ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
NGUYỄN THÙY LINH
MỞ RỘNG LIÊN MINH CHÂU ÂU LẦN 5 – TIẾN
TRÌNH, ĐẶC ĐIỂM VÀ TÁC ĐỘNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Người hướng dẫn: TS. Chu Đức Dũng
Hà nội - 2005
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
1
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của quá trình mở rộng Liên minh
châu Âu
5
1.1 Cơ sở lý luận của quá trình mở rộng Liên minh châu Âu
5
1.1.1 Lý thuyết chính thống về hội nhập kinh tế quốc tế
6
1.1.2 Lý thuyết về thị trường chung
11
1.1.3 Lý thuyết khu vực tiền tệ tối ưu
15
1.1.4 Lý thuyết điều tiết
19
1.1.5 Lý thuyết thể chế quốc tế
21
1.2 Cơ sở thực tiễn của quá trình mở rộng Liên minh châu Âu
25
1.2.1 Tác động của xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá nền kinh tế thế
giới
26
1.2.2 Ảnh hưởng của nền văn minh châu Âu tới quá trình mở rộng EU
29
1.2.3 Nhu cầu mở rộng biên giới ra bên ngoài của EU - 15
31
1.2.4 Nhu cầu gia nhập Liên minh của các nước châu Âu ngoài EU - 15
40
Chương 2: Tiến trình mở rộng EU lần 5 và những tác động
51
2.1 Chiến lược mở rộng Liên minh châu Âu lần 5
51
2.1.1 Mục đích của mở rộng EU lần 5
54
2.1.2 Phương thức tiến hành
59
2.1.3 Kết quả của quá trình đàm phán
66
2.2 Tác động của tiến trình mở rộng Liên minh châu Âu lần 5
68
2.2.1 Đối với nội bộ Liên minh châu Âu
69
2.2.2 Đối với thế giới
88
2.3 Đánh giá chung về tiến trình mở rộng lần 5 của Liên minh châu Âu
92
Chương 3: EU mở rộng và tác động tới quan hệ kinh tế Việt Nam - EU
108
3.1 Quan hệ Việt Nam – EU-15 và các nước ứng cử viên trước mở rộng lần
5
109
3.1.1 Quan hệ Việt Nam – EU-15
109
3.1.2 Quan hệ Việt Nam với 10 quốc gia Trung, Đông và Nam Âu
126
3.2 Định hướng của Việt Nam về phát triển kinh tế đối ngoại và quan hệ
kinh tế Việt Nam - EU
130
3.3 EU mở rộng và những ảnh hưởng tới quan hệ kinh tế Việt Nam - EU
133
3.3.1 Tác động tới mô hình kinh tế xã hội Việt Nam
133
3.3.2 Tác động tới hợp tác kinh tế của Việt Nam - EU
140
3.4 Những giải pháp đẩy mạnh quan hệ kinh tế Việt Nam với EU mở rộng
146
3.4.1 Đối với Nhà nước Việt Nam
148
3.4.2 Đối với doanh nghiệp Việt Nam
157
PHẦN KẾT LUẬN
165
TÀI LIỆU THAM KHẢO
168
PHỤ LỤC
176
DANH MỤC CÁC TÊN VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
ADB
Asian Development Bank – Ngân hàng phát triển châu Á
AFD
Cơ quan phát triển Pháp
AFTA
ASEAN Free Trade Area – Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
APEC
Asian – Pacific Economic Co-operation – Diễn đàn hợp tác kinh
tế châu Á - Thái Bình Dương
ASEAN
The Association of South East Asian Nations – Hiệp hội các
quốc gia Đông Nam Á
ASEM
Asian – Europe Summit Meeting – Diễn đàn hợp tác Á - Âu
CEECs
Central Eastern European Countries - Các nước Trung, Đông và
Nam Âu
CET
Common External Tariff – Biểu thuế quan ngoại khối chung
CNTB
Chủ nghĩa tư bản
CU
Custom Union – Liên minh thuế quan
DKK
Đơn vị tiền tệ của Đan Mạch
ECB
European Central Bank – Ngân hàng trung ương châu Âu
ECU
European Currency Unit - Đồng ECU
EMU
Economic Monetary Union – Liên minh kinh tế – tiền tệ
ESCB
European System Central Banks – Hệ thống ngân hàng trung
ương châu Âu
ESDP
European Security and Defence Policy – Chính sách phòng thủ
và an ninh chung châu Âu
EU
European Union – Liên minh châu Âu
EUR
EURO - Đồng tiền chung châu Âu
FDI
Foreign Direct Investment - Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FED
Cục dự trữ Liên bang Mỹ
FTA
Free Trade Area – Khu vực mậu dịch tự do
GATT
General Agreement on Tariff and Trade – Hiệp định chung về
thuế quan và mậu dịch
GDP
Gross Domestic Product – Tổng sản phẩm quốc nội
GNI
Gross National Income – Tổng thu nhập quốc dân
GSP
Generalised System Preference – Hệ thống thuế quan ưu đãi phổ
cập
IMF
International Monetary Fund – Quĩ tiền tệ quốc tế
INSEE
Viện thống kê và nghiên cứu kinh tế quốc gia Pháp
MERCOSUR
Thị trường chung Nam Mỹ
MFN
Most Favoured Nation – Qui chế tối huệ quốc
NAFTA
Northern America Free Trade Area – Khu vực mậu dịch tự do
Bắc Mỹ
NTBs
None Tariff Barriers – Hàng rào phi thuế quan
ODA
Official Development Aid – Viện trợ phát triển chính thức
OECD
Organization for Economic Co-operation and Development –
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
RIAs
Regional Intergration Agreements – Thoả ước hội nhập khu vực
SEK
Đơn vị tiền tệ của Thuỵ Điển
SIDA
Cơ quan phát triển hợp tác quốc tế Thuỵ Điển
UNDP
United Nations Development Programe – Chương trình phát
triển Liên hợp quốc
WB
World Bank – Ngân hàng thế giới
WTO
World Trade Organization – Tổ chức Thương mại thế giới
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
“Một nguyên nhân: hoà bình. Một con đường: kinh tế. Một tầm nhìn: chủ
nghĩa Liên bang châu Âu”
Khác với những người đi trước như Napoleon hay Condenhove Karleg, Jean
Monnet – cha đẻ của hành trình liên kết châu Âu ngày nay đã thiết kế con đường tiến
tới thống nhất châu lục như thế. Theo một lịch trình đã đặt sẵn, con tàu Liên minh châu
Âu (EEC/EU) tiến về đích với một tốc độ ngày càng nhanh. Chỉ khởi đầu bằng việc
liên kết sản xuất – tiêu thụ hai sản phẩm quan trọng của nền kinh tế vào năm 1951,
ngày nay, Liên minh châu Âu đã và đang tiến hành liên kết trên mọi lĩnh vực: từ kinh
tế cho tới văn hoá, an ninh, quốc phòng. Cùng với một tốc độ liên kết ngày càng nhanh
và mạnh, con tàu của liên minh đang ngày càng được nối dài. Và lần gần đây nhất
chính là sự kiện Liên minh châu Âu tiến hành mở cửa lần thứ 5, kết nạp thêm 10 thành
viên nữa thuộc khu vực Trung, Đông và Nam Âu bao gồm: Ba Lan, Hungary, Estonia,
Latvia, Litva, Malta, Síp, Séc, Slovakia và Slovenia, nâng tổng số thành viên của mình
lên con số 25. Và không dừng lại ở đó, Liên minh châu Âu còn đang có tham vọng liên
kết cả chính trị trên toàn châu lục.
Đối với Liên minh châu Âu, ngày 01/05/2004 đã đi vào lịch sử khi đây là lần mở
cửa lớn nhất và cũng đồng thời là mốc son đặt dấu chấm hết cho sự phân chia châu lục
theo trật tự Yalta sau Đại chiến thế giới lần thứ hai. Với lần mở rộng thứ 5 này, Liên
minh đang thực sự thay đổi cả về lượng và chất bởi đầu tàu lúc này phải kéo theo sau
nhiều toa với sức nặng lớn hơn; độ gắn kết giữa các toa vì thế mà cũng cần bền chặt
hơn.
2
Đối với thế giới, thị trường của Liên minh châu Âu đang là một thị trường chung
lớn nhất với 455 triệu người tiêu dùng. Với sức mạnh của 25 quốc gia hợp thành, EU
đang là một cực kinh tế mạnh, cạnh tranh với vị thế siêu cường của Mỹ. Còn riêng đối
với Việt Nam, EU mở rộng và quá trình mở rộng của EU có một ý nghĩa quan trọng
bởi họ vốn là bạn hàng lớn, nhất là khi những thành viên mới hay những nước ứng cử
viên đều là những người bạn truyền thống của Việt Nam. Hơn nữa, việc Liên minh tiếp
tục đổi mới, phát triển mô hình kinh tế xã hội sẽ trở thành một cơ sở thực tiễn quan
trọng để Việt Nam quan sát, học tập trong quá trình xây dựng kinh tế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước và đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa của mình.
Chính bởi những lý do như vậy mà việc nghiên cứu tiến trình mở rộng Liên
minh châu Âu lần thứ 5 và những vấn đề có liên quan trở nên vô cùng cần thiết
2. Tình hình nghiên cứu
Vừa mang tính lý luận, vừa mang tính thực tiễn, quá trình mở rộng EU đã và đang
thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả cũng như các nhà nghiên cứu trên thế giới
và ngay tại Việt Nam (xem mục Tài liệu tham khảo). Bên cạnh những bài viết trên các
tạp chí lớn như The Economist, Intereconomies… còn có những ấn phẩm được lưu
hành tại Việt Nam trong đó đáng chú ý là những cuốn sách như: Mở rộng EU và các
tác động đối với Việt Nam; Kinh tế và chính sách EU mở rộng…Nhiều nhà nghiên cứu
Việt Nam cũng đã đăng tải những bài viết của mình trên các tạp chí như: Tạp chí
nghiên cứu kinh tế; Những vấn đề kinh tế thế giới; Nghiên cứu châu Âu…. Đây là
những tài liệu có giá trị trong việc tìm hiểu tiến trình, đặc điểm cũng như triển vọng
của quá trình mở rộng EU, song những tài liệu này chủ yếu mới đi vào các khía cạnh
riêng lẻ và trong từng giai đoạn nhất định. Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách tổng
thể và có hệ thống tiến trình mở rộng lần 5 của Liên minh châu Âu, rút ra những đặc
điểm cũng như phân tích những tác động có thể có sẽ đóng góp một vai trò rất quan
trọng.
3
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích mà luận văn hướng tới chính là việc khẳng định những đặc trưng của lần
mở rộng Liên minh châu Âu lần thứ 5; chứng minh EU đang thực sự thay đổi sau lần
mở rộng này: thay đổi về thể chế chính trị, thay đổi về mô hình liên kết, thay đổi về
các mối quan hệ đối ngoại… Điều này sẽ làm sáng tỏ hơn mô hình liên kết mang tính
đặc thù của Liên minh châu Âu. Và với sự thay đổi như vậy, EU chắc chắn sẽ tạo ra
những ảnh hưởng quốc tế sâu rộng, trong đó bao gồm cả những ảnh hưởng đối với Việt
Nam. Để đạt được mục đích đề ra, luận văn sẽ tập trung việc giải quyết một số vấn đề:
Thứ nhất, tìm hiểu một cách có hệ thống các lý thuyết và các cơ sở thực tiễn để
giải thích cho quá trình mở rộng của châu Âu.
Thứ hai, rút ra những đặc trưng cơ bản ở lần mở rộng thứ 5 của Liên minh châu
Âu; tìm hiểu mục đích của lần mở rộng thứ 5 khi phần lớn những quốc gia được kết
nạp lần này lại vốn đã từng nằm trong hệ thống các nước XHCN và chịu sự chi phối
chặt chẽ của Liên Xô cũ.
Thứ ba, đánh giá và dự báo những tác động có thể có đối với nội bộ EU và thế giới
Thứ tư, đánh giá và dự báo những tác động của EU mở rộng đối với quan hệ kinh
tế Việt Nam - EU
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu quá trình mở rộng lần thứ 5 của Liên minh châu
Âu, tức là bắt đầu tính từ năm 1989 (thời điểm bức tường Berlin sụp đổ, EU thiết lập
quan hệ và hợp tác với các quốc gia khu vực Trung, Đông và Nam Âu). Tuy nhiên để
làm rõ được vấn đề, luận văn sẽ tiến hành lật lại lịch sử EU kể từ khi thành lập cho tới
nay; đồng thời để có thể dự báo được về triển vọng mở rộng của Liên minh châu Âu,
luận văn cũng đưa ra giới hạn trần về mặt thời gian là năm 2020
4
Mặt khác, vấn đề mở rộng EU là một đề tài rất rộng mà khuôn khổ của một luận
văn cao học không thể có khả năng đề cập được tất cả. Chính vì vậy, luận văn sẽ chủ
yếu nghiên cứu và phân tích những điểm chung nhất, mang tính tổng thể, liên quan đến
mức độ, cách thức và hiệu quả tác động của quá trình mở rộng đối với nội bộ EU và
thế giới
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương
pháp thống kê, phân tích, tổng hợp…Đồng thời, luận văn cũng sử dụng phương pháp
nghiên cứu so sánh kết hợp với phân tích để làm rõ đặc điểm của lần mở rộng này. Để
hoàn thành được luận văn, tác giả đã chú trọng tới việc sử dụng các nguồn tư liệu tin
cậy, cụ thể là các số liệu thống kê của Uỷ ban châu Âu, của các tổ chức quốc tế như
WB, UNDP,OECD…, các công trình nghiên cứu của các chuyên gia trong, ngoài Liên
minh châu Âu. Và do đặc thù của mô hình liên kết châu Âu, luận văn sẽ sử dụng
phương pháp tiếp cận liên ngành, nhìn nhận vấn đề không chỉ riêng dưới góc độ kinh tế
mà cả chính trị, văn hoá
6. Dự kiến những đóng góp mới của luận văn
Với việc hoàn tất những nghiên cứu về quá trình mở rộng của Liên minh châu Âu,
dự kiến, luận văn sẽ có những đóng góp mới sau:
Thứ nhất, tìm ra những đặc trưng của lần mở cửa thứ 5, phân tích những nỗ lực của
bản thân EU lẫn các nước ứng cử viên cũng như những cải cách sau lần mở rộng này
Thứ hai, đánh giá những tác động có thể có đối với nội bộ EU và đối với kinh tế thế
giới
Thứ ba, đánh giá và dự báo những tác động của EU mở rộng đối với quan hệ kinh
tế Việt Nam – EU; từ đó kiến nghị một số giải pháp tầm vĩ mô và vi mô nhằm nâng cao
hơn nữa mối quan hệ kinh tế Việt Nam - EU
5
7. Bố cục của luận văn
Để đạt được những muc tiêu trên, ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu
tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của quá trình mở rộng Liên minh châu
Âu
Chương 2: Tiến trình mở rộng EU lần 5 và những tác động
Chương 3: EU mở rộng và tác động tới quan hệ kinh tế Việt Nam - EU
6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CỦA QUÁ TRÌNH MỞ RỘNG LIÊN MINH CHÂU ÂU
1.1 Cơ sở lý luận của quá trình mở rộng Liên minh châu Âu
1
Liên minh châu Âu – EU là một điển hình của quá trình liên kết kinh tế quốc tế
trên thế giới hiện nay. Đây là quá trình hợp nhất các nền kinh tế của các quốc gia trong
một hệ thống kinh tế thống nhất với các mối quan hệ kinh tế được sắp xếp theo một trật
tự nhất định trên cơ sở thoả thuận giữa các nước thành viên. Phải khẳng định rằng: việc
các quốc gia, các chính phủ tham gia khối liên kết kinh tế quốc tế là một hoạt động tự
giác trên cơ sở nhận thức được những lợi ích do quá trình này mang lại. Và đây được
coi là một giải pháp hợp lý để xử lý mối quan hệ có tính chất đối lập nhau giữa xu
hướng tự do hoá thương mại với bảo hộ mậu dịch, tạo điều kiện cho các quốc gia khai
thác có hiệu quả các nguồn lực và lợi thế phát triển trong khu vực, nâng cao hiệu quả
của từng nền kinh tế và của cả khối. Về mặt xã hội, quá trình liên kết kinh tế sẽ góp
phần loại bỏ tính biệt lập và chủ nghĩa cục bộ của từng quốc gia; mở rộng, giao lưu về
mọi mặt giữa các cộng đồng người; làm cho các quốc gia trở nên gần gũi nhau hơn
trong các mối quan hệ; giảm bớt những xung đột cục bộ, góp phần giữ gìn hoà bình, ổn
định trong khu vực và trên thế giới.
Mở rộng các khối liên kết nói chung và quá trình mở rộng Liên minh châu Âu nói
riêng là một phần trong liên kết kinh tế quốc tế. Dù chỉ là một phần nhưng thực tiễn về
vấn đề mở rộng lại rất phức tạp và hiện nay, chưa có một lý thuyết nào được xây dựng
để giải thích riêng cho vấn đề này. Xuất phát từ những mục tiêu kinh tế, chính trị, xã
1
Phần này có tham khảo Kinh tế và chính sách của EU mở rộng do GS. Carlo Altomonte và GS. Mario Nava làm
chủ biên.
7
hội…mà EU hướng tới, luận văn đưa vào một số lý thuyết theo quan điểm ủng hộ
thương mại tự do, khuyến khích các quốc gia tạo nên một khu vực (lãnh thổ) mà ở đó
không có những rào cản thương mại (hiểu theo nghĩa rộng) để làm căn cứ luận, giải
thích cho tiến trình hình thành, phát triển và mở rộng của Liên minh châu Âu.
1.1.1 Lý thuyết chính thống về hội nhập kinh tế
Lý thuyết chính thống về hội nhập kinh tế quốc tế được hai nhà kinh tế học J.
Vinner (The Customs Union Issue-1950) và W. M. Corden (The theory of protection-
1971) đưa ra để chứng minh những lợi ích các quốc gia sẽ đạt được nếu chuyển từ chủ
nghĩa bảo hộ hoàn toàn, tức là đóng cửa quốc gia với các dòng hàng hoá nói chung
sang thương mại tự do, tức là một nền tảng thể chế mà hàng hoá có thể lưu chuyển tự
do từ quốc gia này sang quốc gia khác. Không những thế, họ còn nghiên cứu việc làm
thế nào và với chi phí ra sao để các quốc gia có thể thực hiện được sự chuyển đổi này.
Để đơn giản hoá lý thuyết của mình, J. Vinner và W. M. Corden đã đưa ra một loạt
các giả định: chỉ nghiên cứu thương mại hàng hoá và giới hạn ở một số ít quốc gia; thị
trường hàng hoá và yếu tố sản xuất là cạnh tranh hoàn hảo; các yếu tố sản xuất có thể
lưu chuyển giữa các quốc gia và không tính tới chi phí vận chuyển; các quốc gia đều
đạt cân đối thương mại (xuất khẩu = nhập khẩu) và các nguồn lực được sử dụng hoàn
toàn. Các giả định này đã giúp cho lý thuyết trở nên rõ ràng hơn nhưng chính nó đã
làm cho lý thuyết bị hạn chế bởi chỉ có khả năng phân tích mô hình tĩnh mà thôi. Thực
tế phức tạp hơn rất nhiều trong khi lý thuyết lại bỏ qua một loạt những yếu tố rất quan
trọng như: tiến bộ công nghệ, tăng trưởng kinh tế hay phân phối thu nhập Dù bị hạn
chế như vậy nhưng về bản chất, lý thuyết vẫn được xây dựng trên cơ sở các mô hình
tiêu chuẩn về thương mại quốc tế và có thể được sử dụng để rút ra những nhìn nhận cơ
bản về các mô hình hội nhập kinh tế quốc tế khác nhau giữa các nước.
Để đánh giá động thái của quá trình hội nhập, chúng ta sẽ xét 2 quốc gia: một
quốc gia đơn nhất H (quốc gia gốc) và quốc gia W đại diện cho phần còn lại của thế
8
giới. Tại quốc gia H, sở thích của khách hàng đại diện và khả năng sản xuất một hàng
hoá cụ thể được thể hiện ở đường cầu D
H
và S
H
. Đây là quốc gia nhỏ nên bất cứ sự
thay đổi nào về khối lượng cân bằng của hàng hoá đều không có ảnh hưởng tới giá cả
và khả năng sản xuất của hàng hoá đó trên thế giới. Kết quả là đường cung về hàng hoá
trên thế giới tại quốc gia H là đường nằm ngang. Nó co giãn hoàn toàn, có nghĩa là thị
trường thế giới có khả năng cung cấp hàng hoá đó cho quốc gia H với khối lượng bất
kỳ với mức giá cụ thể p
W
(p
W
<p
H
).
Nếu không có hạn chế thương mại nào, người tiêu dùng sẽ sử dụng khối lượng
hàng là OB với mức giá p
W
, trong đó, OA được sản xuất trong nước; AB nhập từ thị
trường thế giới (xem biểu đồ 1.1). Nếu quốc gia H quyết định bảo hộ để khuyến khích
sản xuất trong nước, họ sẽ hạn chế lượng hàng nhập khẩu bằng nhiều cách (phổ biến
nhất là sử dụng hàng rào thuế quan). Nếu quốc gia này bảo hộ hoàn toàn, họ sẽ đánh
thuế sao cho mức giá mới của hàng nhập khẩu bằng giá cả của hàng hoá đó được sản
xuất trong nước. Khi qui các mức giá này về số liệu cụ thể, ta có thể dễ dàng tính được
Biểu đồ 1.1
p D
H
S
H
p
W
’=p
W
+T= p
H
S
W
’
p
W
S
W
O q
A Q
H
B
9
phần thiệt hại mà quốc gia H phải chịu do bảo hộ hoàn toàn (phần thiệt hại của người
tiêu dùng trong nước khi giá tăng từ p
W
lên p
w
’ và tổng cầu giảm từ OB xuống còn
OQ
H
).
Kể từ sau khi Đại chiến II kết thúc, các nước bắt đầu nhận thấy rõ những tổn thất
do Chủ nghĩa bảo hộ gây nên và dần chuyển sang sử dụng chính sách thương mại tự
do, tức là bắt đầu tự do hoá một số lĩnh vực thương mại trong quan hệ đối với một số
quốc gia đối tác, tạo nên các Thoả ước hội nhập khu vực (Regional Intergration
Agreements - RIAs). Cơ chế được các nước sử dụng để cắt giảm các rào cản thương
mại đối với đối tác của mình chính là Khu vực mậu dịch tự do (Free Trade Area - FTA)
và Liên minh thuế quan (Custom Union - CU).
Trong các Khu vực mậu dịch tự do, các quốc gia xoá bỏ hàng rào thương mại với
đối tác nhưng vẫn duy trì những rào cản này đối với phần còn lại của thế giới. Quyền
tự quyết của các quốc gia thành viên trong FTA về rào cản thuế quan của mình với các
quốc gia không phải là thành viên sẽ bị bãi bỏ trong liên minh thuế quan. Trong trường
hợp này, không chỉ các quốc gia tham gia xoá bỏ rào cản thương mại với đối tác của
mình mà còn quyết định về một biểu thuế quan ngoại khối chung (CET) để mỗi thành
viên áp dụng đối với phần còn lại của thế giới. Minh chứng đáng chú ý nhất chính là
Liên minh châu Âu. Thực tế ngay từ năm 1957, Hiệp ước Rome đã đặt ra các điều
khoản qui định về một chính sách thương mại chung cho phép 6 quốc gia sáng lập
thống nhất về một biểu thuế quan ngoại khối chung. Tới 1968, Liên minh thuế quan
của Cộng đồng châu Âu có hiệu lực và biểu thuế quan chung ra đời, thay thế cho biểu
thuế quan riêng của mỗi quốc gia thành viên trong quá trình giao lưu thương mại với
các nước ngoài khối. Biểu thuế quan ngày nay của EU cũng bắt nguồn từ đó.
Để hiểu thêm về FTA và CU, chúng ta mở rộng ví dụ về hai quốc gia ban đầu sang
quốc gia thứ 3 (quốc gia P) là đối tác của H trong FTA. Giả định quốc gia này sản xuất
hiệu quả hơn quốc gia H với mức giá cân bằng p
P
thấp hơn p
H
nhưng vẫn cao hơn p
W
.
10
Biểu đồ 1.2
Giả sử, hai quốc gia H và P sử dụng hàng rào ngăn cản đối với phần còn lại của thế
giới và vì vậy không có hàng hoá nào có thể nhập khẩu vào. Khi hai quốc gia này thiết
lập FTA thì người tiêu dùng ở H có thể sử dụng hàng hoá của P với mức giá thấp hơn
p
W’
. Như vậy, đường cung tương ứng của H sẽ là tổng hai đường cung: S
H+P
và xác
định được mức giá p
FTA
Nếu cầu hàng hoá phụ trội của người tiêu dùng tại H được đáp ứng bằng hàng hoá
sản xuất ở P thì p
FTA
=p
P
(xem hình 1.2). Với mức giá rẻ hơn, họ sẽ tăng khối lượng tiêu
dùng từ OQ
H
lên OD, trong đó: OC được sản xuất trong nước; CD nhập khẩu từ P. Lợi
ích thương mại tạo thêm do tham gia FTA của quốc gia H chính là p
H
CD; còn lợi ích
của quốc gia P chính là tam giác (*) (do họ xuất khẩu hàng hoá sang H và nhập khẩu
trở lại từ thị trường thế giới với mức giá rẻ: p
W
).
p D
H
S
H
p D
P
p
W
’=p
H
S
H +P
S
P
p
P
=p
FTA
p
P
p
W
S
W
p
W
* S
W
O C Q
H
D q O E Q
P
q
Quốc gia H Quốc gia P
11
Trong trường hợp lượng cầu về hàng hoá này của nước H cao hơn mức sản xuất
mà P có thể cung cấp thì p
H
>p
FTA
>p
P
. Tác động của mô hình này cũng tương tự như
mô hình trên song lợi ích thương mại tạo thêm của quốc gia H sẽ thấp hơn do phải
nhập khẩu hàng hoá với mức giá p
FTA
>p
P
; lợi ích của quốc gia P tăng lên do họ có mức
sản xuất phụ trội để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của H và bán hàng hoá với mức giá
cao hơn giá nội địa
2
Giả sử hai quốc gia H và P thiết lập một liên minh thuế quan thì kết quả của mô
hình hội nhập này sẽ ra sao?
Khi thiết lập liên minh thuế quan, H và P ngoài việc bãi bỏ hàng rào thương mại
giữa hai nước, họ còn phải hi sinh quyền tự chủ trong việc xác định thuế quan đối với
thế giới bên ngoài để cùng thiết lập một Biểu thuế quan ngoại khối chung (Common
External Tariff – CET). Tất nhiên, H và P sẽ phải cùng nhau đi tới thoả thuận về mức
CET cho phù hợp. Điều khác biệt so với FTA là lúc này, quốc gia P không thể cung
cấp toàn bộ hàng hoá cho H và sau đó thì nhập lại từ thế giới bên ngoài nữa vì họ
không còn tự do quyết định biểu thuế quan của mình. Kết quả là sau khi liên minh thuế
quan được tạo ra thì quốc gia P chỉ có thể cung cấp cho quốc gia H phần cung vượt quá
của mình là M
P
. Mức cung này rõ ràng sẽ phụ thuộc vào CET và nó sẽ có giá trị dương
khi CET>p
P
.
2
Xem chi tiết tại Kinh tế và chính sách của EU mở rộng do Carlo Altomonte và Mario Nava chủ biên, Chương 2,
Tr. 61-110
p D
H
S
H
p
p
H
S
P
S
H
+M
P
D
P
CET CET
p
P
p
P
*
p
W
S
W
p
W
S
W
O C Q
H
D q O F Q
P
E q
12
ồ 1.3
Giả sử hai quốc gia H và P xác định được mức CET nằm giữa p
H
và p
P
(xem biểu
đồ 1.3). Lúc này tác động của liên minh thuế quan tới H cũng giống như mô hình của
khu vực mậu dịch tự do và lợi ích thương mại tạo thêm vẫn là p
H
CD. Tuy nhiên tại
quốc gia P, tác động của liên minh thuế quan có sự khác biệt so với tình hình của khu
vực mậu dịch tự do. Do P không thể nhập khẩu hàng hoá từ bên ngoài và mức giá cân
bằng nội địa tăng từ p
P
lên mức CET nên người tiêu dùng phải chịu phần lớn thiệt hại
(họ phải tiêu dùng ít đi: từ OQ
P
xuống còn OF với mức giá cao hơn: CET). Nhưng
người sản xuất lại thu được nhiều lợi ích bằng việc xuất khẩu lượng hàng (EF) sang
quốc gia H với mức giá cao. Tổng hợp lại hai tác động nghịch chiều này, P vẫn có lợi
ích thương mại tạo thêm thể hiện bằng tam giác (*) trên biểu đồ 1.3
Như vậy, bằng việc đưa ra hai minh chứng về khu vực mậu dịch tự do và liên minh
thuế quan, lý thuyết của J. Viner và W. M. Corden đã chứng minh những lợi ích mà
các quốc gia đạt được khi hội nhập kinh tế với nhau. Mặc dù còn rất nhiều hạn chế,
chẳng hạn như việc giả định H và P là hai quốc gia nhỏ nên thế giới hoàn toàn có thể
cung cấp đầy đủ hàng hoá cho họ với mức giá không đổi (trên thực tế, Liên minh thuế
quan của Liên minh châu Âu chiếm tới 26% GDP thế giới và khoảng 20-22% các dòng
thương mại toàn cầu 1, Tr. 88 nên đường cung của thế giới bên ngoài không thể là
đường nằm ngang) nhưng không ai có thể phủ nhận những lợi ích của việc liên kết
kinh tế giữa các quốc gia. Và cũng chính bởi vậy, lý thuyết này không chỉ là một căn
cứ luận cơ bản cho việc thành lập các FTA hay CU của các khối liên kết kinh tế trên
13
thế giới mà nó cũng tạo ra nền tảng cho việc mở rộng chính những khối liên kết đó
(càng mở rộng thì càng tận dụng được hiệu quả các nguồn lực ngoài quốc gia và do
đó, lợi ích thương mại tạo thêm càng lớn), đặc biệt là với Liên minh châu Âu.
1.1.2 Lý thuyết về thị trường chung
Như trình bày ở trên, lý thuyết chính thống về hội nhập kinh tế quốc tế đã chỉ rõ
những lợi ích cho các quốc gia tham gia trên cơ sở lợi thế so sánh: khi tự do hoá lưu
thông hàng hoá, các quốc gia có thể tiếp cận những nhà sản xuất có hiệu quả nhất trong
khu vực, hợp lý hoá sản xuất của mình và cải thiện việc phân bổ các nguồn lực, cuối
cùng có thể tối đa hoá phúc lợi đạt được. Tuy nhiên, các dạng thức hội nhập kinh tế
như khu vực mậu dịch tự do hay liên minh thuế quan vẫn chưa đủ để đạt được những
lợi ích động đáng kể
3
do cuối cùng FTA hay CU vẫn không làm cho thị trường gắn kết
một cách hoàn hảo. Thị trường sẽ chỉ tồn tại khi các dòng lưu chuyển hàng hoá giữa
các quốc gia được thực hiện với các điều kiện như trong nội tại quốc gia mình. Lợi thế
của qui mô kinh tế chỉ có thể đạt được khi các quốc gia tham gia liên minh cùng phối
hợp thực hiện các chính sách kinh tế chung. Và sự khác biệt về giá cả giữa các quốc
gia sẽ chỉ là sự khác biệt về chi phí vận chuyển cộng với những chi phí giao dịch liên
quan. Để tối đa hoá lợi ích từ hội nhập, việc phân mảng thị trường và khuôn khổ điều
tiết cũ cần phải được loại bỏ. Trên thực tế, các thị trường bị phân mảng là do sự hiện
hữu của các rào cản phi thuế quan (none tariff barriers – NTBs), tức là những hạn chế
thương mại không phải bằng thuế quan mà nó tồn tại dưới dạng các tiêu chuẩn sản xuất
khác nhau hoặc các cơ chế cấp phép khác nhau dể bảo hộ thị trường trong nước. Các
rào cản này cơ bản phải được xoá bỏ để đạt được tất cả các lợi ích tiềm tàng của việc
thống nhất thị trường. Bên cạnh đó, một khuôn khổ điều tiết phù hợp cũng phải được
đặt ra để đảm bảo tất cả các quốc gia thành viên có thể thực hiện hoạt động kinh tế của
mình ở một quốc gia thành viên khác, tạo ra một sân chơi công bằng cho tất cả các đơn
3
Lý thuyết chính thống về hội nhập kinh tế được xây dựng dựa trên cơ sở những giả định nhất định nên nó chỉ có
ý nghĩa lớn đối với việc phân tích mô hình tĩnh
14
vị kinh tế hoạt động trong một thị trường chung. Lúc này, sự gia tăng về qui mô thị
trường có được nhờ giảm các hàng rào thương mại sẽ dẫn tới các tác động hỗ trợ cho
cạnh tranh: cạnh tranh mạnh hơn, tính độc quyền giảm, sự phân đoạn thị trường giảm,
phân biệt về giá cả được xoá bỏ và chuyển giao công nghệ nhanh hơn. Hầu hết các loại
chi phí sẽ giảm do lợi thế về qui mô kinh tế tăng lên. Các sản phẩm đưa ra thị trường
cũng vì thế mà đa dạng hơn, thoả mãn nhu cầu và gia tăng lợi ích cho người tiêu dùng.
Bản thân Hiệp ước Rome (1957) cùng với việc tạo dựng Liên minh thuế quan cho
6 quốc gia sáng lập EEC cũng đã có vai trò lớn trong việc thành lập một thị trường
“chung” (thị trường “nội khối” hay thị trường “đơn nhất” theo cách gọi của Liên minh
châu Âu), tức là một khu vực dựa trên 4 quyền tự do căn bản: tự do lưu chuyển hàng
hoá, dịch vụ, vốn và con người
4
. Tuy nhiên các tiến triển trong lĩnh vực này đã diễn ra
với tốc độ rất chậm vì các quốc gia thành viên vẫn muốn giữ một số thị trường được
phân đoạn nhằm duy trì một sức mạnh thị trường nhất định. Chỉ từ những năm 1970 tới
giữa những năm 1980, ngày càng có nhiều nước công nghiệp lớn ở châu Âu tin rằng sự
phân mảng thị trường nội địa là một trở ngại lớn đối với khả năng cạnh tranh của châu
Âu. Kết quả của sự đồng thuận chính trị này là các thể chế châu Âu bắt đầu xoá bỏ
những sai lệch và chi phí tiềm tàng hiện có trong cộng đồng. Đặc biệt, vào năm 1979,
khi Toà án châu Âu đã có phán quyết về vụ kiện Cassis de Dijon
5
thì “nguyên tắc thừa
nhận lẫn nhau” đã có hiệu lực. Cùng với “nguyên tắc không phân biệt đối xử” được đề
ra trong điều 12 của Hiệp ước, nguyên tắc công nhận lẫn nhau được coi là hòn đá tảng
cho việc xây dựng thị trường nội khối. Trên thực tế, việc mở rộng những nguyên tắc
này sang lĩnh vực dịch vụ và những qui định về quyền tạo lập hoạt động kinh tế tại các
4
Điều khoản 14 2 của Hiệp ước qui định: “Thị trường nội khối sẽ bao gồm một khu vực không có biên giới bên
trong mà ở đó có sự lưu chuyển tự do hàng hoá, con người, dịch vụ và vốn được đảm bảo theo qui định của Hiệp
ước này”
5
Vụ kiện có liên quan tới việc nhập khẩu mặt hàng rượu hoa quả nhãn hiệu “Cassis de Dijon” xu ất xứ từ Pháp tại
Đức. Cơ quan chống độc quyền Đức đã từ chối cấp phép nhập khẩu sản phẩm này với lý do: nồng độ cồn chỉ ở
mức 15 – 20% so với nồng độ tối thiểu qui định là 25%. Toà án đã phán quyết qui định này sẽ gây trở ngại cho
việc lưu thông hàng hoá giữa các quốc gia thành viên. Và vì vậy nó cần được bãi bỏ
15
quốc gia thành viên trong những năm tiếp theo đã góp phần làm giảm đáng kể mức độ
phân đoạn của thị trường châu Âu. Cùng với nó, những trở ngại chính đối với sự hoàn
thiện của thị trường nội khối cũng được dỡ bỏ như các rào cản về tăng chi phí (bao
gồm tất cả các biện pháp trì hoãn quá trình vận chuyển hàng hoá tại biên giới vì lý do
kiểm soát biên giới và quản lý hải quan hoặc các biện pháp liên quan tới yêu cầu đáp
ứng các qui định kỹ thuật hay tiêu chuẩn quốc gia) cũng như các hạn chế về thâm nhập
thị trường (bao gồm tất cả các biện pháp cản trở quyền thành lập hoặc giao dịch thương
mại qua biên giới trong một số lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, sự thâm nhập vào một số
thị trường được điều tiết như hàng không dân dụng, mua bán hàng hoá công cộng…).
Một khuôn khổ điều tiết cùng tập hợp các nguyên tắc được các quốc gia thành viên
trực tiếp thực thi cũng đã tạo ra một sân chơi thực sự bình đẳng cho mọi đơn vị kinh tế
ở khu vực này. Những năm sau đó, quá trình hoàn thiện thị trường nội khối liên tục
được thúc đẩy và Uỷ ban châu Âu ngay từ 1988 đã bắt đầu xúc tiến việc đánh giá
những lợi ích kinh tế có được từ thị trường đơn nhất.
Bảng 1.1
Lợi ích của việc hoàn thiện thị trường nội khối (báo cáo Cecchini)
Các loại lợi ích
%GDP của EU năm
1985
Xoá bỏ các rào cản thương mại
0,3
Xoá bỏ các rào cản đối với sản xuất
2,4
Lợi ích từ việc giảm các rào cản làm tăng chi phí
2,7
Lợi thế về qui mô kinh tế
0,5
Các tác động cạnh tranh
1,6
Lợi ích từ giảm các hạn chế thâm nhập thị trường
2,1
Tổng lợi ích từ Thị trường đơn nhất
4,8
Tổng lợi ích theo tính toán độc lập về tác động thúc
đẩy tăng trưởng
6,4
16
Nguồn: Kinh tế và chính sách của EU mở rộng, Tr 131
Như vậy có thể thấy, lý thuyết về thị trường chung là một bước phát triển cao hơn
của lý thuyết hội nhập kinh tế quốc tế. Nếu như J. Vinner và W. M. Corden mới chỉ
dừng lại ở việc nghiên cứu những lợi ích các quốc gia có được do chuyển từ chủ nghĩa
bảo hộ sang trạng thái thương mại tự do đối với phần lớn hàng hoá và dịch vụ, thì với
thị trường chung, ngay cả những hàng hoá đặc biệt như vốn hay sức lao động cũng có
thể tự do di chuyển mà không gặp bất kỳ một rào cản thương mại nào, kể cả các biện
pháp thuế và phi thuế. Chính vì vậy, khi tạo lập một thị trường chung, các quốc gia
thành viên hoàn toàn có thể tối đa hơn lợi ích của mình, tận dụng được lợi thế kinh tế
nhờ qui mô. Hơn thế nữa, họ còn có thể thực hiện mọi hoạt động kinh tế của mình một
cách công bằng và bình đẳng ở một quốc gia thành viên khác dựa trên khuôn khổ điều
tiết phù hợp. Rõ ràng thị trường chung càng được mở rộng thì những lợi ích đạt được
sẽ càng cao vì họ sẽ hợp lý hoá sản xuất hơn và phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn.
1.1.3 Lý thuyết khu vực tiền tệ tối ưu
Những ý tưởng về một đồng tiền chung đã có từ lâu trong lịch sử hội nhập kinh tế
châu Âu. Tuy nhiên mãi tới năm 1986, những ý tưởng này mới bắt đầu được thực hiện.
Trên thực tế, việc thành lập một Liên minh tiền tệ không phải là mới trong lịch sử kinh
tế. Trên thế giới đã xuất hiện một số mô hình liên kết về tiền tệ theo những sắc thái
khác nhau như mô hình của Liên bang Hoa Kỳ hoặc Canada: liên minh tiền tệ đi đôi
với tập trung hoá chính sách tài chính của Chính phủ trung ương; hay liên kết của các
quốc gia theo kiểu “đôla hoá tiền tệ”, tức là việc các quốc gia gắn tỷ giá hối đoái của
mình vào đồng tiền nước ngoài thông qua một thoả thuận về tiền tệ như trường hợp của
Argentina những năm 1990 hoặc gần đây có Estonia, Bungari gắn đồng nội tệ của
mình với EURO
6
. Nhưng liên minh tiền tệ của EU lại là một dạng ở giữa hai thái cực
trên với một chính sách tiền tệ tập trung còn chính sách tài chính phi tập trung nhưng
6
Thực tế chính sách tiền tệ của những quốc gia này mang tính hướng ngoại và phụ thuộc hoàn toàn vào chính
sách tiền tệ của nước ngoài.
17
phải chịu một mức độ điều phối nhất định. Chính bởi sự khác biệt như vậy mà các lý
thuyết kinh tế vĩ mô đóng góp một vai trò hết sức quan trọng trong việc thành lập một
liên minh kinh tế và tiền tệ tại châu Âu. Thực tế, Liên minh tiền tệ của châu Âu chịu
ảnh hưởng của 3 lý thuyết: thuyết “Khu vực tiền tệ tối ưu”, thuyết về lạm phát và lý
thuyết về chính sách tài chính, trong đó thuyết “Khu vực tiền tệ tối ưu” của hai nhà
kinh tế học người Mỹ R.Mundell và R. Mc. Kinnon được coi là nền tảng.
Lý thuyết được công bố tại Mỹ năm 1961 và đã gây được tiếng vang lớn bởi nó
được xuất phát từ chính định hướng khi đó của Cộng đồng kinh tế châu Âu – EEC là
nhằm đạt được sự tự do hoàn toàn trong lưu chuyển hàng hoá, dịch vụ, vốn và sức lao
động. Lý thuyết bao gồm 3 nội dung chính. Thứ nhất, theo R. Mundell và R. Mc.
Kinnon “khu vực tiền tệ tối ưu” là lãnh thổ của những nước cùng chung những điều
kiện, khả năng để sử dụng một đồng tiền thống nhất, hoặc cùng chung những khả năng
để thiết lập một đồng giá vững chắc giữa các đồng tiền quốc gia của mình. Và khu vực
tiền tệ sẽ là “tối ưu” nếu trong lãnh thổ của nó tồn tại một khả năng cơ động (càng tự
do càng tốt) của các yếu tố sản xuất. Ở đây, tiêu chí quan trọng nhất chính là sự sẵn
lòng hi sinh tính độc lập của các nước tham gia trong việc giải quyết những vấn đề tiền
tệ – tín dụng. Thứ hai, một trong những điều kiện đảm bảo cho sự tồn tại của khu vực
này là tốc độ lạm phát giữa các nước thành viên ít nhiều phải đồng đều để có thể đảm
bảo cho việc thực thi các chính sách về ngân sách, kinh tế và tiền tệ có hiệu quả. Đồng
thời, các quốc gia cũng phải đạt được các mục tiêu như ổn định giá cả, có việc làm đầy
đủ và có sự cân bằng trong cán cân thanh toán (cân đối cả bên trong lẫn bên ngoài).
Thứ ba, đồng tiền chung phải dựa trên cơ sở của mọi đồng tiền ở các nước thành viên
và phải tính tới sự thay đổi tỷ giá của các đồng tiền chứ không phải chỉ với đồng tiền
mạnh nhất. Đây phải là một đơn vị tiền tệ được lưu thông đồng thời với các đơn vị tiền
tệ châu Âu khác, được phép có những dao động của tỷ giá tiền tệ. Khi các qui chế về
tiền tệ đã thống nhất thì các dao động này sẽ được xoá bỏ. Lúc đó một liên minh kinh
tế cũng sẽ được thành lập và một đồng tiền thống nhất ra đời, thay thế cho đồng tiền
18
các quốc gia thành viên. Có thể thấy thực chất của quan điểm này là sự biểu hiện cách
tiếp cận thiết chế đối với vấn đề thống nhất tiền tệ. Cách tiếp cận này chú trọng tới việc
tăng cường các biện pháp điều tiết liên quốc gia và siêu quốc gia trong lĩnh vực tiền tệ,
đến sự phối hợp chính sách kinh tế của các nước thành viên, hạn chế chủ quyền quốc
gia trong lĩnh vực tiền tệ. Quan điểm này trên thực tế đã được các quốc gia trong liên
minh vận dụng. Đó chính là sự thiết lập hệ thống tiền tệ châu Âu – EMS và đồng ECU.
Mặc dù lý thuyết được công bố từ năm 1961 nhưng vào thời điểm đó, ít có chính
khách châu Âu nào chú ý tới việc tạo lập riêng một khu vực tiền tệ bởi lúc này, hệ
thống tiền tệ Bretton Woods đang trong giai đoạn vận hành khá tốt. Sức ép đẩy các
nước châu Âu xích lại gần nhau trong lĩnh vực này chỉ thực sự tăng lên vào cuối những
năm 1960 đầu 1970 khi mà hệ thống tỷ giá chuyển đổi cố định Bretton Woods bắt đầu
rạn nứt và sụp đổ. Bản thân nội khối cuối những năm 1970 cũng bắt đầu phải đối mặt
với một loạt vấn đề: các khả năng tiếp tục phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại trên cơ
sở Liên minh thuế quan bị hạn chế; giữa các khu vực trong cộng đồng nảy sinh tình
trạng mất cân đối; việc xây dựng thị trường chung mặc dù đã đạt những kết quả nhất
định nhưng lại làm giảm hiệu quả điều chỉnh của Nhà nước đối với nền kinh tế… Tất
cả những điều này đã đặt ra cho các nước thành viên trong cộng đồng yêu cầu phải
phát triển mạnh mẽ quá trình thống nhất tiền tệ nhằm mục đích duy trì sự ổn định tỷ giá
tiền tệ và phục hồi lại cân bằng kinh tế.
Năm 1970, “Báo cáo Werner” đã đề xuất một kế hoạch đầy tham vọng là lập ra
một Liên minh kinh tế và tiền tệ (EMU- Economic and monetary union) trong vòng 10
năm. Sau thời hạn này, Cộng đồng châu Âu sẽ là một thực thể tiền tệ riêng biệt trong
hệ thống tiền tệ quốc tế và cũng sẽ được trao cho những quyền hành cần thiết để ra các
quyết sách kinh tế. Nhưng do thời điểm tăng cường hơn nữa quá trình hội nhập chưa
đủ chín muồi mà kế hoạch này mãi tới 1986 mới được lật lại và người chịu trách nhiệm
nghiên cứu cũng như đề xuất những bước đi cụ thể là Chủ tịch Uỷ ban châu Âu - ông