BỘ GIÁO VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
LÊ THỊ MINH
NGHIÊN CỨU THỬ NGHIỆM
CHẾ BIẾN RONG NHO TƯƠI BẰNG
PHƯƠNG PHÁP ƯỚP MUỐI
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
Mã số sinh viên : 51130912
Lớp : 51CBTP1
Cán bộ hướng dẫn : ThS. Nguyễn Thị Mỹ Trang
KHÁNH HÒA - 2013
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Đồ án này
Trước hết tôi xin gửi tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Nha Trang, Ban Chủ
nhiệm khoa Công nghệ Thực phẩm, Phòng Đào tạo niềm kính trọng, sự tự hào được
học tập tại Trường trong những năm qua.
Sự biết ơn sâu sắc nhất tôi xin được giành cho cô: ThS. Nguyễn Thị Mỹ
Trang - Bộ môn Đảm bảo Chất lượng và An toàn Thực phẩm - Trường Đại học Nha
Trang đã tài trợ kinh phí, tận tình hướng dẫn và động viên tôi trong suốt quá trình
thực hiện đồ án tốt nghiệp này.
Xin cám ơn: TS. Vũ Ngọc Bội - Trưởng khoa Công nghệ Thực phẩm,
ThS. Thái Văn Đức - Trưởng Bộ môn Công nghệ Thực phẩm và các thầy cô phản
biện đã cho tôi những lời khuyên quí báu để công trình nghiên cứu được hoàn thành
có chất lượng.
Đặc biệt xin được ghi nhớ tình cảm, sự giúp đỡ của: các thầy cô giáo trong Bộ
môn Công nghệ Thực phẩm và tập thể cán bộ - Phòng thí nghiệm Công nghệ Thực
phẩm, Phòng thí nghiệm Công nghệ Sinh học, phòng thí nghiệm Hóa sinh - Vi sinh,
Phòng thí nghiệm Công nghệ Chế biến - Trung tâm Thực hành Thí nghiệm - Trường
Đại học Nha Trang đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong
suốt thời gian tôi thực hiện đồ án này.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân và các bạn bè đã tạo điều kiện,
động viên khích lệ để tôi vượt qua mọi khó khăn trong quá trình học tập vừa qua.
Sinh viên thực hiện
Lê Thị Minh
i
MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC i
DANH MỤC HÌNH VẼ iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU iv
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN 2
1.1. TỔNG QUAN VỀ RONG BIỂN. 2
1.1.1. Giới thiệu chung về rong biển 2
1.1.2. Vai trò của rong biển. 3
1.1.3. Giới thiệu một số sản phẩm chế biến từ rong biển và ứng dụng. 5
1.1.4. Giới thiệu một số loài rong được sử dụng làm thực phẩm 6
1.2.TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU RONG BIỂN TẠI VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI 8
1.2.1. Tình hình nghiên cứu rong biển trên thế giới. 8
1.2.2. Tình hình nghiên cứu rong biển tại Việt Nam. 10
1.2.3. Tình hình sử dụng rong biển tại Việt Nam 11
1.2.4. Ứng dụng của rong biển. 12
1.3. GIỚI THIỆU VỀ RONG NHO 14
1.3.1. Đặc tính sinh học của rong nho 14
1.3.2. Tình hình nghiên cứu rong nho biển (C.aulerpa lentillifera) 18
1.4.TỔNG QUAN VỀ ƯỚP MUỐI 26
CHƯƠNG II. NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1. NGUYÊN VẬT LIỆU 28
2.1.1. Rong nho 28
2.1.2. Các nguyên liệu khác 28
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.2.1. Phương pháp phân tích hóa học 28
2.2.2. Các phương pháp phân tích vi sinh 28
ii
2.2.3. Các phương pháp đánh giá cảm quan 29
2.2.4. Phương pháp bố trí thí nghiệm 33
2.2.4.1. Quy trình sản xuất dự kiến 33
2.2.3.4. Bố trí thí nghiệm xác định các thông số kỹ thuật 34
2.3. DỤNG CỤ THIẾT BỊ CHỦ YẾU SỬ DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU 39
2.4. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 40
CHƯƠNG III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40
3.1. XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ THÍCH HỢP CHO QUY TRÌNH 40
3.1.1. Xác định nồng độ sorbitol bổ sung 40
3.1.1.1. Xác định thời gian ngâm sorbitol 40
3.1.1.2. Xác định nồng độ sorbitol sử dụng ngâm rong 41
3.1.2. Xác định tỷ lệ rong/dung dịch muối (g/ml) 43
3.1.3. Xác định thời gian ngâm rong 44
3.1.4. Xác định nồng độ dung dịch muối 46
3.1.5. Xác định điều kiện bảo quản 49
3.2. ĐỀ XUẤT QUY TRÌNH CHẾ BIẾN VÀ SẢN XUẤT THỬ SẢN PHẨM 52
3.2.1. Đề xuất quy trình chế biến rong nho tươi ướp muối 52
3.2.2. Sản xuất thử và sơ bộ tính chi phí nguyên vật liệu 54
3.3. ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG RONG MUỐI THEO THỜI GIAN BẢO QUẢN 56
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 59
I .KẾT LUẬN 59
II. ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
PHỤ LỤC 61
iii
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1. Hình ảnh về rong nho khi mới thu hoạch tại Cam Ranh – Khánh Hòa 15
Hình 1.2. Rong nho sau khi đã được ngắt bỏ thân bò 16
Hình 1.3. Hình ảnh rong nho biển (Caulerpa lentillifera) 20
Hình 1.4. Thịt cuốn rong nho 24
Hình 1.5. Salat rong nho 25
Hình 1.6. Chè rong Nho 25
Hình 2.1. Quy trình dự kiến sản xuất sản phẩm rong nho ướp muối 33
Hình 3.1. Ảnh hưởng của thời gian ngâm rong với sorbitol đến chất lượng rong sau
khi ngâm hồi phục 40
Hình 3.2. Ảnh hưởng của nồng độ sorbitol đến tổng điểm trung bình cảm quan của
rong nho ngâm sorbitol và bảo quản 15 ngày 42
Hình 3.3. Ảnh hưởng của tỷ lệ rong/dung dịch muối đến chất lượng rong sau ngâm 44
Hình 3.4. Ảnh hưởng của thời gian ngâm muối đến khối lượng rong nho còn lại sau ngâm 45
Hình 3.5. Ảnh hưởng của nồng độ muối đến tổng điểm cảm quan rong nho sau khi ngâm. 46
Hình 3.6. Hình ảnh rong nho ngâm muối ở các nồng độ sau 15 ngày 47
Hình 3.7. Hình ảnh rong nho ngâm muối bổ sung sorbitol sau 15 ngày bảo quản ở
nhiệt độ phòng 49
Hình 3.8. Ảnh hưởng của chế độ bảo quản đến tổng điểm trung bình cảm quan của
rong ngâm muối bảo quản ở các chế độ khác nhau 50
Hình 3.9. Rong nho ngâm muối bổ sung sorbitol bảo quản lạnh 25 ngày sau đó
ngâm phục hồi 51
Hình 3.10. Hình ảnh rong nho ngâm muối bổ sung sorbitol bảo quản ở nhiệt độ
phòng 25 ngày sau đó ngâm phục hồi 51
Hình 3.11. Hình ảnh sản phẩm rong nho muối có bổ sung sorbitol 53
Hình 3.12. Sơ đồ quy trình chế biến rong nho tươi ướp muối bổ sung sorbitol 54
Hình 3.13. Hình ảnh rong nho sau khi ngâm muối bảo quản 5 ngày ngâm hồi phục 57
Hình 3.14. Hình ảnh rong nho sau khi ngâm muối bảo quản 20 ngày ngâm hồi phục 58
Hình 3.15. Hình ảnh rong nho sau khi ngâm muối bảo quản 25 ngày ngâm hồi phục 58
iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Thành phần chính của rong Nho 23
Bảng 2.1. Tiêu chuẩn vi sinh đối với các sản phẩm thực phẩm dùng trực tiếp không
qua xử lý nhiệt trước khi sử dụng 29
Bảng 2.2. Phân cấp chất lượng của sản phẩm theo TCVN 3215-79 30
Bảng 2.3. Thang điểm cảm quan chuẩn 31
Bảng 2.4. Thang điểm cảm quan của rong sau khi ngâm hồi phục 32
Bảng 3.1. Ảnh hưởng của nồng độ sorbitol đến tổng điểm trung bình cảm quan của
rong nho ngâm sorbitol và bảo quản 15 ngày 42
Bảng 3.2. Sự thay đổi khối lượng rong theo thời gian ngâm 45
Bảng 3.3. Ảnh hưởng của nồng độ muối đến điểm cảm quan rong nho sau khi ngâm 47
Bảng 3.4. So sánh trạng thái của rong nho ngâm muối bảo quản lạnh và bảo quản ở
nhiệt độ thường 50
Bảng 3.5. Thông số kỹ thuật của quá trình ngâm rong nho 53
Bảng 3.6. Kết quả đánh giá cảm quan sản phẩm 54
Bảng 3.7 Bảng thành phần hóa học sản phẩm 55
Bảng 3.8. Kết quả kiểm tra vi sinh sản phẩm 55
Bảng 3.9. Tính chi phí nguyên vật liệu sản xuất sản phẩm rong nho tươi ướp muối
có bổ sung sorbitol 56
Bảng 3.10. Bảng đánh giá cảm quan rong theo thời gian bảo quản 57
1
MỞ ĐẦU
Rong nho (Caulerpa lentillifera) là một trong những loại rong mới được du
nhập và trồng ở Việt Nam trong mấy năm trở lại đây. Rong nho là loại rong có giá
trị dinh dưỡng cũng như giá trị kinh tế cao, trong thành phần rong nho có chứa
nhiều loại vitamin nhóm A, nhóm B, vitamin C. Đặc biệt trong rong nho còn chứa
Caulerpin giúp điều hòa huyết áp và tăng cường tiêu hóa. Vì thế, rong Nho được
người Nhật Bản gọi là “rau” của thế kỷ XXI. Hiện rong Nho đã được nuôi trồng với
quy mô công nghiêp tại Nhật Bản và Philippin. Nhu cầu rong nho trên thế giới ngày
càng tăng nhưng sản lượng rong nho tại Nhật Bản và Philippin chưa đủ để đáp ứng
nhu cầu trong nước của họ. Vì thế rong nho đã được một số nước trong đó có Việt
Nam du nhập về nuôi trồng và xuất khẩu trực tiếp sang Nhật Bản. Hạn chế của việc
xuất khẩu rong nho tươi là thời gian bảo quản của rong tươi rất ngắn chỉ khoảng 7
ngày đến 10 ngày. Vì vậy việc nghiên cứu tìm kiếm một phương pháp đơn giản để
bảo quản rong nho nhưng vẫn giữ được đặc tính của nó là cần thiết. Trước thực tế
đó em đã lựa chọn đề tài : “Nghiên cứu thử nghiệm chế biến rong nho (Caulerpa
lentillifera) bằng phương pháp ướp muối” dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn
Thị Mỹ Trang, TS. Vũ Ngọc Bội.
Mục đích của nghiên cứu: là tạo thử nghiệm bảo quản rong nho bằng phương
pháp ướp muối nhằm kéo dài thời gian lưu giữ rong nho mà rong vẫn giữ nguyên
được đặc tính của nó.
Nội dung của đề tài:
1) Xác định các thông số thích hợp cho quy trình chế biến rong nho tươi: Nồng
độ sorbitol, nồng độ muối, tỷ lệ dung dịch muối so với rong, thời gian ngâm, thích
hợp cho cho quy trình;
2) Đánh giá chất lượng của rong theo thời gian bảo quản;
3) Đề xuất quy trình sản xuất và sản xuất thử sản phẩm;
Do thời gian nghiên cứu có hạn nên bài báo cáo đồ án của em còn có những
hạn chế, em rất mong nhận được các ý kiến đóng góp từ quý thầy cô và bạn bè để
cho báo cáo thêm hoàn thiện.
Em xin chân thành cảm ơn.
2
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN
1.1. TỔNG QUAN VỀ RONG BIỂN.
1.1.1. Giới thiệu chung về rong biển [5].
Rong biển hay tảo biển có tên khoa học là Marine-algae, Marin plant hay
Seaweed. Rong biển là thực vật thủy sinh có đời sống gắn liền với nước. Chúng có
thể đơn bào, đa bào sống thành quần thể. Chúng có kích thước kính hiển vi hoặc có
khi dài hàng chục mét. Hình dạng của chúng có thể là hình cầu, hình sợi, hình phiến
lá hay hình thù rất đặc biệt. Toàn bộ cơ thể của chúng có chung một chức năng tự
dưỡng, sinh sản bằng bào tử, trong quá trình phát triển không qua giai đoạn phôi mà
chỉ có hợp tử, hợp tử có khả năng phát triển độc lập với cơ thể mẹ.
Tùy thuộc vào thành phần cấu tạo, thành phần sắc tố, đặc điểm hình thái, đặc
điểm sinh sản mà rong biển được chia thành các nghành khác nhau. Trong đó có 3
nghành có giá trị kinh tế cao là rong lục, rong nâu, và rong đỏ. Tuy nhiên, hiện nay
rong đỏ và rong nâu là hai đối tượng được nghiên cứu và khai thác với sản lượng
lớn được ứng dụng nhiều trong nghành công nghiệp và đời sống. Sản lượng hàng
năm các đại dương cung cấp cho trái đất 200 tấn rong các loại.
Rong biển thường phân bố ở các vùng nước mặn, nước lợ, cửa sông, vùng
biển sâu, vùng biển cạn… Rong đỏ và rong nâu là hai đối tượng được nghiên cứu
với sản lượng lớn và được ứng dụng nhiều trong các nghành ông nghiệp và đời
sống. Đối với rong lục thì loài tảo Chlorella được xếp vào loại kỳ diệu, có tốc độ
sinh trưởng cực nhanh, đang được nghiên cứu phục vụ cho đời sống con người.
Rong biển sống ở biển, hấp thụ một lượng thức ăn phong phú chảy trôi dạt từ
lục địa ra, rong có nhiều tính chất không khác thực vật trên cạn.
Giá trị công nghiệp của rong biển là cung cấp các chất keo quan trọng như :
Agar, alginate, carrageenan, furcellazan được dùng trong chế biến thực phẩm và
nhiều nghành công nghiệp khác.
3
Từ rong đỏ có thể chiết xuất ra các loại: Agar, carrageenan, furcellazan. Từ rong
nâu chiết xuất được agilic, alginate, laminarin, còn từ rong lục chiết xuất được pectin.
Giá trị dinh dưỡng của rong biển là cung cấp đầy đủ các khoáng chất đặc biệt
là các nguyên tố vi lượng, các acid amin cần thiết cho cơ thể, các carbohydrate đặc
trưng (mono-, olygo- và polysacaride), các loại vitamin (đặc biệt là thuộc nhóm A,
B, C,… và các hoạt tính sinh học (lecithin sterals, antibiotics,…) có lợi cho cơ thể
và có khả năng phòng chống bệnh (huyết áp, nhuận tràng, béo phì, đông tụ máu, xơ
vữa 2 động mạch…). Vì vậy, ngày nay rong biển được xếp vào loại thực phẩm chức
năng (functional food) được sử dụng rộng rãi trên thế giới.
Rong biển không những đươc áp dụng trong công nghệ thực phẩm mà nó còn
được ứng dụng trong y học. Rong biển có thể coi như là một dược liệu quý giá vì nó
có nhiều chất có khả năng phòng và chữa được một số bệnh cho người và gia súc,
gia cầm.
Chúng ta đang tiêu thụ một lượng thực phẩm lớn có tính acid (rau xanh, loại
đậu hạt …) nên việc tận dụng thức ăn từ rong biển là một hướng tất yếu.
1.1.2. Vai trò của rong biển.
Đối với thế giới tự nhiên rong biển có một vai trò quan trọng, nó là tác nhân
chính hấp thụ CO
2
và thải O
2
điều hòa không khí trong khí quyển giữ được nhịp
sống bình thường (ví dụ: Diện tích biển đại dương: 361 × 10
6
km
2
gấp hơn 2 lần
diện tích của lục địa). Hằng năm các loại rong biển (gồm Phytoplanton và
Macroalgae) tổng hợp ra 13,5 ×10
10
tấn chất hữu cơ trong khi sinh vật lục địa tổng
hợp ra 1,9 × 10
14
tấn.
Chính vì hấp thụ CO
2
và nhả O
2
của chúng đã góp phần vào việc làm sạch môi
trường. Ngoài ra, rong biển phân bố chủ yếu ở vùng thềm lục địa chính vì thế khi
rong biển phát triển tạo thành vành đai vững chắc bảo vệ sự tàn phá và tác động lớn
của sóng gió. Bên cạnh đó, nơi rong biển phân bố thường là nơi trú ngụ và sinh
sống của nhiều loài sinh vật biển như động vật thân mềm, da gai, chân khớp, cá….
4
Tuy vậy, bên cạnh đó khi rong biển phát triển mạnh ảnh hưởng lớn trong quá
trình giao thông khai thác trên biển và sự ôi nhiễm môi trường khi mùa rong tàn lụi.
Trong thế giới rong biển có một số ít loài là tác nhân gây hại cho nuôi trồng hải sản
như: Eetocarpus, Caulerpa Taxifolia, Enteromophu Clathrata….
Đối với nền kinh tế biển có thể nói rằng không có rong biển sẽ không có kinh
tế biển, toàn bộ chu trình tuần hoàn vật chất sẽ bị ngừng trệ, sẽ không có sinh vật
biển dẫn đến đại dương sẽ trở thành thủy mạc.
Rong biển là kho chứa tổng hợp to lớn, lâu bền gồm Thực phẩm, thuốc chữa
bệnh, nguyên liệu cho công nông nghiệp.
Giá trị dinh dưỡng của rong biển là cung cấp đầy đủ các chất khoáng đặc biệt
là các nguyên tố vi lượng, các acid amin cần thiết cho cơ thể, các loại vitamin (đặc
biệt là các vitamin thuộc nhóm A, B, C, E…), các Carbohyrate đặc trưng (mono-,
olygo- và polysacaride) và các chất hoạt tính sinh học (lectin, sterols, antibiotics,
…) có lợi cho cơ thể và khả năng phòng bệnh tật (huyết áp, nhuận tràng, sơ vữa
động mạch…).
Dưới góc độ y học, rong biển là một thực phẩm dưỡng sinh tốt, thường được
dùng phối hợp trong thực đơn của người béo phì, người đái tháo đường do thành
phần alga alkane mannitol cho một lượng calo rất thấp, làm thực phẩm cho người
tăng huyết áp nhờ khả năng chống vón tiểu cầu, cung cấp Iot cho người suy tuyến
giáp, cung cấp canxi cho trẻ còi xương. Gần đây, nhiều nhà khoa học Nhật Bản cho
rằng rong biển có khả năng chống phóng xạ và thải độc. Vì vậy, ngày nay rong biển
được xếp vào thực phẩm chức năng (Functional food) và ngày càng được sử dụng
rộng rãi khắp thế giới. Các polysaccharide từ rong biển coi là những hợp chất hữu cơ
không thể thay thế trong nhiều lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, công nghiệp sinh
học, nghiên cứu khoa học,…
5
1.1.3. Giới thiệu một số sản phẩm chế biến từ rong biển và ứng dụng.
Rong biển là loại thủy sinh chiếm vị trí quan trọng trong lĩnh vực kinh tế Việt
Nam. Rong biển được sử dụng để sản xuất các loại rong quan trọng như : Agar,
Carrageenan, Furcellazan, Alginate và nhiều hợp chất khác. Các sản phẩm này được
ứng dụng vào nhiều lĩnh vực như : Công nghiệp, nông nghiệp, Y dược…
A. Alginate
Alginate là muối của acid Alginate. Muối Alginate kim loại hóa trị dễ hòa tan
trong nước, tạo dung dịch keo nhớt, có độ dính cao, độ nhớt cao, khi khô trong suốt
có tính đàn hồi.
Muối Alginate kim loại hóa trị II thì không tan trong nước, khi ẩm thì dễ uốn
hình, khi khô rất cứng, khó thấm nước, nhờ tính chất này mà Alginate có nhiều ứng
dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
- Công nghiệp dệt (50%): Alginate có độ nhớt cao, tính mao dẫn kém, khi khô
thì trong suốt, bóng và có tính đàn hồi tốt. Vì thế, người ta dùng để hồ vải cho sợi
bền và nâng cao hiệu suất dệt.
- Công nghiệp giấy: Alginate hồ lên giấy làm cho giấy bóng, dai, mức độ khô
nhanh. Đặc biệt khi hồ giấy bằng Alginate Natri còn làm tăng tính chịu nóng của giấy.
- Ứng dụng trong tơ nhân tạo:
Dung dịch Alginate Natri phun qua lỗ nhỏ vào muối kim loại hóa trị II hay
acid thì hình thành sợi tơ. Tơ nhân tạo Alginate tương đối bền.
- Ứng dụng trong Y học và Dược học:
Trong dược học Alginate làm tăng hiệu quả chữa bệnh của penicillin.
Trong công nghệ bào chế thước Alginate Natri được sử dụng làm chất ổn định,
chất nhũ tương hóa, hay chất tạo đặc cho dung dịch.
Trong nha khoa dùng Acid Alginate để làm khuôn răng.
- Ứng dụng trong công nghệ thực phẩm:
Acid Alginate có thể làm chất ổn định trong sản xuất kem.
6
Alginate Natri 1 % dùng để làm trong rượu khi tinh chế.
Alginate Natri còn được dùng trong một số lĩnh vực khác như công nghệ mỹ
phẩm, thủy sản…
B. Agar.
Agar là chất kết tinh không định hình, không màu, hút nước trương nở không
tan trong nước lạnh và nước ấm. Hòa tan trong nước nóng, khi làm nguội thì đông
lại tạo gel khối có tính đàn hồi.
Agar được dùng trong nhiều lĩnh vực thực phẩm và một số nghành công
nghiệp khác.
Trong thực phẩm Agar dùng để sản xuất mứt kẹo, xúc xích, đông xương,
thạch giải khát…
C. Carrageenan.
Carragenan có tính chất tạo gel đông giống như agar nhưng sức đông kém
hơn. Tuy nhiên, trong môi trường có nhiều canxi thì sức đông tăng lên rất lớn.
Carragenan cũng có nhiều ứng dụng trong nhiều lĩnh vực.
Carragenan được dùng trong sản xuất bánh mì, bơ sữa, đồ hộp uống, mạ băng
cho các sản phẩm đông lạnh.
Carragenan còn được dùng để chế tạo viên thuốc chữa loét dạ dày vì nó có khả
năng cố định pepsin bảo vệ vết loét chóng lành.
1.1.4. Giới thiệu một số loài rong được sử dụng làm thực phẩm.
Theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia, nhiều loài rong biển có thể làm thức
ăn cho người, ở Việt Nam thường được dùng nhiều nhất là rong câu, rong mứt, rong
sụn. Trước đây rong biển được khai thác trong tự nhiên; Từ thập niên 1960 ở nhiều
nước châu Á như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc…người ta đã trồng rong biển
để làm lương thực.
Theo tổ chức Lương nông Liên Hiệp Quốc (FAO), từ sản lượng rong biển năm
1960 chỉ 150.000 tấn đến nay đã tăng lên đến 1,6 triệu tấn mỗi năm.
Rong biển ngày càng được sử dụng làm thực phẩm rộng rãi. Hàng năm tổng
giá trị sản lượng rong biển trên thế giới đạt khoảng 5,5 ÷ 6 tỷ USD, trong đó sản
7
lượng rong sử dụng làm thực phẩm chiếm 5 tỷ USD. Nhu cầu rong làm thực phẩm ở
Châu Á chiếm 90% toàn thế giới, còn ở Châu Âu chỉ chiếm 1 %. Các nước tiêu thụ
rong lớn nhất là : Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc chiếm 70 ÷ 90 nghìn tấn /năm.
Hằng năm, Mỹ chiếm 10 triệu USD nhập các sản phẩm rong biển mà phần lớn để
làm thực phẩm cho người ăn kiêng.
Rong biển rất giàu dinh dưỡng. Ngoài thành phần đạm rất cao rong biển còn
chứa nhiều khoáng chất, các yếu tố vi lượng và Vitamin, trong đó nổi bật là iot (yếu
tố vi lượng cần thiết cho tuyến giáp), canxi với hàm lượng cao hơn trong sữa,
Vitamin A cao gấp 10 lần trong bơ, vitamin B2 gấp 7 lần trong trứng, Vitamin C, E
cao gấp nhiều lần trong rau quả.
Rong biển là thức ăn được ưa chuộng ở Nhật Bản và Trung Quốc kể từ thời tiền
sử. Vào năm 600 trước công nguyên, Sze Teu ở Trung Quốc viết rằng: Một số rong
biển là món cao lương thích hợp cho hầu hết các vị khách quí, ngay cả với chính nhà
vua. Có khoảng 21 loài được sử dụng trong nấu ăn hằng ngày ở Nhật Bản. Rong biển
chiếm khoảng 10% thực đơn của người Nhật, và việc tiêu thụ rong biển đạt đến mức
trung bình là 3,5 kg/hộ vào năm 1973, và tăng 20% trong vòng 10 năm. Loài thực
phẩm quan trọng nhất ở Nhật Bản là Nori (Porphyra), Kombu (Laminaria) và
Wakame (Undaria pinnatifida). Với rong biển người Nhật tạo món ăn nori, người Hàn
Quốc tạo món kim hay gim, người hoa với món pinyin….Ở Việt Nam có nhiều món ăn
đặc sản được chế biến từ rong biển: Gỏi rong biển, nộm rong câu, canh rong biển, rong
biển xào tôm thịt, rong biển hầm sườn non, rong biển chiên…
Ở phương tây, rong biển chủ yếu được nói đến như một loài thức ăn bồi bổ
sức khỏe, mặc dù người ta đã quan tâm đến rong biển như một loài thực phẩm trong
vòng 20 năm nay. Loài rong thực phẩm này cũng được sử dụng ở Ireland và
Scotland trong một thời gian dài.
Ở Việt Nam, thường gặp 2 loài Porphyra: Rong mứt hoa P.crispata Kjell và
rong mứt Việt Nam. Gần đây, rong biển nhất là rong mứt cũng được người dân khai
thác làm thức ăn nhiều hơn.
8
Rong sử dụng làm thực phẩm được ưa chuộng nhất trên Thế Giới là 3 chủng loại:
Lamiraria (Ljaporia), Porphyra (Pyzoenris), rong mứt, Urdaria (Undaria Pinnatifida). Các
loại rong làm thực phẩm có giá trị cao gấp hàng chục lần rong dùng trong công nghiệp.
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU RONG BIỂN TẠI VIỆT NAM VÀ
TRÊN THẾ GIỚI.
1.2.1. Tình hình nghiên cứu rong biển trên thế giới.
Rong biển hay tảo biển đã được nghiên cứu từ rất sớm ở các nước trên thế
giới. Nhưng việc ứng dụng các nghiên cứu được bắt đầu từ sau chiến tranh thế giới
thứ II. Hiện nay, Nhật Bản là nước đi đầu ở khu vực Châu Á cũng như trên thế giới
về việc nghiên cứu rong biển. Các nước Châu Á khác như Hàn Quốc, Trung Quốc
cũng có nhiều nghiên cứu về di truyền và chọn lựa các giống có sức chống chịu cao.
Các nước Âu - Mỹ chú trọng nghiên cứu sử dụng sản phẩm tinh chế từ rong biển
trong các lĩnh vực công nghiệp.
Từ những năm 1870, rong biển đã được quan tâm, người ta điều chế xà phòng
từ các chất K
2
0, Na
2
0 lấy từ rong biển (rong nâu), nền công nghiệp rong phát triển
từ đó. Nhưng khi công nghiệp chế biến xút (NaOH) ra đời, người ta dùng xút để
điều chế xà phòng thay cho K
2
0, Na
2
0, nền công nghiệp chế biển rong biển giảm
xuống từ đó.
Năm 1812, người ta phát hiện trong rong nâu có chứa Iot, từ đó người ta dùng
nguyên liệu rong nâu để điều chế Iot. Vì vậy, công nghiệp chế biến rong biển lại
phát triển ở các nước châu âu. Đến năm 1872, Na Uy tìm thấy Iot trong khoáng sản,
lượng Iot ở đây nhiều, dễ lấy, giá thành hạ. Từ đó, người ta không dùng rong nâu để
điều chế Iot nữa, công nghiệp chế biến rong biển lại bị giảm sút. Ngày nay, người ta
phát hiện rằng Iot trong rong biển có giá trị sinh học, dược học cao bởi lẽ Iot hữu cơ
rất có giá trị dược học với con người. vì thế, nó đang được ứng dụng nhiều trong
thực phẩm và dược phẩm.
9
Từ năm 1914 – 1915, Mỹ, Đức dùng rong nâu để điều chế KCl, than hoạt tính,
kỹ nghệ rong biển lại phát triển ở các nước này. Vài năm sau, năm 1921 người ta
tìm thấy nguyên liệu có thể thay đổi rong biển.
Năm 1930, công nghệ chế biến các chất như: Alginate, Mannitol, Agar phát triển
mạnh và ngày càng ứng dụng nhiều trong thực tế. Từ đó đến nay chế biến rong biển vấn
đang trong thời kỳ phát triển mạnh, đặc biệt là các nước Nhật Bản, Trung Quốc [5].
Nhật Bản là nước có các nhà khoa học có trình độ chuyên môn cao trong việc
phân loại rong, các nhà khoa học Nhật Bản là người đầu tiên đề xuất cho việc sắp
xếp theo hệ thống trong phân loại rong của chi GacilariaI (Yamamoto, 1978), chi
Prionotis (Halymeniaceae) (Kawaguchi, S, 1989), bộ Fucales (Yoshida, T, 1983),
bộ Gigartinales ( Masuda, M, 1997). Ở Trung Quốc, có một số công trình nghiên
cứu của T. Seng C, K…, Zhang junfu, Xi Bang mei… về các loại rong biển.
Sử dụng rong biển làm thực phẩm được bắt đầu từ Nhật Bản từ đầu thế kỷ IV
và ở Trung Quốc thế kỷ thứ VI. Hiện nay, hai quốc gia này cùng với Hàn Quốc là
những nước tiêu thụ rong biển thực phẩm lớn nhất. Nhu cầu đó chính là cơ sở cho
việc phát triển một nghề nuôi trồng thủy sản. Hàng năm sản lượng thu hoạch rong
của toàn thế giới khoảng 6.000.000 tấn rong tươi với giá trị lên tới 5 tỷ đô la Mỹ.
Do nhu cầu tiêu dùng rong không ngừng tăng lên trong những năm gần đây
dẫn đến nguồn lợi rong tự nhiên không thể đáp ứng, vượt quá khả năng. Vì vậy, từ
thập niên 1960 ở nhiều nước châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc người
ta đã tiến hành trồng rong nho biển làm lương thực. Theo tổ chức lương nông Liên
Hiệp Quốc (FAO), từ sản lượng rong biển năm 1960 chỉ đạt 150.000 tấn đến nay đã
tăng lên 1,6 triệu tấn mỗi năm.
Vào những năm của thập kỷ 1960, Na Uy đã đi tiên phong trong việc sản xuất
bột rong biển, làm từ rong nâu được sấy khô và nghiền thành bột.
10
Ở châu Á: Trung Quốc, Nhật Bản là những quốc gia dẫn đầu của châu Á cũng
như thế giới trong nghiên cứu, sản xuất và tiêu thụ rong biển. Trong khu vực Đông
Nam Á, Indonesia và philippin hiện chiếm vị trí hàng đầu [6].
1.2.2. Tình hình nghiên cứu rong biển tại Việt Nam.
Việt Nam có khoảng 638 loài rong biển đã được định loài. Trong số đó 316
loài xuất hiện ở vùng biển phía bắc, 484 loài ở vùng biển phía nam và 156 loài phát
hiện thấy từ bắc vào nam [5].
Nghiên cứu phân loại rong biển ở Việt Nam có một lịch sử lâu đời. Sự ra đời
của Viện Hải Dương Học Nha Trang đã thúc đẩy việc nghiên cứu phân loại rong
biển theo hướng được tổ chức hoàn hảo hơn so với trước đó. Cùng với việc nghiên
cứu về thành phần loài là các nghiên cứu về đặc tính sinh thái, nguồn lợi như mùa
vụ, phân bố, trữ lượng và các nghiên cứu về nuôi trồng…,chế biến nhằm cung cấp
các dữ liệu làm cơ sở cho việc nuôi trồng, khai thác, bảo vệ và sử dụng hợp lý
nguồn tài nguyên rong biển. Mặt khác, rong biển còn là đối tượng được quan tâm
nghiên cứu trong việc xử lý ôi nhiễm môi trường vì nó có khả năng hấp thụ mạnh
các chất dinh dưỡng trong môi trường do đặc điểm sinh sản và phát triển nhanh
chóng của nó.
Nghiên cứu sinh học rong biển phục vụ nuôi trồng được bắt đầu vào những
năm đầu thập kỷ 1960 với sự ra đời của các trạm tiền thân của Viện Nghiên cứu Hải
Sản Hải Phòng và phân Viện Hải Dương Học sau này.
Năm 1970, Loureiro đã công bố lần đầu tiên các nghiên cứu về hệ rong biển
Việt Nam….Từ đó cho đến năm 1956, việc điều tra rong biển Việt Nam hầu hết do
các nhà khoa học nước ngoài thực hiện và kết quả của nó chỉ mang tính chất lẻ tẻ,
góp mặt. Từ năm 1956, Hải Học Viện Nha Trang (nay là Viện Hải Dương Học Nha
Trang) và năm 1963 ở Viện Nghiên cứu Biển Hải Phòng, công tác điều tra nghiên
cứu rong biển mới do chính các nhà khoa học Việt Nam thực hiện và thu được
những kết quả đáng kể.
11
Từ năm 1954 – 1975, ở giai đoạn này đất nước có chiến tranh nên công tác
nghiên cứu khoa học nói chung bị ảnh hưởng.
Ở miền Bắc, đáng kể nhất là công trình của tập thể các tác giả Nguyễn Hữu
Dinh và cộng sự (công bố năm 1993). Các tác giả đã phát hiện và phận loại được ở
các tỉnh miền Bắc Việt Nam: 310 loài rong; 5 biến loài (varietas), 8 dạng (forma),
trong đó có 4 loài, 1 biến loài và 3 dạng mới cho khoa học.
Ở miền Nam, Phạm Hồng Ngộ đã phân loại và mô tả được 480 loài, 21 biến
loài và 10 dạng, trong đó có 34 loài, 46 biến loài và 4 loại rong nho khoa học. Mặt
khác, giáo sư cũng quan sát và mô tả phân bố cũng như mùa vụ của các nhóm rong
mọc trên các bãi triều đá ven biển miền Nam Việt Nam.
Giai đoạn từ năm 1975 cho đến nay, một số tác giả như Nguyễn Hữu Đại,
Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Hữu Dinh, Đàm Đức Tiến, Phạm Hữu Trí, Lê Như Mậu
đã nghiên cứu cập nhật tên khoa học nghiên cứu phân loại rong biển Việt Nam.
Nhiều loại mới đã được công bố trên tạp chí trong nước và thế giới. Các nghiên cứu
của các tác giả cho thấy: Rong biển thường sinh trưởng và phát triển tốt trong điều
kiện môi trường ở vùng triều và vùng nước lợ [8].
1.2.3. Tình hình sử dụng rong biển tại Việt Nam.
Hiện nay, có gần 20 loài rong biển kinh tế được khai thác ở nước ta. Trong đó,
những loài rong được khai thác để chiết xuất agar là : Gracilaria, Gelidiella…, rong
được chiết xuất alginate là rong mơ sargassum… một số loài rong được khai thác
để làm thực phẩm như Gracilaria, Porphyra…
Từ lâu rong biển Việt Nam đã được ứng dụng làm thực phẩm: Rong câu
Gracilaria, rong mứt Porphyra, rong đông Hynea, rong gạo Gigartina….Các món
ăn được chế biến từ rong biển như nộm, chè, thạch, muối dưa, ăn tươi, nấu
canh…Ngoài ra, rong biển còn có thể được sử dụng làm thức ăn cho gia súc, làm
phân bón.
12
Tuy nhiên, việc khai thác rong biển ở nước ta vẫn còn mang tính tự phát, ở
nhiều nơi do chạy theo lợi ích kinh tế trước mắt mà con người đã tàn phá nghiêm
trọng các nguồn lợi thủy sản [8].
1.2.4. Ứng dụng của rong biển.
Rong biển có một số ứng dụng sau:
● Làm thực phẩm cho con người:
Rong biển là thức ăn được ưa chuộng ở Nhật Bản và Trung Quốc kể từ thời
xa xưa. Chúng có giá trị rất cao: Rong giấy (monostroma) có giá trị 20 – 30USD/kg
rong khô, rong mứt (porphytaI) : 25 USD/kg. Loại thực phẩm quan trọng ở Nhật
Bản là Nori (porphyta), kombu (laminnaria) và wakame ( undaria pinnatifida).
Rong được phơi khô sau khi thu hoạch hoặc cắt thành từng dải hoặc nghiền
thành bột, chúng được dùng trong chế biến món thịt, súp và được dùng làm rau khi
ăn cơm, ở dạng bột rong bẹ được đưa vào trong nước sốt hoặc nêm giống như cà- ri.
Một số khác được sử dụng làm thức uống giống như trà.
Nhờ các tính chất vật lý của mình, rong được chế biến cùng với đậu, nhiều loại
ngũ cốc và rau quả khác thành các món ăn đặc sắc ở dạng tự nhiên hay qua sơ chế.
Rong được sử dụng làm phụ gia trong các món ăn chế biến từ cá, giáp xác, nhuyễn
thể, giò chả, đồ uống.
Rong thực phẩm được ưa chuộng nhất gồm 3 chủng loại là Laminaria
(L.japorica), Porphyra (P.yezoensis, P.tenera, ta còn gọi là rong mứt) và Undaria
(U.pinnatifida). Các loại rong thực phẩm chủ yếu được sản xuất tại các Viễn Đô (
Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc), và được tiêu thụ chủ yếu cũng tại các nước này,
một số nước Đông Nam Á và một số nước phương Tây nơi có nhiều người châu Á
sinh sống (chẳng hạn, riêng rong Porphyra, hàng năm Mỹ nhập vào 10 triệu USD).
Rong bẹ, rong nâu Undaria Pinnatifida được biết đến dưới tên “wakame” cũng
được phơi khô để dành. Sau khi rửa sạch bằng nước ngọt sẽ được ngâm lại trong
nước khi cho vào súp như là một chất phụ gia (súp wamke là món ăn hằng ngày ở
Nhật) hay nướng (Yaki – Wamke), dùng ngay với cơm, tấm đường hoặc đóng hộp
(Ito – Wamke).
13
Nori (porphyta spp) (rong mứt) là loại rong thuộc nghành rong đỏ được bán
thành bánh mỏng để cho vào nước sốt hay xúp, nhưng đôi khi chỉ cần nhúng qua
nước sôi ăn sống.
Rong mứt được mua vào chế biến với các món ăn khác nhau với thịt cá như
nấu canh, xào… hay nấu chè giải khát. Các loại rong Gracilaria, Gigartina, Veden,
Chondrus, có giá trị thực phẩm thấp hơn rong Porphyra và Rhodymenia. Chúng
được sử dụng rộng rãi ở phương Đông, Nam Mỹ dưới 3 dạng: Ăn tươi, ngâm dấm
và nấu chín, làm bánh kẹo, nấu canh, ….Các nước Tâu Âu dùng bột rong đỏ khô để
sản xuất “ laver-bread” bánh mì rong với nhiều dạng và loại chất khác nhau.
Bánh làm bằng rong biển (chủ yếu từ các loại rong là porphyta diocica và
P.purpurea) có hàm lượng calori thấp thích hợp cho những người ăn kiêng.
● Trong lĩnh vực dược phẩm:
Từ digenea (Caramiales; Rhodophycota) sản xuất ra một loại thuốc giun có
hiệu quả (kainic acid). Laminaria và Sargassum đã từng được sử dụng ở Trung
Quốc để trị bệnh ung thư. Trong rong đỏ (Ptilota) có một loại protein đặc biệt
(lectin) có khả năng ngưng kết với hồng cầu nhóm máu. Vì vậy, người ta cho rằng
rong đỏ (Ptilota) có khả năng chống ung thư. Vì vậy, các chiết xuất của Ptilota đã
được tung ra thị trường.
- Các loại rong biển có vị mặn là vật liệu có thể phân tán tích tụ đờm dãi, đặc
biệt khi nó tạo ra khối lượng mềm gồm có bướu cổ (goiter), sưng tuyến giáp chỉ dấu
tình trạng thiếu iodine nghiêm trọng.
- Mặt khác rong biển cũng có chưa nhiều chất kháng sinh. Từ xa xưa người ta
tìm hiểu và nhận thấy rằng thực quản của động vật ăn rong thường vô trùng. Do đó
một số rong được dùng để chế tạo thuốc kháng sinh như Ulva cho domoic acid
codium fragile cho vermifuge.
● Trong công nghiệp:
Giá trị công nghiệp của rong biển là cung cấp chất keo rong quan trọng như
Agar, Alginate, Carrageenan, Furcellazan dùng cho thực phẩm và nhiều nghành
công nghiệp khác.
14
Các loại keo rong biển là các loại polysaccharide có tính keo khi hòa tan trong
nước, được chiết xuất từ rong biển. Keo rong biển được dùng trong các lĩnh vực
khác nhau tùy thuộc vào tính chất lý học của nó. Từ rong đỏ có thể chiết xuất được
các loại keo: Agar, Carrageenan, Furcellanan. Từ rong nâu chiết xuất được: Alginic,
Alginate, Laminarin, còn từ rong lục chiết suất được Pectin.
Ngoài ra, rong biển còn lại là một thành phần trong thức ăn gia súc, chúng
được xay nhỏ, trộn vào thức ăn là bởi vì ngoài glucide, protein chúng còn cung cấp
cho gia súc nhiều yếu tố vi lượng cần thiết giúp tăng trọng, tiết sữa, đẻ trứng, sinh
nhiều con.
Việc sử dụng rong biển làm phân bón được thực hiện trong nhiều năm qua ở
nhiều nước như Pháp, Anh, Đan Mạch, Mỹ, Canada, Nhật…hoặc dùng rong biển
như là chất ổn định đất do có tính ngậm nước mà kết dính. Các chất chiết xuất dạng
lỏng của rong biển được dùng để tăng sản lượng cây trồng, giúp cây trồng chống
chịu tốt hơn so với các điều kiện bất lợi và giảm thất thoát khi bảo quản.
Ngoài ra, rong biển còn được dùng ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu sinh học.
Rong tảo nuôi trồng công nghiệp cho sản lượng biodiesel cao gấp 7 lần so với
dầu cọ trong điều kiện quảng canh, và đến 31 lần khi được thâm canh, đạt đến 95.000
lít dầu trên mỗi hecta mặt nước. Điều này mở ra một hi vọng về một nguồn năng
lượng mới, sạch thay thế dầu mỏ có trữ lượng giới hạn và gây ô nhiễm môi trường
(Hoàng Xuân Phương, Hội thảo về sản xuất nhiên liệu sinh học Viện khoa học Công
nghệ Việt Nam).
1.3. GIỚI THIỆU VỀ RONG NHO
1.3.1. Đặc tính sinh học của rong nho.
Rong nho (Caulerpa Lentillifera) thuộc họ Caulerpaceae, dùng làm rau rất bổ
dưỡng. Người Anh gọi nó là trứng cá xanh (green caviar), người Nhật Bản gọi nó là
nho biển (Umibudo). Rong nho có hình dạng giống trứng cá nhưng có màu xanh và
mọc thành từng chùm trong nước biển như chùm nho. Rong nho có vị mặn lạ
miệng, đặc trưng hương biển, lại giàu vitamin A, E, khoáng chất… và là một loại
dược liệu quý cho sức khỏe và sắc đẹp [12].
15
Rong nho có màu xanh đậm, gồm có phần thân bò chia nhánh có hình trụ tròn,
đường kính 1- 2 mm. Trên thân bò mọc ra nhiều thân đứng, trên thân đứng mọc ra
nhiều nhánh nhỏ, tận cùng là các khối hình cầu (ramuli), giống quả nho, đường kính
1,5- 3 mm, mọc dày kín xung quanh các thân đứng. Đây là phần có giá trị sử dụng.
Trên thân bò có nhiều “rễ giả’ phân nhánh thành chùm như long tơ, bám sâu vào
đáy bùn. Cách sinh sản chủ yếu của rong nho là sinh sản sinh dưỡng.
Rong nho là một loại rong sống ở vùng biển ấm, nhiệt độ thích hợp cho sự
phát triển của chúng khoảng 25-30
0
C. Nhiệt độ thấp hơn sẽ làm cây rong phát triển
chậm hoặc ngừng tăng trưởng. Vì vậy, trong môi trường giàu dinh dưỡng rong phát
triển mạnh và như thể dòng chảy nhẹ, rong sống bò trên nền đáy hoặc cài quấn vào
rong khác, nhưng trong nuôi trồng có thể dùng giàn treo. Phương pháp này hiện nay
được sử dụng rất phổ biến ở các cơ sở nuôi trồng rong nho [8].
● Phân bố
Rong nho biển (Caulerpa Lentillifera) là loại rong lục phân bố ở vùng biển ấm
Thái Bình Dương như: Philippin, Java (Indonesia), Micronesia… Trong những
vùng biển này thường là những vũng, vịnh kín sóng, nước trong, nền đáy bằng
phẳng. Rong nho thường phân bố từ vùng triều thấp đến sâu 8m, tuy nhiên lại
Bikini (Micronesia) do nước rất trong chúng phân bố sâu đến 40m [12].
Hình 1.1. Hình ảnh về rong nho khi mới thu hoạch tại
Cam Ranh – Khánh Hòa.
16
Hình 1.2. Rong nho sau khi đã được ngắt bỏ thân bò
● Đặc tính sinh lý:
+ Môi trường sống:
Khi khảo sát môi trường của vịnh Yonaha (Nhật Bản), nơi rong phát triển
mạnh cho thấy rong mọc trên trầm tích cát hoặc cát bùn ở giữa và chung quanh
vịnh, phân bố đến vùng sâu khoảng 8m.
Phân tích tổng hàm lượng các hỗn hợp nitơ vô cơ (NH
4
, NO
3
,
NO
2
) và những
chất dinh dưỡng vô cơ khác tại vịnh này cũng cao hơn hai lần so với những vùng có bãi
đá ngầm và san hô ở các vùng khác. Hàm lượng các chất dinh dưỡng chính là yếu tố
quan trọng đầu tiên cho việc phát triển của rong nho. Một số yếu tố môi trường khác
thích nghi cho loại rong này khá hẹp, độ mặn thay đổi từ 30 – 35 ‰, nhiệt độ nước
biển hạ thấp 20
0
C chúng sẽ tăng trưởng chậm hoặc ngừng tăng trưởng.
+ Mùa vụ:
Từ tháng 6 tới tháng 10 chính là mùa vụ tăng trưởng của rong nho biển. Cùng
với sự tăng lên của nhiệt độ nước, tốc độ tăng trưởng của rong bắt đầu tăng nhanh
vào tháng 3 và kéo dài đến tháng 10. Qua tháng 11 nhiệt độ nước bắt đầu giảm dần
thì tốc độ tăng trưởng của rong nho cũng chậm dần và dừng lại. Tuy nhiên tại vịnh
17
Yonaha chúng có thể sống qua suốt mùa đông và phân bố dọc theo eo biển (độ sâu
2 – 8 m), do nhiệt độ ở đây nước ấm lên vào mùa đông vì có những dòng nước ấm
từ ngoài vịnh đưa vào nhờ chế độ thủy triểu.
+ Sinh sản:
Theo Trono và Ganzon – Fortes, 1988 rong nho biển sinh sản bằng cả hai
hình thức là sinh sản hữu tính và sinh sản sinh dưỡng, nhưng chủ yếu bằng hình
thức sinh sản sinh dưỡng.
- Sinh sản sinh dưỡng:
Tất cả các bộ phận dinh dưỡng của rong đều có thể phát triển thành cây rong
mới. Trong hình thức sinh sản sinh dưỡng của rong nho thì phần thân bò sẽ mọc dài
ra, phân nhánh và mọc ra các thân đứng. Từ thân đứng mọc ra các nhánh nhỏ hình
cầu (Ramuli) có đường kính khoảng 2mm, màu xanh lục. Trong công nghệ nuôi
trồng người ta có thể cất giữ số lượng lớn những quả cầu nhỏ này để làm giống vì
những nhánh nhỏ hình cầu này cũng có thể tái sinh lại toàn bộ thành một cây rong
mới. Cách sinh sản sinh dưỡng từ những quả cầu nhỏ của rong nho sử dụng, thao
tác dễ dàng, ít tốn kém và nhất là có hiệu quả cao nên đã được áp dụng rất rộng rãi.
Sau khi được trồng bằng hình thức sinh sản sinh dưỡng từ các nhánh rong nho đã bị
cắ khúc, rong sẽ phát triển và có thể đạt tốc độ tăng trưởng chiều dài khoảng
2cm/ngày trong điều kiện thuận lợi.
- Sinh sản hữu tính:
Từ mùa xuân đến mùa hè hàng năm là thời tiết ấm áp, khi đó sự sinh sản hữu
tính của rong nho xảy ra. Các tế bào sinh dưỡng ở vùng vỏ của các nhánh nhỏ hình
cầu (ramuli) tích lũy đầy chất dinh dưỡng, chúng biến thành các tế bào sinh sản đực
và cái hay còn gọi là giao tử đực và cái, có 2 roi (bi – flagellate) có thể bơi lội
được. Các giao tử này được phóng thích vào môi trường nước. Chúng kết hợp với
nhau để tạo thành hợp tử. Hợp tử của rong sẽ bám trên sỏi, đá, mảnh vụn san hô
hoặc trầm tích và nảy mầm phát triển thành cây rong mới.
18
1.3.2. Tình hình nghiên cứu rong nho biển (Caulerpa lentillifera) trên thế
giới và Việt Nam.
* Tình hình nghiên cứu rong nho biển trên thế giới:
Chi rong cầu lục Cauperpa thuộc họ Caulerpaceae, bộ Caulerpales, lớp
Chlorophyceae, nghành rong lục Chlorophyta là chi rong biển rất phổ biến ở vùng
nhiệt đới và cận nhiệt đới. Thành phần loài của chúng rất đa dạng, nhưng trong hơn
10 loài được tìm thấy thì rong nho là loài có giá trị nhất. Theo Yoshida (1998), hệ
thống phân loại của rong nho (Caulerpa Lentillifera J Agradh, 1873) được sắp xếp
như sau:
- Nghành chlorophyta
- Lớp Chlorophyceae, Wille in Warming, 1884.
- Bộ Caulerpales, Feldmann, 1946
- Họ Caulerpaceae, Kutzing, 1843
- Chi Caulerpa, Lamouroux, 1809
- Loài Caulerpa lentillifera J Agardh, 1873
Trong tự nhiên, rong nho được khai thác ở các bãi san hô chết, bãi cát lẫn bùn
và xác vỏ sinh vật ở vùng ven biển và ven đảo. Tuy nhiên, việc khai thác tự nhiên
chỉ với quy mô nhỏ lẻ, chủ yếu là phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ tại chỗ. Trong
những năm gần đây nhu cầu tiêu thụ rong nho biển trên thế giới tăng nhanh, nhất là
từ khi có thị trường xuất khẩu sang Nhật, Mỹ và một số nước khác thì việc nuôi
trồng rong nho đã được phát triển mạnh.
Theo Shokita 1991 thì tại Okinawa (Nhật Bản), nuôi trồng rong nho đã được
tiến hành thí nghiệm từ rất sớm (1978) bằng 2 hình thức nuôi chủ yếu là: Nuôi treo
bằng lưới hay nuôi lồng trên biển và nuôi đáy trong bể xi măng. Các kết quả thí
nghiệm tại Okanawa được thể hiện như sau:
Theo Shokita, 1991: Tốc độ tăng trưởng của rong khác nhau nếu nuôi rong
trong bằng các hình thức khác nhau. Cụ thể là khi trồng rong bằng cách cột vào lưới
19
thì tốc độ tăng trưởng của rong đạt 1,95 %/ngày, nếu trồng rong trong các bể kính
thì tốc độ tăng trưởng của rong là 2,92%/ngày, còn trồng rong bằng hình thức treo
lồng thì tốc độ tăng trưởng đạt 3,12%/ngày. Tác giả cũng nhận thấy tỷ lệ phần thân
đứng (phần có giá trị sử dụng)/ toàn tản cũng khác nhau. Nếu nuôi theo bằng cách
cột vào lưới tỷ lệ là 62%, nếu nuôi đáy là 76% và nuôi lồng là 70%.
Trên cở sở thí nghiệm của Shokita 1991 nói trên, rong nho đã được trồng đại
thành thương phẩm tại Okinawa từ năm 1986, đây là nơi có điều kiện thích nghi
bằng hình thức nuôi treo. Ngoài ra, theo đó, để đạt năng suất cao nhất thì bè rong và
lưới phải được làm vệ sinh định kỳ. Rong nho sẽ bị ảnh hưởng xấu bởi nồng độ
muối thấp hơn 25ppt, vì vậy nên hạ thấp bè nuôi và các túi treo để tránh sự giảm độ
mặn, đặc biệt sau mỗi cơn mưa lớn xảy ra.
Từ những năm 60 ở Philippin, loài rong nho đã được nuôi trồng. Hiện nay tại
đảo Mactan, tỉnh Cebu có khoảng 400 ha nuôi rong Nho. Phương pháp nuôi trồng
phổ biến ở Philippin là nuôi đáy, phương pháp này đã cho kết quả tốt. Tuy nhiên
nuôi trồng thương phẩm rong Nho chỉ được tiến hành cách đây khoảng 20 năm và
các sản phẩm của rong Nho được tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Năm 1982,
khoảng 810 tấn rong tươi tại Philippin đã được xuất sang Nhật Bản và Đan Mạch.
* Tình hình nghiên cứu rong Nho ở Việt Nam
Công trình nghiên cứu Rong biển Việt Nam (1969), tác giả Phạm Hoàng Hộ
đã phân loại và mô tả 484 loài, 21 biến loài và 10 dạng trong đó giáo sư Phạm
Hoàng Độ có đề cập đến loài rong Nho biển (Caulerpa lentillifera) thu nhập được ở
đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Gần đây vào tháng 4 năm 2006, Nguyễn Hữu Đại, Phạm Hữu Trí, Nguyễn
Xuân Vy, trong chuyến khảo sát nguồn lợi rong biển, cỏ biển tại Cù lao thu thuộc
đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận cũng tìm thấy rong Nho biển. Chúng mọc thành các
đám màu đậm giữa các loài Caulerpa racemosa và Caulerpa cupressoides có màu
nhạt hơn. Với kích thước nhỏ và trữ lượng thấp, sự hiện diện của nó chỉ có ý nghĩa
về mặt phân bố.