Tải bản đầy đủ (.docx) (67 trang)

Kế toán bán nhóm hàng xốp tại công ty CP đầu tư bao bì EPS Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (413.28 KB, 67 trang )

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đàm Bích Hà
TÓM LƯỢC
Qua thời gian thực tập tại phòng kế toán của Công ty CP đầu tư bao bì EPS Việt Nam
được tiếp xúc và tìm hiểu thông tin hệ thống kế toán của Công ty trên cơ sở những
kiến thức cơ bản đã được học trong nhà trường với đề tài : “Kế toán bán nhóm hàng
xốp tại công ty CP đầu tư bao bì EPS Việt Nam” khóa luận của em trình bày các nội
dung sau:
- Những vấn đề chung nhất về kế toán bán hàng, đưa ra những chuẩn mực kế
toán
có liên quan và áp dụng các chuẩn mực đó trong chế độ kế toán.
- Đi sâu nghiên cứu, phân tích thực trạng kế toán bán nhóm hàng xốp tại Công ty
CP đầu tư bao bì EPS Việt Nam.
- Sau khi nghiên cứu thực trạng kế toán bán nhóm hàng xốp tại Công ty em mạnh
dạn đưa ra những kết luận. Từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn
kế toán bán bán nhóm hàng xốp tại Công ty.
Em hi vọng với đề tài nghiên cứu này, em sẽ góp phần vào việc hoàn thiện công
tác kế toán bán hàng tại Công ty CP đầu tư bao bì EPS Việt Nam.
LỜI CẢM ƠN
1
SVTH: Mạc Thị Hiền Lớp: K7.HK1C1
1
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đàm Bích Hà
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Kế toán bán nhóm hàng xốp tại
Công ty CP đầu tư bao bì EPS Việt Nam” trong thời gian thực tập vừa qua, em đã
nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ phía Nhà trường, doanh nghiệp, gia đình và bạn bè.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Thương mại
nói chung và các thầy cô trong khoa Kế toán - Kiểm toán nói riêng đã truyền cho em
những kiến thức quý báu. Đặc biệt, em xin cảm ơn cô giáo Ths. Đàm Bích Hà, người
đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành tốt khóa luận này.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các anh chị trong phòng Kế toán, công ty CP
đầu tư bao bì EPS Việt Nam đã tạo điều kiện cho em tìm hiểu và cung cấp cho em


những thông tin, số liệu quý báu để em có thể hoàn thành khóa luận của mình. Do
trình độ có hạn và thời gian nghiên cứu chưa nhiều nên khóa luận của em không thể
tránh khỏi thiếu sót. Vì vậy, em rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp của các thầy
cô để bài khóa luận của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
MỤC LỤC
2
SVTH: Mạc Thị Hiền Lớp: K7.HK1C1
2
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đàm Bích Hà
3
SVTH: Mạc Thị Hiền Lớp: K7.HK1C1
3
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đàm Bích Hà
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CP Cổ phần
TK Tài khoản
VAS Chuẩn mực kế toán
VN Việt Nam
GTGT Giá trị gia tăng
DN Doanh nghiệp
BCTC Báo cáo tài chính
BTC Bộ tài chính
DNTM Doanh nghiệp thương mại
HTK Hàng tồn kho
NKC Nhật ký chung
KKTX Kê khai thường xuyên
KKĐK Kiểm kê định kỳ
PXK Phiếu xuất kho


4
SVTH: Mạc Thị Hiền Lớp: K7.HK1C1
4
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đàm Bích Hà
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết, ý nghĩa của nghiên cứu của kế toán bán hàng tại DNTM
Bán hàng đóng vai trò rất quan trọng không chỉ đối với bản thân mỗi DN mà cả
sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế xã hội. Đối với DN, hoạt động bán hàng
chính là điều kiện tiên quyết giúp cho DN tồn tại và phát triển, thông qua hoạt động
bán hàng doanh nghiệp có được doanh thu, nhanh chóng thu hồi vốn kinh doanh đồng
thời tạo ra lợi nhuận. Đối với nền kinh tế quốc dân thì việc thực hiện tốt khâu bán hàng
là điều kiện để kết hợp chặt chẽ giữa lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ, thực
hiện chu chuyển tiền mặt, ổn định và củng cố giá trị đồng tiền, là điều kiện để ổn định
và nâng cao đời sống của người lao động nói riêng và của toàn xã hội nói chung.
Vậy vấn đề đặt ra là phải làm thế nào để thực hiện tốt quá trình bán hàng, rút
ngắn thời gian luân chuyển hàng hóa từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh.
Một trong những biện pháp được coi là tích cực đó là tổ chức tốt công tác kế toán bán
hàng. Đây được coi là nội dung đòi hỏi phải tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực kế
toán hiện hành tạo sự đồng bộ trong việc thực thi các quyết định của Bộ Tài chính.
Thông qua kế toán bán hàng, doanh nghiệp có thể lấy các thông tin để doanh nghiệp
có thể đánh giá, nhìn nhận một cách khách quan về tình tình hình tiêu thụ hàng hóa để
từ đó đánh giá doanh nghiệp hoạt động tốt hay chưa tốt, thấy được những ưu điểm và
nhược điểm, những kết quả đạt được và những tồn tại để từ đó đưa ra các biện pháp
nhằm tăng doanh thu và tối đa hóa lợi nhuận. Mặt khác, thực hiện tốt khâu bán hàng
có nghĩa là tăng doanh thu là điều kiện để doanh nghiệp thực hiện chức năng, nhiệm
vụ kinh doanh.thu hồi vốn nhanh, bù đắp các chi phí kinh doanh, thực hiện tốt nghĩa
vụ với nhà nước.Tăng doanh thu đồng nghĩa với việc tăng lợi nhuận từ đó tạo điều
kiện tăng thu nhập cho người lao động. Tuy nhiên, hệ thống chuẩn mực vẫn đang
trong giai đoạn bổ sung và hoàn thiện nên cũng không thể tránh khỏi những thiếu sót
gây khó khăn cho người sử dụng. Đối với nội dung kế toán bán hàng, việc áp dụng các

chuẩn mực kế toán Việt nam: VAS 02 “Hàng tồn kho”; VAS 14 “Doanh thu và thu
nhập khác”, … mặc dù đã tạo ra khung hành lang pháp lý quan trọng cho việc hạch
toán doanh thu bán hàng, xác định giá vốn hàng bán và trình bày thông tin trên BCTC
song việc vận dụng các chuẩn mực này vẫn còn nhiều bất cập cần được hướng dẫn và
hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu quản lý của doanh nghiệp
5
SVTH: Mạc Thị Hiền Lớp: K7.HK1C1
5
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đàm Bích Hà
Qua thời gian tìm hiểu và nghiên cứu thực tế tại Công ty CP đầu tư bao bì EPS
Việt Nam thì công tác tổ chức kế toán bán hàng tại công ty vẫn còn một số hạn chế
như: các phương thức bán hàng ít, chưa áp dụng phần mềm kế toán nên việc hạch toán
còn mất nhiều thời gian, làm cho các nghiệp vụ bị trùng lặp, chưa chi tiết TK 511, TK
642…Cho nên việc nghiên cứu và hoàn thiện kế toán bán hàng cả về lý luận và thực
tiễn là một vấn đề cấp thiết đối với Công ty CP đầu tư bao bì EPS Việt Nam.
2. Mục tiêu cụ thể đặt ra cần giải quyết trong đề tài
- Về mặt lý luận: Làm rõ những lý luận cơ bản về kế toán bán hàng tại DNTM theo
chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán hiện hành.
- Về mặt thực tiễn:
+ Làm rõ thực trạng kế toán bán nhóm hàng xốp tại công ty CP đầu tư bao bì
EPS Việt Nam.
+ Đánh giá thực trạng kế toán bán nhóm hàng xốp tại công ty CP đầu tư bao bì
EPS Việt Nam.
+ Đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện kế toán bán nhóm hàng xốp tại Công
ty CP đầu tư bao bì EPS Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng: Kế toán bán nhóm hàng xốp tại Công ty CP đầu tư bao bì EPS Việt
Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về mặt không gian: Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi các thông tin, số

liệu được cung cấp bởi công ty CP đầu tư bao bì EPS Việt Nam.
+ Về mặt thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu số liệu tháng 1/ 2013 của công ty.
4. Phương pháp thực hiện đề tài
4.1. Phương pháp thu thập dữ liệu.
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp điều tra là phương pháp thu thập dữ liệu thông qua việc phát các
phiếu điều tra theo mẫu đã được thiết kế sẵn. Mẫu phiếu điều tra bao gồm các câu hỏi
trắc nghiệm được thiết kế để gửi cho người phỏng vấn trả lời. Nội dung của phiếu điều
tra chủ yếu liên quan tới kế toán bán hàng.
- Mục đích của phương pháp điều tra là thu thập những thông tin mang tính
khách quan về vấn đề đang nghiên cứu.
6
SVTH: Mạc Thị Hiền Lớp: K7.HK1C1
6
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đàm Bích Hà
- Các bước tiến hành:
+ Bước 1: Xây dựng mẫu phiếu điều tra phiếu gồm nhiều câu hỏi khác nhau: chế độ kế
toán, tài khoản sử dụng, chứng từ sử dụng, sổ sách kế toán… của vấn đề nghiên cứu.
( Mẫu phiếu điều tra trắc nghiệm – Phụ lục 01)
+ Bước 2: Phương pháp điều tra: Phát phiếu điều tra cho các đối tượng khác nhau
trong công ty nhằm nâng cao chất lượng của thông tin thu được. Số lượng phiếu phát
ra là 4 phiếu cho 4 nhân viên kế toán.
+ Bước 3 : Thu thập kết quả điều tra.
( Kết quả điều tra trắc nghiệm – Phụ lục 02)
- Phương pháp phỏng vấn.
- Phương pháp phỏng vấn là phương pháp thu thập thông tin bằng cách tiếp xúc
trực tiếp với người cần khai thác thông tin về vấn đề nghiên cứu và đặt ra các câu hỏi
dưới dạng kết mở.
- Mục đích: thông qua các câu hỏi và trả lời trực tiếp giúp thu thập được những
thông tin chính xác, cụ thể và chi tiết hơn về vấn đề đang nghiên cứu.

- Các bước tiến hành.
+ Bước 1: Xác định nội dung phỏng vấn.
+ Bước 2: Phương pháp phỏng vấn.
+ Bước 3: Thời điểm phỏng vấn.
+ Bước 4: Tổng hợp thông tin thu thập được từ buổi phóng vấn.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu là những tham khảo về kế toán bán hàng tại
doanh nghiệp thương mại qua các giáo trình kế toán, sách tham khảo, thông tin từ các
webside kế toán, trên mạng internet…
7
SVTH: Mạc Thị Hiền Lớp: K7.HK1C1
7
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đàm Bích Hà
Phương pháp này giúp thu thập những thông tin từ nhiều chiều, và nhiều ý kiến
khác nhau về kế toán bán hàng. Từ đó bản thân phải tìm hiểu và nhận định xem ý kiến
nào thỏa đáng, và phù hợp có thể sử dụng để làm chuyên đề báo cáo của mình.
4.2. Phương pháp phân tích dữ liệu
- Phương pháp toán học
Phương pháp này sử dụng trong kế toán bán hàng để tính toán, phân tích cụ thể
những chỉ tiêu liên quan. Các công thức toán học được sử dụng chủ yếu cho việc tính
doanh thu, tính trị giá HTK, giá vốn hàng bán trong kỳ phục vụ cho việc kiểm tra tính
chính xác về mặt số học của các chỉ tiêu trong kế toán bán hàng.
- Phương pháp so sánh
Là phương pháp phân tích được thực hiện thông qua việc đối chiếu giữa các sự
vật, hiện tượng với nhau để thấy được những điểm giống nhau và khác nhau giữa
chúng.Trong quá trình nghiên cứu kế toán bán hàng nội dung của phương pháp này
được cụ thể hóa thông qua việc so sánh đối chiếu giữa lý luận với thực tế về công tác
kế toán bán hàng giữa các doanh nghiệp thương mại để thấy được điểm mạnh, lợi thế
mà doanh nghiệp đã đạt được, đối chiếu số liệu giữa các chứng từ gốc và bảng phân bổ
với các sổ kế toán liên quan, đối chiếu số liệu cuối kỳ giữa sổ cái và bảng tổng hợp chi

tiết để có kết quả chính xác khi lên báo cáo tài chính.
- Phương pháp tổng hợp dữ liệu
Phương pháp này nhằm tổng hợp dữ liệu của các phiếu điều tra phỏng vấn theo
từng nội dung cụ thể trong phiếu điều tra, nhằm đưa ra những kết luận đánh giá phục
vụ cho công tác kế toán bán hàng.
5. Kết cấu của khóa luận
Chương 1: Cơ sở lý luận kế toán bán hàng tại các DNTM
Thể hiện các khái niệm cơ bản về doanh thu, giá vốn, các khoản giảm trừ doanh
thu liên quan đến kế toán bán hàng, những phương thức bán hàng, phương thức thanh
toán, các vấn đề về chuẩn mực kế toán VN hiện hành mà doanh nghiêp thương mại
tuân theo và áp dụng liên quan đến nội dung đề tài nghiên cứu.
Chương 2: Thực trạng về kế toán bán nhóm hàng xốp tại Công ty CP đầu tư
bao bì EPS Việt Nam.
Tổng quan và các nhân tố hiện nay chi phối tới việc kinh doanh bán hàng của
đơn vị. Đề tài tập trung nghiên cứu phần hành kế toán bán hàng, cụ thể bán nhóm hàng
8
SVTH: Mạc Thị Hiền Lớp: K7.HK1C1
8
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đàm Bích Hà
xốp, phản ánh lên thực trạng thực tế nội dung đó diễn ra trong thời gian đầu năm 2013.
Chương 3: Các kết luận và đề xuất nhằm hoàn thiện kế toán bán nhóm hàng
xốp tại Công ty CP đầu tư bao bì EPS Việt Nam.
Thực trạng công tác kế toán bán nhóm hàng xốp diễn ra tại đơn vị có những ưu
điểm, hạn chế. Hạn chế còn tồn tại được giải quyết bởi những giải pháp cụ thể chi tiết
nào nhằm hoàn thiện công tác kế toán bán hàng tại đơn vị nói riêng và công tác kế toán
nói chung.
9
SVTH: Mạc Thị Hiền Lớp: K7.HK1C1
9
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đàm Bích Hà

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN KẾ TOÁN BÁN HÀNG TẠI CÁC DNTM
1.1 Cơ sở lý luận về kế toán bán hàng tại các DNTM.
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
Theo VAS số 14 “Doanh thu và thu nhập khác”, VAS số 02 “Hàng tồn kho” và
giáo trình kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa thì các khái niệm liên quan đến kế toán
bán hàng được hiểu như sau:
 Bán hàng: là khâu cuối cùng trong quá trình hoạt động kinh doanh của một doanh
nghiệp thương mại, nó chính là quá trình chuyển giao quyền sở hữu về hàng hóa từ tay
người bán sang tay người mua để nhận quyền sở hữu về tiền tệ hoặc quyền được đòi
tiền ở người mua.
 Doanh thu: Là tổng giá trị lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ hạch toán,
phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp góp
phần làm tăng vốn chủ sở hữu.
 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: là số tiền ghi trên hóa đơn bán hàng hay
hợp đồng cung cấp lao vụ, dịch vụ.
 Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ: là số chênh lệch giữa tổng
doanh thu với các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại,
thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp phải
nộp.
 Giá vốn hàng bán: là trị giá vốn của sản phẩm, vật tư, hàng hóa lao vụ,
dịch vụ tiêu thụ. Đối với sản phẩm, lao vụ. dịch vụ tiêu thụ giá thành sản
xuất ( giá thành công xưởng) hay chi phí sản xuất. Với vật tư tiêu thụ , giá
vốn là giá trị ghi sổ, còn với hàng hóa tiêu thụ , giá vốn bao gồm trị giá
mua của hàng hóa tiêu thụ cộng với chi phí thu mua phân bổ cho hàng tiêu
thụ.
 Chiết khấu thương mại: là số tiền thưởng cho khách hàng tính trên giá bán đã thỏa
thuận và được ghi trên các hợp đồng mua bán hoặc các cam kết về mua bán và phải
được thể hiện rõ trên chứng từ bán hàng.
 Giảm giá hàng bán: là số tiền giảm trừ cho khách hàng trên giá bán đã thỏa thuận do
các nguyên nhân thuộc về bên bán như hàng kém phẩm chất, không đúng quy cách,

giao hàng không đúng thời gian, địa điểm hợp đồng…
 Doanh thu hàng bán bị trả lại: là doanh thu của số hàng đã được tiêu thụ( đã ghi
nhận doanh thu) nhưng bị người mua trả lại, từ chối không mua nữa. Nguyên nhân trả
10
SVTH: Mạc Thị Hiền Lớp: K7.HK1C1
10
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đàm Bích Hà
lại thuộc về phía người bán( vi phạm cac đã cam kết trong hợp đồng như không phù
hợp với yêu cầu, tiêu chuẩn, quy cách, hàng kém phẩm chất,…)
 Chiết khấu thanh toán: là số tiền người bán thưởng cho người mua, do đã thanh toán
tiền hàng trước thời hạn quy định tính trên số tiền đã thanh toán.
Các phương thức bán hàng trong DNTM:
 Bán buôn hàng hóa là phương thức bán hàng cho các đơn vị thương mại, các doanh
nghiệp sản xuất,…để thực hiện bán ra hoặc để gia công chế biến rồi bán ra . Đặc điểm
của hàng hóa bán buôn là hàng hóa vẫn nằm trong lĩnh vực lưu thông, chưa vào lĩnh
vực tiêu dùng, do vậy giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa chưa được thực hiện. Căn
cứ vào địa điểm nhận và giao hàng, bán buôn được chia thành các hình thức sau: Bán
buôn qua kho và bán buôn vận chuyển thẳng. Trong đó, bán buôn qua kho được chia
thành bán buôn qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp và bán buôn qua kho theo
hình thức chuyển hàng; còn bán buôn vận chuyển thẳng được chia thành bán hàng vận
chuyển thẳng theo hình thức giao trực tiếp (còn gọi là hình thức giao tay ba) và bán
buôn vận chuyển thẳng theo hình thức gửi hàng.
 Bán lẻ hàng hoá là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng hoặc các tổ
chức kinh tế hoặc các đơn vị kinh tế tập thể mua về mang tính chất tiêu dùng nội bộ.
Đặc điểm của phương thức bán lẻ là hàng hoá đã ra khỏi lĩnh vực lưu thông và đi vào
lĩnh vực tiêu dùng. Phương thức bán lẻ thường có các hình thức sau: Hình thức bán lẻ
thu tiền tập trung, hình thức bán lẻ thu tiền trực tiếp, hình thức bán hàng tự phục vụ.
 Phương thức gửi bán đại lý là phương thức bán hàng trong đó DNTM giao hàng cho
cơ sở nhận bán đại lý, ký gửi để các cơ sở này trực tiếp bán hàng. Sau khi bán được
hàng, cơ sở đại lý thanh toán tiền hàng cho DNTM và được hưởng một khoản tiền

được gọi là hoa hồng đại lý.
 Phương thức bán hàng trả chậm, trả góp là phương thức mà DNTM dành cho người
mua ưu đãi được trả tiền hàng trong kỳ. DNTM được hưởng thêm khoản chênh lệch
giữa giá bán trả góp và giá bán thông thường theo phương thức trả tiền ngay gọi là lãi
trả góp.
2.1. Nội dung nghiên cứu về kế toán bán hàng tại các DNTM
2.1.1. Kế toán bán hàng trong DNTM theo quy định của chuẩn mực kế toán VN (
VAS)
* Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02 (VAS 02) “ Hàng tồn kho”:
Theo VAS 02, đoạn 04, 13, 14, 15, 16, 17 (Ban hành và công bố theo QĐ số
149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ tài chính)
11
SVTH: Mạc Thị Hiền Lớp: K7.HK1C1
11
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đàm Bích Hà
Hàng tồn kho được tính theo giá gốc. Trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện
được thấp hơn giá gốc thì phải tính theo giá trị thuần có thể thực hiện được.Giá gốc
hàng tồn kho bao gồm: Chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp
khác phát sinh để có được hàng tồn kho ở địa điểm và trạng thái hiện tại.
- Việc tính giá trị hàng tồn kho được áp dụng theo một trong các phương pháp
sau:
+ Phương pháp tính theo giá đích danh;
+ Phương pháp bình quân gia quyền;
+ Phương pháp nhập trước, xuất trước;
+ Phương pháp nhập sau, xuất trước.
- Phương pháp tính theo giá đích danh được áp dụng đối với doanh nghiệp có ít
loại mặt hàng hoặc mặt hàng ổn định và nhận diện được.
- Theo phương pháp bình quân gia quyền, giá trị của từng loại hàng tồn kho
được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho tương tự đầu kỳ và giá trị
từng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ. Giá trị trung bình có thể

được tính theo thời kỳ hoặc vào mỗi khi nhập một lô hàng về, phụ thuộc vào tình hình
của doanh nghiệp.
- Phương pháp nhập trước, xuất trước áp dụng dựa trên giả định là hàng tồn kho
được mua trước hoặc sản xuất trước thì được xuất trước, và hàng tồn kho còn lại cuối
kỳ là hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất gần thời điểm cuối kỳ. Theo phương pháp
này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập kho ở thời điểm đầu
kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị của hàng tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho ở
thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn tồn kho.
- Phương pháp nhập sau, xuất trước áp dụng dựa trên giả định là hàng tồn kho
được mua sau hoặc sản xuất sau thì được xuất trước, và hàng tồn kho còn lại cuối kỳ
là hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trước đó. Theo phương pháp này thì giá trị
hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập sau hoặc gần sau cùng giá trị của
HTK .
* Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 (VAS 14) “ Doanh Thu và Thu nhập
Khác”:
12
SVTH: Mạc Thị Hiền Lớp: K7.HK1C1
12
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đàm Bích Hà
Theo VAS 14, đoạn 10: Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa
mãn tất cả năm điều kiện sau:
- Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở
hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua.
- Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu
hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa
- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.
- Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng
- Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.
Theo VAS 14, đoạn 05, 06, 07, 08 :
- Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu được.

- Doanh thu phát sinh từ giao dịch được xác định bởi thỏa thuận giữa DN với bên
mua hoặc bên sử dụng tài sản. Nó được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã
thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ các khoản chiết khấu thương mại, chiết khấu
thanh toán, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại.
- Đối với các khoản tiền hoặc tương đương tiền không được nhận ngay thì doanh
thu được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản sẽ thu được
trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu theo tỷ lệ lãi suất
hiện hành. Giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu có thể nhỏ hơn giá trị danh
nghĩa sẽ thu được trong tương lai.
- Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ tương tự
về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đó không được coi là một giao dịch tạo ra doanh
thu.
Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ khác
không tương tự thì việc trao đổi đó được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu. Trường
hợp này, doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận
về, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm.
Khi không xác định được giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận về thì doanh
thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ đem trao đổi, sau khi
điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm.
13
SVTH: Mạc Thị Hiền Lớp: K7.HK1C1
13
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đàm Bích Hà
+ Việc xác định dự phòng phải thu khó đòi được quy định tại đoạn 14 của chuẩn mực:
Doanh thu bán hàng được ghi nhận chỉ khi đảm bảo là DN nhận được lợi ích kinh tế từ
giao dịch. Trường hợp lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng còn phụ thuộc yếu tố
không chắc chắn thì chỉ ghi nhận doanh thu khi yếu tố không chắc chắn này đã xử lý
xong (ví dụ, khi DN không chắc chắn là Chính phủ nước sở tại có chấp nhận chuyển
tiền bán hàng ở nước ngoài về hay không). Nếu doanh thu đã được ghi nhận trong
trường hợp chưa thu được tiền thì khi xác định khoản tiền nợ phải thu này là không thu

được thì phải hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ mà không được ghi
giảm doanh thu. Khi xác định khoản phải thu là không chắc chắn thu được (Nợ phải
thu khó đòi) thì phải lập dự phòng nợ phải thu khó đòi mà không ghi giảm doanh thu.
Các khoản nợ phải thu khó đòi khi xác định thực sự là không đòi được thì được bù đắp
bằng nguồn dự phòng nợ phải thu khó đòi.
2.1.2. Kế toán bán hàng theo quy định của chế độ kế toán doanh nghiệp( Ban
hành theo QĐ số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/09/2006)
2.1.2.1. Chứng từ sử dụng
Đối với nghiệp vụ bán hàng thường sử dụng một số các chứng từ sau:
- Hoá đơn GTGT ( đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu
trừ )
- Hoá đơn bán hàng thông thường ( đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT
theo phương pháp trực tiếp hoặc doanh nghiệp kinh doanh những mặt hàng
không chịu thuế GTGT )
- Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ
- Hóa đơn thuê kho, thuê bãi, thuê bốc dỡ hàng hóa trong quá trình bán hàng.
- Hợp đồng kinh tế với khách hàng
- Phiếu thu, phiếu chi
- Chứng từ ngân hàng ( giấy báo nợ, có của ngân hàng )
2.1.2.2. Tài khoản sử dụng
• Tài khoản 511 - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Tài khoản này
dùng để phản ánh doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp trong kỳ.
Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 511:
Bên Nợ:
- Thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc thuế xuất khẩu và thuế GTGT tính theo phương
pháp trực tiếp của số hàng hóa, sản phẩm tiêu thụ.
14
SVTH: Mạc Thị Hiền Lớp: K7.HK1C1
14
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đàm Bích Hà

- Các khoản giảm trừ doanh thu bán hàng (giảm giá hàng bán, doanh thu hàng
bán bị trả lại và chiết khấu thương mại).
- Kết chuyển doanh thu thuần để xác định kết quả kinh doanh.
Bên Có:
- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ thực tế phát sinh trong kỳ.
TK 511 không có số dư cuối kỳ.
• Tài khoản 632 - Giá vốn hàng bán: Tài khoản này phản ánh trị giá thực tế của
sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ.
Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 632:
Bên Nợ:
- Phản ánh giá vốn của sản phẩm, hàng hoá xuất đã tiêu thụ trong kỳ.
- Số trích lập chênh lệch dự phòng giảm giá HTK năm nay cao hơn năm trước.
- Các khoản hao hụt, mất mát của HTK sau khi trừ phần bồi thường do trách
nhiệm cá nhân gây ra.
Bên Có:
- Hoàn nhập chênh lệch dự phòng giảm giá HTK của năm nay thấp hơn năm
trước.
- Kết chuyển giá vốn thực tế của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã tiêu thụ trong
kỳ để xác định kết quả.
- Giá vốn thực tế của sản phẩm, hàng hoá đã bán bị người mua trả lại.
TK 632 không có số dư cuối kỳ.
• Tài khoản 131 - Phải thu của khách hàng: Tài khoản này phản ánh các khoản
nợ phải thu và tình hình thanh toán các khoản nợ phải thu của DN với khách hàng về
tiền bán hàng hoá, thành phẩm, dịch vụ.
Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 131:
Bên Nợ:
- Số tiền phải thu của khách hàng về việc bán chịu hàng hóa, sản phẩm trong kỳ.
- Số tiền thừa trả lại cho khách hàng.
Bên Có:
- Số tiền khách hàng đã trả nợ.

- Số tiền đã nhận ứng trước, trả trước của khách hàng.
15
SVTH: Mạc Thị Hiền Lớp: K7.HK1C1
15
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đàm Bích Hà
- Khoản giảm trừ tiền hàng cho khách sau khi đã tiêu thụ ( giảm giá hàng bán,
hàng bán bị trả lại, chiết khấu thương mại).
- Chiết khấu thanh toán dành cho người mua.
Số dư bên Nợ: Số tiền còn phải thu của khách hàng.
Tài khoản này có thể có số dư bên Có phản ánh số tiền nhận trước, hoặc số đã
thu nhiều hơn số phải thu của khách hàng theo chi tiết của từng đối tượng cụ thể.
• Tài khoản 611 - Mua hàng
Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 611:
Bên Nợ:
- Kết chuyển trị giá vốn của hàng hóa tồn kho đầu kỳ
- Trị giá thực tế của hàng mua trong kỳ
Bên Có:
- Kết chuyển trị giá vốn của hàng hóa tồn kho cuối kỳ
- Giá vốn của hàng hóa đã tiêu thụ thụ trong kỳ
Tài khoản này không có số dư
Ngoài ra, kế toán nghiệp vụ bán hàng còn sử dụng một số tài khoản: TK 111,
TK 112, TK 333, TK 642, TK 156, TK 521…
2.1.2.3. Trình tự hạch toán:
a.Trường hợp DN hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp KKTX
Đặc điểm kế toán nghiệp vụ tiêu thụ với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo
phương pháp khấu trừ
− Kế toán bán buôn theo hình thức giao hàng trực tiếp cho khách hàng.( Phụ lục
03)
Khi xuất bán hàng hóa căn cứ vào hoá đơn GTGT kế toán ghi tăng tiền mặt,
tiền gửi ngân hàng hoặc phải thu khách hàng theo giá thanh toán đồng thời ghi tăng

doanh thu bán hàng theo giá chưa có thuế GTGT và ghi tăng thuế GTGT đầu ra phải
nộp. Căn cứ vào phiếu xuất kho, kế toán ghi nợ tăng giá vốn, ghi giảm hàng hóa theo
giá thực tế hàng hóa xuất kho.
Căn cứ vào PXK, phiếu thu ( giấy báo có, giấy chấp nhận thanh toán) kế toán
ghi giảm Công cụ, dụng cụ theo trị giá thực tế xuất kho của bao bì, ghi tăng thuế
GTGT đầu ra phải nộp, ghi tăng tiền, phải thu khách hàng.
16
SVTH: Mạc Thị Hiền Lớp: K7.HK1C1
16
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đàm Bích Hà
− Kế toán bán buôn theo hình thức gửi hàng cho khách hàng.( Phụ lục 04)
Căn cứ vào PXK, kế toán ghi tăng hàng gửi đi bán và ghi giảm hàng hóa theo
trị giá hàng hóa thực tế xuất kho. Nếu hàng hóa có bao bì đi kèm tính tiền riêng, kế
toán ghi tăng phải thu khác, ghi giảm công cụ dụng cụ theo trị giá thực tế xuất kho của
bao bì.
Nếu phát sinh chi phí trong quá trình gửi bán. ( Phụ lục 04)
Trường hợp DN chịu, kế toán căn cứ vào phiếu chi (giấy báo nợ) ghi tăng Chi
phí bán hàng, ghi tăng thuế GTGT và ghi giảm các khoản tiền.
Trường hợp chi phí gửi hàng bên mua chịu nhưng DN trả hộ, kế toán căn cứ
vào phiếu chi (giấy báo nợ) ghi tăng Phải thu khác, ghi giảm tiền.
Khi hàng gửi bán được xác định là tiêu thụ, đã thỏa mãn điều kiện ghi nhận
doanh thu: Căn cứ vào thông báo của bên mua chấp nhận thanh toán số hàng gửi bán,
kế toán lập hóa đơn GTGT, căn cứ vào hóa đơn GTGT, kế toán ghi tăng doanh thu bán
hàng theo giá chưa bao gồm thuế GTGT, ghi tăng Thuế GTGT đầu ra phải nộp, ghi
tăng hay các khoản phải thu khách hàng.
Căn cứ vào giấy báo của bên mua chấp nhận thanh toán số hàng gửi bán, phiếu
xuất kho gửi bán, kế toán ghi tăng giá vốn hàng bán, ghi giảm hàng gửi đi bán.
Nếu hàng gửi đi bán xác định được xác định tiêu thụ có bao bì đi kèm tính giá
riêng, kế toán căn cứ vào phiếu xuất kho, phiếu thu (giấy báo có, giấy chấp nhận thanh
toán…) kế toán ghi giảm các khoản phải thu khác, ghi tăng thuế GTGT đầu ra phải

nộp, ghi tăng tiền, phải thu khách hàng.
Căn cứ phiếu thu (giấy báo có…), kế toán ghi tăng tiền, ghi giảm phải thu
khác.
− Kế toán nghiệp vụ bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức giao tay ba. .
( Phụ lục 05)
Căn cứ vào hóa đơn GTGT và các chứng từ thanh toán của khách hàng, kế toán
ghi tăng doanh thu bán hang chưa có thuế GTGT, ghi tăng thuế GTGT đầu ra phải
nộp, ghi tăng tiền, phải thu khách hàng. Đồng thời, căn cứ hóa đơn GTGT do người
bán lập, phiếu chi (giấy báo nợ) kế toán ghi tăng giá vốn hàng bán trị giá hàng hóa
mua ngay, ghi tăng thuế GTGT đầu vào, ghi giảm tiền hoặc phải trả người bán.
Nếu hàng giao tay ba có bao bì đi kèm tính giá riêng, kế toán căn cứ vào phiếu
17
SVTH: Mạc Thị Hiền Lớp: K7.HK1C1
17
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đàm Bích Hà
thu (giấy báo nợ, giấy báo có, phiếu chi…) ghi tăng tiền hoặc phải thu khách hàng,
ghi tăng thuế GTGT đầu vào, đồng thời ghi giảm tiền hoặc ghi tăng phải trả nhà cung
cấp, ghi tăng thuế GTGT đầu ra.
− Kế toán nghiệp vụ bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức gửi hàng.
( Phụ lục 06)
Khi DN mua hàng sau đó chuyển thẳng đi bán, căn cứ vào hóa đơn GTGT của
nhà cung cấp và phiếu gửi hàng đi bán, phiếu chi, giấy báo nợ, kế toán ghi tăng hàng
gửi đi bán, ghi tăng thuế GTGT đầu vào, ghi giảm tiền hoặc ghi tăng phải trả người
bán.
Khi hàng gửi bán được xác định là tiêu thụ, kế toán ghi nhận doanh thu và giá
vốn tương tự trường hợp bán buôn qua kho theo hình thức gửi bán.
- Kế toán bán lẻ hàng hóa.( Phụ lục 07)
Căn cứ vào báo cáo bán hàng, giấy nộp tiền của mậu dịch viên cũng như thẻ
quầy hàng (nếu có), kế toán phản ánh doanh thu và giá vốn tương tự trường hợp bán
buôn hàng hóa qua kho.

Trường hợp nhân viên bán hàng nộp thừa tiền so với doanh thu bán hàng phản
ánh trên hóa đơn, kế toán ghi tăng các khoản tiền, đồng thời ghi tăng thu nhập khác.
Trường hợp nhân viên thực nộp nhỏ hơn doanh số ghi trên bảng kê bán lẻ, kế
toán ghi tăng tiền hoặc các khoản phải thu khác đồng thời ghi tăng doanh thu bán
hàng và Thuế GTGT đầu ra.
- Kế toán bán đại lý.( Phụ lục 08)
+ Đối với bên giao đại lý, khi giao hàng hóa, sản phẩm đại lý bán được căn cứ vào
bảng kê hóa đơn của hàng hóa bán ra, kế toán phản ánh doanh thu tương tự như bán
buôn hàng hóa. Kế toán phản ánh giá vốn, ghi tăng giá vốn đồng thời ghi giảm
hàng gửi bán theo giá vốn hàng xuất bán.
Số tiền hoa hồng phải trả cho đơn vị nhận đại lý, kế toán ghi tăng chi phí bán
hàng theo số hoa hồng đại lý chưa có thuế GTGT, ghi tăng thuế GTGT đầu ra, ghi
giảm tiền theo tổng giá thanh toán.
+ Đối với bên nhận đại lý, khi nhận hàng hóa căn cứ biên bản kiểm nhận hàng hóa,
kế toán ghi tăng hàng hoá nhận bán hộ, nhận ký gửi, ký cược theo trị giá hàng bán
nhận gửi bán.
18
SVTH: Mạc Thị Hiền Lớp: K7.HK1C1
18
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đàm Bích Hà
Khi bán được hàng hóa, căn cứ vào hóa đơn GTGT và các chứng từ liên quan,
kế toán phản ánh số tiền đại lý trả bên giao đại lý phải trả bên giao đại lý, kế toán ghi
tăng tiền hoặc phải thu khách hàng đồng thời ghi tăng phải trả người bán. Định kỳ, khi
xác định hoa hồng đại lý được hưởng, kế toán ghi giảm phải trả khách hàng theo tổng
giá thanh toán, ghi tăng doanh thu bán hang và cung cấp dịch vụ theo số hoa hồng đại
lý chưa có thuế GTGT, đồng thời ghi tăng thuế GTGT.
- Kế toán bán hàng trả chậm, trả góp .( Phụ lục 09)
Khi xuất hàng giao cho khách hàng, kế toán ghi nhận doanh thu bán hàng trả
góp, lãi trả góp và số tiền phải thu ở người mua. Kế toán căn cứ phiếu thu, giấy báo
nợ, hóa đơn GTGT phản ánh tăng doanh thu bán hàng theo giá trả ngay, ghi tăng thuế

GTGT đầu ra, ghi tăng tiền và phải thu khách hàng, đồng thời ghi tăng lãi trả góp.
Định kỳ thu nợ khách hàng, căn cứ vào phiếu thu, kế toán ghi tăng tiền, ghi
giảm số tiền phải thu khách hàng. Đồng thời, ghi nhận lãi trả góp từng kỳ vào doanh
thu hoạt động tài chính.
* Các trường hợp phát sinh trong quá trình bán hàng.( Phụ lục 10)
- Chiết khấu thương mại.
Trường hợp phát sinh chiết khấu thương mại cho khách hàng, căn cứ vào phiếu
chi, giấy báo có, kế toán ghi tăng chiết khấu thương mại, ghi giảm thuế GTGT đầu ra,
ghi giảm tiền hoặc phải thu khách hàng.
- Kế toán hàng bán bị trả lại.
Đơn vị chuyển hàng về nhập kho, căn cứ vào phiếu nhập kho kế toán ghi tăng trị
giá hàng hóa nhập lại kho, ghi giảm giá vốn hàng bán bị trả lại.
Căn cứ vào phiếu chi, giấy báo nợ, kế toán ghi giảm hàng bán bị trả lại, ghi
giảm thuế GTGT, giảm tiền hoặc các khoản phải thu,
- Kế toán giảm giá hàng bán.
Khi có chứng từ xác định khoản giảm giá hàng bán cho người mua về số lượng
hàng đã bán do kém, mất phẩm chất, sai quy cách, hợp đồng, kế toán ghi tăng giảm
giá hàng bán, ghi giảm thuế GTGT đầu ra, ghi giảm tiền hoặc phải thu khách hàng.
Đặc điểm kế toán nghiệp vụ tiêu thụ với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo
phương pháp trực tiếp hoặc các đối tượng không chịu thuế GTGT .( Phụ lục 11)
19
SVTH: Mạc Thị Hiền Lớp: K7.HK1C1
19
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đàm Bích Hà
Kế toán các nghiệp vụ bán buôn, bán lẻ, bán đại lý và các trường hợp phát sinh
trong quá trình bán được hạch toán tương tự như phương pháp khấu trừ nhưng khác ở
điểm: Doanh thu bán hàng ghi theo giá bán đã có thuế GTGT trên cơ sở hóa đơn bán
hàng thông thường và thuế GTGT phải nộp ghi giảm trừ doanh thu bán hàng trong
kỳ.
b.Trường hợp DN hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp KKĐK.( Phụ lục 12)

- Đầu kỳ kinh doanh, kế toán kết chuyển trị giá vốn thực tế của hàng tồn
kho, tồn quầy, hàng gửi bán, hàng mua đang đi đường chưa tiêu thụ. Kế
toán ghi tăng mua hàng , ghi giảm hàng hóa, hàng gửi bán.
- Trong kỳ kinh doanh, các nghiệp vụ liên quan đến tăng hàng hóa được
phản ánh vào bên nợ TK mua hàng.
- Cuối kỳ, căn cứ vào kết quả kiểm kê hàng hóa tồn kho, kế toán ghi tăng
hàng hóa, hàng gửi bán, ghi giảm mua hàng.
Đồng thời xác định và kết chuyển trị giá vốn thực tế của hàng hóa đã tiêu thụ
trong kỳ. Kế toán ghi tăng giá vốn hàng bán, ghi giảm mua hàng .
2.1.2.4. Về sổ kế toán
- Hình thức nhật ký sổ cái
Đặc trưng cơ bản của hình thức sổ kế toán nhật ký sổ cái là: Các nghiệp vụ kinh
tế phát sinh được kết hợp ghi chép theo trình tự thời gian và theo nội dung kinh tế
trên cùng một quyển sổ kế toán tổng hợp duy nhất là nhật ký sổ cái. Căn cứ để ghi
vào sổ nhật ký sổ cái là các chứng từ gốc hoặc bảng tổng hợp chứng từ gốc.
- Hình thức chứng từ ghi sổ
Đặc trưng cơ bản của hình thức sổ kế toán này là: căn cứ trực tiếp để ghi sổ kế
toán tổng hợp là chứng từ ghi sổ. Hình thức này có đặc điểm là tách rời việc ghi sổ
theo thời gian và việc ghi sổ theo tài khoản trên hai loại sổ khác nhau. Việc ghi sổ kế
toán tổng hợp bao gồm:
- Hình thức nhật ký chung
Đặc trưng cơ bản của hình thức sổ kế toán này là: tất cả các nghiệp vụ kinh tế
tài chính phát sinh đều phải được ghi vào sổ nhật ký theo trình tự thời gian phát sinh
nghiệp vụ và định khoản nghiệp vụ đó, sau đó lấy số liệu trên các nhật ký để ghi sổ
cái theo trình tự nghiệp vụ phát sinh.
Hình thức này có thể vận dụng cho bất kỳ một loại hình doanh nghiệp nào. Ghi
chép đơn giản, thuận tiện cho việc sử dụng máy tính. Nhưng việc kiểm tra đối chiếu
phải dồn nén đến cuối kỳ nên thông tin kế toán có thể không được cung cấp kịp thời.
20
SVTH: Mạc Thị Hiền Lớp: K7.HK1C1

20
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đàm Bích Hà
Hình thức kế toán Nhật ký chung gồm các loại sổ chủ yếu sau:
• Sổ Nhật ký bán hàng: là sổ kế toán tổng hợp dùng để tập hợp các nghiệp vụ bán hàng
nhưng chưa thu được tiền.
• Sổ Nhật ký thu tiền: dùng để tập hợp các nghiệp vụ thu tiền ở DN bao gồm tiền mặt và
cả tiền gửi ngân hàng. Sổ Nhật ký thu tiền được mở riêng cho từng tài khoản tiền mặt,
tiền gửi ngân hàng và có thể theo dõi theo từng loại tiền.
• Sổ cái: kế toán mở sổ cái cho các TK 511, 521, 632, 156…
• Sổ chi tiết bán hàng: kế toán mở sổ chi tiết theo dõi doanh thu chi tiết cho từng mặt
hàng, nhóm hàng.
• Sổ chi tiết thanh toán với người mua: dùng để theo dõi chi tiết tình hình công nợ và
thanh toán công nợ phải thu ở người mua. Nó được mở cho từng khách hàng và theo
dõi từng khoản nợ phải thu từ khi phát sinh cho đến khi người mua thanh toán hết các
khoản nợ.
• Trình tự ghi sổ kế toán nghiệp vụ bán hàng theo hình thức Nhật ký chung
( Phụ lục 13)
- Hình thức kế toán trên máy vi tính
Đặc trưng cơ bản của hình thức này là công việc kế toán được thực hiện theo
một chương trình phần mềm trên máy tính. Phần mềm kế toán được thiết kế theo
nguyên tắc của một trong bốn hình thức kế toán hoặc kết hợp các hình thức kế toán
quy định trên đây, Phần mềm kế toán không hiển thị đầy đủ quy trình ghi sổ nhưng
phải in được đầy đủ sổ kế toán và báo cáo tài chính.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ KẾ TOÁN BÁN NHÓM HÀNG XỐP TẠI
CÔNG TY CP ĐẦU TƯ BAO BÌ EPS VIỆT NAM
2.1. Tổng quan tình hình và ảnh hưởng nhân tố môi trường đến kế toán bán
nhóm hàng xốp tại công ty CP đầu tư bao bì EPS Việt Nam.
2.1.1. Đánh giá tổng quan tình hình kế toán bán hàng tại công ty CP đầu tư bao
bì EPS Việt Nam.
- Mặt hàng kinh doanh: Hiện tại mặt hàng xốp của công ty bao gồm nhiều loại

khác nhau như: xốp cách nhiệt, xốp hàng 13kg/m
3
, xốp hàng 13kg/m
3
dày 2.5F, xốp
hàng 13kg/m
3
dày 1.5F, xốp chèn ti vi, xốp chân đế tủ lạnh
- Phương thức bán hàng: Công ty áp dụng phương thức tiêu thụ là bán lẻ và bán buôn.
+ Phương thức bán lẻ: Là phương thức bán hàng trực tiếp cho các cửa hàng nhỏ
21
SVTH: Mạc Thị Hiền Lớp: K7.HK1C1
21
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đàm Bích Hà
để bán lại cho người tiêu dùng, các tổ chức kinh tế hoặc các đơn vị kinh tế.
Ghi nhận doanh thu: Khi khách hàng trả tiền mua hàng, bộ phận bán hàng nhận
tiền và viết hóa đơn giao cho khách, kế toán tiến hành ghi nhận doanh thu.
+ Phương thức bán buôn qua kho: Căn cứ vào hợp đồng kinh tế, đơn đặt hàng
được chuyển bằng fax hoặc qua điện thoại. Căn cứ vào nhu cầu thực tế khách hàng đặt
hàng qua phòng kinh doanh, phòng kinh doanh sẽ lên đơn hàng chuyển qua cho bộ
phận kế toán lập phiếu xuất kho rồi chuyển tới cho thủ kho, thủ kho ghi thẻ kho và
xuất hàng để người giao hàng giao hàng đến địa điểm thỏa thuận hoặc khách hàng cử
người của mình đến Công ty để mua hàng.
- Giá vốn được hạch toán theo phương pháp bình quân gia quyền.
- Các chính sách trong bán hàng: Tùy từng khách hàng mà Công ty áp dụng các
chính sách giảm giá, chiết khấu…
- Phương thức thanh toán: Hầu hết tất cả các khách hàng của công ty đều thanh
toán qua 2 hình thức trả ngay (tiền mặt, tiền gửi ngân hàng) và hình thức trả chậm.
Tùy vào đặc điểm của từng khách hàng mà công ty đồng ý áp dụng theo phương thức
thanh toán nào.

2.1.2. Ảnh hưởng nhân tố môi trường đến kế toán bán xốp tại công ty CP đầu tư
bao bì EPS Việt Nam.
2.1.2.1. Ảnh hưởng của các nhân tố bên trong doanh nghiệp
- Sự lựa chọn các chính sách kế toán của nhà quản lý có tác động trực tiếp tới
công việc của kế toán bán hàng như quá trình thực hiện, xử lý nghiệp vụ bán hàng như
thế nào, các chứng từ ghi sổ, tài khoản sử dụng, phương pháp hạch toán giá vốn thành
phẩm xuất bán…
- Năng lực lãnh đạo của Ban giám đốc là một trong những nhân tố có ảnh hưởng
quan trọng tới công tác kế toán nói chung và kế toán bán hàng nói riêng. Bởi họ là
những người chỉ đạo trực tiếp, đưa ra các quyết định cuối cùng đối với việc tổ chức
công tác kế toán ở đơn vị, quyết định các chính sách kế toán áp dụng, chính sách bán
hàng, chính sách sản phẩm,…Công ty CP đầu tư bao bì EPS Việt Nam có một đội ngũ
những người lãnh đạo giàu kinh nghiệm, tâm huyết với nghề nghiệp và có trình độ
chuyên môn cao đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức và lãnh đạo các hoạt
động của Công ty.
22
SVTH: Mạc Thị Hiền Lớp: K7.HK1C1
22
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đàm Bích Hà
- Bộ máy kế toán của Công ty được tổ chức khoa học, có đội ngũ kế toán năng
động, trình độ cao, có kinh nghiệm làm việc cùng với lòng trung thành có vai trò quyết
định đến hiệu quả của công tác kế toán ở công ty nói chung và công tác kế toán bán
mặt hàng xốp tại Công ty nói riêng. Bởi lẽ, nhân viên kế toán có năng lực, có trình độ
và kinh nghiệm thì các công việc kế toán sẽ được tiến hành chính xác, kịp thời và hiệu
quả.Tuy nhiên, công việc kế toán của Công ty chỉ được thực hiện bằng Excel nên việc
tiêu thụ sản phẩm phải nhập liệu nhiều lần, dễ xảy ra sai sót.
- Đặc điểm ngành nghề kinh doanh: Do đặc điểm của mặt hàng bao bì, xốp là
những sản phẩm được sản xuất theo đơn đặt hàng hoặc đơn chiếc và yêu cầu kỹ thuật
thường rất cao do đó đòi hỏi kế toán bán hàng phải có phương thức bán hàng và chính
sách bán hàng phù hợp nhằm thu hút khách hàng, đẩy mạnh việc tiêu thụ.

2.1.2.2. Ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
- Hệ thống các quy định pháp luật về tài chính kế toán bao gồm chế độ kế toán,
chuẩn mực kế toán, luật kế toán, các thông tư và nghị định cụ thể của Bộ tài chính đã
được ban hành khá chi tiết, đầy đủ. Tuy vậy, vẫn còn sự thiếu đồng bộ và thống nhất
giữa các văn bản pháp luật về kế toán, dẫn đến những khó khăn nhất định cho công
việc của kế toán.
- Sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp: Các doanh nghiệp muốn thu hút
khách hàng, muốn sản phẩm của mình được tiêu thụ mạnh thì cần phải đưa ra chính
sách bán hàng hấp dẫn, tối đa lợi ích cho khách hàng, và không ngừng cải tiến mẫu
mã, chất lượng của sản phẩm. Điều này có ảnh hưởng tất yếu đến kế toán bán hàng,
những người trực tiếp phản ánh doanh thu, giá vốn, chi phí bán hàng,…
- Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật có tác động không nhỏ tới công tác kế toán bán
hàng của doanh nghiệp.Những ứng dụng hữu ích của công nghệ, phần mềm kế toán sẽ
giúp giảm nhẹ gánh nặng công việc cho kế toán, hơn nữa cũng giúp nâng cao hiệu suất
làm việc của nhân viên và tính chính xác của các số liệu kế toán.
- Ngoài ra còn rất nhiều các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động bán hàng của DN
như tình hình kinh tế - chính trị, lạm phát, khủng hoảng kinh tế, thu nhập người lao
động, sự thay đổi tỷ giá, xu thế tiêu dùng của người dân, sẽ ảnh hưởng đến chi phí đầu
ra, giá cả thị trường, từ đó ảnh hưởng đến doanh thu bán hàng của DN. Vì thế các DN
phải biết tận dụng những thời cơ, cơ hội mà DN nhận được, cũng như khắc phục và
23
SVTH: Mạc Thị Hiền Lớp: K7.HK1C1
23
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đàm Bích Hà
hoàn thiện hạn chế, từ đó sử dụng hiệu quả và phát huy tối đa nguồn lực của DN, tạo
vị trí vững chắc trên thị trường.
2.2. Kế toán bán nhóm hàng xốp tại công ty CP đầu tư bao bì EPS Việt Nam
2.2.1 Chứng từ kế toán sử dụng
- Phiếu xuất kho: (Phụ lục 15)
Được dùng làm căn cứ cho thủ kho xuất hàng và lập hóa đơn GTGT cho khách.

Giá trên phiếu xuất kho phản ánh giá vốn hàng bán. Số lượng hàng bán trên phiếu xuất
kho và hóa đơn GTGT phải trùng nhau để thuận tiện cho việc kiểm tra đối chiếu.
- Hóa đơn GTGT: (Phụ lục 14)
Khi bán hàng thì kế toán lập hóa đơn GTGT căn cứ vào hợp đồng kinh tế và phiếu
xuất kho. Trên hóa đơn GTGT ghi: Tên hàng hóa, đơn vị tính, số lượng, đơn giá, thành tiền.
Có dòng ghi tổng tiền hàng, một dòng ghi tổng tiền thuế GTGT. Dòng tổng tiền thanh toán
ghi bằng cả chữ và số. Hóa đơn GTGT lập thành 3 liên, viết một lần qua giấy than:
+ Liên 1 (Màu tím): Được lưu trên gốc quyển hóa đơn GTGT
+ Liên 2 (Màu đỏ): Giao cho khách hàng
+ Liên 3 (Màu xanh): Được dùng làm chứng từ kế toán, lưu giữ tại công ty.
- Phiếu thu: (Phụ lục 18)
Kế toán lập nhằm xác định số tiền mặt thực tế nhập quỹ, làm căn cứ để thủ quỹ
ghi tiền, ghi sổ quỹ, hạch toán các khoản liên quan.
- Phiếu chi: (Phụ lục 20)
Kế toán lập nhằm xác định số tiền mặt thực tế chi khi phát sinh các khoản phải
chi liên quan đến bán hàng. Là căn cứ xác định chi phí bán hàng.
- Phiếu nhập kho: (Phụ lục 19)
Được lập làm căn cứ cho thủ kho ghi thẻ kho khi phải nhập lại hàng bán cho
khách hàng trả lại.
2.2.2 Tài khoản kế toán sử dụng.
- TK 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ”.
- TK 131 “Phải thu của khách hàng”: Theo dõi các khoản phải thu của khách, tình
hình các khoản nợ và thanh toán của từng khách hàng được mở chi tiết trên TK 131.
- TK156 “Hàng hóa”: Được theo dõi chi tiết theo từng loại mặt hàng bán
24
SVTH: Mạc Thị Hiền Lớp: K7.HK1C1
24
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Đàm Bích Hà
- TK 632 “ Giá vốn hàng bán”: Dùng để phản ánh trị giá của hàng hóa đã tiêu thụ
trong kỳ.

Ngoài ra, kế toán còn sử dụng một số tài khoản như TK 111 “Tiền mặt”, TK112
“Tiền gửi ngân hàng”, TK 3331 “Thuế GTGT đầu ra phải nộp” , TK 521 “các khoản
giảm trừ doanh thu”, …
2.2.3. Trình tự hạch toán:
• Phương thức bán buôn: Căn cứ vào hợp đồng kinh tế, phòng kinh doanh sẽ lên đơn đặt
hàng rồi chuyển cho kế toán lập phiếu xuất kho. Sau khi khách hàng chấp nhận thanh
toán tiền hàng, kế toán ghi tăng TK 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ”
theo giá chưa thuế ghi trên Hoá đơn GTGT, đồng thời ghi tăng TK 3331 “Thuế GTGT
phải nộp” số thuế GTGT phải nộp của hàng hóa bán ra. Sau khi ghi nhận doanh thu và
thuế GTGT phải nộp của hàng hóa bán ra thì kế toán đồng thời ghi tăng số phải thu
khách hàng (theo tổng giá thanh toán ghi trên Hoá đơn GTGT) chi tiết cho từng khách
hàng. Vì đây là hình thức bán buôn nên khách hàng thường không thanh toán tiền hàng
ngay mà sẽ thanh toán theo những điều khoản đã ký trong hợp đồng.
Ví dụ 1: Ngày 02/01/2013 phát sinh nghiệp vụ bán buôn với Công ty cổ phần nội
thất Hòa Phát. Công ty xuất kho bán 200 hộp xốp hàng 13kg/m
3
dày 1.5F và 30 hộp
xốp hàng 13kg/m
3
dày 2.5F cho công ty Hòa Phát. Công ty Hòa Phát chấp nhận thanh
toán nợ.
Căn cứ vào Hợp đồng bán hàng, kế toán bán hàng lập Hoá đơn GTGT(Phụ lục
14)chuyển xuống kho để xuất hàng. Tại kho, thủ kho căn cứ vào số lượng trên Hoá
đơn GTGT để lập Phiếu xuất kho(Phụ lục 15) và vào Thẻ kho(Phụ lục 21). Các
chứng từ được lập, cuối ngày chuyển lên Phòng kế toán để kế toán bán hàng kiểm tra
tính hợp lệ, hợp pháp của các chứng từ sẽ tiến hành vào sổ Nhật ký chung(Phụ lục
23) và các sổ chi tiết có liên quan.
- Hoá đơn GTGT được dùng để xác định số lượng, chất lượng, đơn giá và số tiền bán
hàng hoá mà bên bán đã bán cho bên mua dùng để lên sổ chi tiết TK 131.02, 511…
Hoá đơn gồm 3 phần :

Phần I : Ghi thông tin của công ty, số hoá đơn , ngày hóa đơn , ghi liên hoá đơn
gồm 3 liên.
Liên 1 : Lưu thành quyển
25
SVTH: Mạc Thị Hiền Lớp: K7.HK1C1
25

×