UỶ BAN NHÂN DÂN TP.HỒ CHÍ MINH
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
**
BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐỀ TÀI:
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
NGOẠI THÀNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Cơ quan quản lý đề tài: Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM
Cơ quan thực hiện đề tài: Viện Kinh tế TP.HCM
Ch
ủ nhiệm đề tài: TS. Đinh Sơn Hùng
TP.H
Ồ CHÍ MINH – THÁNG 7/2005
UỶ BAN NHÂN DÂN TP.HỒ CHÍ MINH
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
**
BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐỀ TÀI:
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
NGOẠI THÀNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Ch
ủ nhiệm đề tài: TS. Đinh Sơn Hùng
Thành viên: TS. Nguy
ễn Tấn Khuyên – ĐH Kinh tế
KS. Ph
ạm Thuyết – Sở Nông nghiệp
CN. Nguy
ễn Thái An – Sở Công nghiệp
CN. Tr
ần Đình Thọ - Sở Thương mại
ThS.Hu
ỳnh Kim Sen – Sở Giáo dục
TS.BS. Lê Tr
ường Giang – Sở Y tế
TS. Tr
ần Luân Ngô – Sở Giao thông
PGS.TS. Lê Trình – Vi
ện Môi trường
KS. Lê Thanh Long – Vi
ện Kinh tế
ThS. Lê Nguy
ễn Hải Đăng – Viện Kinh tế
ThS. Nguy
ễn Quốc Huy – Viện Kinh tế
CN. Lê Thanh H
ải – Viện Kinh tế
CN. Nguy
ễn Trúc Vân – Viện Kinh tế
CN. Cao Minh Ngh
ĩa – Viện Kinh tế
KS. Tr
ần Thị Mẫn – Viện Kinh tế
KS. Vi Th
ị Nam Hương – Viện Kinh tế
NCS. Đinh Th
ị Kim Chi – Viện Kinh tế
TS. Tr
ương Thị Hiền – Trường Cán bộ TP
TP.H
Ồ CHÍ MINH – THÁNG7/2005
i
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 2
I. ĐẶT VẤN ĐỀ: 2
II. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI: 4
III. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
PHẦN II: LÝ THUYẾT CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ VÀ KINH NGHIỆM
PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRONG KHU VỰC 5
I. LÝ THUYẾT CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 5
I.1. Cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 5
I.2.Cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp- nông thôn 7
I.3. Bài học kinh nghiệm của một số nước về chuyển dịch cơ cấu kinh tế 9
I.4. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam và TP.HCM 14
PHẦN III: THỰC TRẠNG CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
NGÀNH NGOẠI THÀNH TP.HCM 16
I. TỔNG QUAN VỀ CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGOẠI
THÀNH TP.HCM 16
II. THỰC TRẠNG CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ CÔNG
NGHIỆP NGOẠI THÀNH TP.HCM 17
II.1. Ðánh giá thực trạng sản xuất công nghiệp trên địa bàn TPHCM 17
II.2.Thực trạng sản xuất CN –TTCN ở các quận huyện ngoại thành 24
II.3. Thực trạng cơ cấu kinh tế và chuyển dịch kinh tế nông nghiệp ngọai thành TPHCM 30
II.4. Thực trạng cơ cấu kinh tế và chuyển dịch kinh tế ngành dịch vụ ngoại thành TPHCM. 41
II.5. Tài chính – tín dụng 75
II.6. Du lịch, khách sạn – nhà hàng 81
II.7. Giao thông vận tải 89
II.8. Y tế 93
II.9. Bưu chính – viễn thông 101
II.10. Môi trường – Khoa học công nghệ: 109
III. KẾT LUẬN : 115
III.1. Kết quả đạt được 115
III.2. Những tồn tại. 115
PHẦN THỨ IV: KẾT QỦA ĐIỀU TRA SƠ CẤP VỀ: CÁC MÔ HÌNH TRỒNG CÂY ĂN
TRÁI, DỰ ÁN NUÔI TÔM SÚ, CÁ SẤU VÀ DỰ ÁN NÔNG NGHIỆP SINH THÁI Ở
ii
CÁC HUYỆN NGOẠI THÀNH. CÁC CHÍNH SÁCH CỦA TW VÀ THÀNH PHỐ ĐỐI
VỚI NGÀNH NÔNG NGHIỆP VÀ QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN NGÀNH 116
I. KẾT QỦA ĐIỀU TRA SƠ CẤP VỀ: CÁC DỰ ÁN, MÔ HÌNH TRỒNG CÂY ĂN TRÁI, DỰ
ÁN NUÔI TÔM, CÁ SẤU VÀ MÔ HÌNH NÔNG NGHIỆP SINH THÁI Ở CÁC HUYỆN
NGOẠI THÀNH 116
I.1. Dự án phát triển và các mô hình trồng cây ăn trái: 116
I.2. Dự án nuôi tôm sú: 118
I.3. Dự án nuôi cá sấu: 119
I.4. Dự án phát triển nông nghiệp sinh thái: 120
II. CÁC CHÍNH SÁCH CỦA TW VÀ THÀNH PHỐ ĐỐI VỚI NGÀNH NÔNG NGHIỆP VÀ
QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN NGÀNH: 122
PHẦN THỨ V: QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU CHUYỂN DỊCH CƠ
CẤU KINH TẾ NGÀNH NGOẠI THÀNH 125
I.QUAN ĐIỂM CHUNG 125
II. MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP Ở NGOẠI THÀNH: 126
II.1. Ðịnh hướng phát triển một số ngành công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp ở ngoại thành TP.
Hồ Chí Minh: 126
III. ĐỊNH HƯỚNG, QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN, MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ
NÔNG NGHIỆP NGOẠI THÀNH TPHCM 128
III.1.Nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu 128
III.2. Ðịnh hướng một số mục tiêu chủ yếu: 129
III.3. Định hướng, chuyển dịch cơ cấu theo vùng sản xuất 129
III.4. Định hướng chuyển dịch các lĩnh vực nông nghiệp chủ yếu 131
III.5. Chuyển đổi cơ cấu ở 1 số vùng trọng điểm 133
III.6. Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi ở các quận mới: 134
IV. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHUNG CỦA NGÀNH THƯƠNG MẠI – DỊCH VỤ
ĐẾN 2010: 134
IV.1. Định hướng chung: 134
IV.2. Giải pháp chung: 135
V. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC NGOẠI THÀNH TP.HCM ĐẾN NĂM 2010137
V.1.Cơ sở lý luận và thực tiễn định hướng phát triển giáo dục phổ thông 137
V.2. Định hướng phát triển GD-ĐT đến năm 2010 và những tiêu chí thực hiện đến năm 2005
140
VI. MỤC TIÊU ĐỊNH HƯỚNG CHO NGÀNH DU LỊCH – KHÁCH SẠN NGOẠI THÀNH
TP.HCM 141
VI.1. Quan điểm định hướng phát triển ngành du lịch, khách sạn – nhà hàng đến năm 2010. 141
iii
VI.2. Mục tiêu phát triển ngành du lịch, khách sạn – nhà hàng đến năm 2010, trong đó có bước
2002 – 2005. 141
VI.3. Phân tích luận giải các phương án phát triển ngành du lịch, khách sạn – nhà hàng. 142
VII. ÐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN GIAO THÔNG VẬN TẢI TOÀN THÀNH VÀ KHU
VỰC QUẬN HUYỆN MỚI: 142
VII.1. Quan điểm và nguyên tắc xây dựng định hướng phát triển: 142
VII.2. Ðịnh hướng phát triển TPHCM và Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam: 143
VII.3. Quy hoạch mạng lưới giao thông vận tải cơ sở TPHCM và vùng phụ cận giai đoạn 2010-
2020: 144
VIII. ĐỊNH HƯỚNG-MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN NGÀNH Y TẾ 153
VIII.1.Quan điểm định hướng phát triển ngành y tế đến năm 2010 153
VIII.2. Mục tiêu phát triển ngành y tế đến năm 2010 gồm: 153
VIII.3. Phân tích luận giải các phương án phát triển ngành y tế. 153
IX. ĐỊNH HƯỚNG, MỤC TIÊU CỦA NGÀNH BC-VT 154
IX.1. Quan điểm định hướng phát triển BC–VT khu vực ngoại thành đến năm 2010 154
IX.2. Mục tiêu định hướng ngành BC – VT đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoại
thành đến năm 2010, trong đó có bước 2002 – 2005. 154
IX.3. Phân tích luận giải các phương án phát triển BC – VT khu vực ngoại thành. 155
X. DỰ BÁO Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG Ở CÁC KHU VỰC NGOẠI THÀNH 155
X.1. Dự báo ô nhiễm môi trường ở các khu vực ngoại thành 155
X.2. Dự báo khối lượng chất thải rắn công nghiệp 156
X.3. Dự báo ô nhiễm khí thải công nghiệp 156
X.4. Dự báo ô nhiễm do hoạt động nông nghiệp – nuôi trồng thuỷ sản 157
X.5. Dự báo ô nhiễm do chất thải sinh hoạt 157
PHẦN THỨ VI: GIẢI PHÁP – CƠ CHẾ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGOẠI
THÀNH TP.HCM 158
I. CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ CÔNG
NGHIỆP-TTCN Ở NGOẠI THÀNH TP. HỒ CHÍ MINH 158
I.1.Lập chương trình phát triển công nghiệp nhỏ và vừa ở ngoại thành: 158
I.2. Chương trình đào tạo và dạy nghề: 158
I.3. Thực hiện dịch vụ hỗ trợ công nghiệp-TTCN: 159
I.4. Tạo vốn đầu tư cho xí nghiệp nhỏ và vừa: 160
I.5. Mở rộng quan hệ hợp tác: 161
I.6. Chính sách thuế: 161
II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH
TẾ NÔNG NGHIỆP-NÔNG THÔN TPHCM 162
iv
II.1. Phát huy nội lực thúc đẩy phát triển SX nông-lâm-ngư-diêm nghiệp 162
II.2. Phát huy nội lực để phát triển ngành nghề nông thôn 162
II.3. Phát huy nội lực các thành phần kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn 163
II.4. Về phát triển kết cấu hạ tầng và đô thị hóa nông thôn 163
II.5. Về phát huy nguồn lực tài nguyên phục vụ phát triển SX và kinh tế-xã hội ngoại thành 163
II.6. Phát huy nguồn nhân lực 164
II.7. Thực hiện các chính sách hỗ trợ, khuyến khích để thúc đẩy nhanh CNH-HÐH và phát triển
các thành phần kinh tế: 164
III. MỤC TIÊU-CHÍNH SÁCH – GIẢI PHÁP CỤ THỂ CHO NGÀNH THƯƠNG MẠI –
DỊCH VỤ 165
III.1. Dự báo ngành TM-DV: 165
III.2. Mục tiêu phát triển của ngành TM-DV: 168
III.3. Giai Đoạn Quy Hoạch Phát Triển Ngành TM-DV: 168
III.4. Chính sách và giải pháp cụ thể cho ngành TM-DV: 170
IV. CÁC GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM TẠO BƯỚC ĐỘT PHÁ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC
PHỔ THÔNG: 176
IV.1. Nhóm giải pháp về tăng cường cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học: 176
IV.2. Nhóm giải pháp về nâng cao chất lượng giáo dục và hiệu quả đào tạo: 178
IV.3. Nhóm giải pháp xây dựng đội ngũ: 179
IV.4. Nhóm giải pháp về xã hội hoá giáo dục 181
IV.5. Nhóm giải pháp về cải tiến công tác quản lý giáo dục: 181
V. GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH THỰC HIỆN PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG-TÀI CHÍNH NGOẠI
THÀNH TPHCM: 182
V.1. Giải pháp thu hút vốn đầu tư vào khu vực nông thôn ngoại thành TPHCM 182
V.2. Giải pháp mở rộng và nâng cao hiệu quả tín dụng khu vực nông thôn ngoại thành TPHCM.
184
V.3. Giải pháp về nâng cao khả năng hấp thụ vốn đầu tư khu vực nông thôn ngoại thành
TPHCM. 185
V.4. Giải pháp về đào tạo nâng cao năng lực quản trị tài chánh khu vực nông thôn ngoại thành
TPHCM. 186
V.5. Giải pháp về tổ chức quản lý điều hành các nguồn quỹ đầu tư, tín dụng phát triển kinh tế và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoại thành TPHCM 186
V.6. Giải pháp chính sách thực hiện: 187
VI. GIẢI PHÁP CHO NGÀNH DU LỊCH – KHÁCH SẠN- NHÀ HÀNG NGOẠI THÀNH
TP.HCM 187
VI.1. Huy động vốn nước ngoài: 187
v
VI.2. Giải pháp về đào tạo, đào tạo lại và phát triển nguồn nhân lực. 189
VII. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN PHÁT TRIỂN GIAO THÔNG 192
VII.1. Giải pháp về vốn: 192
VII.2. Giải pháp về tổ chức, quản lý và cơ chế, chính sách: 193
VIII. GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH THỰC HIỆN PHÁT TRIỂN NGÀNH Y TẾ 193
VIII.1. Giải pháp về vốn: 193
VIII.2. Giải pháp đầu tư, trong đó giải pháp xã hội hóa ngành y dược 193
VIII.3. Giải pháp về ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật, hiện đại hóa ngành y dược: 194
VIII.4. Giải pháp đào tạo, và phát triển nguồn nhân lực ngành y dược. 195
VIII.5. Giải pháp về tổ chức thực hiện và điều hành 195
IX. GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH THỰC HIỆN PHÁT TRIỂN NGÀNH BC-VT 195
IX.1. Giải pháp thu hút tín dụng, vốn đầu tư vào ngành BC – VT ngoại thành TPHCM. 195
IX.2. Giải pháp về ứng dụng các thành tựu công nghệ cho ngành BC – VT thúc đẩy quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoại thành TPHCM đến năm 2010. 196
IX.3. Giải pháp đào tạo, đào tạo lại và phát triển nguồn nhân lực cho ngành BC – VT 196
IX.4. Giải pháp về tổ chức thực hiện và điều hành. 196
X. CÁC GIẢI PHÁP VÀ CHƯƠNG TRÌNH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHU VỰC NGOẠI
THÀNH ĐẾN 2010 197
XI. KẾT LUẬN 199
TÀI LIỆU THAM KHẢO 201
vi
DANH SÁCH CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 1: Cơ cấu kinh tế ngoại thành 2000-2003 (giá thực tế) 16
Bảng 2:Cơ cấu kinh tế TPHCM, giai đoạn 1995-2003 17
Bảng 3: Mức tăng trưởng GDP và đóng góp vào tăng trưởng GDP của 3 khu vực 17
Bảng 4: Tốc độ tăng trưởng khu vực II của TPHCM so với cả nước, giai đoạn 1995-2003 18
Bảng 5: Tốc độ tăng trưởng GTSX các ngành công nghiệp chế biến 18
Bảng 6: Tỉ trọng thành phần kinh tế giai đoạn 1996-2003 19
Bảng 7: Tỉ trọng ngành công nghiệp, giai đoạn 1996-2003 19
Bảng 8: Lao động công nghiệp so tổng số lao động đang làm việc toàn TP(đvt: người) 20
Bảng 9: Cơ cấu lao động công nghiệp ở các thành phần kinh tế 21
Bảng 10: Trình độ lao động công nghiệp trên địa bàn thành phố 21
Bảng 11: Cơ cấu GTSX công nghiệp nội thành-ngoại thành TPHCM (%) 24
Bảng 12: Tình hình thu hút đầu tư năm 2003 của các khu CN-khu chế xuất 26
Bảng 13: Tổng hợp về CSSX CN và lao động 26
Bảng 14: Tốc độ tăng trưởng về GTSX của ngành nông-lâm-ngư TPHCM giai đoạn từ 1980-
2003 30
Bảng 15: Kết quả SX nông-lâm-ngư nghiệp TP 1980 – 2003 32
Bảng 16: Giá trị và tỉ trọng ngành nông-lâm-ngư TP từ 1980-2003 37
Bảng 17: Giá trị SX và cơ cấu theo cấp quản lý 40
Bảng 18: Tình hình giáo dục tại 5 quận mới năm 2003: 42
Bảng 19: Tình hình trường lớp ngành học Mầm non, Phổ thông tại 5 huyện: 42
Bảng 20: Tỉ lệ học sinh các loại hình: 43
Bảng 21: Tỉ lệ HS lưu ban 43
Bảng 22: Tỉ lệ HS bỏ học 43
Bảng 23: Tỉ lệ bố trí giáo viên: 43
Bảng 24: Thống kê số liệu học sinh tốt nghiệp THCS của các quận, huyện được tuyển vào lớp
10 năm họcc 2004-2005 44
Bảng 25: Cơ cấu GDP ngành TM-DV trên địa bàn TP.HCM (theo giá thực tế) 46
Bảng 26: Tốc độ tăng GDP của một số ngành TM-DV (theo giá so sánh 1994) 47
Bảng 27: Cơ cấu ngành TM-DV trên địa bàn TP.HCM (theo giá thực tế) 47
Bảng 28: Giá trị sản xuất ngành thương nghiệp TP.HCM (Giá thực tế) 49
Bảng 29: Cơ cấu và tốc độ tăng lao động ngành thương nghiệp 50
Bảng 30: Vốn đầu tư XDCB và SCL ngành thương nghiệp 50
Bảng 31: Cơ cấu tổng mức hàng hóa bán ra (TM.HHBR) (theo giá thực tế) 52
Bảng 32: Kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn TP thời kỳ 1991-2003 54
Bảng 33: Cơ cấu xuất khẩu của các thành phần kinh tế 55
Bảng 34: Cơ cấu các nhóm hàng xuất khẩu trên địa bàn thành phố từ 1993-2000 56
Bảng 35: Kim ngạch nhập khẩu trên địa bàn TP thời kỳ 1991-2003 56
Bảng 36: Hiện trạng hệ thống chợ trên địa bàn quận mới và huyện ngoại thành 58
Bảng 37: Hiện trạng và dự kiến phát triểnhệ thống siêu thị trên địa bàn quận mới và huyện
ngoại thành 59
vii
Bảng 38:Tốc độ phát triển lao động ngành TM-DV 60
Bảng 39: Tốc độ phát triển cơ sở ngành TM-DV 61
Bảng 40: Tình hình lao động ngành thương mại (Đvt: người) 61
Bảng 41: Tình hình tổng doanh thu ngành thương mại – dịch vụ (đvt:triệu đồng) 62
Bảng 42: Tình hình thu ngân sách của các quận huyện ngoại thành. (ĐVT: triệu đồng.) 77
Bảng 43: Tình hình chi ngân sách của các quận huyện ngoại thành (ĐVT: triệu đồng.) 78
Bảng 43: Số cơ sở nhà hàng – khách sạn tại các quận huyện ngoại thành TPHCM (ĐVT: cơ sở)
81
Bảng 44: Cơ cấu độ tuổi trong các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn TPHCM năm 2003 (ĐVT:
%) 84
Bảng 45: Cơ cấu trình độ văn hóa của người lao động trong các doanh nghiệp du lịch trên địa
bàn TPHCM năm 2003 (ĐVT: %) 85
Bảng 46: Cơ cấu kinh tế trên địa bàn TPHCM (ĐVT: %) 85
Bảng 47: Số giường bệnh qua các năm 94
Bảng 48: Khám-điều trị bệnh truyền nhiễm xã hội 95
Bảng 49: Cán bộ ngành y tế qua các năm 96
Bảng 50: Chi ngân sách thường xuyên cho ngành y tế 96
Bảng 51: Hiện trạng cơ sở vật chất của các trạm y tế phường xã ở 5 quận mới và các huyện
ngoại thành 98
Bảng 52: Hiện trạng phát triển điện thoại cố định ở khu vực đô thị mới và nông thôn 103
Bảng 53: Sản lượng khai thác bưu chính-viễn thông 106
Bảng 54: Doanh thu của ngành bưu chính trên địa bàn TPHCM (ĐVT: triệu đồng) 106
Bảng 55: Số lao động ngành bưu chính viễn thông tại TPHCM 107
Bảng 56: Sự biến đổi chất lượng nước mặt khu vực Củ Chi từ năm 1996 - 2001 111
Bảng 57: Sự biến đổi chất lượng nước mặt khu vực Cần Giờ từ năm 1996 - 2001 112
Bảng 58: Sự biến đổi chất lượng nước mặt khu vực Nhà Bè từ năm 1996 - 2001 112
Bảng 59: Sự biến đổi chất lượng nước mặt khu vực Bình Chánh từ năm 1996-2001 113
Bảng 60: Sự biến đổi chất lượng không khí khu vực Củ Chi từ năm 1996 - 2002 113
Bảng 61: Sự biến đổi chất lượng không khí khu vực Nhà Bè từ năm 1996 - 2002 114
Bảng 62: Sự biến đổi chất lượng không khí khu vực Bình Chánh từ năm 1996 - 2002 114
Bảng 63: Sự biến đổi chất lượng không khí khu vực Hóc Môn từ năm 1996 – 2002 114
Bảng 64 : Các mô hình trồng cây ăn trái và VAC năm 2004 117
Bảng 65: Tình hình phát triển nuôi tôm sú 118
Bảng 66: Giá trị sản lượng tôm sú theo phương thức nuôi 119
Bảng 67 : Bảng cơ cấu khối lượng vận tải hành khách theo phương tiện 146
Bảng 68: Bảng phân chia lộ trình chuyển đổi phương tiện 146
Bảng 69: Tổng hợp qũy đất dự kiến cho giao thông vận tải đến 2020 151
Bảng 70: Dự báo lưu lượng nước thải ở các KCN vùng ngoại thành 155
Bảng 71: Dự báo lượng rác thải công nghiệp ở các KCN 156
Bảng 72: Dự báo ô nhiễm không khí tại các KCN 157
Bảng 73: sĩ số/lớp bình quân giai đoạn 2005-2010 178
Đề tài: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh thực trạng và giải pháp
Viện Kinh Tế TP.HCM – Tháng 7/2005
1
LỜI NÓI ĐẦU
Đề tài : “ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoại thành TP.HCM thực trạng và
giải pháp”được hình thành trên cơ sở đề xuất của nhóm cán bộ nghiên cứu thuộc
Viện Kinh tế và đã được Hội Đồng khoa học của Sở Khoa Học và Công Nghệ xét
duyệt vào ngày 11/04/2002.
Trong qúa trình triển khai. Nhóm nghiên cứu đề tài luôn luôn nhận được sự
quan tâm chỉ đạo của cơ quan quản lý đề tài: - Sở Khoa Học và Công Nghệ
TP.HCM, cơ quan thực hiện đề tài: - Viện Kinh Tế TP.HCM. Bên cạnh đó nhóm
đề tài cũng nhận được sự hợp tác, hỗ trợ, giúp đỡ nhiệt tình của các Sở, Ban
Ngành như: Sở Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn TP.HCM, Sở Công nghiệp
TP.HCM, Sở Thương Mại, Sở Giao Thông Công Chánh, Sở Y tế, Sở Giáo Dục,
Viện Môi Trường,… cùng nhiều cá nhân khác như: PGS. Đào Công Tiến, GT.TS.
Hồ Đức Hùng,… Nhân dịp đề tài được nghiệm thu, nhóm nghiên cứu đề tài xin
chân thành cám ơn Lãnh Đạo Sở Khoa Học và Công Nghệ, Lãnh đạo Viện Kinh
Tế TP.HCM và các Sở Ban Ngành, cũng như tất cả các cá nhân, các thành viên
tham gia đề tài.
Dù đã có nhiều cố gắng và được Hội Đồng nghiệm thu đánh giá cao, nhưng
chúng tôi cho rằng nội dung nghiên cứu vẫn không tránh khỏi những thiếu sót, hạn
chế. Vì vậy chúng tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các độc giả.
TP.HCM, ngày 07/7/2005
Chủ nhiệm đề tài
TS. Đinh Sơn Hùng
Đề tài: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh thực trạng và giải pháp
Viện Kinh Tế TP.HCM – Tháng 7/2005
2
PHẦN I:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Thực hiện Nghị Quyết số 15/TW của Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành TW Đảng khoá
IX, ngày 4/7/2002 Thành Ủy đã ban hành chương trình hành động về đẩy nhanh CNH – HĐH
nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2001 – 2010 (văn bản 05/NQ-TU), nội dung quan trọng nhất
của CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn là chuyển dịch cơ cấu kinh tế và hiệu qủa, tốc độ
chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng là một trong những tiêu chí đánh giá trình độ CNH, HĐH. Để
đẩy nhanh tốc độ và chất lượng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoại thành TP.HCM, chính quyền
thaàh phố đã thực thi nhiều chương trình phát triển như: Chương trình 2 cây, 2 con; Chương
trình giống cây, con có chất lượng cao; Chương trình phát triển đàn bò sữa; Chương trình trồng
rừng kinh tế và gần đây là chương trình xây dựng mô hình nông nghiệp công nghệ cao,…Bên
cạnh đó chủ trương đưa các khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất ra vùng nông thôn ngoại
thành TP.HCM, sự hình thành và ra đời của các khu CN tập trung và các khu chế xuất, không
chỉ nhiều công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật được xây dựng mà còn kéo theo các hoạt động
thương mại dịch vụ phát triển mạnh, góp phần giải quyết nhu cầu việc làm cho lao động ở khu
vực nông nghiệp, nông thôn ngoại thành,… tất cả các chương trình trên đã tạo cho “bộ mặt”
vùng nông nghiệp nông thôn ngoại thành ngày một phát triển, đời sống của dân cư ngoại thành
được cải thiện, rút ngắn khoảng cách về thu nhập cũng như điều kiện sinh hoạt so với khu vực
nội thành, các kết qủa trên cũng đã tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở khu vực nông
thôn ngoại thành ngày càng rõ nét,…
Tuy nhiên, thứ nhất, cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoại thành vẫn chưa
xứng tầm với một thành phố lớn, một trung tâm kinh tế lớn như thành phố HCM; thứ hai, ở góc
độ nghiên cứu khoa học thì hiện nay có rất ít tài liệu nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
vùng ngoại thành TPHCM. Những tài liệu hiện có phần lớn là những nghiên cứu riêng lẻ của
các Sở Ban ngành trong thành phố nghiên cứu về một lĩnh vực cụ thể của ngoại thành trong
phạm vi quản lý của họ nhằm phục vụ các yêu cầu về quản lý và phát triển lĩnh vực của mình,
như:
Kỹ sư Nguyễn Thị Tuất ở Viện Kinh Tế TPHCM năm 1991 đã thực hiện đề tài nghiên
cứu về hộ nông dân ngoại thành TPHCM nhằm để đánh giá đời sống người dân ngoại thành
trong giai đoạn đầu chuyển đổi qua nền kinh tế thị trường. Đề tài này chỉ giới hạn trong phạm vi
là một cuộc điều tra hộ gia đình có qui mô nhỏ và chỉ giới hạn trong việc trình bày kết quả điều
tra về mức sống và những nguyện vọng của ngừoi nông dân ở ngoại thành.
Năm 1993, nhóm nghiên cứu ở Viện Kinh Tế TPHCM do TS. Lương Hữu Định làm
trưởng nhóm đã nghiên cứu khá sâu về vấn đề phát triển nông thôn ngoại thành, yếu tố vốn và
các bài toán tín dụng cho nông thôn. Đề tài đã đưa ra các kiến nghị, đánh giá chung về vấn đề
trên và đề xuất một mô hình tín dụng mẫu cho nông thôn ngoại thành.
Năm 1994, Viện Kinh Tế TPHCM thực hiện đề tài nghiên cứu cơ cấu kinh tế nông
nghiệp ngoại thành TPHCM với mục tiêu là phân tích diễn biến cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở
ngọai thành trong giai đoạn 1986-1992. Đề tài đã chứng minh tỷ trọng nông nghiệp có xu thế
giảm trong cơ cấu nông – công nghiệp, kéo theo sự chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp và
phi nông nghiệp. Những nguyên nhân cơ bản tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp
Đề tài: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh thực trạng và giải pháp
Viện Kinh Tế TP.HCM – Tháng 7/2005
3
bao gồm quá trình đầu tư vào thủy lợi, điện, và đô thị hóa vùng nông thôn. Đề tài cũng đã nêu
lên một số giải pháp nhằm chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp ngoại thành cho phù hợp với hướng
phát triển chung của thành phố. Tuy nhiên, đề tài này chỉ dừng ở trong lĩnh vực nông nghiệp mà
chưa phân tích vào các lĩnh vực khác và chỉ ra sự chuyển dịch cơ cấu giữa các lĩnh vực này.
Cũng vào năm 1994, Viện cũng đã thực hiện đề tài “Các biện pháp bảo trợ nông nghiệp
ở ngoại thành TPHCM”, trong đó hướng đến việc phân tích thực trạng và các yếu tố tác động
đến sản xuất nông nghiệp, và đề ra các giải pháp nhằm bảo trợ nông nghiệp ngoại thành nói
riêng và tại TPHCM nói chung.
Kỹ sư Lê Văn Be của Viện Kinh Tế TPHCM năm 1995 thực hiện đề tài “Phát triển công
nghiệp vừa và nhỏ ở ngoại thành TPHCM”. Trong đề tài này, tác giả chú trọng vào việc đánh
giá thực trạng và tiềm năng phát triển công nghiệp vừa và nhỏ ở ngoại thành TPHCM và trên cơ
sở này đề xuất chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển của loại hình doanh nghiệp này để thu hút
nhiều lao động tại chỗ trong quá trình đô thị hóa. Đề tài chỉ giới hạn trong lĩnh vực công nghiệp,
chưa đi sâu phân tích toàn thể các ngành kinh tế kỹ thuật công nghiệp của ngoại thành TPHCM
và sự chuyển dịch cơ cấu của các thành phần, ngành nghề ở ngoại thành TPHCM.
“Bảo trợ trồng cây ăn trái và nuôi gà công nghiệp ở ngọai thành TPHCM” là đề tài của
Viện Kinh Tế TPHCM thực hiện năm 1996 nhằm đánh giá về mô hình trồng cây ăn trái và gà
công nghiệp ở ngọai thành TPHCM. Đề tài chủ yếu đi sâu vào các vấn đề kỹ thuật, thu hoạch
cây ăn trái và chăn nuôi công nghiệp.
Năm 1998, Viện Kinh Tế thực hiện đề tài “Tác động của quá trình đô thị hóa đến sự biến
động kinh tế-xã hội nông thôn ngoại thành TPHCM. Đề xuất các định chế nhằm hỗ trợ việc làm
cho quận 12”. Đề tài đã nghiên cứu sâu về sự phát triển của đô thị hóa ở ngoại thành TPHCM,
quá trình khai thác sử dụng tài nguyên ở ngoại thành trong quá trình đô thị hóa, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế và thu hút vốn đầu tư, sự cải thiện về CSHT và thực trạng lao động và việc làm ở
quận 12. Thông qua sự phân tích này, đề tài đã đi đến đề xuất một số định chế nhằm hỗ trợ việc
làm cho lao động thường trú ở quận 12, mở rộng khả năng tiếp cận việc làm ở quận 12. Đề tài
chỉ giới hạn trong việc phân tích quá trình đô thị hóa ở ngoại thành, chuyển dịch công nghiệp,
lao động, môi trường mà không cung cấp một cái nhìn toàn thể về mối liên hệ giữa 3 khu vực
nông nghiệp, công nghiệp- xây dựng và dịch vụ cũng như sự chuyển dịch giữa các khu vực này.
Năm 2000, KS Nguyễn Thị Tuất của Viện Kinh Tế TPHCM thực hiện đề tài “Nghiên
cứu hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp tại 5 quận mới, các vấn đề đặt ra, các chính sách và biện
pháp quản lý, sử dụng đất phù hợp với quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa theo mục tiêu qui
hoạch”. Mục tiêu đề tài là rà sóat các mục tiêu quy hoạch tại 5 quận mới, phân tích thực trạng sử
dụng đất nông nghiệp, nhận diện các tác động và các vấn đề tồn tại trong các văn bản pháp luật
liên quan đến việc sử dụng đất và kiến nghị các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử
dụng đất lâu dài, đáp ứng các mục tiêu công nghiệp hóa và đô thị hóa của 5 quận mới. Đề tài
này được thực hiện trong bối cảnh của 5 quận mới thành lập của TPHCM và chỉ tập trung vào
vấn đề sử dụng đất nông nghiệp ở các quận mới này.
Tóm lại, hiện nay vẫn chưa có đề tài nào thể hiện đầy đủ, chi tiết và cập nhật về hiện
trạng kinh tế - xã hội ngoại thành TPHCM, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoại thành và
đề xuất ra các giải pháp, bước đi thích hợp nhằm chuyển đổi cơ cấu kinh tế ngoại thành. Đây
cũng chính là những mục tiêu mà đề tài nghiên cứu “ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoại thành
TP.HCM thực trạng và giải pháp” muốn đạt đến nhằm cung cấp một bức tranh toàn diện và
đầy đủ về các vấn đề kinh tế vùng ngoại thành và đề ra các giải pháp nhằm định hướng phát
triển vùng ngoại thành theo định hướng chung của thành phố.
Đề tài: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh thực trạng và giải pháp
Viện Kinh Tế TP.HCM – Tháng 7/2005
4
II. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:
Theo nội dung đề cương đã được Hội đồng khoa học của Sở Khoa Học và Công Nghệ xét duyệt
vào ngày 11/04/2002, đề tài nghiên cứu gồm 3 mục tiêu:
1. Xây dựng lý luận về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
2. Phân tích hiện trạng kinh tế - xã hội qúa trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế khu vực ngoại
thành TP.HCM. Xác định mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế - xã hội thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế khu vực ngoại thành TP.HCM giai đoạn 2002 – 2010.
3. Đề xuất giải pháp chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế khu vực ngoại thành TP.HCM
giai đoạn 2002 – 2010.
III. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên địa bàn các huyện ngoại thành và các quận mới
thành lập, với hướng nghiên cứu chính là đi vào đánh giá hiện trạng kinh tế xã hội vùng ngoại
thành trong qúa trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế 1990 – 2004.
Để đạt được các nội dung nghiên cứu, chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê, so sánh
các tài liệu có tính chất pháp lý , tham khảo các nhà quản lý địa phương, các chuyên gia có liên
quan đến lĩnh vực nghiên cứu; kế thừa một số số liệu nghiên cứu của các đề tài nghiên cứu trước
đây có liên quan đến các nội dung của đề tài, Các báo cáo của Sở Nông Nghiệp & Phát Triển
Nông Thôn thành phố, Sở Công Nghiệp TP.HCM, Sở Thương Mại, Sở Giao Thông Công
chánh, Sở Giáo Dục, Sở Y tế, Sở Bưu Chính Viễn Thông,… sách “ chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp ngoại thành, Tp.HCM” năm 2002 và các số liệu thống kê (Niên giám thống kê của
cả nước, của thành phố Hồ Chí Minh và các quận huyện) từ 1990 – 2004. Tiến hành điều tra sơ
cấp một số mô hình về cây ăn trái, rau an toàn, nuôi tôm sú, cá sấu,…dự án nông nghiệp sinh
thái ở các huyện ngoại thành, …Thu thập thông tin về các chính sách của thành phố và TW đối
với các ngành nông nghiệp và quy hoạch phát triển ngành ở Sở/ Ban ngành đã được triển khai
thực hiện ở ngoại thành.
Đề tài: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh thực trạng và giải pháp
Viện Kinh Tế TP.HCM – Tháng 7/2005
5
PHẦN II:
LÝ THUYẾT CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
VÀ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA
TRONG KHU VỰC
I. LÝ THUYẾT CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
I.1. Cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
I.1.1. Khái niệm cơ cấu kinh tế
Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về cơ cấu kinh tế, nhưng về cơ bản thì những
khái niệm khác nhau đó không mâu thuẫn, mà chỉ bao hàm nội dung rộng, hẹp, nông sâu khác
nhau.
Theo quan niệm của chúng tôi, hai khái niệm sau đây chứa đựng đầy đủ nội hàm về cơ
cấu kinh tế:
Cơ cấu kinh tế là tổng thể các bộ phận cấu thành của nền kinh tế, bao gồm cơ cấu ngành,
cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu vùng lãnh thổ, cơ cấu tích lũy và tiêu dùng, cơ cấu xuất nhập
khẩu, và các yếu tố phi kinh tế tác động lẫn nhau.
Cơ cấu kinh tế là tổng thể các bộ phận hợp thành kết cấu của một nền kinh tế. Các bộ
phận đó gắn bó, tác động qua lại lẫn nhau và biểu hiện ở các quan hệ tỉ lệ về số lượng, tương
quan về chất lượng trong những không gian và thời gian nhất định, phù hợp với những điều kiện
KT-XH nhất định nhằm đạt tới hiệu quả KT-XH.
Nghiên cứu cơ cấu kinh tế nhằm phát hiện xu hướng vận động của nền kinh tế theo từng
thời kỳ để có những tác động cần thiết, thúc đẩy hay hạn chế các xu hướng tích cực hay tiêu
cực, tiến tới đạt được các mục tiêu đã định trước. Nghiên cứu cơ cấu kinh tế không chỉ là
nghiên cứu mối quan hệ về số lượng và tỷ lệ giữa các yếu tố cấu thành, biểu hiện về lượng-sự
tăng trưởng của hệ thống, mà còn nghiên cứu những mối quan hệ cơ cấu giữa các yếu tố, biểu
hiện về chất-sự phát triển của hệ thống. Nền kinh tế chỉ có thể ổn định và tăng trưởng bền vững
khi có một cơ cấu cân đối, hợp lý và có khả năng thích ứng linh hoạt trước mọi biến đổi.
I.1.2. Những tính chất chủ yếu của cơ cấu kinh tế
I.1.2.1. Tính khách quan
Nền kinh tế có sự phân công lao động, có các ngành, lĩnh vực kinh tế và sự phát triển
của lực lượng sản xuất nhất định sẽ hình thành một cơ cấu kinh tế với tỷ lệ nhất định của các bộ
phận. Những tỷ lệ đó sẽ thay đổi thường xuyên và tự giác hay tự phát theo một quá trình diễn
biến khách quan của nhu cầu xã hội và khả năng đáp ứng của yêu cầu đó. Một cơ cấu kinh tế
như thế nào và xu thế chuyển dịch của nó ra sao phụ thuộc vào điều kiện khách quan về kinh tế-
kỹ thuật và kinh tế-xã hội nhất định, chứ không do ý muốn chủ quan của con người.
Cơ cấu kinh tế và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với nội dung, yêu cầu và xu
hướng vận động của quy luật kinh tế sẽ cho phép khai thác tốt nhất tiềm năng giới hạn của nền
kinh tế trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Ngược lại, cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế không phù hợp với qui luật kinh tế sẽ triệt tiêu những động lực phát triển.
Đề tài: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh thực trạng và giải pháp
Viện Kinh Tế TP.HCM – Tháng 7/2005
6
Vì vậy cơ cấu kinh tế thường được xem là biểu hiện tóm tắt, cô đọng nội dung chiến
lược phát triển kinh tế xã hội của từng giai đoạn phát triển nhất định. Nhưng không vì thế áp đặt
chủ quan, tự đặt cho các ngành những tỉ lệ và vị trí trái ngược với yêu cầu và xu thế phát triển
của xã hội. Mọi áp đặt chủ quan, nóng vội nhằm tạo ra một cơ cấu theo ý muốn, nhưng không
phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thường dẫn tới tai họa không nhỏ, bởi vì
sai lầm về cơ cấu kinh tế là sai lầm chiến lược, khó khắc phục và để lại hậu quả lâu dài.
I.1.2.2. Tính lịch sử và xã hội:
Sự giống nhau của các quan hệ xã hội, tỷ lệ trong cơ cấu kinh tế của những nước, những
vùng có trình độ phát triển lực lượng sản xuất ngang nhau không phải bao giờ cũng dẫn đến
những quan hệ như nhau về chất giữa các nền kinh tế. Bởi vì, ở mỗi giai đoạn phát triển nhất
định, tính chất hợp lý của cơ cấu kinh tế của mỗi nước, mỗi vùng phụ thuộc vào những điều
kiện lịch sử, kinh tế-xã hội khác nhau. Với ý nghĩa này cho thấy không thể áp dụng một cách
máy móc những bước thay đổi tỷ lệ số luợng của cơ cấu một nước này, vùng nầy cho cơ cấu
một nước khác, vùng khác không cùng một điều kiện chính trị, xã hội, mặc dù các nước đó,
vùng đó có thể nằm ở một trình độ phát triển lực lượng sản xuất như nhau. Mặt khác, cơ cấu
kinh tế, ngoài việc phản ánh tính quy luật chung về điều kiện chính trị các nước, còn phụ thuộc
vào điều kiện đặc thù về tự nhiên, kinh tế, lịch sử, xã hội của mỗi nước, mỗi vùng. Với ý nghĩa
đó, việc học hỏi và vận dụng sáng tạo kinh nghiệm của mỗi nước trong việc xây dựng cơ cấu
kinh tế hợp lý là quan trọng.
Như vậy, cơ cấu kinh tế vừa mang tính khách quan, vừa mang tính lịch sử xã hội, đồng
thời luôn vận động và phát triển không ngừng, gắn với sự phân công lao động, hợp tác kinh tế
trong nước và quốc tế.
I.1.3. Các loại cơ cấu kinh tế
Cơ cấu của nền kinh tế quốc dân chỉ được cụ thể hóa thông qua từng loại cơ cấu cụ thể.
Tùy theo góc độ tiếp cận, có thể nêu ra các loại cơ cấu kinh tế khác nhau như sau:
Xét sự phân công lao động xã hội theo ngành: có cơ cấu kinh tế ngành.
Xét quan hệ sở hữu: có cơ cấu thành phần kinh tế.
Xét sự phân công lao động theo không gian: có cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ.
Xét theo cấp quản lý: có cơ cấu kinh tế trung ương, địa phương.
Xét theo trình độ kỹ thuật: có cơ cấu sản xuất thủ công, hiện đại.
Xét theo các khâu của quá trình tái sản xuất: có cơ cấu sản xuất, lưu thông, phân phối,
trao đổi và tiêu dùng.
Xét theo công dụng kinh tế của sản phẩm: có cơ cấu sản xuất tư liệu sản xuất và sản xuất
tư liệu tiêu dùng,v.v…
I.1.4. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
I.1.4.1. Khái niệm:
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình làm thay đổi cấu trúc và mối liên hệ quan hệ tỷ
lệ cả về lượng lẫn chất của các bộ phận trong nền kinh tế theo một chủ đích và phương hướng
nhất định.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình làm
biến đổi nền kinh tế từ chỗ có cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông nghiệp lạc hậu sang cơ cấu kinh tế
Đề tài: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh thực trạng và giải pháp
Viện Kinh Tế TP.HCM – Tháng 7/2005
7
dịch vụ-công-nông nghiệp hiện đại. Đó là quá trình gia tăng tốc độ phát triển và tỷ trọng của sản
xuất công nghiệp trong nền kinh tế gắn liền với đổi mới căn bản về công nghệ, tạo nền tảng cho
sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và bền vững của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
I.1.4.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
- Nhân tố thị trường và nhu cầu tiêu dùng xã hội không chỉ qui định về số lượng mà cả
về chất lượng các sản phẩm hàng hóa dịch vụ, nên có tác dụng trực tiếp đến qui mô, trình độ
phát triển của các cơ sở kinh tế; đến xu hướng phát triển và phân công lao động xã hội; đến vị
trí, tỷ trọng của các ngành, lĩnh vực trong cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất.
- Lực lượng sản xuất là động lực phát triển xã hội. Sự phát triển của lực lượng sản xuất
sẽ làm thay đổi qui mô các ngành nghề mới, biến đổi lao động từ giản đơn thành lao động phức
tạp, chuyển dịch lao động từ ngành này sang ngành khác. Sự phát triển của lực lượng sản xuất
ảnh hưởng trực tiếp đến hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Lực lượng sản xuất phát triển
không ngừng nên cơ cấu kinh tế cũng luôn luôn thay đổi, song sự biến đổi cơ cấu kinh tế diễn ra
chậm chạm, không mang tính đột biến như chính sách, cơ chế quản lý.
- Quan điểm chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước trong mỗi giai
đoạn nhất định là định hướng chung cho mọi thành phần, mọi doanh nghiệp trong cả nước. Sự
điều tiết của Nhà nước gián tiếp dẫn dắt các ngành, lĩnh vực và các bộ phận hợp thành nền kinh
tế.
- Mọi sự hoạt động của nền kinh tế đều có sự điều tiết của Nhà nước, song không phải
nhà nước can thiệp trực tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế, nhà nước
điều hành thông qua hệ thống pháp luật và các sách kinh tế. Sự tác động của cơ chế quản lý sẽ
thực hiện được cơ cấu sản xuất, cơ cấu dân cư, tạo sự cân đối lực lượng lao động và thu nhập
giữa các vùng và giảm bớt khoảng cách phát triển giữa thành thị và nông thôn.
- Xu thế chính trị xã hội của khu vực và thế giới ảnh hưởng đến hình thành và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế.
- Khoa học công nghệ: mối quan hệ vị trí giữa khoa học với kỹ thuật và sản xuất đã thay
đổi. Nếu như trước đây khoa học chỉ giải thích những vấn đề mà kỹ thuật và sản xuất đã
thựchiện, thì ngày nay khoa học đi trước mở đường cho kỹ thuật và sản xuất, là động lực thúc
đẩy kỹ thuật và sản xuất phát triển, là lực lượng sản xuất trực tiếp. Tốc độ phát triển của khoa
học càng ngày càng nhanh và vai trò của khoa học với sự phát triển kinh tế càng gia tăng. Vì
vậy, cơ cấu kinh tế cũng chuyển dịch dưới tác động của khoa học-công nghệ.
I.2.Cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp- nông thôn
I.2.1. Khái niệm:
Từ góc độ không gian lãnh thổ mỗi nước, người ta chia thành kinh tế nông thôn và kinh
tế thành thị. Sự khác nhau giữa kinh tế thành thị và kinh tế nông thôn căn cứ vào trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất, trình độ phân công lao động xã hội và những đặc thù của các
ngành, các vùng kinh tế.
Có thể hiểu cơ cấu kinh tế nông thôn là quan hệ tỷ lệ, quan hệ hữu cơ giữa các ngành,
các lĩnh vực kinh tế trên địa bàn nông thôn. Cơ cấu kinh tế đó được thể hiện cả về mặt chất và
mặt số lượng. Cơ cấu kinh tế có vai trò to lớn, ảnh hưởng chi phối đến cơ cấu kinh tế nông thôn
và là thước đo trình độ phát triển của nền kinh tế mỗi nước và ở chừng mực nhất định còn phản
ánh tính chất văn minh của xã hội.
Đề tài: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh thực trạng và giải pháp
Viện Kinh Tế TP.HCM – Tháng 7/2005
8
I.2.2. Đặc trưng cơ bản của kinh tế nông thôn
Cơ cấu kinh tế nông thôn có những đặc trưng chung của cơ cấu kinh tế đồng thời cũng
những đặc trưng riêng bởi vì nó là một bộ phận của cơ cấu kinh tế quốc dân. Các đặc trưng cơ
bản:
- Cơ cấu kinh tế nông thôn hình thành và mang tính khách quan do những điều kiện tự
nhiên, kinh tế và xã hội cụ thể quyết định.
- Cơ cấu kinh tế nông thôn không cố định, cứng nhắc mà có sự vận động biến đổi và
chuyển dịch phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội và tiến bộ khoa học công nghệ, sự phát triển
của lực lượng sản xuất và phân công lao động.
- Cơ cấu kinh tế nông thôn không khép kin mà ngày càng liên kết hợp tác với kinh tế đô
thị, mở rộng gắn liền với quá trình phân công lao động, phát triển dịch vụ và giá trị.
- Cơ cấu kinh tế nông thôn hình thành và hoàn thiện trong quan hệ hợp tác, cạnh tranh
theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước.
I.2.3. Nội dung cơ bản của cơ cấu kinh tế nông thôn
Cơ cấu kinh tế nông thôn là tổng thể các hoạt động kinh tế-xã hội diễn ra trên địa bàn
nông thôn. Nội dung cơ bản của nó bao gồm cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng và cơ cấu thành
phần kinh tế ở nông thôn, trong đó cơ cấu ngành kinh tế là bộ phận có tầm quan trọng đặc biệt,
phản áh trình dộ phát triển kinh tế nông thôn.
I.2.3.1. Cơ cấu ngành kinh tế:
Cơ cấu ngành kinh tế nông thôn thể hiện mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành trong nông
thôn: nông nghiệp, công nghiệp nông thôn và tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn.
Việc xác lập mối quan hệ hợp lý và gắn bó giữa nông nghiệp công nghiệp và dịch vụ
trên địa bàn nông thôn là vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược phát triển kinh
tế xã hội chung của cả nước.
I.2.3.2. Cơ cấu kinh tế vùng:
Cơ cấu vùng kinh tế là sự phân công lao động xã hội theo lãnh thổ trên phạm vi cả nước.
Cơ cấu vùng vừa là bộ phận trong kinh tế nông thôn vừa là nhân tố hàng đầu để tăng trưởng và
phát triển bền vững các ngành kinh tế nông thôn được phân bổ ở vùng. Việc xác lập cơ cấu kinh
tế vùng phải hợp lý để khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng và lợi thế của từng vùng.
I.2.3.3. Cơ cấu các thành phần kinh tế:
Trên địa bàn nông thôn trình độ phát triển và trình độ xã hội hóa lực lượng sản xuất
không đều nên cùng tồn tại nhiều hình thức quan hệ sản xuất đa dạng phù hợp với thực trạng
của lực lượng sản xuất. Do đó, tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh ở nông thôn có nhiều
thành phần kinh tế như: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân…
Trên cơ sở yêu cầu và khả năng phát triển của lực lượng sản xuất, mở rộng thị trường
nông thôn, các thành phần kinh tế có quan hệ hợp tác, kết hợp, đan xen cạnh tranh và chuyển
hóa lẫn nhau một cách đa dạng với nhiều hình thức, qui mô và trình độ khác nhau.
I.2.4.Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn là sự thay đổi các quan hệ tỷ lệ cấu thành bên
trong của kinh tế nông nghiệp-nông thôn cho phù hợp với môi trường phát triển kinh tế của xã
hội.
Đề tài: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh thực trạng và giải pháp
Viện Kinh Tế TP.HCM – Tháng 7/2005
9
Cơ cấu kinh tế nông thôn có vai trò to lớn, ảnh hưởng chi phối đến đời sống vật chất và
tinh thần ở nông thôn. Cơ cấu kinh tế nông thôn hợp lý sẽ quyết định việc khai thác và sử dụng
có hiệu quả tối ưu tài nguyên đất, nước, vốn, sức lao động và cả cơ sở vật chất-kỹ thuật hiện đại;
quyết định tốc độ phát triển hàng hóa ở nông thôn, chuyển mạnh kinh tế nông thôn tự cung, tự
cấp sang kinh tế hàng hóa; quyết định khả năng xã hội hóa sản xuất và lao động, chuyển người
nông dân thuần nông sang người nông dân thích nghi tốt với cơ cấu kinh tế mới, đa dạng ngành
nghề.
Sự tồn tại và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn luôn diễn ra trong mối quan hệ tác
động lẫn nhau với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đô thị nói riêng và cơ cấu kinh tế cả nước nói
chung.
I.3. Bài học kinh nghiệm của một số nước về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
I.3.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc là một quốc gia lớn ở châu Á, có nền kinh tế nông nghiệp lâu đời. Những
kinh nghiệm thành công trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Trung Quốc là bài học vô cùng quý
giá cho đất nước ta.
Nông nghiệp được xem là cơ sở của nền kinh tế quốc dân nên việc tập trung đẩy mạnh
phát triển nông nghiệp toàn diện được coi là nhiệm vụ hàng đầu nhằm đưa nền nông nghiệp lạc
hậu mau chóng phát triển. Với phương châm phải ổn định lương thực nên trong sản xuất nông
nghiệp đã sử dụng nhiều biện pháp tác động để ổn định diện tích đất gieo trồng, nâng cao sản
lượng bằng con đường thâm canh, xây dựng các vùng lương thực hàng hóa trọng điểm… nhờ đó
Trung Quốc đã từng bước thoát khỏi tình trạng trì trệ, giải quyết nạn thiếu đói triền miên của
nhân dân.
Nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển của ngành nông nghiệp, các biện pháp có hiệu quả
được áp dụng như cải tiến quản lý kinh tế nông nghiệp, ứng dụng rộng rãi các thành tựu khoa
học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, thực thi hàng loạt các chính sách như chế độ khoán
trong nông nghiệp, coi hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ và đi vào sản sản xuất hàng hóa, cơ
chế thu mua nông sản được cải cách, khuyến khích phát triển kinh tế hộ gia đình. Chính nhờ đó
đã tạo ra động lực để thúc đẩy nền nông nghiệp Trung Quốc phát triển mạnh mẽ, sản lượng
lương thực hàng năm không ngừng tăng lên, đảm bảo lương thực vững chắc và ổn định. Từ đó
điều chỉnh cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng đa dạng hóa, chú ý phát triển cây công nghiệp,
nghề rừng, khai thác và nuôi trồng thủy sản, đẩy mạnh công nghiệp chế biến và dịch vụ nông
nghiệp.
Với chính sách phát triển nông nghiệp toàn diện đã giúp cho các hộ nông dân chuyển từ
trạng thái kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc sang nền kinh tế hàng hóa.
Song song với chính sách phát triển nông nghiệp một cách toàn diện là chủ trương xây
dựng phát triển các xí nghiệp hương trấn.
Xí nghiệp hương trấn là những xí nghiệp do nhân dân, bao gồm nhiều thành phần kinh
tế: xí nghiệp tập thể do xã, thôn lập ra, xí nghiệp do liên hộ lập ra và xí nghiệp hộ gia đình.
Mô hình xí nghiệp hương trấn đã được áp dụng và phát triển rộng khắp ở Trung Quốc.
Tuy nhiên , ở mỗi nơi mô hình này có sắc thái riêng phù hợp với vị trí và điều kiện ở nơi đó. Có
7 mô hình xí nghiệp hương trấn cụ thể như sau:
Mô hình Tô Nam-Mô hình xí nghiệp hương trấn ở khu nông nghiệp phát triển
Mô hình Cảnh Xa-Mô hình xí nghiệp hương trấn ở khu nông nghiệp chưa phát triển.
Đề tài: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh thực trạng và giải pháp
Viện Kinh Tế TP.HCM – Tháng 7/2005
10
Mô hình Ôn Châu-Mô hình xí nghiệp hương trấn hướng ra thị trường.
Mô hình Chu Giang-Mô hình xí nghiệp hương trấn hướng ngoại.
Mô hình Tấn Giang-Mô hình xí nghiệp hương trấn kinh doanh cổ phần của quê hương
người hoa với hoa kiều.
Mô hình Hỗ Giao-Mô hình xí nghiệp hương trấn ở ngoại ô thành phố.
Mô hình Bình Định-Mô hình xí nghiệp hương trấn khai thác tài nguyên.
Mô hình xí nghiệp hương trấn về thực chất là nội dung cơ bản của công nghiệp hóa nông
thôn mang màu sắc Trung Quốc. Nó được coi là quốc sách để xây dựng cơ cấu kinh tế nông
thôn trong thời kỳ cải cách kinh tế, nó vừa là động lực vừa là mục tiêu thúc đẩy quá trình phân
công lao động ở nông thôn theo quan điểm "ly nông bất ly hương", từng bước tổ chức hợp tác
các ngành công-nông-thương-tín trên địa bàn nông thôn.
Trong thời kỳ cuối những năm 80, các xí nghiệp hộ cá thể phát triển nhanh. Năm 1984
cả nước mới có 4,2 triệu xí nghiệp hộ đến năm 1993 trên toàn quốc có 21 triệu xí nghiệp hoạt
động, thu hút 165 triệu lao động ở nông thôn.
Cơ cấu các ngành nghề xí nghiệp hương trấn rất đa dạng: công nghiệp chiếm 67%; xay
dựng 17%; vận tải nông thôn 6% trong tổng số xí nghiệp. Điểm nổi bật trong sự phát triển xí
nghiệp hương trấn là giá trị sản lượng nông nghiệp ngày một tăng lên và từ năm 1987 đã vượt
giá trị sản lượng nông nghiệp, giá trị sản lượng công nghiệp nông thôn chiếm 1/3 giá trị sản
lượng công nghiệp cả nước. Sự phát tirển của các xí nghiệp hương trấn đã làm thay đổi rất lớn
cơ cấu ngành nghề nông thôn Trung Quốc.
Giá trị sản phẩm phi nông nghiệp từ chỗ chiếm tỷ lệ khiêm tốn 19,2% (1978) thì 10 năm
sau (1988) đã chiếm hơn 50% tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp Trung Quốc.
Bên cạnh đó việc xây dựng hệ thống dịch vụ xã hội giải quyết những khó khăn trong quy
trình sản xuất nông nghiệp với các hình thức sau:
Các tổ chức dịch vụ thuộc các thành phần kinh tế tập thể đảm bảo hoạt động các khâu:
máy cày, tưới tiêu, thuốc BVTV, gặt hái, vận chuyển…
Các dịch vụ của các hợp tác xã cung tiêu, tín dụng và tổ chức do nông dân tự nguyện lập
ra làm dịch vụ tiêu thụ sản phẩm, gia công chế biến.
Mạng lưới dịch vụ kinh tế kỹ thuật của nhà nước nhằm cung cấp các dịch vụ phổ biến
khoa học kỹ thuật.
Các đơn vị nghiên cứu khoa học, các trường Đại Học thâm nhập vào nông thôn tư vấn
kỹ thuật, chỉ đạo, bồi dưỡng cán bộ, nhận khoán triển khai các đề tài khoa học.
Các hiệp hội khoa học kỹ thuật của nông thôn thông qua hình thức trao đổi kinh nghiệm.
Các hình thức tổ chức dịch vụ trên đã tác động tích cực đến sự phát triển ngành nông
nghiệp, giúp giải quyết các trở ngại khó khăn trên con đường hiện đại hóa nông nghiệp nông
thôn Trung Quốc.
I.3.2. Kinh nghiệm của Nhật Bản
Nhật Bản nằm ở khu vực Đông Á, có xuất phát điểm cũng là nền nông nghiệp cổ truyền,
tự cung tự cấp, sản xuất manh mún với những hộ nông dân quy mô nhỏ. Trên ¾ diện tích là đồi
núi, đất đai bậc thang, gây khó khăn cho hoạt động sản xuất nông nghiệp. Ruộng đất ít, dân số
Đề tài: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh thực trạng và giải pháp
Viện Kinh Tế TP.HCM – Tháng 7/2005
11
đông nên bình quân ruộng đất vào loại thấp nhất thế giới, trong khi 2/3 dân số chủ yếu sống dựa
vào nông nghiệp.
Trong chương trình khôi phục kinh tế sau thế chiến thứ II, Nhật Bản đã xác định sản
xuất nông nghiệp và công nghiệp hàng tiêu dùng là quan trọng hàng đầu, trong đó vấn đề cơ bản
là thực hiện an toàn lương thực và cải cách ở nông thôn. Để thực hiện được nhiệm vụ này chính
phủ Nhật Bản đã đề ra các chính sách như:
Chính sách an toàn lương thực với nội dung khẩn trương tiến trình cải tạo đất nhằm đẩy
đẩy mạnh sản xuất lương thực và giải quyết công ăn việc làm cho người lao động ở nông thôn.
Với chính sách này từ năm 1949 trở đi lương thực và nông sản của Nhật Bản đã đạt mức tăng
trưởng cao, từng bước đảm bảo nhu cầu tiêu dùng trong nước.
Thực hiện chính sách cải cách ruộng đất bằng các biện pháp bắt buộc các điền chủ có
diện tích đất canh tác lơn phải bán lại cho nông dân. Do đó đã xóa bỏ quyền chiếm dụng đất bất
hợp lý và thiết chế độ sở hữu ruộng đất cho những nông dân không có đất canh tác ở Nhật Bản.
Đồng thời với những chủ trương trên, chính phủ đã tiến hành một loạt các biện pháp để
đẩy mạnh phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn như: Cải cách quản lý hành chính trong
nông nghiệp, thực hiện chính sách ổn định giá cả nông sản, đẩy mạnh đầu tư, công tác khuyến
nông v.v … Đặc biệt, với chính sách trợ giá gạo của chính phủ để giữ giá mua của nông dân
luôn cao hơn gía bán ra thị trường nhằm khuyến khích phát triển sản xuất lương thực.
Bên cạnh các chính sách phát triển nông nghiệp, với chủ trương phát triển các ngành
nghề trong nông thôn. Số hộ chuyên làm nông nghiệp giảm dần, kinh tế thị trường ở Nhật Bản
phát triển nhanh chóng với nhiều loại hình sản xuất đa dạng, hiệu quả kinh tế cao. Các trang trại
thuần nông giảm dần trong khi đó tỷ lệ trang trại công nông nghiệp tăng lên.
Do công nghiệp phát triển nhanh hơn nông nghiệp, thu nhập của các hộ công nhân cao
hơn hộ nông dân đã làm nảy sinh ra vấn đề có một bộ phận lao động trẻ, khỏe có trình độ khoa
học và công nghệ từ nông thôn lên thành thị ngày càng tăng. Để khắc phục tình trạng này, chính
phủ Nhật Bản đã chủ trương đưa công nghiệp về nông thôn, nhờ vậy tỷ trọng lao động các
ngành công nghiệp tăng dần lên, đồng thời mở ra khả năng phát triển nhanh ngành dịch vụ trên
địa bàn nông thôn, nhưng vẫn đảm bảo số lượng cần thiết, có chất lượng cao để phát triển sản
xuất nông nghiệp.
I.3.3. Kinh nghiệm của Thái Lan
Thái Lan là nước nằm ở khu vực Đông Nam Á, có điều kiện tự nhiên gần giống với nước
ta. Vào những năm 60 của thế kỷ XX, Thái Lan vẫn còn là một nước lạc hậu, yếu kém cả về
nông nghiệp lẫn công nghiệp, với trên 90% dân số là nông dân nên họ đã chọn công nghiệp hoá
làm con đường để thúc đẩy nông nghiệp và kinh tế nông thôn.
Vào thời gian đầu, Thái Lan đi theo "Mô hình Công nghiệp hoá tập trung" theo kiểu phát
triển công nghiệp mạnh trước hết ở thành phố như các nước công nghiệp phương Tây bằng cách
tập trung xây dựng một số ngành công nghiệp trọng yếu như động lực, hóa dầu, sản xuất tư liệu
sản xuất… bằng nguồn vốn và công nghệ nước ngoài. Đi theo hướng này chẳng những nền kinh
tế không phát triển mà còn lâm vào tình trạng trì trệ, nông nghiệp vẫn lạc hậu, mức sống của cư
dân nông thôn không tăng ngược lại dẫn đến sự suy thoái của các thành phố, thị trấn nhỏ, không
những không tạo thêm việc làm mới cho số lao động mang tính thời vụ ở nông thôn mà làm cho
những người này tràn vào thành phố.
Trước tình hình trên và cũng nhận thấy được sai lầm trong chính sách Công nghiệp hoá
tập trung nên từ năm 1977 chính phủ Thái Lan bắt đầu chuyển hướng chiến lược công nghiệp
Đề tài: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh thực trạng và giải pháp
Viện Kinh Tế TP.HCM – Tháng 7/2005
12
hóa, từ chỗ đơn thuần chỉ chỉ tập trung vào công nghiệp hoá đô thị đã chuyển sang đa dạng hóa
nền kinh tế, thực hiện công nghiệp hóa cả đô thị và nông thôn, cả nông nghiệp và công nghiệp
đều hướng về xuất khẩu. Chú trọng phát triển công nghiệp nông thôn nên đến nay ở Thái Lan có
tới hơn ¼ xí nghiệp gia công sản phẩm đã được xây dựng ngay tại nông thôn. Ngoài ra thông
qua sự giúp đỡ vể tài chính và kỹ thuật, chính phủ có khuyến khích các nhà doanh nghiệp ở
thành phố và nông thôn xây dựng xí nghiệp, nhất là các xí nghiệp gia công nông sản phẩm và
thủ công nghiệp. Nhờ vậy sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu của Thái Lan đã được mở rộng.
Nét nổi bật của sự phát triển nông nghiệp Thái Lan trong những năm gần đây là tốc độ
tăng trưởng nhanh gắn liền với đa dạng hóa nông nghiệp. Tăng nhanh diện tích trồng trọt và sản
lượng các loại cây trồng mới. Phát triển các hoạt động ngoài trồng trọt. Hiện nay ngoài những
mặt hàng xuất khẩu truyền thống gạo, ngô, cao su và đường, nông thôn Thái Lan còn có nhiều
mặt hàng xuất khẩu mới như hải sản đông lạnh, gia cầm, hoa quả tươi và chế biến, rau xanh và
củ sắn v.v…
Thực hiện phát triển nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa đã tác động trực tiếp đến quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn. Nhiều tiềm năng đất đai, lao động
được khai thác và phát huy tác dụng đạt hiệu quả kinh tế cao. Với chủ trương đa dạng hóa nông
nghiệp và lấy nông nghiệp làm điểm tựa đẩy mạnh sản xuất và chế biến xuất khẩu các mặt hàng
truyền thống nông, lâm, thủy sản đã đưa nền kinh tế Thái Lan có bước chuyển đổi cơ cấu kinh tế
rõ nét. Thực hiện công nghiệp hóa nông thôn, Thái Lan chủ trương vừa phát triển kinh tế nông
nghiệp vừa mở mang các nghành nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn. Trong phát
triển nông nghiệp chú trọng đa dạng hóa các loại cây trồng, vật nuôi, đa dạng hóa sản phẩm
nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến. Các vùng chuyên canh lớn được hình
thành, các khu công nghiệp chế biến xuất khẩu phát triển mạnh, với thiết bị hiện đại nhằm thu
hút nguồn nông sản để chế biến, do vậy nâng cao được giá trị sản phẩm và đưa lại hiệu quả kinh
tế cao.
Về chăn nuôi, một ngành không kém phần quan trọng ở Thái Lan, có sản lượng đứng
đầu Châu Á. Ngành chăn nuôi gia cầm đã được đầu tư khoa học công nghệ vào khâu giống, nuôi
dưỡng , làm thịt, ướp lạnh, bảo quản, bao gói, vận chuyển để xuất khẩu.
I.3.4. Kinh nghiệm của Đài Loan
Đài Loan là hải đảo, nằm cách bờ biển Phúc Kiến-Trung Quốc hơn 100 km. Có diện tích
khoảng 30.000 km
2
, số dân khoảng 21 triệu người. Đài Loan là nước có diện tích đất canh tác
thấp nhất thế giới 2.200 người/km
2
. Đài Loan từng bị Nhật bản chiếm đóng để xây dựng căn cứ
phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược Trung Quốc và các nước Đông Nam Á. Khoảng những
năm cuối thập kỷ 40, Đài Loan tiếp nhận khoảng hơn 2 triệu người từ lục địa Trung Quốc sang
đã bổ sung sức mạnh mới về sản xuất cho Đài Loan, đặc biệt là lực lượng các nhà quản lý, nhân
sĩ, trí thức, cán bộ khoa học kỹ thuật đã có tác dụng rất quan trọng trong việc hoạch định chính
sách xây dựng và phát triển kinh tế của Đài Loan.
Từ đầu những năm 50 của thế kỷ XX, được sự viện trợ về kinh tế của Mỹ và dựa trên
tiềm lực sẵn có của mình là đất đai và lao động, Đài Loan đã tiến hành cải cách nông nghiệp với
3 chính sách lớn là: cải cách ruộng đất, cải tiến kỹ thuật sản xuất nông nghiệp và kiến thiết xã
hội nông thôn.
Cải cách ruộng đất của Đài Loan là nhân tố có tính quyết định làm thay đổi cơ cấu kinh
tế và xã hội của Đài Loan. Cải cách ruộng đất đã xóa bỏ tình trạng ruộng đất tập trung vào tay
một số địa chủ, tạo điều kiện cho công nghiệp nông thôn đuợc hoàn toàn tư do hoạt động cạnh
tranh theo quy luật kinh tế thị trường như mọi ngành công nghiệp khác ở thành phố. Cải cách
Đề tài: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh thực trạng và giải pháp
Viện Kinh Tế TP.HCM – Tháng 7/2005
13
ruộng đất đã tác động ảnh hưởng đến việc cải thiện cơ cấu sản xuất nông nghiệp, khai thác lao
động , các nguồn vốn đầu tư vào đất đai, làm tăng thu nhập cho nông thôn, nâng cao được mức
tiêu dùng cho nông dân, nâng cao được mức tiêu dùng cho nông thôn. Hai giai đoạn phát triển
nông nghiệp của Đài Loan:
Thời kỳ lấy nông nghiệp nuôi công nghiệp (1949 -1969)
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nền nông nghiệp Đài Loan tổn thất rất nghiêm trọng,
sức sản xuất thấp kém, tiền vốn không đủ, vật giá tăng mạnh. Điều kiện thuận lợi nho nhỏ chỉ là
sức lao động dư thừa và một ít cơ sở còn lại. Nên mục tiêu trong thời kỳ này là tập trung sản
xuất nông nghiệp để đảm bảo nhu cầu về nông sản cho nhân dân và quân đội, ổn định giá cả,
giảm bớt nhập khẩu nông sản phẩm, tiết kiệm ngoại tệ. Ngoài ra còn nỗ lực sản xuất và gia công
chế biến nông lâm thủy sản để xuất khẩu tạo nguồn ngoại tệ, tăng sự đóng góp của nông dân đối
với nền kinh tế quốc dân.
Để đạt được mục tiêu trên, Đài Loan đã thực hiện rộng rãi việc áp dụng kỹ thuật kinh
doanh cần nhiều sức lao động và kỹ thuật vi sinh để nâng cao sản lượng cây trồng, nâng cao khả
năng canh tác đất đai, nhập thêm các giống cây trồng mới có giá trị kinh tế cao. Từ đó đã đưa
nền nông nghiệp Đài Loan từ chỗ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa và các mặt hàng chế
biến xuất khẩu ngày càng tăng.
Thời kỳ lấy công nghiệp phát triển nông nghiệp (từ 1970 trở đi)
Trong thời kỳ này với chủ trương cơ giới hóa trong nông nghiệp được đặt lên hàng đầu
bởi vì chỉ có cơ giới hóa mới nâng cao được năng suất lao động nông nghiệp. Năm 1973, với
chính sách đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, Đài Loan đã thực hiện cơ giới hóa nông nghiệp
bằng cách tăng cường đầu tư cho các công trình công cộng, cải thiện điều kiện vận chuyển tiêu
thụ nông sản, cải thiện vay tín dụng nông nghiệp và đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học kỹ
thuật nông nghiệp. Đài Loan đã đảm bảo cơ giới hóa khâu làm đất, tưới nước trên 98%, khâu
cấy lúa trên 90%, phun thuốc trừ sâu từ 85-87%, khâu thu hoạch 95%, sấy hạt 70%.
Ngoài ra chính phủ còn dùng chính sách giá cả, thu nhập để chi viện cho sản xuất nông
nghiệp. Năm 1974 với chính sách trợ giá lương thực bằng cách lập quỹ trợ giá lương thực đảm
bảo thu mua lương thực với giá cao hơn giá thành sản xuất tạo tâm lý yên tâm và kích thích sản
xuất.
Đồng thời bên cạnh đó là việc tập trung cải cách cơ cấu sản xuất để cạnh tranh với các
nước đang phát triển. Năm 1982, Đài Loan đưa ra phương án cải cách nông thôn giai đoạn 2,
trong đó có các biện pháp như cho vay tín dụng để mua đất, quy hoạch lại nông thôn, cơ giới
hóa nông nghiệp, chung nhau hoặc ủy thác hợp tác kinh doanh để mở rộng quy mô kinh doanh
nông nghiệp. Giúp nông dân có thể thuyên chuyển nghề nghiệp, đồng thời phối hợp phương
thức "chuyên canh nông nghiệp" nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp nhằm chuyên môn hóa,
tư bản hóa và khoa học hóa sản xuất, nâng cao sức sản xuất của lao động nông nghiệp, đưa nông
nghiệp trở thành một ngành tự đứng vũng được.
Sự thành công trong việc phát triển nông nghiệp ở Đài Loan không thể không kể đến
việc áp dụng mô hình "công nghiệp phân tán" ngay từ rất sớm. Theo mô hình này, nhiều xí
nghiệp công nghiêp được xây dựng ngay tại nông thôn nhờ đó số người làm nông nghiệp ở nông
thôn tuy có giảm đi nhưng dân số nông thôn vẫn không giảm mà chuyển sang hoạt động công
nghiệp và phi nông nghiệp khác theo phương châm "ly nông bất ly hương". Với việc phát triển
công nghiệp nông thôn theo kiểu công nghiệp hóa phân tán đã tạo ra nhiều việc làm hơn cho
nông thôn, nhiều gia đình vừa làm nông nghiệp vừa làm công nghiệp hoặc hoàn toàn tiến hành
các hoạt động phi nông nghiệp khác. Điều đó góp phần làm giảm sức ép của dân số đối với
Đề tài: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh thực trạng và giải pháp
Viện Kinh Tế TP.HCM – Tháng 7/2005
14
ruộng đất và số người bỏ nông thôn ra thành thị tìm việc cũng ít đi. Mặt khác người dân ở nông
thôn hoạt động đồng thời trong cả ba lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, phi nông nghiệp nên
có thể tăng thu nhập. Đặc biệt thu nhập từ phi nông nghiệp khác thường cao hơn công nghiệp và
nông nghiệp nên tổng số thu nhập của nông hộ ngày càng tăng. Chính điều đó cũng làm cho các
nông hộ mặc dù có diện tích đất canh tác ít vẫn có thể tăng nhanh thu nhập của mình.
Với các chính sách nông nghiệp hợp lý, liên kết giữa công nghiệp và nông nghiệp đã làm
cho kinh tế Đài Loan phát triển lớn mạnh, bên cạnh đó cũng đã tác động, thúc đẩy chuyển dịch
cơ cấu nông thôn theo hướng tỷ trọng các hộ thuần nông giảm từ 39.9% (1955) xuống còn 8,9%
(1985) và tỷ trọng các hộ vừa làm nông nghiệp vừa làm công nghiệp và dịch vụ tăng từ 63,15%
(1955) lên 91,02% (1989), thu nhập các hộ nông dân từ ngoài nông nghiệp tăng từ 43% (1950)
lên gần 70% (1992).
Những thành công trong việc phát triển tổng hợp công nghiệp đô thị và nông thôn ngay
từ đầu của Đài Loan là bài học quí cho Việt Nam và các nước đang phát triển.
I.4. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam và TP.HCM
Từ lý luận về cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu kinh tế nông nghiệp- nông thôn nói riêng
và mô hình phát triển kinh tế nông nghiệp – nông thôn của một số nước Châu Á, có thể rút ra
một số bài học kinh nghiệm cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoại thành TPHCM sau đây:
Thứ nhất: chuyển dịch cơ cấu kinh tế TPHCM phải thực hiện đồng thời trên hai phương
diện số lượng và chất lượng của cơ cấu kinh tế và của sự chuyển dịch. Đồng thời cùng với sự
phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học – công nghệ thì cơ cấu kinh tế và sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế càng nghiêng nhiều hơn về chất lượng.
Thứ hai, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng là quá trình chuyển từ nền kinh tế tự
cung, tự cấp sang kinh tế hàng hóa; chuyển từ sản xuất hàng hóa nhỏ, giản đơn sang sản xuất
hàng hóa với trình độ ngày càng cao. Do đó, những giải pháp để chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải
trên cơ sở tính toán cung – cầu hiện tại về các loại sản phẩm cơ bản, sản phẩm chủ lực và dự
kiến cầu tương lai. Từ đó xác định nguồn cung.
Thứ ba, đồng thời với việc phát triển một ngành sản xuất nông nghiệp toàn diện đa
dạng, thâm canh, tăng năng suất, cần tập trung vào phát triển một số sản phẩm chủ lực là lợi thế
của thành phố. Ngoài hai cây, hai con đã được xác định, có thể nghiên cứu phát triển một số cây,
con khác như bông, và cây cảnh xuất khẩu. đặc biệt, thành phố cần trở thành một trung tâm
cung cấp giống, cây con chất lượng cao cung cấp cho các tỉnh miền Đông và miền Tây Nam bộ.
Thứ tư, thành phố là một trung tâm khoa học- công nghệ lớn, mật độ dân số đông vì vậy
nông nghiệp thành phố phải là nền nông nghiệp: xanh, sạch giá trị gia tăng cao, chất lượng nông
phẩm cao.
Thứ năm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoại thành thành phố cần thực hiện đồng thời cả
chuyển dịch giữa ba khu vực I, II và III theo hướng giá trị sản lượng khu vực giảm tương đối
nhưng vẫn có thể tăng tuyệt đối, khu vực II và III tăng nhanh cả tương đối lẫn tuyệt đối và
chuyển dịch trong nội bộ từng khu vực.
Thứ sáu, đồng thời với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cần chú ý phát triển giáo dục- đào
tạo nhằm nâng cao trình độ học vấn, đào tạo nghề cho lực lượng lao động, để tạo điều kiện
chuyển dịch cơ cấu lực lượng lao động theo hướng lao động thuần nông giảm, tăng lao động,
nhất là lao động có trình độ cao trong các lĩnh vực phi nông nghiệp.
Đề tài: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh thực trạng và giải pháp
Viện Kinh Tế TP.HCM – Tháng 7/2005
15
Thứ bảy, đẩy mạnh xã hội hóa thu hút nguồn lực xây dựng CSHT kỹ thuật và CSHT xã
hội, nhưng đầu tư nhà nước vẫn là nguồn lực chính, gắn liền quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế và phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trường.
Thứ tám, để tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng khai thác lợi thế của
thành phố cần gắn kết, tiến hành đồng bộ giữa các loại quy hoạch, KT-XH, ngành, mặt bằng,
xây dựng và chính sách đất đai phù hợp.
Thứ chín, đẩy mạnh và nâng cao hiệu qủa quy hoạch và tổ chức quản lý theo quy hoạch,
bao gồm: quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội, quy hoạch ngành, quy hoạch sử dụng đất và quy
hoạch xây dựng trên địa bàn thành phố nói chung, vùng ngoại thành nói riêng.
Đề tài: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh thực trạng và giải pháp
Viện Kinh Tế TP.HCM – Tháng 7/2005
16
PHẦN III:
THỰC TRẠNG CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH
CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH NGOẠI THÀNH TP.HCM
I. TỔNG QUAN VỀ CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
NGOẠI THÀNH TP.HCM
Ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh được hình thành từ sau ngày giải phóng. Cho đến
thời điểm năm 1995, ngoại thành bao gồm 100 xã thuộc các huyện Củ Chi, Hóc Môn, Bình
Chánh, Thủ Đức, Nhà Bè và Cần Giờ. Do yêu cầu của quá trình đô thị hóa đã hình thành thêm 5
quận mới được tách ra từ 3 huyện ngoại thành cũ, bao gồm các địa bàn tiếp giáp và nối liền với
các quận nội thành. Và cho đến cuối năm 2003, cũng do yêu cầu đô thị hóa, huyện Bình Chánh
được tách thành huyện Bình Chánh và quận Bình Tân. Như vậy, cho đến nay vùng ngoại thành
TPHCM được xem xét trong nghiên cứu này bao gồm các đơn vị Quận (Quận 2, 7, 9, 12, và
Thủ Đức) và huyện (Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè, và Cần Giờ).
Trên địa bàn 10 quận huyện mới, hiện tập trung phần lớn các cơ sở sản xuất công nghiệp
của TP, trong số những khu chế xuất (CX) và (CN) đã có giấy phép thành lập thì 50% nằm trên
địa bàn 5 quận mới. Cơ cấu kinh tế vùng ngoại thành được thể hiện qua bảng 1 dưới đây:
Bảng 1: Cơ cấu kinh tế ngoại thành 2000-2003 (giá thực tế)
Đơn vị tính: %
Khu vực 2000 2001 2002 2003
Khu vực I (Nông nghiệp) 23,6
20,6
19,7
17,9
Khu vực II (Công nghiệp- xây dựng) 64,7
67,3
68,4
69,0
Khu vực III (Thương mại- dịch vụ) 11,7
12,1
11,9
13,1
Tổng 100,0 100,0 100,0 100,0
Nguồn: Niên giám Thống Kê năm 2000, 2001, 2002,2003
Từ bảng 1 trên cho thấy, cơ cấu kinh tế của khu vực ngoại thành hiện đang chuyển dịch
tích cực theo hướng tăng tỷ trọng giá trị các ngành phi nông nghiệp. Sự triển khai các khu công
nghiệp và các cơ sở dịch vụ, vui chơi giải trí, kết hợp với nông nghiệp sinh thái. Khu vực I có xu
hướng giảm tỷ trọng từ 23,6% (2000) xuống còn 17,9% vào năm 2003, khu vực II sẽ gia tăng từ
64,7% (2000) lên 76,48% (2003) và khu vực III được đẩy từ 11,7% (năm 2000) lên 13,1% vào
năm 2003. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của 10 quận huyện mới nói chung theo hướng
đạt mục tiêu CN hóa và đô thị hóa phù hợp với chức năng hành chính kinh tế xã hội đã được phê
duyệt, từng bước góp phần phân bố lại lực lượng sản xuất của toàn Thành phố, giải quyết được
những vấn đề quá tải của nội thành về các mặt kinh tế cũng như xã hội.