BỘ GIÁO VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
TRẦN HUỲNH TÂM LĨNH
NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT
RONG NHO KHÔ NGUYÊN THỂ
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
ThS. Nguyễn Thị Mỹ Trang
KHÁNH HÒA - 2013
BỘ GIÁO VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
TRẦN HUỲNH TÂM LĨNH
NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT
RONG NHO KHÔ NGUYÊN THỂ
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
ThS. Nguyễn Thị Mỹ Trang
Mã số sinh viên : 51130872
Lớp : 51CBTP2
Cán bộ hướng dẫn : ThS. Nguyễn Thị Mỹ Trang
KHÁNH HÒA - 2013
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Đồ án này
Trước hết tôi xin gửi tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Nha Trang, Ban
Chủ nhiệm khoa Công nghệ Thực phẩm, Phòng Đào tạo niềm kính trọng, sự
tự hào được học tập tại Trường trong những năm qua.
Sự biết ơn sâu sắc nhất tôi xin được giành cho cô ThS. Nguyễn Thị Mỹ
Trang - Bộ môn Đảm bảo Chất lượng và An toàn Thực phẩm - Khoa Công
nghệ Thực phẩm - Trường Đại học Nha Trang đã tài trợ kinh phí, tận tình
hướng dẫn và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đồ án tốt nghiệp
này.
Xin cám ơn: TS. Vũ Ngọc Bội - Trưởng khoa Công nghệ Thực phẩm,
ThS. Thái Văn Đức - Trưởng Bộ môn Công nghệ Thực phẩm và các thầy cô
phản biện đã cho tôi những lời khuyên quí báu để công trình nghiên cứu được
hoàn thành có chất lượng.
Đặc biệt, xin được ghi nhớ tình cảm, sự giúp đỡ của: các thầy cô giáo
trong Bộ môn Công nghệ Thực phẩm và tập thể cán bộ trong Các phòng
thí nghiệm - Trung tâm Thực hành Thí nghiệm - Trường Đại học Nha
Trang đã giúp đỡ nhiệt tình và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt
thời gian tôi thực hiện đồ án này.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân và các bạn bè đã tạo điều
kiện, động viên khích lệ để tôi vượt qua mọi khó khăn trong quá trình học tập
vừa qua.
i
MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU iv
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN 2
1.1. GIỚI THIỆU VỀ RONG BIỂN 2
1.1.1. Tình hình nghiên cứu rong biển trên thế giới và Việt Nam 2
1.1.2. Ứng dụng của rong biển 5
1.2. TỔNG QUAN VỀ RONG NHO 8
1.2.1. Đặc tính sinh học của rong nho 8
1.2.3. Ứng dụng của rong Nho 15
1.3 TỔNG QUAN VỀ SẤY 19
1.3.1 Khái quát về sấy 19
1.3.2 Các giai đoạn trong quá trình sấy 21
1.3.3 Các loại nguyên liệu ẩm và các dạng liên kết của nước trong nguyên liệu
ẩm 22
1.3.4 Cơ chế thoát ẩm ra khỏi vật liệu trong quá trình sấy 23
1.3.5 Yêu cầu của sản phẩm sấy 25
1.3.6 Một số nhân tố ảnh hưởng đến tốc độ sấy 25
1.3.7 Một số phương pháp sấy 27
1.3.9 Những biến đổi của nguyên liệu trong quá trình sấy 35
CHƯƠNG II. NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
2.1. NGUYÊN VẬT LIỆU 38
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
2.2.1. Phương pháp phân tích hóa học 38
2.2.2. Phương pháp phân tích vi sinh 38
ii
2.2.3. Phương pháp đánh giá cảm quan 38
2.2.4. Phương pháp bố trí thí nghiệm 39
2.3. DỤNG CỤ, THIẾT BỊ VÀ HÓA CHÁT SỬ DỤNG TRONG ĐỒ ÁN 46
2.4. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÍ SỐ LIỆU 46
CHƯƠNG III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 47
3.1. XÂY DỰNG QUY TRÌNH CHẾ BIẾN RONG NHO KHÔ NGUYÊN
THỂ 47
3.1.1. Xác định chế độ rửa rong trong dung dịch nước muối 47
3.1.2. Xác định nồng độ và thời gian ngâm rong trong dung dịch sorbitol 48
3.1.3. Xác định thời gian và nhiệt độ chần rong nho 51
3.1.4. Xác định chế độ sấy thích hợp 52
3.2. ĐỀ XUẤT QUY TRÌNH SẢN XUẤT RONG NHO KHÔ NGUYÊN
THỂ 56
3.3. KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CẢM QUAN SẢN PHẨM
RONG NHO KHÔ NGUYÊN THỂ THEO THỜI GIAN BẢO QUẢN 59
3.4. SƠ BỘ HẠCH TOÁN CHI PHÍ NGUYÊN VẬT LIỆU 61
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 63
1. KẾT LUẬN 63
2. ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 63
MỘT SỐ HÌNH ẢNH CỦA SẢN PHẨM RONG NHO SẤY TRƯỚC VÀ SAU
KHI NGÂM PHỤC HỒI 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
PHỤ LỤC 1
iii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Hình ảnh về rong nho thu hoạch tại Cam Ranh - Khánh Hòa
8
Hình 1.2. Rong nho sau khi đã được ngắt bỏ thân bò
9
Hình 1.3. Hình thái rong nho biển (Theo Trono và Ganzon - Fortes, 1988)
10
Hình 1.4. Hình ảnh về rong Nho biển (Caulerpa lentillifera) nhập từ Nhật
13
Hình 1.5. Hình ảnh nho biển nhập từ đảo Phú quý
13
Hình 1.6. Rong nho tươi
17
Hình 1.7. Salad cải tím rong nho
18
Hình 1.8. Tủ sấy bức xạ hồng ngoại kết hợp sấy lạnh
34
Hình 2.1. Sơ đồ quy trình dự kiến sản xuất rong nho khô nguyên thể
40
Hình 2.2. Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định chế độ rửa rong trong dung dịch nước
muối
41
Hình 2.3. Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định nồng độ và thời gian ngâm rong trong
dung dịch sorbitol
42
Hình 2.4. Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định nhiệt độ và thời gian chần rong nho
43
Hình 2.5. Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định các thông số thích hợp cho quá trình sấy
44
Hình 2.6. Sơ đồ bố trí thí nghiệm đánh giá chất lượng cảm quan của sản phẩm rong
nho khô nguyên thể theo thời gian bảo quản
45
Hình 3.1. Ảnh hưởng của nồng độ dung dịch muối đến chất lượng cảm quan của sản
phẩm rong nho khô
47
Hình 3.2. Ảnh hưởng của nồng độ sorbitol và thời gian ngâm đến chất lượng cảm
quan của sản phẩm
49
iv
Hình 3.3. Ảnh hưởng của thời gian và nhiệt độ chần rong nho đến chất lượng cảm
quan của sản phẩm
51
Hình 3.4. Sự biến đổi hàm ẩm trong các mẫu sấy theo thời gian và nhiệt độ sấy khác
nhau với cùng vận tốc gió 1m/s
53
Hình 3.5. Sự biến đổi hàm ẩm trong các mẫu rong sấy theo thời và nhiệt độ sấy
khác nhau với cùng vận tốc gió 2m/s
53
Hình 3.6. Sự thay đổi tổng điểm cảm quan của sản phẩm rong nho sấy khô theo
nhiệt độ sấy và vận tốc gió
54
Hình 3.7. Sơ đồ quy trình sản xuất rong nho khô nguyên thể
57
Hình 3.8. Sự thay đổi tổng điểm cảm quan của sản phẩm rong nho sấy khô theo thời
gian bảo quản
60
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1. Thành phần chính của rong nho 16
Bảng 2.1. Tiêu chuẩn vệ sinh đối với các sản phẩm thực phẩm dùng trực tiếp không
qua xử lý nhiệt trước khi sử dụng 38
Bảng 3.2. Hao hụt trọng lượng của nguyên liệu chính qua các công đoạn 61
1
MỞ ĐẦU
Rong nho (Caulerpa lentillifera) là loại rong giàu dinh dưỡng và có giá trị
kinh tế rất cao. Rong nho hiện nay chủ yếu được xuất khẩu trực tiếp sang thị
trường Nhật Bản dưới dạng sản phẩm rong nho tươi. Hiện thị trường Nhật Bản
đang có nhu cầu tiêu thụ rong nho tươi và sử dụng rong nho khô. Tuy vậy Việt
Nam mới chỉ bắt đầu nghiên cứu chế biến rong nho tươi còn việc nghiên cứu chế
biến rong nho khô chưa được quan tâm do vậy trên thị trường hiện chưa có loại sản
phẩm này. Vì vậy việc nghiên cứu chế biến làm khô rong nho là cần thiết. Xuất
phát từ yêu cầu thực tế đó, tôi được giao thực hiện đề tài “Nghiên cứu sản xuất
rong nho khô nguyên thể” với mục đích tìm biện pháp sản xuất sản phẩm rong
nho khô bằng phương pháp sấy hồng ngoại kết hợp sấy lạnh đạt yêu cầu vệ sinh an
toàn thực phẩm, có giá thành kinh tế hợp lý nhưng vẫn giữ được các đặc tính vốn
có của rong nho.
Nội dung của đề tài:
1) Xác định các thông số thích hợp cho quy trình sản xuất rong nho khô
nguyên thể: chế độ xử lý, chế độ sấy,
2) Đánh giá chất lượng của rong nho khô theo thời gian bảo quản;
3) Đề xuất quy trình sản xuất và sản xuất thử sản phẩm;
Do thời gian nghiên cứu đồ án có hạn nên đồ án chắc sẽ còn hạn chế, rất
mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và bạn bè đồng nghiệp để cho báo cáo
hoàn thiện hơn!
Tôi xin chân thành cảm ơn!
2
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN
1.1. GIỚI THIỆU VỀ RONG BIỂN
1.1.1. Tình hình nghiên cứu rong biển trên thế giới và Việt Nam
Trên thế giới [6],[8].
Rong biển đã được nghiên cứu rất sớm ở các nước trên thế giới . Nhưng việc
ứng dụng các nghiên cứu được bắt đầu từ sau chiến tranh thế giới thứ II. Hiện nay
Nhật Bản là nước đi đầu ở khu vực Châu Á cũng như trên thế giới về việc nghiên
cứu rong biển. Các nước Châu Á khác như Hàn Quốc, Trung Quốc cũng có nhiều
nghiên cứu về di truyền và chọn lựa các giống có sức chống chịu cao. Các nước Âu
- Mỹ chú trọng nghiên cứu sử dụng sản phẩm tinh chế của rong biển trong các lĩnh
vực công nghiệp.
Từ những năm 1870, rong biển đã được quan tâm, người ta điều chế xà phòng
từ các chất K
2
O, Na
2
O lấy từ rong biển (rong Nâu), nền công nghiệp rong biển phát
triển từ đó. Nhưng khi công nghiệp chế biến xút (NaOH) ra đời, người ta dùng xút
để điều chế xà phòng thay cho Na
2
O, K
2
O. Nền công nghiệp chế biến rong biển
giảm xuống từ đó.
Năm 1812, người ta phát hiện trong rong Nâu có chứa Iod, từ đó người ta
dùng nguyên liệu rong Nâu để điều chế Iod. Vì vậy công nghiệp chế biến rong biển
lại phát triển ở các nước châu Âu. Đến năm 1872, Na Uy tìm thấy Iod trong khoáng
sản, lượng Iod ở đây nhiều, dễ lấy, giá thành hạ. Từ đó, nguời ta không dùng rong
Nâu để điều chế Iod nữa, công nghiệp chế biến rong biển lại bị giảm sút.
Ngày nay, người ta phát hiện rằng Iod trong rong biển có giá trị sinh học,
dược học cao bởi lẽ là Iod hữu cơ rất có giá trị dược học với con người vì thế nó
đang được ứng dụng nhiều trong lĩnh vực thực phẩm và dược phẩm.
Từ năm 1914 - 1915, Mỹ, Đức dùng rong Nâu để điều chế KCl, than hoạt
tính, kỹ nghệ rong biển lại phát triển ở các nước này. Vài năm sau, năm 1921 người
ta tìm thấy nguyên liệu có thể thay thế rong biển.
Năm 1930, công nghệ chế biến các chất như: Alginate,Mannitol, Agar phát
triển mạnh và ngày càng ứng dụng nhiều trong thực tế. Từ đó đến nay chế biến
3
rong biển vẫn đang trong thời kỳ phát triển mạnh, đặc biệt là các nước như Nhật
Bản, Mỹ, Trung Quốc [6].
Nhật Bản là nước có các nhà khoa học có trình độ chuyên môn cao trong việc
phân loại rong, các nhà khoa học Nhật Bản là người đầu tiên đề xuất cho việc sắp
xếp theo hệ thống trong phân loại rong của chi Gracilaria (Yamamoto, 1978), chi
Prionitis (Halymeniaceae) (Kawaguchi, S, 1989), bộ Fucales (Yoshida, T, 1983),
bộ Gigartinales (Masuda, M, 1997). Ở Trung Quốc, có một số công trình nghiên
cứu của T. Seng C. K., Zhang junfu, Xi Bang mei về các loại rong biển.
Sử dụng rong biển làm thực phẩm được bắt đầu từ Nhật Bản từ thế kỷ thứ IV
và ở Trung Quốc thế kỷ thứ VI. Hiện nay, hai quốc gia này cùng với Hàn Quốc là
những nước tiêu thụ rong biển thực phẩm lớn nhất. Nhu cầu đó chính là cơ sở cho
việc phát triển một nghề nuôi trồng thủy sản. Hàng năm sản lượng thu hoạch rong
của toàn thế giới đạt khoảng 6.000.000 tấn rong tươi với giá trị lên đến 5 tỷ đô la
Mỹ.
Do nhu cầu tiêu dùng rong không ngừng tăng trong những năm qua dẫn đến
nguồn lợi rong tự nhiên không thể đáp ứng đủ, vượt quá khả năng. Vì vậy, từ thập
niên 1960 ở nhiều nước châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc người ta đã
tiến hành trồng rong biển để làm lương thực. Theo tổ chức lương nông Liên Hiệp
Quốc (FAO), từ sản lượng rong biển năm 1960 chỉ đạt 150.000 tấn đến nay đã tăng
lên 1,6 triệu tấn mỗi năm.
Năm 1658, các tính chất keo hóa của Agar, được chiết xuất bằng nước nóng
từ một loại rong được phát hiện lần đầu tiên tại Nhật. Các chiết xuất từ rong Ailen,
một loại rong đỏ khác (Chondrus crispus), chứa carrageenan và đã phổ biến trong
thế kỷ XIX vì tính chất đông tụ của nó.
Vào những năm của thập kỷ 1960, Na Uy đã đi tiên phong trong việc sản xuất
bột rong biển, làm từ rong nâu được sấy khô và nghiền thành bột.
Ở châu Á: Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc là những quốc gia dẫn đầu
của châu Á cũng như thế giới trong nghiên cứu, sản xuất và tiêu thụ rong biển.
4
Trong khu vực Đông Nam Á, Indonesia và Philippines hiện chiếm vị trí hàng
đầu [8].
Tại Việt Nam [6],[8].
Việt Nam có khoảng 638 loài rong biển đã được định loài. Trong số đó 316
loài xuất hiện ở vùng biển phía bắc, 484 loài ở vùng biển phía nam và 156 loài phát
hiện thấy ở vùng biển từ bắc vào nam [6].
Sự ra đời của Viện Hải Dương Học Nha Trang đã thúc đẩy việc nghiên cứu
phân loại rong biển theo hướng được tổ chức hoàn hảo hơn so với trước đó. Ngoài
các nghiên cứu về thành phần loài, còn có các nghiên cứu về đặc tính sinh thái,
nguồn lợi như mùa vụ, phân bố, trữ lượng và các nghiên cứu về nuôi trồng, chế
biến nhằm cung cấp các dữ liệu làm cơ sở cho việc nuôi trồng, khai thác, bảo vệ và
sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên rong biển. Mặt khác, rong biển còn là đối tượng
được quan tâm nghiên cứu trong việc xử lý ô nhiễm môi trường vì nó có khả năng
hấp thu mạnh các chất dinh dưỡng trong môi trường do đặc điểm sinh sản và phát
triển nhanh chóng của nó.
Nghiên cứu sinh học rong biển phục vụ nuôi trồng được bắt đầu vào những
năm đầu của thập kỷ 1960 với sự ra đời của các trạm trại tiền thân của Viện Nghiên
cứu Hải sản Hải Phòng và Phân viện Hải dương học Hải Phòng sau này.
Năm 1970, Loureiro đã công bố lần đầu tiên các nghiên cứu về hệ rong biển
Việt Nam… Từ đó cho đến năm 1956, việc điều tra rong biển Việt Nam hầu hết do
các nhà khoa học nước ngoài thực hiện và kết quả của nó chỉ mang tính chất lẻ tẻ,
góp nhặt. Từ năm 1956, Hải học viện Nha Trang (nay là Viện hải dương học Nha
Trang) và năm 1963 ở Viện Nghiên cứu biển Hải Phòng, công tác điều tra nghiên
cứu rong biển mới do chính các nhà khoa học Việt Nam thực hiện và thu đựơc
những kết quả đáng kể.
Từ năm 1954 - 1975, ở giai đoạn này đất nước có chiến tranh nên công tác
nghiên cứu khoa học nói chung bị ảnh hưởng.
Ở miền Bắc, đáng kể nhất là công trình của tập thể các tác giả Nguyễn Hữu
Dinh và cộng sự (công bố năm 1993). Các tác giả đã phát hiện và phân loại được ở
5
các tỉnh miền bắc Việt Nam: 310 loài rong; 5 biến loài (varietas), 8 dạng (forma),
trong đó có 4 loài, 1 biến loài và 3 dạng mới cho khoa học.
Ở miền Nam, Phạm Hồng Ngộ đã phân loại và mô tả được 480 loài, 21 biến
loài và 10 dạng, trong đó có 34 loài, 46 biến loài và 4 loại rong cho khoa học. Mặt
khác, giáo sư cũng quan sát và mô tả sự phân bố cũng như mùa vụ của các nhóm
rong mọc trên các bãi triều đá ven biển miền Nam Việt Nam.
Giai đoạn từ năm 1975 cho đến nay, một số tác giả như Nguyễn Hữu Đại,
Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Hữu Dinh, Đàm Đức Tiến, Phạm Hữu Trí, Lê Như Hậu
đã nghiên cứu cập nhật tên khoa học nghiên cứu phân loại rong biển Việt Nam.
Nhiều loài mới đã được công bố trên tạp chí trong nước và thế giới. Các nghiên cứu
của các tác giả này cho thấy: rong biển thường sinh trưởng và phát triển tốt trong
điều kiện môi trường ở vùng triều và vùng nước lợ [8].
1.1.2. Ứng dụng của rong biển [8]
Rong biển có một số ứng dụng sau:
Làm thực phẩm cho con người:
Rong biển là thức ăn được ưa chuộng ở Nhật Bản và Trung Quốc kể từ thời
xa xưa. Chúng có giá trị rất cao: Rong Giấy (Monostroma) có giá 20 - 30USD/kg
rong khô, rong Mứt (Porphyta):25USD/kg. Loại thực phẩm quan trọng ở Nhật Bản
là Nori (Porphyta), Kombu (Laminnaria) và Wakame(Undaria pinnatifida).
Rong được phơi khô sau khi thu hoạch và hoặc cắt thành từng dải hoặc nghiền
thành bột. Chúng được dùng trong chế biến món thịt, súp và được dùng làm rau khi
ăn với cơm, ở dạng bột rong bẹ được đưa vào trong nước sốt hoặc nêm giống như
cà- ri. Một số khác được sử dụng làm nước uống giống như trà.
Nhờ các tính chất vật lý của mình, rong được chế biến cùng với đậu, nhiều
loại ngũ cốc và rau quả khác thành các món ăn đặc sắc ở dạng tự nhiên hay qua sơ
chế. Rong được sử dụng làm phụ gia trong các món ăn chế biến từ cá, giáp xác,
nhuyễn thể, giò chả, kẹo bánh, đồ uống.
Rong thực phẩm được ưa chuộng nhất gồm có 3 chủng loại là Laminaria
(L.japorica), Porphyra (P.yezoensis, P.tenera, ta gọi là rong Mứt) và Undaria
6
(U.pinnatifida). Các loài rong thực phẩm chủ yếu được sản xuất tại các nước Viễn
Đông (Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc), và được tiêu thụ chủ yếu cũng tại các
nước này, một số nước Đông Nam Á và một số nước phương Tây nơi có nhiều
ngƣời châu Á sinh sống (chẳng hạn, riêng rong Porphyra, hàng năm Mỹ nhập vào
10 triệu USD)
Rong bẹ, rong Nâu Undaria pinnatifida được biết đến dưới tên “Wakame”
cũng được phơi khô để dành. Sau khi rửa sạch bằng nước ngọt sẽ được ngâm lại
trong nước trước khi cho vào súp như là một chất phụ gia (súp Wamke là món ăn
hàng ngày ở Nhật) hay nướng (Yaki - Wamke), dùng ngay với cơm, tẩm đường
hoặc đóng hộp (Ito - Wamke).
Nori (Porphyta spp) (rong Mứt) là loại rong thuộc ngành rong Đỏ được tán
thành bánh mỏng để cho vào nước sốt hay súp, nhưng đôi khi chỉ cần nhúng qua
nước rồi ăn sống.
Rong Mứt được đưa vào chế biến với các món ăn khác nhau với thịt cá như
xào, nấu canh… hay nấu chè giải khát. Các loại rong Gracilaria, Gigartina, Veden,
Chondrus, có giá trị thực phẩm thấp hơn rong Porphyra và Rhodymenia. Chúng
được sử dụng rộng rãi ở phương Đông, Nam Mỹ dưới 3 dạng: ăn tươi, ngâm dấm
và nấu chín, làm bánh kẹo, nấu chè, nấu canh, ăn tươi, trộn dấm chua ngọt…Các
nước Tây Âu dùng bột rong đỏ khô để sản xuất “laver-bread” bánh mì rong với
nhiều hình dạng và loại chất khác nhau.
Bánh làm bằng rong biển (chủ yếu từ các loại rong là Porphyta diocica và
P.purpurea) có hàm lượng calori thấp thích hợp cho những người ăn kiêng.
Trong lĩnh vực dược phẩm
Từ Digenea (Caramiales; Rhodophycota) sản xuất ra một loại thuốc giun có
hiệu quả (kainic acid). Laminaria và Sargassum đã từng được sử 9 dụng ở Trung
Quốc để trị bệnh ung thư. Trong rong Đỏ (Ptilota) có một loại protein đặc biệt
(lectin) có khả năng ngưng kết với hồng cầu thuộc nhóm máu. Vì vậy người ta cho
rằng rong Đỏ (Ptilota) có khả năng chống ung thư. Vì vậy, các chiết xuất của
Ptilota đã được tung ra thị trường.
7
- Các loài rong biển có vị mặn là vật liệu có thể phân tán tích tụ đờm dãi, đặc
biệt khi nó tạo ra khối lượng mềm gồm có bướu cổ (goiter), sưng tuyến giáp chỉ
dấu tình trạng thiếu iodine nghiêm trọng.
- Mặt khác rong biển cũng có chứa nhiều chất kháng sinh. Từ xưa người ta
tìm hiểu và nhận thấy rằng thực quản của động vật ăn rong thường vô trùng. Do đó,
một số rong được dùng để chế tạo thuốc kháng sinh như Ulva cho domoic acid,
Codium fragile cho vermifuge.
Trong công nghiệp
Giá trị công nghiệp của rong biển là cung cấp chất keo rong quan trọng như
Agar, Alginate, Carrageenan, Furcellazan dùng cho thực phẩm và nhiều ngành
công nghiệp khác.
Các loại keo rong biển là các loại polysaccharide có tính keo khi hòa tan trong
nước, được chiết xuất từ rong biển. Keo rong biển được dùng trong các lĩnh vực
khác nhau tùy thuộc vào tính chất lý học của nó. Từ rong Đỏ có thể chiết xuất được
các loại keo: Agar, Carrageenan, Furcellanan. Từ rong Nâu chiết xuất được:
Alginic, Alginate, Laminarin, còn từ rong Lục chiết xuất được Pectin.
Ngoài ra, rong biển còn là một thành phần trong thức ăn gia súc, chúng được
xay nhỏ, trộn vào thức ăn là bởi vì ngoài glucide, protein chúng còn cung cấp cho
gia súc nhiều yếu tố vi lượng cần thiết giúp tăng trọng, tiết sữa, đẻ trứng, sinh nhiều
con.
Việc sử dụng rong biển làm phân bón được thực hiện trong nhiều năm qua ở
nhiều nước như Pháp, Anh, Đan Mạch, Mỹ, Canada, Nhật… hoặc dùng 10 rong
biển như là chất ổn định đất do có tính ngậm nước mà kết dính. Các chất chiết xuất
dạng lỏng của rong biển được dùng để tăng sản lượng cây trồng, giúp cây trồng
chống chịu tốt hơn so với các điều kiện bất lợi và giảm thất thoát khi bảo quản.
Ngoài ra rong biển còn được ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu sinh học.
Rong tảo nuôi trồng công nghiệp cho sản lượng biodiesel cao gấp 7 lần so với dầu
cọ trong điều kiện quảng canh, và đến 31 lần khi được thâm canh, đạt đến 95.000
lít dầu trên mỗi hecta mặt nước. Điều này mở ra một hy vọng về một nguồn năng
8
lượng mới, sạch thay thế dầu mỏ có trữ lượng giới hạn và gây ô nhiễm môi trường.
(Hoàng Xuân Phương, Hội thảo về sản xuất nhiên liệu sinh học Viện khoa học và
Công nghệ Việt Nam).
1.2. TỔNG QUAN VỀ RONG NHO
1.2.1. Đặc tính sinh học của rong nho [6],[8]
Rong nho (Caulerpa lentillifera) thuộc bộ rong Cầu lục Caulerpaceae, ngành
rong lục Chlorophyta. Rong nho có hình dáng giống trứng cá nhưng có màu xanh
nhưng mọc thành từng chùm trong nước biển giống như chùm nho nên Người Anh
gọi nó là trứng cá Hồi xanh (green Caviar), còn người Nhật Bản thì gọi nó là nho
biển (Umibudo).
Hình 1.1. Hình ảnh về rong nho thu hoạch tại Cam Ranh - Khánh Hòa
Rong nho có đặc tính mềm, dòn và ngon nên rất được ưa chuộng, và sử dụng
như một loại rau xanh. Rong nho có vị mằn mặn lạ miệng, đặc trưng hương biển,
lại giàu Vitamin A, E… và khoáng chất, là một loại dược liệu quý cho sức khỏe và
sắc đẹp. Một số tài liệu còn đề cập đến khả năng kháng khuẩn, kháng nấm, có thể
phòng ngừa bệnh cao huyết áp và thấp khớp của rong nho [8].
Rong nho có màu xanh đậm, gồm có phần thân bò, thân đứng, nhánh và các
khối cầu (ramuli 0). Phần thân bò có hình trụ tròn, đường kính 1-2mm. Trên thân
9
bò mọc ra nhiều thân đứng, trên thân đứng mọc ra nhiều nhánh nhỏ, tận cùng là các
khối hình cầu (ramuli), giống quả nho với đường kính 1,5-3mm, mọc dày kín xung
quanh các thân đứng. Đây là phần có giá trị sử dụng. Trên thân bò có nhiều “rễ
giả” phân nhánh thành chùm như long tơ, bám sâu vào đáy bùn.
Hình 1.2. Rong nho sau khi đã được ngắt bỏ thân bò
Rong nho sống ở vùng biển ấm , nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của
chúng khoảng 25- 30
0
C. Nhiệt độ thấp hơn sẽ làm cho rong nho chậm hoặc ngừng
tăng trưởng. Với nhiệt độ dưới 20
0
C, rong nho có thể ngừng phất triển. Rong nho
có khả năng tăng trưởng rất nhanh, mỗi ngày dài thêm khoảng 2cm. Trong môi
trường nhiều chất hữu cơ, rong nho phát triển mạnh. Sau 2 tháng nuôi trồng rong
nho, có thể thu hoạch được.
Phân bố: Rong nho là loại rong lục phân bố ở vùng biển ấm Thái Bình
Dương như: Philippin, Java, Microsesia, Bikini… và những vùng vịnh kín
song,nước trong, nền đáy bằng phẳng. Rong nho thường phân bố từ vùng triều thấp
đến sâu 8m, tuy nhiên tại Bikini (Micronesia) do nước rất trong chúng phân bố sâu
đến 40m [5].
Môi trường sống: Khi khảo sát môi trường của vịnh Yonaha ( Nhật Bản), nơi
rong nho phát triển mạnh cho thấy rong mọc trên trầm tích cát hoặc cát bùn ở giữa
và chung quanh vịnh, phân bố đến vùng sâu khoảng 8m.
10
Phân tích tổng hàm lượng các hỗn hợp Nitơ vô cơ (NH
4
, NO
3
, NO
2
) và những
chất dinh dưỡng vô cơ khác tại vịnh này cũng cao hơn hai lần so với những vùng
có bãi đá ngầm và san hô ở các vùng khác . Hàm lượng các chất dinh dưỡng chính
là yếu tố quan trọng đầu tiên cho việc phát triển của rong nho. Một số yếu tố môi
trường khác thích nghi cho loại rong này khá hẹp, độ mặn thay đổi từ 30- 35%,
nhiệt độ nước biển hạ thấp 20
0
C chúng sẽ tăng trưởng chậm hoặc ngừng tăng
trưởng.
1.2.2. Tình hình nghiên cứu rong nho trên thế giới và Việt Nam
Trên thế giới [8]
Theo Yoshida (1998), hệ thống phân loại của rong Nho (Caulerpa lentillifera
J Agradh, 1873) được sắp xếp như sau: Ngành Chlorophyta, lớp Chlorophyceae,
Wille in Warming, 1884, bộ Caulerpales, Feldmann, 1946, họ Caulerpaceae,
Kutzing, 1843, chi Caulerpa, Lamouroux, 1809, loài Caulerpa lentillifera, J
Agardh, 1873. Theo Trono và Ganzon - Fortes, 1988 rong Nho biển có hình thái
như trong hình 1.3.
Hình 1.3. Hình thái rong nho biển (Theo Trono và Ganzon - Fortes,
1988)
Trong tự nhiên, rong Nho được khai thác ở các bãi san hô chết, bãi cát lẫn
bùn và xác vỏ sinh vật ở vùng ven biển và ven đảo. Tuy nhiên việc khai thác tự
nhiên chỉ với quy mô nhỏ lẻ, chủ yếu là phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ tại chỗ.
Trong những năm gần đây nhu cầu tiêu thụ rong Nho biển trên thế giới tăng
nhanh, nhất là từ khi có thị trường xuất khẩu sang Nhật, Mỹ và một số nước khác
thì việc nuôi trồng rong Nho đã được phát triển mạnh.
11
Theo Shokita 1991 thì tại Okinawa (Nhật Bản), nuôi trồng rong Nho đã được
tiến hành thí nghiệm từ rất sớm (1978) bằng 2 hình thức nuôi chủ yếu là: nuôi treo
bằng lưới hay nuôi lồng trên biển và nuôi đáy trong bể xi măng.
Theo Shokita, 1991: tốc độ tăng trưởng của rong khác nhau nếu nuôi rong
bằng các hình thức khác nhau. Cụ thể là khi trồng rong bằng cách cột vào lưới thì
tốc độ tăng trưởng của rong đạt 1,95 %/ngày, nếu trồng rong trong các bể kính thì
tốc độ tăng trưởng của rong là 2,92 %/ngày, còn trồng rong bằng hình thức treo
lồng thì tốc độ tăng trưởng đạt 3,12%/ngày. Tác giả cũng nhận thấy tỷ lệ phần thân
đứng (phần có giá trị sử dụng)/toàn tản cũng 16 khác nhau. Nếu nuôi treo bằng
cách cột vào lưới tỷ lệ này là 62%, nếu nuôi đáy là 76% và nuôi lồng là 70%.
Trên cơ sở thí nghiệm của Shokita 1991 nói trên, rong Nho đã được trồng đại
trà thành thương phẩm tại Okinawa từ năm 1986 bằng hình thức nuôi treo. Ngoài
ra, để đạt năng suất cao nhất thì bè rong và lưới phải được làm vệ sinh định kỳ.
Rong Nho sẽ bị ảnh hưởng xấu bởi nồng độ muối thấp hơn 25ppt, vì vậy nên hạ
thấp bè nuôi và các túi treo để tránh sự giảm độ mặn, đặc biệt sau mỗi cơn mưa lớn
xảy ra.
Từ những năm 60 ở Philippin, loài rong Nho đã được nuôi trồng. Hiện nay tại
đảo Mactan, tỉnh Cebu có khoảng 400 ha nuôi rong Nho. Phương pháp nuôi trồng
phổ biến ở Philippin là nuôi đáy, phương pháp này đã cho kết quả rất tốt. Tuy
nhiên nuôi trồng thương phẩm rong Nho chỉ được tiến hành cách đây khoảng 20
năm và các sản phẩm của rong Nho được tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Năm
1982, khoảng 810 tấn rong tươi tại Philippin đã được xuất sang Nhật Bản và Đan
Mạch.
Tại Việt nam [5], [8]
Công trình nghiên cứu Rong biển Việt Nam (1969), tác giả Phạm Hồng Ngộ
trong đó có đề cập đến loài rong nho (Caulerpa letillifera) thu thập được ở đảo Phú
Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Năm 2004, phòng thực vật biển thuộc Viện Hải dương học Nha Trang đã du
nhập nguồn giống rong nho từ Nhật Bản, tiến hành nuôi trồng và tạo giống trong
12
phòng thí nghiệm. Đồng thời tiến hành đề tài “ Nghiên cứu các đặc trưng sinh lý,
của loài rong Nho biển Caulerpa lentillifera ( J.Agardh1873) có nguồn gốc nhập
nội từ Nhật Bản làm cơ sở kỹ thuật cho nuôi trồng”. (Nguyễn Xuân Hòa và cộng
sự, 2004) [5].
Năm 2005, Phòng Thực vật biển – Viện Hải dương học nha trang tiếp tục tiến
hành đề tài “ Thử nghiệm nuôi trồng rong nho biển Caulerpera lentillifera (
J.Agardh, 1873) ở điều kiện tự nhiên”.
Gần đây vào tháng 4 năm 2006, Nguyễn Hữu Đại, Phạm Hữu Trí, Nguyễn
Xuân Vỵ trong chuyến khảo sát nguồn lợi rong biển, cỏ biển tại Cù lao Thu thuộc
đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận cũng tìm thấy rong Nho biển. Chúng mọc thành các
đám màu xanh đậm giữa các loài Caulerpa racemosa và Caulerpa cupressoides có
màu nhạt hơn.Với kích thước nhỏ và trữ lượng thấp, sự hiện diện của nó chỉ có ý
nghĩa về mặt phân bố.
Hiện nay tại Việt Nam chủ yếu sử dụng nguồn giống rong Nho biển của Nhật
Bản được di nhập và trồng tại hai tỉnh Khánh Hoà và Bình Thuận. Giống rong Nho
này có màu xanh đậm, gồm có phần thân bò chia nhánh, có hình trụ tròn, đường
kính từ 1 - 2mm. Trên thân bò mọc ra nhiều thân đứng, cao đến 10 cm hay hơn.
Trên thân bò có nhiều “rễ giả” phân nhánh thành chùm như lông tơ, bám sâu vào
đáy bùn. Trên thân đứng mọc ra nhiều nhánh nhỏ, tận cùng là các khối hình cầu
(ramuli), đường kính 1,5- 3 mm, mọc dày kín xung quanh thân đứng.
Rong Nho sinh sản chủ yếu bằng hình thức sinh sản sinh dưỡng. Các bộ phận
dinh dưỡng của rong (thân bò và thân đứng), đều có thể sinh trưởng và phát triển
thành tản rong mới. Nhưng trong nuôi trồng hiện nay tại hai tỉnh Khánh Hoà và
Bình Thuận đã sử dụng các đoạn rong dài từ 10 - 20cm (gồm cả thân đứng và thân
bò), rong phát triển rất tốt và cho năng suất cao.
Từ năm 2006, Phòng Thực vật biển đã thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học
cấp bộ “ Cơ sở khoa học cho việc phát triển nuôi trồng rong Nho biển Caulerpera
lentillifera (J.Agardh. 1873) ở Việt Nam”. Đề tài đã được các cán bộ của Viện Hải
dương học nuôi trồng thành công ở Cam Ranh, Hòn Khói – Ninh hòa.
13
Hình 1.4. Hình ảnh về rong Nho biển (Caulerpa lentillifera) nhập từ Nhật
(ảnh do Nguyễn Hữu Đại chụp năm 2006)
Hình 1.5. Hình ảnh nho biển nhập từ đảo Phú quý
/>7/ctl/Details/mid/378/ItemID/340/language/vi-VN/Default.aspx
Viện Hải dương học nghiên cứu một số đặc điểm sinh lý, sinh thái của rong
nho cho thấy: trọng lượng nuôi ban đầu từ 100 - 200g rong tươi/m
2
là phù hợp cho
việc nuôi thương phẩm. Tốc độ sinh trưởng của rong nho có giá trị cao nhất khi
nuôi trên nền đáy xốp là bùn pha cát. Tốc độ sinh trưởng có thể đạt 2,59%/ ngày
(trong điều kiện ánh sáng, nhiệt độ và độ mặn thích hợp). Độ mặn tốt nhất là 33%,
nhu cầu ánh sáng đối với rong nho cao, rong nho sinh trưởng và phát triển tốt trong
khoảng cường độ ánh sáng khá rộng từ 50 - 250µmol.s
-1
.m
-2
. Ở cường độ ánh sáng
14
quá mạnh (500µmol.s
-1
.m
-2
) sự sinh trưởng và năng suất giảm thấp. Khi nhiệt độ
tăng đến 34
0
C cường độ quang hợp của rong giảm. Các nhà khoa học của Viện Hải
dương học Nha Trang cũng đã thử nghiệm nuôi trồng rong trong ao đìa tự nhiên,
rong phát triển tốt, tốc độ sinh trưởng đạt 2,99%/ngày với mức nguồn giống ban
đầu là 100g/m
2
.
Các nhà khoa học của Viện Hải dương học Nha Trang đã tiến hành phân tích
thành phần hóa học của rong nho. Mẫu rong nho đã được gửi đến Trung tâm dịch
vụ phân tích thí nghiệm (số 02 Nguyễn Văn Thủ, Tp. Hồ Chí minh, tháng 9/2006)
để kiểm định. Kết quả phân tích đã cho thấy rong không nhiều đường, đạm nhưng
đặc biệt nhiều vitamin A, C (lần lượt là 0,5185 và 1,618mg/kg rong nho tươi) và
các nguyên tố vi lượng cần thiết, trong đó hàm lượng Iot rất cao (19,0790mg/kg
rong nho tươi), K(0,034%), Ca(0,0437%) (www.vast.ac.vn)
Ngoài ra, rong nho tươi nuôi trong ao đìa tại Cam Ranh tháng 7/2007 và mẫu
nước biển nơi nuôi cũng được Phòng thủy địa hóa, Viện Hải dương học phân tích
và cho thấy rong nho không tích lũy các kim loại nặng từ môi trường nước. Đặc
điểm sinh lý này hoàn toàn khác hẳn với các loài cỏ biển (seagrasse). Kết quả cũng
cho thấy rong được nuôi trong môi trường nước chưa đạt mức cho phép TCVN về
chất lượng nước đã cho sản phẩm rong nho có các chỉ tiêu về kim loại nặng thấp
hơn mức cho phép về vệ sinh an toàn thực phẩm của Bộ Y tế, 1998.
Hiện nay, một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước
được tiến hành nhằm tăng cao giá trị của cây rong nho. Trong rong nho chứa nhiều
khoáng vi lượng, trong đó có đầy đủ các khoáng vi lượng cần thiết cho cơ thể con
người, đặc biệt là Iod, sắt, kẽm, đồng, Mangan, Coban… trong đó sắt và Iod đang
được xem là hai vi chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể con người, phòng chống
các rối loạn do thiếu hai vi chất này gây ra các bệnh như: thiếu máu, bướu cổ, đần
độn…
Hàm lượng Iod trong rong nho rất cao (470µg.g
-1
) tương đương với hàm
lượng Iod trong các loại rong mơ - Sargassum và cao hơn nhiều lần so với hàm
lượng Iod trong các loại thực phẩm khác. Ngoài ra trong rong nho còn chứa nhiều
loại khoáng đa và vi lượng, đặc biệt là Ca, P, Mn, Cu, Co, Zn…có tác dụng phòng
15
chống bệnh bướu cổ. Nhu cầu Iod tối thiểu là 150µg.g/ngày (Theo US food and
nutrion board, 1980). Ở Việt Nam đưa ra tiêu chuẩn hàm lượng Iod tối thiểu là
300µg.g/ngày. Hydrat Cacbon trong rong nho chủ yếu là đường Rammonse có tác
dụng như Sulfat Polysacharic nên giúp việc nhuận trường cũng như kháng khuẩn
đường ruột, hấp thu các kim loại độc hại trong cơ thể người và thải ra ngoài theo
đường bài tiết.
Ngoài ra trong rong nho còn chứa protein (chiếm 7,4%), Lipid (1,2%), mặc
dù có hàm lượng protein không vượt trội, song rong Nho cũng như các loài rong
biển khác có chứa khoảng 20 axit amin, trong đó có 10 loại axit amin cần thiết cho
con người như His, Leu, Lys, Met, Phe, Thr, Trp, Val, Glu, Asp,…
Đặc biệt hiện nay rong nho được sử dụng như một loại mỹ phẩm tự nhiên,
làm đẹp da hoặc làm nguyên liệu để massage toàn thân rất hiệu quả. Chất
Cauleparaine trong rong nho kích thích ăn ngon miệng, có tác dụng diệt khuẩn và
gây tê nhẹ. Vì vậy, giúp bảo vệ đường tiêu hóa, làm sạch lỗ chân lông và bề mặt
da, chống lão hóa và chống béo phì…
Căn cứ vào hàm lượng các chất khoáng trong rong nho và nhu cầu tối thiểu
của cơ thể con người thì mỗi ngày một người chỉ cần ăn khoảng 10-15g rong Nho
tươi là có đủ lượng Iod cũng như các vi khoáng dinh dưỡng cần thiết.
Tóm lại, rong Nho là một loại rong có giá trị dinh dưỡng cao, ngày càng được
thị trường trong nước và nước ngoài ưa chuộng. Chính vì vậy, ngành trồng rong
nho, và xuất khẩu rong nho ở Việt Nam ngày càng phát triển, mang lại nguồn lợi
kinh tế cao. Tuy nhiên một trong những hạn chế rất lớn khi xuất khẩu rong Nho
tươi là thời gian bảo quản của rong tươi rất ngắn chỉ khoảng 7 đến 10 ngày. Hiện
nay có rất ít phương pháp bảo quản rong nho và các phương pháp này cũng chưa
thực sự hiệu quả, cũng như không giữ được những đặc tính vốn có của rong nho.
Vì vậy việc nghiên cứu một phương pháp hiệu quả để bảo quản loại rong này mà
vẫn phục hồi được những đặc tính vốn có của rong nho khi sử dụng là rất cần thiết.
1.2.3. Ứng dụng của rong Nho
* Trong lĩnh vực thực phẩm
16
Trong lĩnh vực thực phẩm rong nho được sử dụng như một loại thực phẩm
hằng ngày của con người: Làm rau xanh, làm súp, hoặc được chế biến thành một
món sốt cùng với một số thực phẩm khác. Ngoài ra hiện nay người ta còn sử dụng
rong ép thành nước tạo thành loại nước giải khát vừa ngon vừa bổ dưỡng, đặc biệt
thích hợp cho những ngày hè nắng gắt.
Rong nho còn được xay thành bột rong để phối trộn vào trong thực phẩm
như làm bánh tráng, bánh quy, bột dinh dưỡng cho trẻ em…
Trên thị trường Việt Nam hiện nay đã xuất hiện một số sản phẩm được làm từ
rong nho như: nước uống từ rong nho, rong nho muối, rong nho đóng hộp…
Bảng 1.1. Thành phần chính của rong nho [8]
Thành phần dinh dưỡng Khối lượng (mg/kg)
Vitamin A 0.518
Vitamin B 54
Vitamin C 161.80
Canxi 0.0437
Sắt 0.08
Kali 0.034
Iod 19.097
Một số món ăn ngon bổ dưỡng với rong nho
Theo kỹ sư thủy sản Trần Nam Sơn, người có nhiều năm nghiên cứu về loài
rong này, cho biết rong nho có tên tiếng nhật là Umibudo, Umi nghĩa là biển còn
Budo là nho. Tên gọi này giúp ta nhận dạng rong nho một cách dễ dàng. Là của
chúng có hình dạng màu sắc giống trái nho, kết với nhau thành từng chùm trên
phần thân hình trụ dài màu xanh. Rong Nho có rễ nhỏ, màu trắng, mọc ra từ thân.
Ở Nhật Bản, rong nho được trồng nhiều ở vùng biển xung quanh đảo
Okinawa. Người dân Okinawa sử dụng rong nho như rau sống và chế biến khoảng
60 món ăn từ rong Nho. Okinawa là nơi có dân số sống thọ nhất trên thế giới, nhờ
chế độ ăn được bổ sung nguồn thực phẩm từ thiên nhiên, trong đó có rong Nho.
17
Rong Nho luôn được xếp vào các danh sách các món ăn bổ dưỡng vì nó chứa
nhiều chất dinh dưỡng, khóang chất cần thiết cho cơ thể, giúp cơ thể giảm được
nguy cơ mắc các bệnh như: cao huyết áp, tiểu đường, đường ruột, bướu cổ. Một số
chất trong rong Nho có thể hạn chế và ngăn chặn sự phát triển tế bào ung thư, làm
giảm cholesterol và cải thiện thể trạng của những người bị bệnh tiểu đường. Rong
Nho còn được dùng như món ăn trang trí kết hợp với các loại rau và trái cây khác,
phần thân non giòn có thể làm gỏi.
Ở Việt Nam, vài năm gần đây rong Nho được đưa vào thực đơn của các nhà
hàng. Rong Nho được nuôi trồng nhiều ở vùng biển Phan Thiết, Bình Thuận,
Khánh Hòa. Sản phẩm được phân phối chủ yếu đến Hà Nội, thành phố Hồ Chí
Minh và các tỉnh lân cận.
Một số món ăn chế biến từ rong Nho:
Rong nho tươi: Rong Nho tươi sẽ ngon và dễ ăn hơn khi được làm lạnh.
Ngâm rong Nho trong nước khoảng 10 phút cho bớt mặn, sau đó đặt chúng vào
ngăn mát tủ lạnh chừng 30 phút. Khi ăn, rong Nho sẽ giòn và không tanh.
Hình 1.6. Rong nho tươi
/>
18
Salad cải tím rong nho: Khẩu phần 4 người ăn
Nguyên liệu:
120gr rong nho, 100gr bắp cải tím,100gr bắp cải trắng, 1 củ cà rốt,4 trái cà
chua bi, 4 quả trứng cút, chanh, đường, nước mắm
Thực hiện:
Ngâm rong nho tươi trong nước sạch khoảng 5 – 10 phút, sau đó vớt ra, để
nơi kín gió. Cải tím, cải trắng, rửa sạch, để ráo, xắt sợi. Cà rốt gọt vỏ, rửa sạch, xắt
sợi. Cà chua rửa sạch, để ráo, cắt đôi. Trứng cút, luộc chín, lột vỏ, cắt đôi.
Pha chanh, đường, nước mắm cho vừa ăn. Cho cải tím, cải trắng và cà rốt vào
dĩa rồi trộn đều với hỗn hợp trên. Chorong nho, cà chua và trứng vào sau cùng.
Dùng ngay để rong nho vẫn còn độ giòn ngon
Hình 1.7. Salad cải tím rong nho
Nước ép với Rong nho: (Khẩu phần 2 phần)
Nguyên liệu: 20g rong nho tươi, 1 trái cam vàng, 1 củ cà rốt to, đường, đá bào
Thực hiện: Cam vắt lấy nước,Cà rốt ép lấy nước.