Tải bản đầy đủ (.doc) (19 trang)

Phương pháp xây dựng và phát triển lý thuyết khoa học trong hoạt động nhận thức của sinh viên

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (153.63 KB, 19 trang )

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
MỤC LỤC
Phần I: MỞ ĐẦU
Phần II: NỘI DUNG
1> Phương pháp học tập là gì? và tại sao học tập phải đi đối với
thực hành?
2> Phương pháp thu nhận tri thức kinh nghiệm trong hoạt động
nhận thức của sinh viên.
3> Phương pháp xây dựng và phát triển lý thuyết khoa học trong
hoạt động nhận thức của sinh viên
.
4> Phương pháp tạo lập một kế hoạch học tập hợp lý.
5> Bệnh thụ động trong học tập của sinh viên hiện nay.
6> Phương pháp đối thoại giữa thầy và trò trong việc xây dùng
bài giảng
Phần III: KẾT LUẬN
1
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
I. PHẦN MỞ ĐẦU
Thời đại mà chúng ta đang sống luôn có biến động tích cực về bộ
mặt văn minh xã hội, biến động về kinh tế biến động về khoa học công
nghệ. Thực tiễn đó là kết quả của tư duy sáng tạo, kết quả tư duy đổi mới
mạnh mẽ. Từ hiện thực đó nên hoạt động giáo dục, hơn lúc nào hết, phải
được coi là nền tảng, là động lực của mọi sự phát triển. Chính vì thế
trong hoạt động của mỗi con người, mà đặc biệt là trong học tập thì đều
phải có những phương pháp để có thể tiêp cận với nền tri thức mới và
tiếp thu những tri thức đó một cách hiệu quả nhất. Trong đó triết học
Mác -Lênin đóng vai trò rất quan trọng trong việc đổi mới phương pháp
học tập của sinh viên ngày nay. Trong thực tiễn, ngày nay việc học tập
của sinh viên là rất thụ động. Với cách học nhồi nhét, lý thuyết triền
miên, học nhưng không đi đôi với hành đã biến người học thành những


thực thể bị động trong suốt những năm tháng ngồi trên ghế nhà trường
Đại học. Nhiều những sinh viên giỏi trong các trường Đại học nhưng do
ít được thực hành nên khi bắt đầu làm việc chuyên môn đã được học
trong trường Đại học thì tỏ ra rất lung túng. Vì thế, đề tài: “Phương
pháp xây dựng và phát triển lý thuyết khoa học trong hoạt động nhận
thức của sinh viên” là một nhu cầu cấp thiết trong thời đại mới, một thời
đại luôn luôn có những tri thức mới buộc người học phải tiếp cận và tiếp
thu những tri thức mới đó một cách hiệu quả nhất.
II. PHẦN NỘI DUNG
2
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
1> Phương pháp là gì? và tại sao học tập phải đi đôi với thực
hành?
Khi đề cập đến vấn đề đổi mới phương pháp học tập của sinh viên
hiện nay thì trước hết ta cần hiểu “ phương pháp là gì? “ và “ tại sao
phương pháp lại cần thiết để con người có thể đến được cái đích cần đến
trong nhận thức các tri thức khoa học? “ Theo nghĩa thông thường thì
phương pháp là những cách thức, những con đường, những thủ đoạn mà
được chủ thể sử dụng để đạt được mục đích nào đó. Còn theo nghĩa khoa
học thì phương pháp là hệ thống những nguyên tắc mà chủ thể phải thực
hiện nhất quán trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn nhằm
đạt được mục đích đề ra. Phương pháp nó có vai trò rất quan trọng trong
hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn. Nó là công cụ có hiệu quả
và có tính quyết định khi phương hướng nghiên cứu cải tạo sự vật đã
được xác định đúng đắn. Chính vì thế trong lịch sử, các nhà triết học đặc
biệt là các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin rất chú trọng đến
phương pháp. Nếu dùa vào mục đích và chức năng thì phương pháp có
thể được chia thành phương pháp hoạt động thực tiễn và phương pháp
hoạt động nhận thức. Phương pháp hoạt động thực tiễn là phương pháp
sử dụng phương tiện vật chất để tác động trực tiếp vào đối tượng nhằm

cải biến đối tượng đó theo nhu cầu của con người (ví dụ: phương pháp
thực nghiệm ). Phương pháp nhận thức là phương pháp sử dụng các giác
quan và tư duy nhằm nắm bắt bản chất, quy luật vận động và phát triển
của đối tượng( ví dụ: phương pháp quan sát, phương pháp phân tích tổng
hợp, đi từ trừu tượng đến cụ thể). Việc phân chia thành các phương pháp
như trên chỉ có tính chất tương đối. Mỗi loại phương pháp đó có chức
năng và nhiệm vụ khác nhau, không thể thay thế được cho nhau. Nhưng
giữa các phương pháp đó có mối quan hệ biện chứng với nhau, hỗ trợ
cho nhau trong quá trình nhận thức và cải tạo thực tiễn. Vì thế, không
3
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
nên cường điệu hoá phương pháp này, hạ thấp phương pháp kia mà phải
biết vận dụng tổng hợp các phương pháp. Cho nên, trong hoạt động nhận
thức, trong học tập của sinh viên hiện nay thì nên học tập đi đôi với thực
hành. Lý thuyết được học, được tiếp thu là cơ sở của hoạt động thực tiễn
và kết quả của hoạt động thực tiễn nó kiểm tra lại lý thuyết, để xác định
lý thuyết đó là đúng đắn hay sai lệch. Vì vậy, thực hành là rất cần thiết để
người sinh viên để dễ dàng tiếp cận với tri thức hơn và lý thuyết để người
sinh viên có thể hiểu sâu sắc, cặn kẽ. Nên thực hành và lý thuyết luôn
phải đi đôi với nhau chứ không nên đề cao lý thuyết và xem nhẹ thực
hành và ngược lại. Việc đề cao lý thuyết và xem nhẹ thực hành là một bất
cập đối với phần lớn các trường Đại học ở nước ta. Chính vì thế sinh viên
hầu như họ chỉ học lý thuyết triền miên, nhồi nhét, họ Ít có cơ hội dược
thực hành các kiến thức được học trong quá trình học tập vì thế sinh viên
Ít có tính sáng tạo, tính chủ động trong hoạt động nhận thức của mình.
Trong phương pháp nhận thức khoa học có thể chia một cách tương đối
thành hai nhóm; nhóm các phương pháp nhận thức ở trình độ kinh
nghiệm và nhóm các phương pháp xây dựng và phát triển lý thuyết khoa
học.
2> Phương pháp thu nhận tri thức kinh nghiệm trong hoạt

động nhận thức của sinh viên.
Đối với phương pháp thu nhận tri thức kinh nghiệm: quan sát là sự
tri giác các sự vật, hiện tượng được nghiên cứu nhằm một mục đích nhất
định. Quan sát là phương pháp nghiên cứu để xác định các thuộc tính và
quan hệ của sự vật, hiện tượng riêng lẻ của thế giới xung quanh xét trong
điều kiện tự nhiên vốn có của nó. Bất kì quan sát nào cũng có một khách
thể được quan sát và chủ thể tiến hành hoạt động quan sát. Sự tác động
của khách thể lên các giác quan của chủ thể đem lại những thông tin về
4
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
khách thể. Khác với quan sát thông thường, trong quan sát khoa học chủ
thể có chủ định trước, có chương trình nghiêm ngặt để thu thập các sự
kiện khoa học chính xác. Đồng thời để hỗ trợ các giác quan của người
quan sát, nâng cao trình độ chính xác và tính khác quan của kết quả thu
nhận dược, trong quan sát khoa học người ta thường chỉ sử dụng các
công cụ, các phương tiện kĩ thuật như máy chụp hình, kính viển vọng,
kính hiển vi , thiên văn vô tuyến Khác với quan sát, thí nghiệm là
phương pháp nghiên cứu các sự vật hiện tượng bằng cách sử dụng các
phương tiện vật chất để can thiệp vào trạng thái tự nhiên của chúng nhằm
tạo thànhcác bộ phận và kết hợp chúng lại, sản sinh chúng dưới dạng
thuần khiết. Trong thí nghiệm chủ thể tác động lên khách thể, thay đổi
những điều kiện tồn tại tự nhiên của khách thể, buộc khách thể phải buộc
lé thuộc tính của mình cho chủ thể nhận thức. Nhờ có thí nghiệm người
ta khám phá ra thuộc tính của hiện tượng mà trong điều kiện tự nhiên
không khám phá ra được. Trong thí nghiệm chủ thể vẫn tiến hành quan
sát ở mức độ cao hơn. Thí nghiệm bao giê cũng được tổ chức thực hiện
dưới sự chỉ đạo của một ý tưởng khoa học và trên cơ sở một lý thuyết
khoa học nhất định, từ khâu chọn thí nghiệm, lập kế hoạch, tiến hành thí
nghiệm cho đến khi giải thích kết quả thí nghiệm. Thí nghiệm không chỉ
nhằm thu thập các dữ kiện khoa học để tạo cơ sở cho sự khái quát lý luận

mà còn nhằm bác bỏ hay chứng minh một giả thuyết khoa học nào đó.
Trong nhận thức khoa học, giả thuyết khoa học giữ vai trò quan trọng.
Có thể nói giả thuyết là một hình thức phát triển của khoa học. Nhờ thí
nghiệm người ta chính xác hoá, chỉnh lý các giả thuyết và lý thuyết khoa
học. Ngày nay, thí nghiệm được sử dụng rộng rãi trong tự nhiên, trong
khoa học kĩ thuật và cả trong khoa học xã hội. Thí nghiệm như một dạng
cơ bản của thực tiễn, giữ vai trò là cơ sở của nhận thức khoa học và là
tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý của nhận thức khoa học. Vì thế, trong quá
5
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
trình học tập của sinh viên nên tổ chức những buổi thí nghiệm để sinh
viên có thể nắm vững lý thuyết và kiểm tra lại lý thuyết đã học đem đến
cho sinh viên những nhận thức đúng đắn.
3> Phương pháp xây dựng và phát triển lý thuyết khoa học
trong hoạt động nhận thức của sinh viên.
Trong phương pháp nhận thức khoa học còn có phương pháp xây
dựng và phát triển lý thuyết khoa học. Để xây dựng và pháp triển lý
thuyết khoa học có rất nhiều phương pháp khác nhau, những phương
pháp phổ biến mà triết học nghiên cứu là phân tích tổng hợp; quy nạp và
diễn dịch; lịch sử lôgic; từ trùi tượng đến cụ thể. Đối với phương pháp
phân tich và tổng hợp: phân tích là phương pháp phân chia cái toàn bộ ra
bộ phận để đi sâu nhận thức các bộ phận đó. Tổng hợp là phương pháp
liên kết, thống nhất các bộ phận đã được phân tích lại nhằm nhận thức
cái toàn bộ. Phân tích và tổng hợp có cơ sở khách quan trong cấu tạo và
trong tính quy luật của bản thân sự vật cũng như trong hoạt động thực
tiễn của con người. Trong hiện thực khách quan tồn tại cái toàn bộ và cái
bộ phận, yếu tố và hệ thống, phân tán và kết hợp. Trong hoạt động thực
tiễn của con người cũng có hai quá trình: quá trình chia tách các đối
tượng và quá trình hợp nhất các đối tượng đã tách ra vào thành thể thống
nhất mới. Những quá trình đó được di chuyển vào tư duy thành thao tác

tư duy, phương pháp tư duy. Các phương pháp phân tích và tổng hợp của
tư duy chỉ là sự phản ánh những quá trình hoạt động thực tiễn của con
người-quá trình phân chia các yếu tố ra và quá trình hợp nhất các yếu tố
lại để nhận thức cái chỉnh thể. Tách ra trong ý thức những mặt này, mặt
kia của chỉnh thể cần nghiên cứu và hợp nhất chúng lại nhằm thu được tri
thức mới là một khâu cơ bản để chiếm lĩnh bằng lý luận các sự vật, hiện
tượng của thế giới khách quan. Phân tích và tổng hợp là hai phương pháp
6
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
nhận thức khác nhau song lại thống nhất biện chứng với nhau. Sự thống
nhất của phân tích và tổng hợp là một yếu tố quan trọng của phương
pháp biện chứng. Dó đó không nên tách rời phân tích và tổng hợp hoặc
cường điệu hoá phương pháp này, coi nhẹ phương pháp kia và ngược lại.
Ph.Ăngghen viết:” tư duy bao hàm ở chổ đem lại những đối tượng của
nhận thức ra phân thành các yếu có quan hệ với nhau hợp thành một hệ
thống nào đó. Không có phân tích thì không có tổng hợp”.Trước Các
Mác, Hêghen là người đầu tiên đã phát hiện ra mối liên hệ lẫn nhau thực
sự giữa phân tích và tổng hợp mặc dù trên cơ sở duy tâm. Theo học
thuyết của Hêghen, các quá trình phân tích và tổng hợp liên hệ biện
chứng với nhau, tạo thành một thể thống nhất biện chứng. Phương pháp
biện chứng, theo ông, vừa là tổng hợp vừa là phân tích. Triết học mácxít
xem sự thống nhất hữu cơ của hai phương pháp trên đây là điều kiện tất
yếu của sự trùi tượng hoá và khái quát hoá. Không phân tích thì không
hiểu được các bộ phận và ngược lại, không tổng hợp thì không hiểu được
cái toàn bộ như một chỉnh thể; không hiểu được cái bộ phận nếu không
hiểu được cái toàn bộ được cấu thành từ những bộ phận đó và ngược lại.
Vì thế chỉ có phân tích hoặc chỉ có tổng hợp thì không đủ: phân tích phải
đi liền với tổng hợp và được bổ sung bằng tổng hợp. Phân tích chuẩn bị
cho tổng hợp, tổng hợp giúp cho phân tích đi sâu vào bản chất của sự vật.
Phân tích và tổng hợp giả định lẫn nhau, tạo tiền đề và khả năng cho

nhau. Trước một nền tri thức vô tận đòi hỏi người sìh viên phải tiếp thu
một cách hiệu quả nhất thì phương pháp phân tích và tổng hợp nó giúp
cho ta phân chia cái toàn bộ ra thành từng bộ phận để đi sâu vào nhận
thức các bộ phận đó và đồng thời liên kết thống nhất các bộ phận đã
được phân tích lại nhằm nhận thức cái toàn bộ. Từ đó sinh viên mới nhận
thức được bản chất và quy luật của sự vật.Chẳng hạn như sau khi đã làm
bài tập áp dụng cho từng bài, cuối mỗi chương cần làm các bài tập để
7
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
nhìn lại các bài tập có tính chất tổng hợp và đó cũng là dịp tập huy động
kiến thức liên quan đếnviệc giải một bài tập. Việc làm này cần thiết vì
các bài mang tính chất tổng hợp thì thường gần giống với đề thi. Phương
pháp tổng hợp và phhân tích còn được sử dụng trong suốt cả quá trình
học tập lâu dài của sinh viên.Khi học bài ta không nên học khi quá mệt vì
học lúc mệt sẽ không mang lại kết quả tốt mà còn hai sức khoẻ. Khi học
nên tập trung cao độ để rút ngắn thời gian học mà lại đem đến hiệu quả
tốt nhất với người học. Cần phải phân chia thời gian sao cho việc học tập
thật đều đặn, bền bỉ và vừa sức.Gần đến ngày thi, nên giảm cường độ họ
tập .Mà việc học chủ yếu là đọc lại để sắp xếp kiến thức đã học, chú ý tới
lỗi thường vấp phải và các công thức mà mình hay quên. Đối với phương
pháp quy nạp và diễn dịch: quy nạp là phương pháp đi từ tri thức về cái
riêng đến tri thức về cái chung, từ tri thức Ít chung đến tri thứcchung
hơn; còn diễn dịch là phương pháp đi từ tri thức về cái chung đến tri thức
về cái riêng, từ tri thức chung đến tri thức Ít chung hơn. Quy nạp và diễn
dịch đều dẫn tới tri thức mới, từ cái biết rồi để tìm ra cái chưa biết, tức là
khám phá ra tri thức mới. Quy nạp là quá trình rót ra nguyên lý chung từ
sự quan sát một loạt những sự vật riêng lẻ. Điều kiện khách quan của quy
nạp là tính lặp lại của một loại hiện tượng nào đó. Phương pháp quy nạp
giúp cho việc khái quát khinh nghiệm thực tiễn về những cái riêng để có
được tri thức kết luận chung. Quy nạp đóng vai trò lớn lao trong việc

khám phá ra quy luật, đề ra các giả thuyết.Tuy nhiên, quy nạp cũng có
những hạn chế của nó, nhất là đốí với loại quy nạp phổ thông theo lối liệt
kê giản đơn.Thuộc tính tính chung được rót ra bằng quy nạp từ một số
hiện tượng lại có thể không liên quan đến bản chất của hiện tượng và do
các điều kiện bên ngoài quyết định. Quy nạp chưa thể xác định được
thuộc tính đó là tất nhiên hay ngẫu nhiên. Để khắc phục hạn chế của quy
nạp cần có diễn dịch và bổ sung bằng diễn dịch. Diễn dịch là quá trình
8
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
vận dụng nguyên lý chung để xem xét cái riêng, rót ra kết luận riêng từ
nguyên lý chung đã biết. Tuy nhiên, muốn rót ra kết luận đúng bằng con
đường diễn dịch thì tiền đề phải đúngvà phải tuân theo quy tắc logíc, có
quan điểm lịch sử cụ thể khi vận dụng cái chung vào cái riêng. Nếu quy
nạp là phương pháp dùng để khái quát hoá các sự kiện và tài liệu kinh
nghiệm thì diễn dịch là phương pháp xây dựng lý thuyết mở rộng.
Phương pháp diễn dịch có ý nghĩa quan trọng đối với các khoa học lý
thuyết, chẳng hạn như toán học. Ngày nay trên cơ sở của diễn dịch,
người ta xây dùng trong khoa học các phương pháp như phương pháp
tiền đề phương pháp giải thích- diễn dịch. Mặc dù quy nạp và diễn dịch
là hai phương pháp nhận thức có chiều hướng đối lập nhau, nhưng có
liên hệ hữu cơ vơi nhau, làm tiền đề cho nhau, cái này đòi hỏi cái kia bổ
sung cái kia. Do đó không nên tách rời quy nạp với diễn dịch, cường điệu
hoá phương pháp này hạ thấp phương pháp kia và ngược lại. Do đó,
“Quy nạp và diễn dịch phải đi đôi với nhau một cách tát nhiên như tổng
hợp và phân tích. Không được đề cao cái này lên tận mây xanh và hy
sinh cái kia, mà phải tìm cách sử dụng mỗi cái cho đúng chỗ và chỉ có
thể làm như vậy nếu người ta không quên rằng chúng liên hệ với nhau và
bổ sung lẫn nhau”. Nhờ khái quát các tài liệu kinh nghiệm đã được tích
luỹ nạp chuẩn bị căn cứ để dự kiến về sự tồn tại mọt mối liên hệ tất yếu
nhất định. Còn diễn dịch thì luận chứng về mặt lý thuyết cho những kết

luận Êy và biến chúng thành tri thức đáng tin cậy. Quy nạp giúp chúng ta
hiểu được cái chung, còn diển dịch giúp ta đi từ cái chung để hiểu cái
riêng. Qúa trình nhận thức là quá trình đi từ cái riêng đến chung và đi từ
cái chung đến cái riêng.Vì vậy phải vận dụng tổng hợp cả hai phương
pháp quy nạp và diễn dịch trong nhận thức và nghiên cứu khoa học. Đối
với phương pháp lịch sử và lôgíc. Mỗi sự vậy hiện tượng trong tự nhiên,
hoặc trong xã hội đều có lịch sử phát triển và diệt vong củả nó.Đặc điểm
9
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
của lịch sử là nó diễn ra theo một trận tự thời gian với những biểu hiện cụ
thể, nhiều hình nhiều vẻ trong đó không chỉ có cái bản chất, cái ngẫu
nhiên, cả những ước quanh co của sự phát triển. ý thức, tư tưởng cũng có
lịch sử của mình với tính cách là lịch sử của quá trình phản ánh. Còn
phạm trù lôgíc có hai nghĩa; nghĩa thứ nhất, nó chỉ tính tất nhiên, tính
quy luật của sự vật, nó là:”lôgíc khách quan” của sự vật: nghĩa thứ hai,
nó chỉ mối liên hệ tất yếu nhất định giữa các tư tưởng phản ánh thế giới
khách quan vào nhận thức con người. Đó là lôgíc của tư duy, của lý luận.
Với nghĩa thứ hai, lôgíc là sự tái tạo dưới dạng hình ảnh tinh thần khách
thể đang vận động và phát triển với những mối liên hệ tát yếu nhất định.
Lôgíc còn nói lên trật tự giữa các bộ phận của tư tưởng( các phạm trù lý
thuyết ). Khác với quan điểm duy tâm và siêu hình, chủ nghĩa duy vật
biện chứng cho rằng lịch sử là tính thứ nhất,còn lôgíc của tư duy là tính
thư hai, lôgíc phản ánh lịch sử, lô gíc phải phục tùng lịch sử chứ không
phải ngược lại. Dó đó, lôgíc phải gắn bó hữu cơ với lịch sử phải phù hợp
với lịch sử. Thống nhất lôgíc và lịch sử là một nguyên tắc phương pháp
luận quan trọng của nhận thức khoa học và của việc xây dựng các lý
thuyết khoa học. Sức mạnh của lôgic tư duy là pháp hiện ra bản chất của
lịch sử, vạch ra quy luật phát triển của lịch sử, tước bỏ những cái gì là
bên ngoài, ngẫu nhiên, không bản chất của lịch sử, tái hiện lôgíc khách
quan của lịch sử trong lôgíc vận động của các khái niệm. Như vậy, lôgíc

của tư duy, củalý luận không phải là sự sao chép máy móc, đơn giản lịch
sử mà phải là sự phản ánh rút gọn và sáng tạo đối với lịch sử.Với ý nghĩa
đó, Ph.Ăngghen cho rằng, lôgíc chẳng qua là lịch sử, chỉ có khác đã thoát
khỏi những hiện tượng ngẫu nhiên pha trộn. Trong nghiên cứu khoa học
cần phải được áp dụng phương pháp lịch sử và phương pháp
lôgíc.Phương pháp lịch sử đòi hỏi phải phản ánh trong tư duy quá trình
lịch sử-cụ thể của sự vật với những chi tiết của nó, phải nắm lấy sự vận
10
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
động lịch sử trong toàn bộ tính phong phú của nó, phải bám lấy sự vật
trong “máu thịt” của nó, phải theo dõi mọi bước đi của lịch sử theo trình
tự thời gian. Chẳng hạn, khi sinh viên nghiên cứu sự pháp triển của chủ
nghĩa tư bản bằng phương pháp lịch sử đòi hỏi phải bắt đầu mô tả quá
trình phát sinh, phát triển của chủ nghĩa tư bản trong các nước riêng lẻ ở
Châu Âu và Châu Mĩ với vô số chi tiết và hình thức cụ thể, trong đó biểu
hiện cả cái phổ biến, cái tát nhiên, cả cái đặc thù, cái đơn nhất, cái ngẫu
nhiên. Phương pháp lịch sử có giá trị to lớn và quan trọng trong các khoa
học lịch sử như lịch sử xã hội, lịch sử dân tộc,lịch sử đảng, lịch sử kinh
tế, lịch sử văn hoá v.v., không có phương pháp lịch sử sẽ không có khoa
học lịch sử. Tuy nhiên, không phải bao giê và bất cứ đối tượng nghiên
cứu nào phương pháp lịch sử cũng thích hợp. Bởi vì “lịch sử thường phát
triển qua những bước nhảy vọt và những bước khúc khuỷu quanh co, và
nếu nhất định bất cứ chỗ nào cũng phải đi theo nó, thì không những phải
nêu lên những tài liệu không quan trọng, mà thường thường còn phải
ngắt đoạn tiến trình tư tưởng nữa”. Trong những trường hợp đó thì
phương pháp lôgíc là thích hợp và có ưu thế hơn. Phương pháp lôgic
vạch ra bản chất, tính tất nhiên, tính quy luật của sự vật dưới hình thức lý
luận trùi tượng và khái quát.Phương pháp lôgíc có nhiệm vụ dựng lại cái
lôgic khách quan trong sự pháp triển của sự vật. Qúa trình tư duy theo
phương pháp lôgíc phải bắt đầu từ khởi điểm lịch sử và phải tập trung

nghiên cứu vật dưới hình thức phát triển tương đối hoàn thiện và chín
muồi nhất của nó. Nói cách khác”Lịch sử bắt đầu từ đâu thì quá trình tư
duy bắt đàu từ đó, và sự vận động tiếp tục của nó chẳng qua chỉ là sự
phản ánh quá trình lịch sử dưới một hình thái trùi tượng nhất quán về lý
luận; nó là sự phản ánh đã được uốn nắn, nhưng uốn nắn theo những quy
luật mà bản thân quá trình lịch sử hiện thực đã cung cấp, hơn nữa mỗi
một nhân tố đều có thể xem xét ở cái điểm phát triển mà ở đó quá trình
11
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
đạt tới chỗ hoàn toàn chín muồi, đạt tới cái hình thức cổ điển của nó”. So
với phương pháp lịch sử, phương pháp lôgíc có ưu thế hơn ở chỗ nó
không những phản ánh bản chất, tính tát nhiên, quy luật của sự vật mà
còn phản ánh được lịch sử pháp triển của sự vật( một cách tóm tắt, khái
quát,trên những giai đoạn chủ yếu). Phương pháp lôgíc có khả năng kết
hợp trong bản thân mình hai yếu tố của sự nghiên cứu: Nghiên cứu sự kết
cấu của sự vật cùng với việc hiểu lịch sử của sự vật đó trong sự thống
nhất chặt chẽcủa chúng.Phương pháp lôgíc có vai trò to lớn đối với sinh
viên trong việc tiếp nhận tri thức của những môn khoa học như là những
môn kinh tế học. Trong bộ “tư bản”để nghiên cứu phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa, C.Mác chủ yếu dùng phương pháp lôgíc. Bằng sự phân
tích lôgíc, bằng một hệ thống những khái niệm, phạm trù kinh tế được
sắp xếp theo một trình tự lôgíc hợp lý, Mác đã vạch ra quy luật phát sinh,
phát triển của chủ nghĩa tư bản . Phương pháp lịch sử và phương pháp
lôgíc là hai phương pháp nghiên cứu khác nhau, nhưng nó lại thống nhất
biện chứng vói nhau, gắn bó chặt chẽ với nhau. Bởi vì muốn hiểu biết
bản chất và quy luật của sự vật thì phải hiểu lịch sử pháp sinh, phát triển
của nó; đồng thời nắm được bản chất và quy luật thì mới có nhận thức
được lịch sử của nó một cách đung đắn và sâu sắc.Phương pháp lịch sử
cũng phải nắm lấy cái lôgíc, phải rót ra sợi dây lôgic chủ yếu của lịch sử
thông qua việc phân tích những sự kiện và hiện tượng cụ thể. Còn

phương pháp lôgíc cũng phải dùa trên các tài liệu lịch sử để khái quát và
chứng minh, và rốt cuộc phải đem lại lịch sử trong bản chất của nã . Tuỳ
theo đối tượng nghiên cứu và yêu cầu cụ thể khác nhau mà người nghiên
cứu có thể sử dụng phương pháp lịch sử hay phương pháp lôgíc là chủ
yếu, song dù trong trường hợp nào cũng phải quán triệt nguyên tắc thông
nhất lôgic và lịch sử. Lịch sử mà thiếu lôgíc là mù quáng, còn lô gíc mà
thiếu lịch sử thì không có đối tượng dễ rơi vào chủ quan, tự biện. Cho
12
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
nên trong hoạt động nhận thức của sinh viên nên kết hợp cả phương pháp
lôgíc và lịch sử. Các sự vật hiện tượng của thế giới khách quan bao giê
củng tồn tại dưới hình thức cụ thể. Cái cụ thể khác quan được phản ánh
vào nhận thức dưới hai hình thức: cái cụ thể cảm ứng và cái cụ thể trong
tư duy. Cái cụ thể cảm tính là diểm bắt đầu của nhận thức, là “biểu tượng
hỗn độn về cái toàn bộ”. Còn cái cụ thể trong tư duy là kết quả của tư
duy lý luận, của sự nghiên cứu khoa học phản ánh cái cụ thể khách quan
bằng hệ thống khái niệm, phạm trù, quy luật. C.Mác đã phân tích rõ
ràng :”Cái cụ thể sở dĩ là cụ thể vì nó là sự tổng hợp của nhiều tính quy
định, do đó, nó là sự thống nhất của cái đa dạng .Cho nên trong tư duy nó
biểu hiện ra là một quá trình tổng hợp, là kết quả, chứ không phải là điểm
xuất phát, mặc dù nó là điểm xuất phát thực sự và do đó cũng là điểm
xuất phát của trực quan và biểu tượng”.Như vậy cái cụ thể trong tư duy
là một thể phong phú với rất nhiều tính quy định và quan hệ, nó là cái
phong phú và sâu sắc. Còn cái trùi tượng là một trong những yếu tố quan
trọng, vòng khâu của quá trình nhận thức. Cái trừu tượng là kết quả sự
trùi tượng hoá mỗi mặt, mỗi mối liên hệ nào đó trong tổng thể phong phú
của sự vật. Vì vậy cái trừu tượng là bộ phận của cái cụ thể, biểu hiện mặt
nào đó của cái cụ thể, là bậc thang của sự xem xét cái cụ thể.Từ nhiều cái
trừu tượng từ, tư duy tổng hợp lại thành cái cụ thể trong tư duy. So với
cái cụ thể, cái trừu tượng là cái nghèo nàn hơn về tính quy định và quan

hệ. Tuy nhiên ranh giới giữa cái trừu tượng và cái cụ thể chỉ là tương
đối,tuỳ thuộc vào mối quan hệ xác định. Nhận thức là sự thống nhất của
hai quá trình đối lập: Từ cụ thể đến trừu tượng và từ trừu tượng đến cụ
thể. Theo quá trình thứ nhất thì nhận thức xuất phát từ những tài liệu cảm
tính, qua phân tích rót ra những khái niệm đơn giản, những định nghĩa
trừu tuợng phản ánh từng mặt, thuộc tính của sự vật. Trong quá trình này,
toàn bộ biểu tượng đã biến thành một sự quy định trừu tượng. Quá trình
13
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
từ cụ thể đến trừu tượng tạo tiền đề cho quá trình thứ hai là quá trình từ
trừu tượng đến cụ thể. Trong quá trình thứ hai, nhận thức từ những định
nghĩa trừu tượng thông qua tổng hợp biện chứng đi đến cái cụ thể với tư
cách là kết quả của tư duy chứ không phải với tư cách là điểm xuất phát
trong hiện thực. Trong quá trình này, những sự quy định trừu tượng lại
dẫn tới mô tả lại cái cụ thể bằng con đường của tư duy. C.Mác coi đi từ
trừu tượng đến cụ thể là phương pháp nhận thức khoa học quan trọng.
Nói cách khác thì” phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể chỉ là cái
phương pháp nhờ đó nà tư duy quan triệt được cái cụ thể và tái tạo ra nó
với tư cách là một cái cụ thể trong tư duy”. Trước Mác, Hêghen là người
đã đề cập đến phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể và đã có những tư
tưởng hợp lý sâu sắc về nó. Hêghen cho rằng, nhận thứ phải bắt đầu từ
những khái niệm đơn giản nhất, trừu tượng và chuyển sang những khái
niệm ngày càng cụ thể, phủ định những khái niệm có trước và bao chứa
chúng như một nhân tố và một giai đoạn phát triển của nội dung. Tuy
nhiên phương pháp này của Hêghen mang tính duy tâm, thần bí. Ở
Hêghen quá trình đi từ trừu tượng đến cụ thể cũng là quá trình sản sinh ra
bản thân cái cụ thể hiẹn thực. Phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể đã
được C.Mác xây dựng trên cơ sở chủ nghĩa duy vật. Phương pháp này có
vai trò đặc biệt trong việc xây dựng lý thuyết khoa học, nó cho phép xâm
nhập vào bản chất của đối tượng nghiên cứu, hình dung được tất cả các

mặt và quan hệ tất yếu của đối tượng trong mối liên hệ và phụ thuộc lẫn
nhau của chóng . Theo phương pháp này, việc nghiên cứu phải bắt đầu từ
cái trừu tượng, từ các khái niệm phản ánh những mối liên hệ phổ biến,
đơn giản của khách thể nhận thức. Tuy nhiên, không phải lấy bất kì cái
trừu tượng nào làm khâu xuất phát, mà cái trừu tượng xuất phát phải
phản ánh mối liên hệ phổ biến nhất, đơn giản nhất nhưng có vai trò quyết
định trong cái cụ thể cần nghiên cứu. Từ cái trừu tượng xuất phát đó, tư
14
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
duy theo dõi những vòng khâu, những trạng thái quá độ trong sự phát
triển của sự vật được thể hiện bằng khái niệm ngày càng cụ thể hơn.
Bằng cách đó, tư duy tái hiện quá trình hình thành và phát triẻn của
khách thể nhiên cứu vớí toàn bộ các mặt các mặt và các quan hệ tất yếu,
bản chất, những quy luật, vận động và phát triển của nó. Trong bộ Tư
bản, C.Mác đã đưa ra một kiểu mẫu về việc sử dụng phương pháp đi từ
trừu tượng đến cụ thể đẻ nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa. Bắt đầu từ sự phân tích phạm trù hàng hoá - phạm trù cơ bản và
đơn giản nhất của quá trình sản xuất tư bản như là cái trừu tượng xuất
phát, cái tế bào kinh tế của xã hội tư bản. Mác tiến đến phân tích các
phạm trù cụ thể hưn như tiền tệ, tư bản, giá trị thặng dư, lợi nhuận, lợi
tức, địa tô, v.v Sự phân tích phạm trù cơ bản cùng với quá trình tổng hợp
đã làm phong phú sự nghiên cứu các tính quy định của đối tượng, dẫn
đến cụ thể hoá đối tượng. Nhờ đó ông đã tái hiện xã hội tư bản chũ nghĩa
như một chỉnh thể cụ thể trong sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng
trên cơ sở vạch ra quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản. Phương
pháp từ trừu tượng đến cụ thể còn rất có Ých trong quá trình tiếp thu
những tri thức khoa học. Trong các trường Đại học cần quan niệm việc
dạy cách học, học cách học để tạo thãi quen, niềm say mê và khả năng
học suốt đời là nội dung bao quát của việc dạy học và cách học ở Đại
học. Mọi phương pháp dạy, phương pháp học, nội dung càn dạy, nội

dung cần học đều xuất phát từ đó. Chẳng hạn, trong chương trình đào tạo
Đại học cần phải chú trọng kiến thức nền tảng chứ không phải là kiến
thức về một quy trình cụ thể. Vì kiến thức nền tảng tạo cho sinh viên một
cái nền vững chắc để tiếp tục học tập những cái cụ thể khác. Cũng vậy kĩ
năng cơ bản là công cụ học tập suốt dời( chẳng hạn kĩ năng nghe, kĩ năng
đọc hiểu, kĩ năng về một ngoại ngữ quan trọng chứ không phải là kĩ
năng sử dụng một cái máy cụ thể, kĩ năng thao tác một công trình cụ thể).
15
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Trong từng lĩnh vực từng môn học có mênh mông các nội dung các ván
đề để học, người giảng viên phải biết lùa chọn nội dung gì, vấn đề gì để
người học rèn luyện năng lực tư duy cao nhất, được học cách học tốt
nhất. Ngoài ra bằng cách khêu gợi trí tò mò, tạo sự hấp dẫn của tri thức
bằng tấm gương học tập của mình, giảng viên cố gắng tạo nên niềm say
mê cho học viên.
4> Phương pháp tạo lập một kế hoạch học tập hợp lý.
Ngoài những phương pháp học rất hiệu quả đã được trình bày ở
trên thì trong quá trình học tập và hoạt động nhận thức, mỗi người sinh
viên phải tìm cách tạo cho mình một kế hoạch học tập hợp lý. Để tiết
kiệm thời gian và sức lực, đồng thời có hiệu quả cao nhất thì việc lập ra
một kế hoạch học tập là điều rất quan trọng. Cần thu xếp học bài trong
thời gian sớm nhất sau khi nghe giảng. Học ở đây có nghĩa là đọc và tìm
hiểu kĩ sách giáo khoa, sau đó làm bài tập áp dụng rồi đến nâng cao.
Càng để lâu thì càng tốn nhiều thời gian và sức lực hơn để đạt cùng một
kết quả. Khi nghe giảng, khi mới bắt đầu tiếp cận với tri thức mới có
những điều sinh viên hiểu chưa kĩ, nếu học sớm thì kiến thức sẽ được
khôi phục rất nhanh, dể lâu sẽ dẫn đến mờ dần và không hiểu sẽ tốn rất
nhiều thời gian mà chưa chắc đã hiểu được bài học. Điều này là rất dễ
thấy nhưng sinh viên thường hay có thãi quen đợi đén khi nào gần thi rồi
học, thật không hợp lý. Vì vậy cần thật sớm, tốt nhất là ngay sau khi

nghe giảng xong và học di học lại nhiều lần. Có thể lúc đầu học qua, chỉ
làm bài tập áp dụng, lần hai mới làm bài tập nâng cao để soi rọi các kiến
thức cơ bản mà mình chưa nắm vững, tích lỹ thêm một số xảo thuật. Mà
đặc biệt là đối vơi nhưng môn học tự nhiên thì không nên cố nhớ những
diều không hiểu, vì làm như vậy chỉ tốn công vô Ých, mất công không
16
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
đâu mà còn dễ thất bại. Vì nhớ trên cơ sở hiểu rõ bản chất thì mới tự
động nhớ dễ dàng.
5> Bệnh thụ động trong học tập của sinh viên hiện nay.
Với tốc độ phát triển nhanh chóng của khoa học kĩ thuật, vòng đời
của mọi công nghệ đều rất ngắn, tri thức tiếp thu được qua mấy năm
trong trường Đại học sẽ lạc hậu rất nhanh. Trong trường hợp đó không
còn cách nào khác là trang bị kiến thức nền tảng, kĩ năng cơ bản dạy và
học cho sinh viên, tạo cho họ có một niềm say mê học tập suốt đời. Tính
chủ động của người học là phẩm chất rất quan trọng cần tập trung phát
huy trong khi học ở Đại học. Đi làm thêm, dạy thêm kiếm tiền dẫn dến
nhiều sinh viên lơ là trong học tập, hoặc không theo nổi chương trình Đại
học quá nặng là những lý do khiến nhiều sinh viên bị buộc thôi học. Tuy
nhiên, đấy không phải là lý do chính, vì có những sinh viên vừa học vừa
làm nhưng kết quả học tập vẫn rất cao. Mà biểu hiện rõ nhất là sinh viên
không chụi tìm tòi sách, tài liệu phục vụ cho quá trình học tập và nghiên
cứu của mình. Mặc dù, trong phương pháp giảng Đại học nhiều thầy cô
lên líp chỉ hương dẫn và đưa ra những tư liệu, đầu sách cần thiết cho sinh
viên tìm kiếm tham khảo. Chẳng hạn như ở Pháp, sinh viên Ít khi lên líp
mà hầu như họ học trong thư viện, phòng đọc hay tự nghiên cứu bài vở ở
nhà. Sau đó quy định hàng tuần sinh viên chỉ lên líp báo cáo kết quả họ
tham khảo, nghiên cứu tư liệu cho giảng viên nghe. Trong khi đó ở Việt
Nam, giáo viên thường thật khổ sở để nhắc lại từng ý trong bài cho sinh
viên vì sợ họ quên, có những sinh viên không chụi học khiến giáo viên

phải ghi chú và gạch từng ý trong giáo trình cho sinh viên Từ thực tiễn
như hiện nay thì việc xây dựng một cách học tập tự giác là điều vô cùng
quan trọng đối với mỗi người sinh viên: học tập liên tục, học tập suốt đời,
học có trường, học có líp, có thầy, học không trường, học không líp,
17
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
không thầy, học trong sách báo, học trong thư viện, ở các câu lạc bộ, học
tập bạn bè Chính vì vậy, mỗi người sinh viên cần phải xác định cho
mình một phương pháp học tập chủ động, luôn tìm sách, báo, tài liệu để
phục vụ cho quá trình học tập và nghiên cứu và trong hoạt động nhận
thức của mình.
6> Phương pháp đối thoại giữa thầy và trò trong việc xây dựng bài
giảng.
Mục đích của phương pháp này là phát huy cao độ tính tích cực, tính
năng động, tính độc lập, sáng tạo của người học để họ có đủ tư cách giữ
vai trò trung tâm trong hoạt động dạy học của mỗi buổi giảng. Giáo viên
là người hướng dẫn tuyệt vời, như một nhạc trưởng lão luyện điều khiển
cả dàn hợp xướng. Do vậy, phương pháp này yêu cầu người giảng không
chỉ nắm vững vấn đề trình bày mà cần phải năng động, nhạy bén và sáng
tạo ngay trong một giê giảng. Trên cơ sở này người giảng đưa vấn đề
trình bày một cách tự nhiên, sinh động và đầy hứng thó vì trong bài giảng
có phần đóng góp ý kiến của sinh viên, có phần nhận thức của họ. Nhờ
vậy, các thắc mắc của sinh viên được giải toả ngay trong giê học. Chính
nhờ phương pháp này làm cho sinh viên rèn luyện được tính độc lập, tính
sáng tạo và sự tự tin khi trình bày ý kiến của mình trước đông người.
18
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
III. KẾT LUẬN:
Giáo dục phải làm nòng cốt xây dựng một xã hội học tập thành công.
Chúng ta đang bước vào một giai đoạn lịch sử mà nền văn minh trí tuệ

đang phổ cập dần trên hành tinh của chúng ta. Việc học tập không chỉ là
một quyền lợi, một công việc tuỳ thích, tuỳ hoàn cảnh mà nó đã trở thành
một trách nhiệm cao cả đối với cộng đồng. Vì thế việc tự xác định cho
mình một phương pháp học tập phù hợp đối với không chỉ sinh viên mà
còn với tất cả những ai đang học là điều vô cùng quan trọng. Một xã hội
học tập hình thành sẽ là nền tảng vững chắc cho ngành giáo dục bay cao,
bay xa.

19

×