xanh
Hà Nội - 2010
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ NGỌC ANH
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
KHU CÔNG NGHIỆP Ở HÀ NỘI (1995-2008)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội, 2010
1
MỤC LỤC
Mở đầu Trang
1.Tính cấp thiết của đề tài 4
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 6
4. Phương pháp nghiên cứu 6
5. Những đóng góp mới của luận văn 7
6. Kết cấu của luận văn 7
Chƣơng 1. Nhân tố thúc đẩy sự hình thành và phát triển 8
KCN ở Hà Nội.
1.1 .Hiểu biết chung về KCN. 8
1.1.1.Định nghĩa KCN 8
1.1.2. Các dạng thức KCN 10
1.2 Nhân tố thúc đẩy sự hình thành và phát triển KCN 14
1.2.1 Nhân tố bên ngoài 14
1.2.2 Nhân tố bên trong 21
Chƣơng 2. Quá trình hình thành và phát triển KCN ở Hà Nội 37
(1995-2008)
2.1 Quá trình hình thành và phát triển KCN ở Hà Nội 37
(1995-2008).
2.2.1 Điều kiện hình thành KCN. 37
2.2.2 Sự xuất hiện KCN ở Hà Nội. 39
2.2.3 Sự phát triển các KCN ở Hà Nội. 41
2.3 Những tác động tích cực của KCN đến kinh tế, xã hội 66
của Hà Nội.
2
Chƣơng 3. Một số vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp trong việc 81
phát triển bền vững KCN trên địa bàn Hà Nội.
3.1 Một số vấn đề đặt ra 81
3.2 Kiến nghị giải pháp trong việc phát triển bền vững 92
KCN trên địa bàn Hà Nội.
3.2.1 Các tiêu chí đánh giá phát triển bền vững nội tại của KCN 92
3.2.2 Giải pháp phát triển bền vững về kinh tế 95
3.2.3 Giải pháp phát triển bền vững về xã hội 105
3.2.4 Giải pháp phát triển bền vững về môi trường 108
Kết luận 113
Tài liệu tham khảo 117
Phụ lục 125
3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH Công nghiệp hóa
CCN Cụm công nghiệp
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
FDI Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
HĐH Hiện đại hóa
KCN Khu công nghiệp
KCX Khu chế xuất
KCNC Khu công nghệ cao
KKT Khu kinh tế
UNIDO United Nations Industrial Development Organization
Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hợp Quốc.
4
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Cùng với chính sách mở cửa, chủ động tham gia hội nhập kinh tế, từng
bước đưa đất nước phát triển theo mục tiêu CNH, HĐH đất nước, thì việc xây
dựng và phát triển các KCN đóng một vai trò vô cùng quan trọng, đặc biệt là
ở Hà Nội – Thủ đô của cả nước. Kể từ khi Luật đầu tư ra đời năm 1987 cho
đến nay, mặc dù thời gian phát triển chưa lâu nhưng các KCN ở Hà Nội nói
riêng và Việt Nam nói chung đã khẳng định được vai trò của mình là một lực
lượng công nghiệp mạnh, có đóng góp ngày càng to lớn trong công cuộc phát
triển kinh tế xã hội của đất nước.
Việc xây dựng và phát triển các KCN là một trong những quyết sách
trọng yếu đã được Đại hội lần thứ VIII năm 1996 của Đảng Cộng sản Việt
Nam xác định “hình thành các KCN tập trung (bao gồm cả KCN, KCX), tạo
địa bàn thuận lợi cho việc xây dựng các cơ sở công nghiệp mới, phát triển đẩy
mạnh công nghiệp nông thôn và ven đô thị. Ở các thành phố, thị xã, nâng cấp
cải tạo các cơ sở công nghiệp hiện có, đưa các cơ sở không có khả năng xử lý
ô nhiễm ra ngoài thành phố, hạn chế việc xây dựng các cơ sở công nghiệp
mới xen lẫn với khu dân cư”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành
Trung ương Đảng khóa VIII cũng chỉ rõ phương hướng phát triển KCN trong
thời gian tới là “Phát triển từng bước và nâng cao hiệu quả các KCN”. Bởi
vậy mà trong thời gian qua, mỗi KCN ra đời tại Hà Nội đã trở thành điểm
quan trọng trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư trong nước và nước ngoài, tạo
điều kiện để tiếp thu công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lao
động cho phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế - xã hội Thủ đô và nâng cao
năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
5
Phát triển KCN trong thời gian qua ở Hà Nội nói riêng và trên toàn đất
nước nói chung cũng đã góp phần làm chuyển biến tình hình kinh tế - xã hội.
Để phát huy hơn nữa vai trò của KCN đối với sự phát triển kinh tế xã
hội của Thủ đô, để thấy được tầm quan trọng của KCN, nhận thức được điều
đó, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Quá trình hình thành và phát triển KCN ở
Hà Nội (1995-2008)” làm đề tài nghiên cứu.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
KCN và chính sách KCN Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đã được
nghiên cứu ngay từ những năm đầu của thời kỳ này. Năm 1987, nhà nước ban
hành Luật đầu tư nước ngoài, đó cũng là lúc một số tổ chức được giao nhiệm
vụ nghiên cứu xây dựng và đưa vào hoạt động loại hình KCN tại Việt Nam.
Gần đây, đã có một số sách, luận án và đề tài nghiên cứu liên quan về
vấn đề này, nhưng mới chỉ đề cập đến một vài khía cạnh, và sơ qua một cách
khái quát sự hình thành và phát triển KCN trong cả nước. Như LA TS Kinh tế
của Nguyễn Quốc Bình, “Một số giải pháp nhằm phát triển các khu công
nghiệp và cụm công nghiệp trên địa bàn Hà Nội trong điều kiện hội nhập kinh
tế quốc tế”.
Luận án PTS KH của Chế Đình Hoàng, “Cải tạo và hoàn thiện các khu
công nghiệp ở Hà Nội theo định hướng phát triển đó đến năm 2010”…
PGS.TS Ngô Thắng Lợi và nhóm nghiên cứu “Vấn đề phát triển bền
vững các KCN ở Việt Nam” – Tạp chí KCN Việt Nam, số tháng 2/2007.
Nhóm nghiên cứu đã đưa ra chủ kiến của mình tại công trình này, trong đó
nhận xét về tình trạng mở ồ ạt quá nhiều KCN tại những địa bàn chưa được
chuẩn bị kỹ, trình bày một số khuyến nghị về quy hoạch, kế hoạch, đầu tư…
để phát triển bền vững các KCN.
Đặng Hùng: “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong KCN” –
Tạp chí Bất động sản nhà đất Việt Nam, số 32, tháng 5/2006.
6
So với các địa phương khác, các nhà khoa học Hà Nội có nhiều công
trình nghiên cứu về KCN. Từ năm 1999 – 2007, các công trình tập trung
nghiên cứu vào mấy chủ đề: thứ nhất, vấn đề thu hút FDI, các doanh nghiệp
vừa và nhỏ vào KCN. Thứ hai, vấn đề nâng cao chất lượng các dịch vụ hỗ trợ
kinh doanh; và vấn đề quản lý nhà nước và chất lượng dịch vụ công.
Tuy nhiên chưa có đề tài nào tiếp cận trên phương diện lịch sử về quá
trình hình thành và phát triển các KCN ở Hà Nội (1995-2008).
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
Mục đích: Nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển KCN ở Hà
Nội từ năm 1995 đến năm 2008.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Trình bày các nhân tố thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển các
KCN.
Quá trình hình thành và phát triển KCN ở Hà Nội từ 1995 – 2008.
Những vấn đề đặt ra và kiến nghị trong việc phát triển phát triển bền
vững KCN trên địa bàn Hà Nội.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu về quá trình hình thành và
phát triển của KCN từ năm 1995 đến năm 2008. Các vấn đề đặt ra trong việc
phát triển KCN trên địa bàn Hà Nội.
Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của Luận văn giới hạn trong
các KCN ở Hà Nội từ năm 1995 – 2008. (trước khi thay đổi địa giới hành
chính).
5. Phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
Áp dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phân tích
tổng hợp, so sánh đối chiếu, phương pháp lịch sử và phương pháp thống kê.
7
Luận văn cũng sử dụng các phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, thu
thập tài liệu.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Hệ thống hóa quá trình hình thành và phát triển KCN ở Hà Nội trên
phương diện lịch sử.
Các vấn đề đặt ra trong việc phát triển KCN trên địa bàn Hà Nội.
7. Kết cấu của luận văn:
Luận văn bao gồm 3 chương.
Chƣơng 1:
Nhân tố thúc đẩy sự hình thành và phát triển KCN ở Hà Nội.
Chƣơng 2:
Quá trình hình thành và phát triển KCN ở Hà Nội (1995-2008)
Chƣơng 3:
Một số vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp trong việc phát triển bền
vững KCN trên địa bàn Hà Nội.
8
CHƢƠNG 1. NHÂN TỐ THÚC ĐẨY SỰ HÌNH THÀNH VÀ
PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP Ở HÀ NỘI.
1.1 Hiểu biết chung về KCN
1.1.1 Định nghĩa KCN
Ở mỗi nước trên thế giới, do điều kiện kinh tế - xã hội và trình độ phát
triển nền sản xuất công nghiệp là khác nhau nên dẫn đến sự khác biệt về mục
đích hình thành cũng như chức năng, nhiệm vụ của KCN ở mỗi nước, từ đó
dẫn đến những quan điểm, cách hiểu khác nhau về KCN. Để việc nhìn nhận
khái quát và đầy đủ, luận án đưa ra những khái niệm về KCN của các tổ chức
kinh tế quốc tế, ở các nước phát triển và đang phát triển, trong đó có Việt
Nam.
Khái niệm về KCN của các tổ chức kinh tế quốc tế.
Các chuyên gia của tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc
(UNIDO) đưa ra khái niệm về KCN tổng hợp như sau: “KCN tổng hợp là
khu vực chuyên sản xuất hàng hóa và thực hiện các hoạt động dịch vụ, kể cả
dịch vụ sản xuất công nghiệp, dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí, khu thương
mại, văn phòng, nhà ở… có ranh giới địa lý xác định, gồm những khu vực
dành cho công nghiệp, các dịch vụ liên quan, thương mại và dân cư. Khu vực
công nghiệp có thể là KCN, KCX, KCNC.” [66, tr. 123].
Các khái niệm về KCN ở các nước công nghiệp phát triển
Các nước công nghiệp phát triển quan niệm rằng, KCN được hình
thành và phát triển nhằm mục đích cực đại hóa lợi nhuận và cực tiểu hóa chi
phí, nói cách khác đó là sự lợi dụng quy luật kinh tế lợi ích nhờ quy mô. Các
nhà tư bản cho rằng, việc phân bố và hình thành công nghiệp phải tập trung
vào một khu vực nhất định. Nói chung, KCN được họ hiểu là những khu vực
được xây dựng và phân thành những phần nhỏ hơn theo một quy hoạch toàn
diện nhằm cung cấp những điều kiện thuận lợi về giao thông vận tải, viễn
9
thông, điện, nước và những dịch vụ khác…cho một nhóm các doanh nghiệp
công nghiệp.[62, tr. 123].
Như vậy, các nhà hoạch định chính sách phương Tây không đưa ra
nhiều khái niệm, định nghĩa về KCN có tính chất khoa học, mà họ định nghĩa
về KCN gắn liền với những hình thái thực tiễn của tổ chức lãnh thổ sản xuất
công nghiệp, nhấn mạnh nhiều đến tính hiệu quả kinh tế của quá trình hình
thành một KCN.
Khái niệm về KCN ở Việt Nam
Ở Việt Nam, mô hình KCN xuất hiện vào cuối năm 1994 và phát triển
qua từng giai đoạn. Bởi Việt Nam tiến hành phát triển công nghiệp, thực hiện
quá trình công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế quốc tế tương đối muộn so với
các nước trong khu vực và trên thế giới. Do đó, sự hình thành và phát triển
KCN ở Việt Nam có điều kiện thuận lợi để học hỏi và kế thừa các kinh
nghiệm của những nước đi trước. Trên cơ sở đó nghị định số 36/CP ngày
24/4/1997 đã đưa ra khái niệm về KCN cũng như các dạng mô hình của nó
như sau:
“Khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp sản xuất hàng
công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới
địa lý xác định, không có cư dân sinh sống, do Chính Phủ hoặc Thủ tướng
Chính Phủ quyết định thành lập. Trong KCN có thể có doanh nghiệp chế
xuất”.[6, tr. 117].
Một là, khu vực được nhà nước cho phép chính thức thành lập, tập
trung tương đối nhiều doanh nghiệp công nghiệp nằm trong khu vực địa lý có
ranh giới rõ ràng và sử dụng chung hạ tầng cơ sở - dịch vụ. Sự tập trung trên
một khu vực địa lý và sử dụng chung cơ sở hạ tầng này cho phép các doanh
nghiệp tiết kiệm chi phí sản xuất nhằm hạ giá thành sản phẩm một cách tối đa.
10
Hai là, các doanh nghiệp trong KCN thường được hưởng một quy chế
riêng của nhà nước và của địa phương sở tại. Các quy chế này thể hiện sự
quan tâm, ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động.
Ba là, KCN có Ban quản lý thống nhất nhằm thực hiện các chính sách
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp công nghiệp hoạt động.
Bốn là, KCN thường có giới hạn địa lý hẹp, khoảng vài chục đến vài
trăm ha và có thể được ngăn cách với xung quanh bởi hàng rào và không có
cư dân sinh sống trong KCN.
Năm là, hoạt động chính của các doanh nghiệp công nghiệp trong KCN
là hoạt động sản xuất công nghiệp và trong nhiều trường hợp chúng có tính
chất hướng ngoại.
1.1.2 Các dạng thức của khu công nghiệp
- KCX
+ Định nghĩa của Hiệp hội các KCX thế giới (WEPZA): Theo điều
lệ hoạt động của WEPZA, KCX bao gồm tất cả các khu vực được Chính
phủ các nước cho phép như cảng tự do, mậu dịch tự do, KCN tự do hoặc
bất kỳ khu vực ngoại thương hoặc khu vực khác được WEPZA công nhận.
Định nghĩa này về cơ bản đồng nhất KCX với khu vực miễn thuế.
+ Định nghĩa của Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hợp Quốc
(UNIDO): Là khu vực được giới hạn về hành chính, có ranh giới địa lý xác
định, được hưởng một chế độ thuế quan cho phép tự do nhập trang bị và
sản phẩm nhằm mục đích sản xuất sản phẩm xuất khẩu. Chế độ thuế quan
được ban hành cùng với những quy định luật pháp ưu đãi, chủ yếu về thuế
nhằm thu hút nước ngoài.
+ Định nghĩa của Việt Nam: Theo quy chế KCN, KCX, KCNC, ban
hành kèm theo nghị định 36/CP ngày 24/4/1997: KCX là khu chuyên sản
xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho hàng xuất khẩu và hoạt
11
động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có cư dân sinh sống,
do Chính Phủ hoặc Thủ Tướng Chính Phủ quyết định thành lập.
- KCN và KCNC
Hiện nay trên thế giới chưa có định nghĩa thống nhất về KCNC. Tùy
theo quan điểm của mỗi nước hoặc mỗi chuyên gia người ta đưa ra những
định nghĩa rất khác nhau về mặt ngôn từ nhưng về nội dung thì cơ bản có
sự thống nhất tương đối cao. Từ những kết quả gần đây và Theo quy chế
KCN, KCX, KCNC, ban hành kèm theo nghị định 36/CP ngày 24/4/1997:
KCNC là khu tập trung các doanh nghiệp, xí nghiệp công nghiệp kỹ thuật
cao và các tổ chức hoạt động phục vụ phát triển công nghệ cao gồm
nghiên cứu khoa học, triển khai công nghệ, đào tạo và các dịch vụ liên
quan có ranh giới địa lý xác định, do Chính Phủ hoặc Thủ Tướng Chính
Phủ quyết định thành lập.
+ KCNC có những đặc thù chính sau đây:
Về chức năng:
Ươm tạo công nghệ, bao gồm: chuyển giao, tiếp thu, thích nghi, cải tiến
và hướng tới sáng tạo công nghệ cao.
Sản xuất công nghiệp, công nghệ cao
Huấn luyện, đào tạo nhân lực công nghệ cao cho cả sản xuất và nghiên
cứu.
Dịch vụ thương mại các sản phẩm công nghệ cao
Tạo môi trường sinh hoạt, sống, làm việc, vui chơi, giải trí, kích thích
năng lực sáng tạo công nghệ.
Bên cạnh hai chức năng chính là sản xuất công nghiệp công nghệ cao
và nghiên cứu triển khai, đào tạo huấn luyện thì trong KCNC còn có các chức
năng khác như: dịch vụ, kinh doanh và nhà ở nhằm tạo môi trường thuận lợi
12
cho các nhà nghiên cứu, nhà doanh nghiệp đến sống, làm việc, sáng tạo và
nghỉ ngơi.
Về tổ chức: KCNC có các đơn vị thành phần sau:
Các đơn vị nghiên cứu – triển khai: Viện, phòng nghiên cứu, trung tâm
nghiên cứu, phòng thí nghiệm công nghệ cao.
Các xí nghiệp công nghiệp công nghệ kỹ thuật cao.
Học viện kỹ thuật, trung tâm đào tạo nguồn nhân lực cho KCNC.
Doanh nghiệp, công ty phát triển cơ sở hạ tầng.
Các trung tâm tư vấn dịch vụ thương mại và chuyển giao công nghệ
Các đơn vị quản lý nhà ở, công viên, thể thao, văn hóa, triển lãm
KHCN.
KCNC là môi trường thuận lợi nhằm thực hiện các mục tiêu đặt ra là:
- Tạo môi trường hấp dẫn, thu hút đầu tư trong nước và
nước ngoài cho các ngành sản xuất công nghiệp công nghệ cao.
- Ươm tạo công nghệ mới, thông qua chuyển giao công
nghệ, thích nghi và cải tiến công nghệ, góp phần nâng cao trình độ công nghệ
và năng lực nội sinh về khoa học công nghệ mỗi quốc gia.
- Phát triển ngành công nghiệp, công nghệ cao, sản xuất các
sản phẩm dựa trên công nghệ cao, mang lại hiệu quả kinh tế lớn.
- Thu hút nguồn nhân lực KHCN phục vụ phát triển công
nghệ cao (chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà công nghệ trong nước và
nước ngoài…)
Khi đáp ứng được các mục tiêu nêu trên, KCNC sẽ trở thành một nhân
tố quan trọng góp phần tăng trưởng GDP, góp phần thúc đẩy giá trị gia tăng
của các ngành công nghiệp khác, nâng cao trình độ khoa học công nghệ của
đất nước, tạo cơ sở thúc đẩy nhiều ngành công nghiệp phát triển nhờ chức
năng là hội tụ những thành tựu công nghệ mới.
13
Từ đó chúng ta thấy, KCN là một khái niệm bao trùm hơn, hàm chứa cả
khái niệm KCX và KCNC, tuy nhiên do những đặc điểm khác biệt của chúng,
nên luận văn chủ yếu giới hạn tập trung nghiên cứu KCN.
Bảng 1.1 Sự khác biệt giữa KCN, KCNC và KCX
Khác
biệt
Khu công nghiệp
Khu công nghệ cao
Khu chế xuất
Mục
tiêu
thành
lập
Nhằm thu hút các
doanh nghiệp sản xuất
công nghiệp và dịch vụ
sản xuất công nghiệp
cả trong nước và nước
ngoài với mọi cấp độ
- Ươm tạo công nghệ
mới.
- Thu hút đầu tư
trong nước và nước
ngoài cho các ngành
sản xuất công nghiệp
công nghệ cao.
- Nghiên cứu – triển
khai, đào tạo, huấn
luyện.
Nhằm thu hút đầu tư
của nước ngoài
Quy
mô
Nhỏ hơn KCNC
Quy mô lớn, thường
từ 1000ha trở lên,
trong KCNC có KCN
Tổ
chức
trong
khu
- Chỉ có các doanh
nghiệp sản xuất công
nghiệp và dịch vụ sản
xuất công nghiệp.
- Là khu đóng, có
tường rào bao quanh.
Không có cư dân sinh
sống.
- Các đơn vị nghiên
cứu – triển khai.
- Các học viện, trung
tâm đào tạo nguồn
nhân lực.
- Các trung tâm tư
vấn, dịch vụ thương
mại và chuyên gia
công nghệ.
Chỉ gồm doanh
nghiệp sản xuất và
dịch vụ sản xuất
hàng xuất khẩu
14
- Là khu mở, trong
khu có cư dân sinh
sống
Chính
sách
ưu
đãi
Được hưởng một số
chính sách ưu đãi nhất
định
Các đơn vị trong
KCNC được hưởng
chính sách ưu đãi cao
nhất.
Ưu đãi, miễn giảm
thuế
Tính
chất
hoạt
động
Tập trung sản xuất
hàng hóa công nghiệp
- Nghiên cứu – triển
khai, đào tạo, huấn
luyện.
- Sản xuất công
nghiệp công nghệ
cao.
- Dịch vụ kinh doanh
và nhà ở.
Khu vực chuyên
sản xuất hàng xuất
khẩu
1.2. Nhân tố thúc đẩy sự hình thành và phát triển KCN
1.2.1 Nhân tố bên ngoài
Vào cuối thế kỷ XIX, nửa đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản tuy chuyển
từ cạnh tranh tự do sang giai đoạn độc quyền, song độc quyền không thủ tiêu
cạnh tranh mà đẩy cạnh tranh trở nên gay gắt hơn, các công ty cạnh tranh với
nhau tìm kiếm và phân chia lại thị trường thế giới. Vào thời kỳ này, các nước
tư bản chú trọng hơn trong bành trướng thương mại ra phạm vi thế giới để
xuất khẩu hàng hóa, chưa thật chú trọng đến việc mở rộng thị trường đầu tư,
phát triển sản xuất ở các nước khác, nhất là các nước thuộc địa trước đây.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, chỉ sau khi các nước công nghiệp phát
triển gặp phải những khó khăn lớn về giá nhân công trong nước ngày càng
cao và thiếu nguồn nguyên liệu cho công nghiệp, tỷ suất lợi nhuận giảm sút
15
mạnh, lúc đó xuất khẩu tư bản mới trở thành khuynh hướng và phương tiện
chủ đạo để các công ty chiếm lĩnh và khai thác thị trường thế giới.
Sự ra đời của các KCN bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX, sau đó lần lượt xuất
hiện ở các nước Châu Âu.
KCN đầu tiên trên thế giới được thành lập vào cuối năm 1896 ở
Trafford Park, thành phố Manchester ở nước Anh. Vùng công nghiệp
Clearing ở thành phố Chicago, bang Illinonis được coi là KCN đầu tiên ở
nước Mỹ bắt đầu hoạt động từ năm 1989 và vào năm 1904, số lượng KCN
trên thế giới vẫn còn rất khiêm tốn và chỉ cho tới sau năm 1950 thì sự tăng
trưởng của các KCN mới bắt đầu bùng nổ. Cụ thể, nếu như năm 1940 tại Mỹ
mới chỉ có 33 KCN thì đến năm 1959 lượng KCN đã là 452 và cho đến năm
1970, số KCN đã tăng lên tới 2400.
Ở các nước đang phát triển, các KCN bắt đầu được thành lập từ những
năm 1947-1963. Puerto Rico là nước đang phát triển đầu tiên biết sử dụng
một cách có hệ thống các KCN được tài trợ công cộng. Trong giai đoạn này,
quốc gia đó đã xây dựng 480 nhà máy để cho thuê với cơ sở hạ tầng phù hợp
để thu hút các công ty chế biến của Mỹ. Hầu hết các nhà máy này đều tập
trung trong 30 KCN.
Đối với Châu Á, hiện nay có khoảng trên 1000 KCN đang hoạt động.
KCN đầu tiên được khai trương tại Singgapore vào năm 1951. Và tiếp theo
KCN đầu tiên tại Malaysia được thành lập năm 1954 và Ấn Độ là vào năm
1955.
Đài Loan với KCN đầu tiên được xây dựng ở Kulung vào năm 1960 và
được công nhận là nơi có hoạt động thành công nhất thế giới.
Đài Loan là quần đảo nhỏ nằm trên vịnh Bắc Bộ. Từ cuối những năm
50 của thế kỷ XX, các nhà hoạch định chính sách của Đài Loan luôn xác định
để tồn tại và phát triển, Đài Loan phải xây dựng mô hình kinh tế theo “cơ chế
16
hướng ngoại” và phát triển công nghiệp. Trong đó, mô hình KCN được coi là
chiến lược tạo thuận lợi cho quá trình CNH, HĐH nền kinh tế của Đài Loan.
Đài Loan đã cho xây dựng ở các vùng đất cằn cỗi hoặc đất lấn biển
những KCN với hệ thống cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh, để thu hút các
doanh nghiệp mới vào khu này và dành cho các nhà đầu tư vào đây được
hưởng một số chính sách ưu đãi, đặc biệt là ưu đãi về thuế và giá đất. Với
những điều kiện thuận lợi như vậy nên số lượng các doanh nghiệp vào đầu tư
ở KCN của Đài Loan ngày càng nhiều. Ở Đài Loan hiện đã có hơn 100 KCN
do chính quyền và các tổ chức đoàn thể xây dựng.
Để đảm bảo cho các KCN hoạt động có hiệu quả, sự phát triển các
KCN ở Đài Loan luôn gắn liền với việc xây dựng một hệ thống kết cấu hạ
tầng hoàn chỉnh, bao gồm cả hạ tầng kỹ thuật và xã hội bên trong và bên
ngoài KCN như: Hệ thống giao thông nội bộ, hệ thống thông tin liên lạc, cung
cấp điện nước, các dịch vụ bưu điện, ngân hàng, bảo hiểm, hệ thống xử lý
chất thải tập trung… Xây dựng các khu đô thị xung quanh, đảm bảo cung cấp
nguồn nhân lực và dịch vụ tiện ích công nghiệp và đời sống, trong đó đặc biệt
chú trọng đến công tác bảo vệ môi trường.
Việc thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp và đầu tư vào các KCN ở
Đài Loan được thực hiện theo phương châm: Nhân dân có việc làm với thu
nhập thỏa đáng, Chính quyền thu được nhiều thuế và doanh nghiệp có lãi. Khi
sản xuất phát triển, thu nhập và đời sống của người lao động nâng lên, ngân
sách nhà nước lớn mạnh sẽ tạo ra nội lực mới để vươn lên tự lực, tự cường.
Phương châm này chi phối việc xây dựng chính sách, pháp luật, tổ chức bộ
máy quản lý nhà nước và tạo nên môi trường đầu tư, môi trường kinh doanh
thuận lợi, thông thoáng và hấp dẫn.
Với Trung Quốc, từ cuối thập niên 70 của thế kỷ trước, các nhà lãnh
đạo đã nhận thức được rằng: Sự phát triển của Trung Quốc không thể tách rời
17
với thế giới, muốn phát triển thì cần phải mở cửa đối ngoại. Bởi vậy, ngay từ
khi bắt đầu thực hiện chính sách cải cách mở cửa (tháng 12 năm 1978), Chính
phủ đã quyết định chọn việc xây dựng các đặc khu kinh tế làm điểm đột phá
cho toàn bộ chiến lược mở cửa các vùng kinh tế ven biển, đây là bước đi đầu
tiên trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Trung Quốc. Từ năm 1980 –
1988, Trung Quốc đã lần lượt xây dựng các đặc khu kinh tế là Thâm Quyến,
Sán Đầu, Chu Hải, Hạ Môn và Hải Nam, trong đó Hải Nam là đặc khu lớn
nhất, Thâm Quyến là đặc khu phát triển hùng hậu, điển hình nhất, được xây
dựng theo mô hình tổng hợp, bao gồm các ngành công nghiệp, nông nghiệp,
thương mại và dịch vụ. Các đặc khu này đã rất thành công trong lĩnh vực thu
hút đầu tư, bổ sung nguồn vốn lớn cho Trung Quốc thời kỳ đầu thực hiện cải
cách mở cửa.
Hiện nay, Trung Quốc đã có trên 3000 KCN, trong đó có khoảng 1000
là do Trung ương ra quyết định thành lập. Sự hình thành các “đặc khu xuất
khẩu” và sau đó chuyển thành “đặc khu kinh tế”, loại hình đầu tiên của KCN
ở Trung Quốc với những nội dung hoạt động khá năng động.
Với đặc điểm và ưu thế của từng đặc khu, cùng với những cơ chế,
chính sách thông thoáng, lựa chọn loại hình kinh tế phù hợp với mục tiêu phát
triển, các đặc khu này đã phát huy được hết thế mạnh của mình, thu hút mạnh
mẽ vốn đầu tư nước ngoài, nhanh chóng làm thay đổi diện mạo nền kinh tế,
góp phần thúc đẩy tiến trình thực hiện CNH, HĐH đất nước. Cùng với Trung
Quốc bước vào giai đoạn mở cửa toàn diện, các đặc khu kinh tế cũng đã tiến
lên cùng thời đại, không ngừng tìm tòi sự đột phá và đã đạt được được những
thành tựu mà cả thế giới phải khâm phục. Đó là mức tăng bình quân GDP
Trung Quốc từ năm 1978 đến năm 2007 đạt trên 9% năm, thu nhập bình quân
đầu người đã từ 190 USD năm 1978 tăng lên đến 2360 USD năm 2007, số
18
người nghèo khó ở nông thôn đã từ 250 triệu giảm xuống còn khoảng 20
triệu.
Thái Lan phát triển mô hình KCN từ năm 1970. Mô hình KCN của
Thái Lan bao gồm: một là, KCN tập trung, trong đó có các xí nghiệp công
nghiệp. Khu này gồm các xí nghiệp sản xuất hàng hóa để tiêu thụ trong nước
và thường là xí nghiệp công nghiệp nặng, không sản xuất hàng hóa xuất khẩu.
Hai là, KCN tổng hợp, trong đó chia làm hai khu vực: KCN tổng hợp, gồm
các xí nghiệp chủ yếu sản xuất hàng hóa để tiêu thụ trong nước và làm hàng
xuất khẩu và khu chế biến xuất khẩu, gồm các nhà máy sản xuất phải đạt trên
450 sản phẩm xuất khẩu trở lên. Thái Lan là một trong những nước khá thành
công trong phát triển KCN. Để tạo môi trường thu hút đầu tư ngày càng hấp
dẫn hơn vào các KCN, Thái Lan không ngừng tìm tòi, áp dụng các mô hình
mới. Ngoài việc cải thiện các chính sách liên quan đến hoạt động của các
công ty có vốn nước ngoài đã đầu tư, để tạo nên hình ảnh tốt và làm yên lòng
các nhà đầu tư, Thái Lan đã áp dụng nhiều biện pháp ưu đãi để thu hút vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Mặc dù là một nước có sự xuất hiện KCN tương đối muộn hơn nhiều
nước khác nhưng với những chính sách khuyến khích đầu tư, quy hoạch hợp
lý và môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng nên Thái Lan đã thành công
trong thu hút đầu tư vào các KCN và sự phát triển các KCN cũng đã giúp
Thái Lan nhanh chóng trở thành con rồng Châu Á.
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của các KCN trên thế giới, từ năm
1960 Liên hợp quốc đã bắt đầu xuất bản các công trình nghiên cứu và tổ chức
các cuộc hội thảo về KCN với tư cách là công cụ của sự phát triển.
Sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ cùng với những hiệu quả cao về
kinh tế - xã hội đã minh chứng KCN là một mô hình phát triển kinh tế có
nhiều triển vọng bởi:
19
Các nước khác nhau sẽ khác nhau về điều kiện kinh tế - xã hội, tạo nên
sự khác nhau về ưu thế trên từng lĩnh vực. Sự khác nhau này thúc đẩy các
quốc gia trên thế giới muốn phát triển nền kinh tế vẹn toàn, đòi hỏi phải hợp
tác, phối hợp sản xuất và trao đổi hàng hóa nhằm khai thác tối đa lợi thế của
chính họ với các nguồn lực có hạn. [47, tr. 121
Mỗi quốc gia đều can thiệp vào hoạt động thương mại ở những mức độ
khác nhau nhằm bảo vệ nền sản xuất trong nước. Trong khi đó, các nước đều
muốn thu hút vốn đầu tư sản xuất và chuyển giao công nghệ cao từ nước
ngoài nhằm cải thiện nền sản xuất nội địa. [29, tr. 119]. Do đó, các nước tiến
hành xây dựng KCN với môi trường ưu đãi nhằm thu hút các nhà đầu tư nước
ngoài.
Sự chênh lệch đáng kể về trình độ phát triển của kinh tế giữa các nước
phát triển và các nước đang và kém phát triển tạo ra những luồng vốn và công
nghệ cao từ các nước phát triển sang các nước kém phát triển hơn. Điều đó
đòi hỏi các nước đón nhận phải chuẩn bị tốt hạ tầng cơ sở. Với nguồn lực có
hạn, các quốc gia phải xây dựng những KCN nhằm thu hút mạnh mẽ những
luồng vốn và công nghệ cao này.
Nền kinh tế phát triển cao trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa đã dẫn
đến xu hướng các nước tư bản phát triển đang muốn di tản các ngành công
nghiệp nặng sang các nước đang phát triển và chậm phát triển, chỉ giữ lại
trong nước họ các ngành công nghiệp dùng ít nguyên liệu và có giá trị công
nghệ cao. Các ngành công nghiệp nặng thường vốn lớn, ít lời, tốn kém mặt
bằng và gây ô nhiễm, nhưng sự tồn tại của nó rất cần thiết để hỗ trợ các ngành
công nghiệp khác phát triển. Do vậy, các nước nghèo không bỏ lỡ cơ hội này
bằng cách phát triển mạnh các KCN với các điều kiện thu hút đầu tư ngày
càng cạnh tranh.
20
Hiện nay xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa diễn ra nhanh chóng với
quy mô và tốc độ ngày càng lớn đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình tự do hóa
thương mại và đầu tư, bước đầu hình thành một nền kinh tế thị trường toàn
cầu. Các nền kinh tế ngày càng phụ thuộc vào nhau, tạo động lực cho nhau
cùng phát triển.
Ở các nước tư bản phát triển mạnh, xuất hiện vấn đề thừa vốn tư bản,
giá nhân công lại cao, nguồn tài nguyên khan hiếm nên dẫn đến chi phí sản
xuất cao, thúc đẩy các doanh nghiệp tìm kiếm cơ hội đầu tư ra nước ngoài để
giảm chi phí sản xuất, tận dụng lợi thế so sánh ở nước khác mà chiếm lĩnh thị
trường mới, nguồn nguyên liệu mới.
Cùng với nó là xu hướng phát triển ngày càng gia tăng của sự phân
công lao động xã hội trên phạm vi toàn cầu đã diễn ra từ thấp đến cao, khiến
cho nguồn vốn tư bản thừa luôn tìm thấy cơ hội đầu tư mới ở nước ngoài.
Trong khi đó ở những nước đang phát triển phải đối mặt với nhiều khó
khăn: đời sống kinh tế - xã hội còn thấp, hạ tầng cơ sở kỹ thuật yếu kém, trình
độ khoa học lạc hậu, công nghiệp chưa phát triển, năng suất lao động và thu
nhập quốc dân chưa cao nên chưa có điều kiện cho đầu tư phát triển trong khi
tình trạng đói nghèo vẫn diễn ra.
Từ đó rơi vào tình trạng khó khăn trong phát triển kinh tế, thất nghiệp
gia tăng, thiếu vốn đầu tư, thiếu công nghệ tiên tiến, thiếu cán bộ quản lý và
công nhân lành nghề có trình độ cao. Để phát triển kinh tế - xã hội thì các
nước này phải vay vốn nước ngoài, nhận nguồn viện trợ của của nước khác.
Đương nhiên vốn nước ngoài trở thành nguồn vốn quan trọng, cho dù để thu
hút vốn đầu tư nước ngoài buộc các nước phải chấp nhận ràng buộc khắt khe
và phải ưu tiên quá mức cho các công ty đến từ nước ngoài.
Ở Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung, khi luật đầu tư nước ngoài
ra đời vào năm 1987 và sau nhiều lần sửa đổi, đầu tư nước ngoài vào Việt
21
Nam xuất hiện, ngày càng phát triển và trở thành nguồn vốn quan trọng để
phát triển kinh tế.
Việc phát triển KCN, KCX, KCNC… trở nên cấp bách để thu hút đầu
tư nước ngoài, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước.
1.2.2 Nhân tố bên trong
Nghị quyết Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định
CNH, HĐH là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH của
Việt Nam. Nội dung cơ bản của quá trình CNH, HĐH nền kinh tế quốc dân
gồm: Phát triển lực lượng sản xuất trên cơ sở thực hiện cơ khí hóa nền sản
xuất xã hội và áp dụng những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại;
Chuyển đổi cơ cấu theo hướng hiện đại hóa, hợp lý và đạt hiệu quả cao; Thiết
lập quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng XHCN.
Tiền đề quan trọng để có thể tiến hành sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
là vốn tích lũy, đào tạo được đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, công nhân
lành nghề và đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế, phát triển kết cấu hạ tầng, cuối
cùng là nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, vai trò của Nhà nước. Việc
phát triển các KCN là một trong những giải pháp để tạo dựng các tiền đề nói
trên cho sự nghiệp CNH, HĐH. Thực tế có nhiều cách để đạt được các tiền đề
trên, tuy nhiên xây dựng và phát triển các KCN là một cách ngắn nhất để có
thể đạt được đồng thời cả vốn, lao động, khoa học công nghệ, trình độ công
nghệ, trình độ quản lý, là con đường tối ưu để xây dựng cơ sở vật chất cho
CNXH.
Điều kiện tự nhiên
Hà Nội là Thủ đô, đồng thời là thành phố đứng đầu Việt Nam về diện
tích và thứ 2 về dân số. Hà Nội nằm ở trung tâm vùng châu thổ sông Hồng là
nơi hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi về đất đai, địa hình, khí hậu, nguồn nước,
22
tài nguyên khoáng sản… vị trí và địa thế thuận lợi cho một trung tâm chính
trị, kinh tế, vǎn hoá, khoa học và đầu mối giao thông quan trọng của Việt
Nam. Năm 2004 dân số Hà Nội khoảng 3.359 triệu người.
Sau đợt mở rộng địa giới gần đây nhất vào tháng 8 năm 2008, thành
phố Hà Nội có 6,233 triệu dân và nằm trong 17 Thủ đô có diện tích lớn nhất
thế giới. Theo kết quả cuộc điều tra dân số ngày 1 tháng 4 năm 2009, dân số
Hà Nội là 6.448.837 người.
Phần lớn diện tích của Hà Nội và vùng phụ cận là đồng bằng, thấp dần
từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Khí hậu Hà Nội khá tiêu biểu cho kiểu khí hậu
Bắc bộ với đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa hè nóng, mưa nhiều
và mùa đông lạnh, mưa ít. Nằm trong vùng nhiệt đới, Hà Nội quanh nǎm tiếp
nhận được lượng bức xạ mặt trời rất dồi dào và có nhiệt độ cao. Do chịu ảnh
hưởng của biển, Hà Nội có độ ẩm và lượng mưa khá lớn.
Hà Nội nằm cạnh hai con sông lớn ở miền Bắc: sông Đà và sông Hồng.
Sông Hồng dài 1.183km từ Vân Nam (Trung Quốc) xuống. Ðoạn sông Hồng
qua Hà Nội dài 163km (chiếm khoảng 1/3 chiều dài trên đất Việt Nam,
khoảng 550km). Mạng lưới sông ngòi khá dầy đặc, khoảng 0,5km/km2. Nước
sông Hồng và sông Đuống chất lượng tương đối tốt, nhưng các sông khác bị
ảnh hưởng nhiều của chất thải sinh hoạt và công nghiệp.
Khoáng sản khá đa dạng và phong phú với khoảng 40 loại như than đá,
quặng kim loại, phi kim loại, vật liệu xây dựng…
Hạ tầng cơ sở
Hạ tầng cơ sở là một bộ phận cơ bản của kết cấu hạ tầng kinh tế- xã
hội có vai trò tạo điều kiện, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một nền
kinh tế hoặc một vùng. Đối với những đô thị lớn như Thành phố Hà Nội, sự
phát triển của hạ tầng cơ sở còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Với vị trí, vai
trò của Thủ đô cả nước theo Pháp lệnh Thủ đô, là trung tâm kinh tế, chính trị,
23
du lịch, thương mại và văn hoá, hạ tầng cơ sở của Thành phố còn có ý nghĩa
tiên phong so với các thành phố và các khu tập trung dân cư khác. Sự phát
triển hạ tầng cơ sở của Thủ đô Hà Nội được đặt trong bối cảnh mục tiêu phải
tiến kịp về trình độ tổ chức, quản lý đô thị so với các nước trong khu vực và
quốc tế. Sự phát triển của hạ tầng cơ sở còn có ý nghĩa quan trọng quyết định
việc đảm bảo tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế, giải quyết tốt các vấn
đề xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.
Hà Nội nằm trên châu thổ Sông Hồng là trung tâm của miền Bắc Việt
Nam là nơi hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi về kinh tế, văn hoá, thương mại
giao dịch quốc tế và du lịch.
Hệ thống mạng lưới giao thông đồng bộ bao gồm đường bộ, đường
sông, đường sắt và đường hàng không. Hà Nội là nơi thuận lợi để phát triển
các ngành công nghiệp. Các tập đoàn lớn như Canon, Yamaha Motor và hàng
trăm các nhà sản xuất hàng đầu của thế giới đã thành lập nhà máy tại đây.
Hà Nội có 2 cảng sông chính : cảng Khuyến Lương và cảng Phà Đen
cho phép tầu có trọng tải 2000-3000 tấn cập cảng; và sân bay quốc tế Nội bài
với 44 chuyến bay quốc tế và nội địa/ngày. Mỗi năm phục vụ 1,5 triệu lượt
khách. Nguồn cung cấp nước dồi dào và ổn định. Hà Nội sử dụng nguồn nước
từ sông Hồng và Sông Đuống. Nguồn nước mặt và nước ngầm tương đối dồi
dào. Chất lượng nước ngầm tốt đảm bảo nhu cầu về nước sinh hoạt và nước
phục vụ sản xuất công nghiệp.
Hệ thống điện ổn định: Mạng lưới điện đã được nâng cấp đảm bảo
nguồn cung cấp ổn định liên tục. Mạng lưới viễn thông được trang bị các thiết
bị hiện đại, tổng đài kỹ thuật số, cáp quang và đã hoà mạng với hệ thống viễn
thông toàn cầu.
Nhân lực