Tải bản đầy đủ (.pdf) (84 trang)

giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh hàng thủy sản việt nam trên thị trường eu

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.01 MB, 84 trang )



BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƢ
HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN



Trí Tuệ Và Phát Triển


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP



Đề tài:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
HÀNG THỦY SẢN VIỆT NAM
TRÊN THỊ TRƢỜNG EU




Giáo viên hướng dẫn : TS. Phạm Đình Thưởng
Sinh viên thực hiện : Trần Thu Hương
Khóa : I
Ngành : Kinh tế
Chuyên ngành : Kinh tế đối ngoại








HÀ NỘI – NĂM 2014
TRẦN THU HƯƠNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NĂM 2014



i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, được xuất phát từ yêu
cầu phát sinh trong giai đoạn thực tập để hình thành hướng nghiên cứu, không sử
dụng công trình nghiên cứu của người khác làm thành sản phẩm của mình và được
thực hiện có sự hướng dẫn của T.S Phạm Đình Thưởng – Phó Vụ trưởng – Vụ Pháp
chế Bộ Công Thương. Các số liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu và kết
quả trình bày trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trung thực và tuân thủ đúng
nguyên tắc.
Nếu phát hiện có bất kỳ gian lận nào, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
trước Hội đồng cũng như kết quả luận văn của mình.
Hà Nội, ngày 25 tháng 4 năm 2014
Người thực hiện


Trần Thu Hương












ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHÂN TÍCH NĂNG
LỰC CẠNH TRANH HÀNG THỦY SẢN VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƢỜNG
EU 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.1 Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của hàng hóa 4
1.1.2 Năng lực cạnh tranh và các cấp độ của năng lực cạnh tranh 7
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh hàng thủy sản xuất khẩu 12
1.1.4 Vai trò của nâng cao năng lực cạnh tranh hàng thủy sản Việt Nam 18
1.2 Cơ sở thực tiễn 20
1.2.1 Khái quát chung về thị trường hàng thủy sản ở EU 20
1.2.2 Đặc điểm của thị trường nhập khẩu thủy sản EU 21
1.2.3 Hệ thống tiêu thụ và xu hướng tiêu thụ của thị trường thủy sản EU 24
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH HÀNG THỦY
SẢN VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƢỜNG EU 27
2.1 Thực trạng xuất khẩu hàng thủy sản Việt Nam 27
2.1.1 Về kim ngạch xuất khẩu 27
2.1.2 Về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu 29

2.1.3 Về thị trường xuất khẩu 35
2.2 Thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trƣờng EU 39
2.2.1 Về kim ngạch xuất khẩu 39
2.2.2 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu 41
2.3 Phân tích SWOT năng lực cạnh tranh của hàng thủy sản Việt Nam trên
thị trƣờng EU 44
2.3.1 Tổng quan lý luận về phương pháp phân tích SWOT 44


iii
2.3.2 Phân tích SWOT về năng lực cạnh tranh của hàng thủy sản Việt Nam trên
thị trường EU 45
CHƢƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ
THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG THỦY SẢN VIỆT NAM TRÊN THỊ
TRƢỜNG EU 55
3.1 Định hƣớng, mục tiêu thúc đẩy xuất khẩu thủy sản Việt Nam đến năm
2020 – tầm nhìn 2030 55
3.1.1 Quan điểm, định hướng và mục tiêu 55
3.1.2 Dự báo 57
3.2 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu thủy sản Việt Nam
sang thị trƣờng EU 59
3.2.1. Các giải pháp vĩ mô 59
3.2.2 Các giải pháp vi mô 63
KẾT LUẬN 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC 74
Phụ lục 01: Các nhà cung cấp tôm chính cho thị trƣờng EU 2010-2011 74
Phụ lục 02: Dịch bệnh tôm trên thế giới và ảnh hƣởng đến Việt Nam 76




iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Giải nghĩa từ bằng tiếng việt:
ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ATTP
An toàn thực phẩm
CNH - HĐH
Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
EFTA
Hiệp hội mậu dịch tự do Châu Âu
EU
Liên minh Châu Âu
Euro
Đồng tiền của Châu Âu
FAO
Tổ chức nông lương thế giới của liên hợp quốc
FTA
Hiệp định thỏa thuận khu vực thương mại tự do
GAP
Tiêu chuẩn về thực hành nông nghiệp tốt
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
GSP
Chương trình ưu đãi thuế quan
GTGT
Giá trị gia tăng
HACCP
Hệ thống phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn

ISO
Tiêu chuẩn chất lượng quốc tế
IUU
Quy định chống đánh bắt bất hợp pháp với hàng thủy sản của Việt Nam
KNXK
Kim ngạch xuất khẩu
NAFIQAD
Cục quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản
NK
Nhập khẩu
OECD
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
PCA
Hiệp định đối tác và hợp tác
SPS
Hiệp định về việc áp dụng các Biện pháp kiểm dịch động thực vật của WTO
TBT
Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại
USD
Đồng đô la Mỹ
VASEP
Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam
VSATTP
Vệ sinh an toàn thực phẩm
WEF
Diễn đàn kinh tế thế giới
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
XK
Xuất khẩu

XKTS
Xuất khẩu thủy sản


v
Giải nghĩa từ bằng tiếng anh:
ASEAN
Association of Southeast Asian Nations
EFTA
The European Free Trade Association
EU
European Union
FAO
Food and Agriculture Organization of the United Nations
FTA
Free Trade Agreement
GAP
Good Agricultural Practices
GDP
Gross Domestic Product
GSP
Generalized System of Preferences
HACCP
Hazard Analysis Critical Control Point
ISO
nternational Organization for Standardization
IUU
Illegal Unreported and Unregulated fishing
OECD
Organization for Economic Co-operation and Development

PCA
Principal Component Analysis
SA 8000
The Social Accountability 8000
SPS
The Agreement on the Aplication of Sanitary and
Phytosanitary Measures
TBT
Agreement on Technical Barriers to Trade
WEF
World Economic Forum
WTO
Word Trade Organization













vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Kim ngạch các mặt hàng thủy sản xuất khẩu giai đoạn 2007–2009 30
Bảng 2.2: Tỷ lệ các mặt hàng thủy sản xuất khẩu giai đoạn 2007–2009 30

Bảng 2.3: Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang các thị trường 36
Bảng 2.4: Giá trị xuất khẩu hàng thủy sản sang các thị trường chính 36
năm 2007-2013 36
Bảng 2.5: Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU giai đoạn 2007-2010 39
Bảng 2.6: Cơ cấu sản phẩm thủy sản Việt Nam xuất khẩu sang EU 44
năm 2012 -2013 44
Bảng 3.1: Dự báo thị trường nhập khẩu thủy sản Việt Nam đến năm 2020 58
Bảng 3.2: Dự báo thị trường EU tiêu thụ một số sản phẩm chủ lực 59
đến năm 2015 - 2020 59























vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Kim ngạch và tốc độ tăng giảm xuất khẩu thủy sản của Việt Nam giai
đoạn năm 2006-2012 27
Biểu đồ 2.2: Giá trị xuất khẩu các mặt hàng thủy sản 2010-2012 31


1
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Trong bối cảnh khu vực hóa, toàn cầu hóa kinh tế đang tác động mạnh mẽ
đến mọi quốc gia như hiện nay, tính chất cạnh tranh về kinh tế giữa các quốc gia
trên thế giới không chỉ các nước phát triển mà còn bao gồm các nước đang phát
triển như Việt Nam trở nên gay gắt hơn. Nền kinh tế Việt Nam đang dần từng bước
chuyển đổi sâu rộng vào nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, điều này đang
ngày càng đòi hỏi sự hội nhập mạnh mẽ của quốc gia trên nhiều lĩnh vực đặc biệt về
kinh tế trong hoạt động xuất khẩu hàng hóa ra thị trường thế giới.
Hoạt động xuất khẩu hàng hóa một bộ phận quan trọng nhất trong hoạt động
đối ngoại, có vai trò trọng yếu đối với sự phát triển kinh tế, chuyển dịch nền kinh tế,
thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thúc đẩy hội nhập kinh
tế quốc gia, thúc đẩy tham gia sâu rộng vào phân công lao động quốc tế, góp phần
ngoại tệ lớn cho đất nước, gia tăng thu nhập và ổn định đời sống nhân dân xã
hội Trong các loại hàng hóa xuất khẩu, thủy sản là một trong những nhóm hàng
xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và ngành xuất khẩu thủy sản đã trở thành một
trong những lĩnh vực xuất khẩu quan trọng nhất của nền kinh tế, luôn nằm trong
danh sách những ngành có giá trị xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam. Hàng thủy sản
Việt Nam đang trên đà phát triển và ngày càng có chỗ đứng vững chắc trên thị
trường thế giới đặc biệt là một số thị trường lớn như Châu Âu (EU), Mỹ, Nhật
Bản Tuy nhiên những năm gần đây, đã có rất nhiều vấn đề đặt ra về năng lực cạnh

tranh hàng thủy sản Việt Nam trong hoạt động sản xuất và xuất khẩu vào các thị
trường lớn trong đó có thị trường EU – một trong ba thị trường thủy sản chủ lực của
Việt Nam. Hàng thủy sản Việt Nam vào thị trường này phải chịu hàng loạt các rào
cản kỹ thuật, các biện pháp kiểm dịch, biện pháp chống bán phá giá…rất khắt khe
từ các thị trường thủy sản lớn, chất lượng chưa thực sự đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế
và nhu cầu tiêu dùng đa dạng, mặc dù sản lượng xuất khẩu thủy sản tăng đều qua
các năm song về giá trị kim ngạch xuất khẩu chưa cao bên cạnh đó xuất khẩu thủy
sản tới nhiều quốc gia song thương hiệu thủy sản Việt Nam chưa được biết đến rộng
rãi do nhãn mác sử dụng đa số dưới tên của các nhà xuất khẩu nước ngoài…


2
Trong thời kỳ tới, Việt Nam và EU đang tích cực tối đa hóa mối quan hệ hợp tác
giữa hai nước bằng việc thực hiện ký kết những Hiệp định hợp tác phát triển trên
nhiều lĩnh vực đặc biệt trong kinh tế thương mại thì Hiệp định hợp tác song phương
FTA sẽ là mốc quan trọng để tăng cường đẩy mạnh hơn nữa hoạt động xuất khẩu
thủy sản Việt Nam sang EU. Dưới bối cảnh đó đòi hỏi Việt Nam phải có những
định hướng, giải pháp cụ thể để tiếp tục cải thiện và không ngừng nâng cao năng
lực hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường thế giới nói chung và thị trường EU nói
riêng.
Với những vấn đề cấp thiết trên, tôi đã chọn đề tài “Giải pháp nâng cao
năng lực cạnh tranh hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU” để phân tích
thực trạng năng lực cạnh tranh hàng thủy sản Việt Nam hiện nay và đề xuất định
hướng, giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh hàng thủy sản Việt Nam.
2. Đối tƣợng và mục đích nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh của hàng thủy sản của Việt Nam trên
thị trường EU
- Mục đích nghiên cứu: Làm rõ năng lực cạnh tranh của hàng thủy sản của Việt
Nam trên thị trường EU trên cơ sở đó đề xuất những định hướng, giải pháp nhằm
nâng cao sức cạnh tranh của thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường EU trong thời

gian tới.
3. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến năng lực
cạnh tranh hàng thuỷ sản Việt Nam trên thị trường EU trong thời gian qua.
- Về thời gian: số liệu thu thập và nghiên cứu chủ yếu từ năm 2007 đến 2013.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong khóa luận chủ yếu là
phương pháp tìm kiếm, thu thập, xử lý số liệu, phương pháp phân tích, so sánh kết
hợp với phương pháp thống kê, tổng hợp, quy nạp…bên cạnh đó, khóa luận sẽ sử
dụng thêm phương pháp phân tích cạnh tranh hiện đại là phương pháp phân tích
SWOT.


3
Phương pháp phân tích SWOT sẽ được áp dụng như là phương pháp cơ bản nhất
trong phân tích cạnh tranh của sản phẩm thủy sản xuất khẩu sang EU. Phương pháp
phân tích này dựa vào thống kê các điểm mạnh, yếu, cơ hội, thách thức trong tất cả
các khía cạnh ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của sản phẩm thủy sản của Việt
Nam sang thị trường EU ở từng thời điểm cụ thể.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của phân tích năng lực cạnh tranh hàng
thủy sản Việt Nam trên thị trường EU
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của hàng thủy sản Việt Nam trên
thị trường EU
Chương 3: Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy xuất khẩu
của hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU
Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng với lượng
kiến thức, kinh nghiệm còn hạn chế và chắc chắn không tránh khỏi nhiều thiếu sót,

vì vậy tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô giáo để bài
khóa luận được hoàn thiện hơn. Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn T.S Phạm
Đình Thưởng đã giúp tôi hoàn thành bài khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!








4
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHÂN TÍCH NĂNG
LỰC CẠNH TRANH HÀNG THỦY SẢN VIỆT NAM
TRÊN THỊ TRƢỜNG EU
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của hàng hóa
1.1.1.1 Khái niệm và vai trò của cạnh tranh
 Khái niệm về cạnh tranh:
Hiện nay, nền kinh tế thế giới ngày càng đi vào tình trạnh cạnh tranh toàn
diện, các rào cản thương mại truyền thống dần được gỡ bỏ hoặc không còn tác
dụng, các đối thủ cạnh tranh mới nổi lên và sự cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay
gắt hơn. Cạnh tranh là hiện tượng tự nhiên, là mâu thuẫn quan hệ giữa các cá thể có
chung một môi trường sống đối với điều kiện nào đó mà các cá thể cùng quan tâm.
Thuật ngữ “cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnh vực
như kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự…; thường xuyên được nhắc đến
trong cái tài liệu chuyên môn, diễn đàn kinh tế cũng như các phương tiện thông tin
đại chúng và được sự quan tâm của nhiều đối tượng, do đó từ nhiều góc độ nghiên
cứu khác nhau dẫn đến có nhiều khái niệm khác nhau về “cạnh tranh”:

- Tiếp cận ở góc độ đơn giản, mang tính tổng quát thì “cạnh tranh” là hành động
ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay các nhóm, các loài vì mục đích giành
được sự tồn tại, giành được lợi nhuận, địa vị hay những thứ khác.
- Trong kinh tế chính trị học thì “cạnh tranh” là sự ganh đua về kinh tế giữa những
chủ thể trong nền sản xuất, hàng hóa nhằm giành lấy những điều kiện thuận lợi
trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dung hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi nhuận
nhất cho mình. Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những người sản xuất với ngưới tiêu
dùng (người sản xuất muốn bán đắt, người tiêu dùng muốn mua rẻ), giữa người tiêu
dùng với nhau để mua được hàng hóa rẻ hơn, giữa những người sản xuất để có
những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa.
- Theo nhà kinh tế học hiện đại - Michael E. Porter, “cạnh tranh” là giành lấy thị
phần. Bản chất của “cạnh tranh” là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn


5
mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là
sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ
quả giá cả có thể giảm đi.
Có thể khái quát định nghĩa về “cạnh tranh” như sau:
“Cạnh tranh” là một quá trình tranh đấu mà trong đó, các chủ thể kinh tế
ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp (kể cả nghệ thuật và thủ đoạn kinh doanh) để đạt
được mục tiêu kinh tế chủ yếu của mình như chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách
hàng, đảm bảo tiêu thụ hàng hóa có lợi nhất, nâng cao vị thế của mình. Mục đích
cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích: đối
với người kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng.
“Cạnh tranh” là quy luật cơ bản của nền kinh tế thị trường, nó thúc đẩy quá trình
phát triển của các hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hóa, dịch vụ, vì vậy ngày
nay các quốc gia trên thế giới đều nhận thức và coi cạnh tranh vừa là môi trường
vừa là động lực thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế xã hội.
 Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế:

Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa nói riêng và
trong lĩnh vực kinh tế nói chung, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, góp phần
phần bổ nguồn lực hiệu quả nhất thông qua việc kích thích các doanh nghiệp sử
dụng các nguồn lực tối ưu, góp phần phân phối lại thu nhập một cách hiệu quả hơn
và đồng thời góp phần nâng cao phúc lợi xã hội.
“Cạnh tranh” mang lại nhiều lợi ích cho cả người sản xuất và người tiêu dùng.
Người sản xuất phải tìm mọi cách để làm ra sản phẩm có chất lượng hơn, đẹp hơn,
có chi phí sản xuất rẻ hơn, có tỷ lệ tri thức khoa học, công nghệ cao hơn…để đáp
ứng thị hiếu của người tiêu dùng. Cạnh tranh giúp người sản xuất năng động hơn,
nhạy bén hơn, nắm bắt tốt hơn nhu cầu người tiêu dùng, thường xuyên cải tiến kỹ
thuật, áp dụng những tiến bộ, nghiên cứu khoa học mới nhất vào sản xuất, hoàn
thiện cách thức tổ chức, quản lý trong sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng và
hiệu quả kinh tế.
1.1.1.2 Phân loại các loại hình cạnh tranh


6
Trong nền kinh tế thị trường, đứng từ các góc độ khác nhau để xem xét, các
nhà nghiên cứu đã chia thành các loại cạnh tranh:
 Xét theo chủ thể cạnh tranh:
Bao gồm cạnh tranh giữa những người sản xuất, cạnh tranh giữa những
người bán với nhau, cạnh tranh giữa những người mua với nhau, cạnh tranh giữa
người bán và người mua.
 Xét theo mục tiêu kinh tế của các chủ thể:
Cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành mà các nhà kinh
tế học chia thành hai hình thức là: cạnh tranh dọc và cạnh tranh ngang.
- Cạnh tranh dọc: là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có mức chi phí bình quân
thấp nhất khác nhau. Cạnh tranh dọc làm thay đổi giá bán và doanh nghiệp sẽ có
“điểm dừng”. Sau một thời gian nhất định sẽ hình thành một giá thị trường thống
nhất và doanh nghiệp nào có chi phí bình quân cao sẽ bị phá sản, còn doanh nghiệp

có chi phí bình quân thấp nhất sẽ thu được lợi nhuận cao và phát triển.
- Cạnh tranh ngang: Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có mức phí bình quân
thấp nhất như nhau. Do đặc điểm này nên sẽ không có doanh nghiệp nào bị loại ra
khỏi thị trường song giá cả thấp ở mức tối đa, chỉ có người mua được hưởng lợi
nhiều nhất còn lợi nhuận doanh nghiệp giảm dần. Sau một thời gian nhất định sẽ
xuất hiện khuynh hướng: hoặc liên minh với nhau bán hàng giá cao, giảm lượng bán
– tiến tới độc quyền hoặc tìm cách giảm chi phí bằng cách nâng cao năng lực quản
lý, tổ chức và hiện đại hóa công nghệ…tức là chuyển sang cạnh tranh dọc như nêu
trên.
 Xét theo phương thức cạnh tranh: Gồm cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh
không lành mạnh.
Trong cạnh tranh, các chủ thể kinh tế sẽ dùng tất cả các biện pháp, cả nghệ
thuật lẫn thủ đoạn để đạt được mục tiêu kinh tế của mình. Có những biện pháp cạnh
tranh hợp pháp hay gọi là cạnh tranh lành mạnh (Healthy Competition). Ngược lại,
có những thủ đoạn phi pháp nhằm tiêu diệt đối phương chứ không phải vươn lên


7
bằng nỗ lực của mình, gọi là cạnh tranh bất hợp pháp hay cạnh tranh không lành
mạnh (Unfair Competition).
 Xét theo hình thái cạnh tranh: Gồm cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không
hoàn hảo:
- Cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition) hay còn gọi là cạnh tranh thuần túy
(Pure Competition) là tình trạng cạnh tranh mà giá cả của một loại hàng hóa là
không đổi trong toàn bộ các nơi của thị trường do đó có nhiều người bán và người
mua, họ có đủ thông tin về các điều kiện của thị trường. Trên thực tế ít hoặc không
tồn tại loại hình thái cạnh tranh hoàn hảo này.
- Cạnh tranh không hoàn hảo (Imperfect Competition) là hình thái chiếm ưu thế
trong các ngành sản xuất kinh doanh, ở đó, các nhà sản xuất bán hàng đủ mạnh để
chi phối giá cả các sản phẩm của mình trên thị trường hoặc từng nơi, từng khu vực

cụ thể. Trong cạnh tranh không hoàn hảo phân ra làm hai loại: độc quyền nhóm và
cạnh tranh mang tính chất độc quyền. Độc quyền nhóm là một ngành chỉ có một số
ít người sản xuất và họ đều nhận thức được giá cả của mình không chỉ phụ thuộc
vào sản lưởng hàng hóa mà còn phụ thuộc vào hoạt động cạnh tranh của những đối
thủ quan trọng trong ngành đó. Cạnh tranh mang tính chất độc quyền là một ngành
có nhiều người bán, sản xuất ra những sản phẩm dễ thay thế cho nhau, mỗi hãng chỉ
có thể hạn chế ảnh hưởng tới giá cả sản phẩm của mình ở mức độ nhất định.
 Xét theo các công đoạn của quá trình kinh doanh hàng hóa: Có cạnh tranh
trước khi bán hàng, trong khi bán hàng và cạnh tranh sau khi bán hàng.
Ngoài các loại hình cạnh tranh trên, người ta còn xét theo một số tiêu chí
khác như: điều kiện không gian, lợi thế tài nguyên, nhân lực, tiêu dùng, văn hóa…ở
từng dân tộc, quốc gia, khu vực khác nhau mà phân loại thành cạnh tranh giữa các
nước, giữa các khu vực trên thế giới; cạnh tranh trong và ngoài nước…
1.1.2 Năng lực cạnh tranh và các cấp độ của năng lực cạnh tranh
1.1.2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh


8
Thuật ngữ “năng lực cạnh tranh” có nguồn gốc la-tinh là competere, tức là
cùng gặp nhau tại một điểm, chỉ ra khả năng đương đầu với tình trạnh cạnh tranh và
ganh đua với người khác.
Năng lực cạnh tranh được hiểu là khả năng kiểm soát các lợi thế tương đối
vượt trội so với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất. Khái niệm năng lực cạnh tranh được
sử dụng không chỉ đối với sự ganh đua giữa các sản phẩm của các doanh
nghiệp,giữa các doanh nghiệp với nhau mà còn được sử dụng trong việc so sánh
năng lực cạnh tranh giữa các quốc gia trong điều kiện cạnh tranh quốc tế.
Ngày nay, vấn đề năng lực cạnh tranh ngày càng được đặt ra như là một tiêu
thức quan trọng để xem xét các triển vọng phát triển của các quốc gia trên thế giới,
đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển muốn hội nhập sâu vào nền kinh tế thế
giới. Khái niệm về năng lực cạnh tranh ngày càng được quan tâm, từ các nhà nghiên

cứu đến các chính trị gia, các nhà quản lý chính quyền và giới doanh nhân, tuy
nhiên, đến nay khái niệm này vẫn chưa được quan niệm đầy đủ và sử dụng một
cách thống nhất. Từ thực tế tham khảo các nguồn tài liệu khác nhau, năng lực cạnh
tranh được định nghĩa như sau:
Theo OECD, “năng lực cạnh tranh” được định nghĩa là sức sản xuất ra thu nhập
tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho doanh
nghiệp, các ngành, các địa phương, các quốc gia và khu vực phát triển bền vững
trong điều kiện cạnh tranh quốc tế.
Theo Bạch Thụ Cường, trong “Từ điển thuật ngữ chính sách thương mại” lại quan
niệm “năng lực cạnh tranh” là năng lực của một doanh nghiệp hoặc một ngành, một
quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác, quốc gia khác đánh bại về năng
lực kinh tế.
Theo diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) lại quan niệm “năng lực cạnh tranh” là khả
năng của một đất nước trong việc đạt được tỷ lệ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu
người cao và bền vững.
Theo một số nhà nghiên cứu khác thì “năng lực cạnh tranh” liên quan đến các yếu
tố năng suất, hiệu suất và khả năng sinh lời. Năng lực cạnh tranh là một phương tiện
nhằm tăng các tiêu chuẩn cuộc sống và phúc lợi xã hội. Xét trên bình diện toàn cầu,


9
nhờ tăng năng suất, hiệu suất trong bối cảnh phân công lao động quốc tế, năng lực
cạnh tranh tạo nền tảng cho việc tăng thu nhập thực tế của người dân.
Từ các quan niệm trên, có thể rút ra một kết luận chung là: “năng lực cạnh tranh” là
khả năng tạo ra các sản phẩm, dịch vụ phù hợp với yêu cầu của thị trường và tạo ra
cơ hội thu nhập cao hơn, bền vững hơn cho chủ thể cạnh tranh.
1.1.2.2 Các cấp độ năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh có thể được phân thành ba cấp độ: năng lực cạnh tranh
sản phẩm hàng hóa; năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp; năng lực cạnh tranh
quốc gia.

 Năng lực cạnh tranh sản phẩm hàng hóa
Năng lực cạnh tranh sản phẩm của một loại sản phẩm hay dịch vụ nào đó
trên thị trường là sự thể hiện ưu thế tương đối của nó cả về định tính và định lượng
so với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại khác. Mỗi sản phẩm do từng nhà sản xuất
đưa ra thị trường sẽ được người tiêu dùng đón nhận với các mức độ cao thấp khác
nhau. Sự thừa nhận của người tiêu dùng thể hiện qua việc mua hay không mua sản
phẩm đó, là biểu hiện cuối cùng về năng lực cạnh tranh của sản phẩm đó. Để được
người tiêu dùng thừa nhận và đánh giá cao, mỗi sản phẩm hoặc dịch vụ cần có lợi
thế cạnh tranh hơn so với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại khác. Các lợi thế này có
thể là ưu thế về giá hoặc ưu thế về giá trị mang lại cho khách hàng (tạo sự khác biệt
so với sản phẩm hàng hóa, dịch vụ cùng loại, mang lại giá trị cao hơn cho khách
hàng, có thể bán với giá cao hơn).
Năng lực cạnh tranh sản phẩm thường được nhận biết thông qua: đánh giá trực tiếp
từ thị trường (tăng trưởng doanh thu, thị phần); đánh giá trực tiếp trên sản phẩm
(tính năng, chất lượng, giá cả, tiện ích, mẫu mã…); đánh giá từ ý kiến của khách
hàng (mức độ thỏa mãn nhu cầu, mức độ trung thành với nhãn hiệu…)
 Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp là năng lực tồn tại, duy trì và gia
tăng lợi nhuận, thị phần trên thị trường của các sản phẩm và dịch vụ của doanh
nghiệp. Một doanh nghiệp được coi là có năng lực cạnh tranh tốt và được đánh giá


10
là có thể đứng vững cùng các nhà sản xuất khác khi các sản phẩm thay thế hoặc các
sản phẩm tương tự được đưa ra với mức giá thấp hơn các sản phẩm cùng loại, hoặc
cung cấp các sản phẩm tương tự với các đặc tính về chất lượng và dịch vụ ngang
bằng hay cao hơn.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đánh giá thông qua khả năng cạnh
tranh về giá và năng lực cạnh tranh ngoài giá (thị phần, chất lượng, sản phẩm, năng
suất…). Đối với doanh nghiệp có tham gia hoạt động ngoại thương, việc đánh giá

năng lực cạnh tranh có thể thông qua tỷ suất lợi nhuận, tỷ lệ xuất khẩu (doanh thu
xuất khẩu so với tổng doanh thu), thị phần cho từng vùng hay thị phần tổng thể.
Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp được xác định trên cơ sở bốn nhóm yếu tố
chủ yếu sau:
Nhóm yếu tố thứ nhất, gồm các yếu tố liên quan đến chất lượng, khả năng cung ứng
các yếu tố đầu vào của sản xuất hàng hóa: tài nguyên thiên nhiên; nguồn nhân lực;
nguồn vốn; kết cấu hạ tầng kỹ thuật; thông tin; các yếu tố về khoa học, công nghệ;
hoạt động của bộ máy nhà nước…
Nhóm yếu tố thứ hai, liên quan đến các ngành công nghiệp và dịch vụ hỗ trợ cho
hoạt động của doanh nghiệp - cung ứng các sản phẩm, dịch vụ có liên quan để
doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả.
Nhóm yếu tố thứ ba, liên quan đến nhu cầu của thị trường đối với các sản phẩm và
dịch vụ của doanh nghiệp - yêu cầu của khách hàng về chất lượng của sản phẩm,
dịch vụ. Phân tích các yếu tố thuộc nhóm này, giúp doanh nghiệp nắm bắt được các
thông tin về dung lượng, sức mua, mức độ đàn hồi của thị trường, nhu cầu và thị
hiếu tiêu dùng của khách hàng đối với sản phẩm, dịch vụ.
Nhóm yếu tố thứ tư, mức độ cạnh tranh ở lĩnh vực kinh doanh, năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp trong tương quan so sánh với các doanh nghiệp khác (về vốn,
công nghệ, nguồn nhân lực, thương hiệu, kinh nghiệm quản lý…)
Như vậy, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể, các chiến lược phát triển khác nhau,
mỗi doanh nghiệp cần tính toán đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh, tập trung
đầu tư vào những yếu tố phù hợp, từng bước nâng trình độ phát triển lên mức cao


11
hơn. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không chỉ được quyết định bởi quy mô
sản xuất mà còn phụ thuộc rất nhiều và khâu tiêu thụ, khuyến mãi, nghiên cứu thị
trường.
 Năng lực cạnh tranh quốc gia
Năng lực cạnh tranh quốc gia là một chỉ tiêu tổng hợp bao gồm nhiều nhóm

yếu tố khác nhau: chất lượng và trình độ phát triển của thể chế nhà nước, vai trò
quản lý của nhà nước, các thể chế của kinh tế thị trường, độ mở của nền kinh tế,
trình độ quản lý của các doanh nghiệp, kết cấu hạ tầng kỹ thuật, chất lượng, số
lượng lao động và khoa học công nghệ là những yếu tố quyết định năng lực cạnh
tranh quốc gia.
Đối với một quốc gia, năng lực cạnh tranh là khả năng sản xuất sản phẩm và dịch
vụ, trong điều kiện một thị trường tự do và bình đẳng, phù hợp với yêu cầu của thị
trường quốc tế, đồng thời nâng cao thu nhập thực sự cho công dân nước đó. Ở hầu
hết các quốc gia, một mức sống cao hơn cho mọi người dân của quốc gia đó có thể
duy trì được nhờ sự nâng cao năng suất liên tục, nhờ sự nâng cao năng suất từ các
ngành hiện tại hay nhờ vào tham gia đầu tư các ngành có năng suất cao hơn.
Năng lực cạnh tranh quốc gia được đánh giá thông qua mức độ và tốc độ tăng của
mức sống, mức độ và tốc độ tăng của năng suất tổng thể và khả năng thâm nhập của
doanh nghiệp vào các thị trường quốc tế thông qua xuất khẩu hoặc đầu tư trực tiếp
nước ngoài.
 Mối quan hệ giữa các cấp độ năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh ở các cấp độ phân biệt trên đây (cấp độ hàng hóa, cấp độ
doanh nghiệp, cấp độ quốc gia) có mối tương quan mật thiết với nhau, phụ thuộc
lẫn nhau, do đó khi xem xét đánh giá và đưa ra giải pháp nhằm nâng cao năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp xuất khẩu nói riêng cần thiết
phải đặt nó trong mối tương quan chung giữa các cấp độ năng lực cạnh tranh nói
trên.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa và năng lực cạnh tranh doanh nghiệp là
hai phạm trù khác nhau nhưng lại có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Năng lực cạnh


12
tranh của hàng hóa có được do năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tạo ra và có
ảnh hưởng lớn năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Tổng số năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp của một nước tạo thành năng lực

cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia. Năng lực cạnh tranh của quốc gia thể hiện qua
môi trường kinh doanh, khả năng cạnh tranh trong nước và quốc tế. Năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp bị hạn chế nếu năng lực cạnh tranh quốc gia và năng lực
cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa thấp. Sự ổn định về hệ thống chính trị, kinh tế xã
hội, việc mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại, các chính sách kinh tế vĩ mô và hệ
thống pháp luật có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp và năng
lực cạnh tranh sản phẩm hàng hóa trong quốc gia đó.
Năng lực cạnh tranh hàng hóa chịu tác động của các yếu tố vĩ mô, được thể hiện ở
năng lực cạnh tranh quốc gia và các yếu tố vi mô là năng lực cạnh tranh doanh
nghiệp. Để đánh giá năng lực cạnh tranh của hàng hóa trong một giai đoạn nhất
định cần đánh giá năng lực cạnh tranh trong bối cảnh vận động của nền kinh tế
trong nước và quốc tế, so sánh nó với các sản phẩm cùng loại của các nước ở từng
thời điểm nhất định.
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh hàng thủy sản xuất khẩu
Cũng như các thuật ngữ kinh tế khác, khái niệm xuất khẩu hàng hóa được
phân tích dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, khái quát về xuất khẩu hàng hóa
được hiểu là việc bán hàng hóa cho nước ngoài trên cơ sở dùng tiền làm phương
tiện thanh toán. Mục đích của hoạt động xuất khẩu hàng hóa là khai thác lợi thế của
các quốc gia trong phân công lao động quốc tế. Thực chất của hoạt động xuất khẩu
hàng hóa là sự trao đổi lao động kết tinh vào hàng hóa giữa các quốc gia. Thông qua
hoạt động xuất khẩu, các quốc gia phát huy được thế mạnh của mình để sản xuất
những mặt hàng có lợi thế so sánh bán ra thị trường quốc tế và nhập khẩu những sản
phẩm phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng mà trong nước không có thế mạnh sản
xuất.
Trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế ngày càng mở rộng và có tác động
mạnh mẽ đến tất cả các nền kinh tế trên thế giới như hiện nay, quá trình phân công
lao động trên phạm vi quốc tế ngày càng trở nên sâu sắc. Điều này giúp các quốc


13

gia, các doanh nghiệp ngày càng có nhiều cơ hội tham gia vào thị trường thế giới,
tập trung sản xuất và xuất khẩu ra thị trường những mặt hàng mà mình có lợi thế.
Tuy nhiên, mặt trái của nó chính là sự gay gắt trong cạnh tranh giữa các quốc gia,
các doanh nghiệp trong xuất khẩu những loại hàng hóa tương tự nhau ngày càng
tăng. Để hàng hóa xuất khẩu của quốc gia, doanh nghiệp có thể thâm nhập và đứng
vững trên thị trường quốc tế, tất yếu phải nghiên cứu đến các yếu tố ảnh hưởng tới
quá trình sản xuất và xuất khẩu, từ đó đưa ra các giải pháp thích hợp nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu. Mỗi loại hàng hóa xuất khẩu có những
đặc điểm riêng, vì vậy để nâng cao năng lực cạnh tranh của một loại hàng hóa xuất
khẩu không chỉ chú ý đến các yếu tố ảnh hưởng năng lực cạnh tranh hàng hóa xuất
khẩu nói chung mà còn chú trọng đến các yếu tố đặc thù đối với loại hàng hóa đó.
Thủy sản là một ngành sản xuất nông nghiệp chuyên môn hóa hẹp, với các
sản phẩm chủ yếu phục vụ cho nhu cầu ăn uống – nhu cầu cần thiết của con người,
các sản phẩm của ngành thủy sản rất đa dạng như các loại tôm, cá, nhuyễn thể và
các loại thủy sản khác.
Xuất khẩu thủy sản là việc bán ra nước ngoài những hàng hóa thủy sản được khai
thác, nuôi trồng và chế biến trong nước. Cũng như việc xuất khẩu hàng hóa khác,
xuất khẩu thủy sản có tác dụng thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, mang lại
nguồn thu ngoại tệ cho đất nước, góp phần tăng tích lũy vốn cho người sản xuất,
người xuất khẩu và cho nền kinh tế nói chung.
Năng lực cạnh tranh của hàng thủy sản xuất khẩu chịu ảnh hưởng của các nhân tố
tác động đến hàng xuất khẩu nói chung và những nhân tố riêng phù hợp với đặc thù
của ngành thủy sản. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của hàng thủy
sản xuất khẩu có thể được chia làm hai nhóm yếu tố chính là các yếu tố thuộc môi
trường kinh doanh và các yếu tố thuộc về hàng hóa.
1.1.3.1 Các yếu tố thuộc môi trường cạnh tranh
 Điều kiện tự nhiên:
Các yếu tố về điều kiện tự nhiên thuận lợi như vị trí địa lý, khí hậu, tài
nguyên thiên nhiên tạo điều kiện cho doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh.
Vị trí địa lý thuận lợi sẽ giúp các doanh nghiệp giảm được chi phí vận chuyển giữa



14
các địa điểm giao dịch hàng hóa trong nước và quốc tế, từ đó giảm giá bán hàng đối
với hàng hóa xuất khẩu. Hay tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng giúp các
doanh nghiệp khai thác tối đa nguồn hàng hóa đầu vào ổn định với giá thấp.
Thủy sản là một ngành kinh tế gắn liền với điều kiện tự nhiên không chỉ
trong khâu đánh bắt mà còn quan trọng trong việc nuôi trồng, tạo ra những nguồn
giống mới. Đối với hàng thủy sản xuất khẩu, yếu tố về điều kiện tự nhiên hết sức
quan trọng, nó tác động mạnh đến chất lượng và số lượng của hàng hóa, từ đó tác
động lớn đến nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, quốc gia.
 Cơ sở hạ tầng:
Cơ sở hạ tầng có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh
tranh của hàng hóa nói chung và hàng thủy sản nói riêng. Hệ thống cơ sở hạ tầng
bao gồm hệ thống điện, nước, viễn thông, đường, cầu, bến cảng đường sông, đường
biển, đường hàng không, kho tàng, bến bãi…Cơ sở hạ tầng phát triển sẽ giúp doanh
nghiệp đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển hàng hóa, từ đó góp phần giảm chi phí đầu
vào, hạ thấp giá thành sản phẩm. Ngược lại, nếu cơ sở hạ tầng yếu kém, lạc hậu,
chất lượng dịch vụ thấp, giá cả đắt thì sẽ gây ảnh hưởng không tốt đến sản xuất và
xuất khẩu hàng hóa, đặc biệt là hệ thống dịch vụ độc quyền, áp đặt giá quá cao,
năng suất lao động và hiệu quả sử dụng phương tiện kém. Tỷ trọng chi phí về cơ sở
hạ tầng trong một đơn vị sản phẩm có ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của sản
phẩm. Do đó, nếu chi phí về điện, nước, viễn thông, thông tin liên lạc cao quá mức
so với các nước trong khu vực và trên thế giới nó sẽ làm giảm các lợi thế cạnh tranh
khác như điều kiện tự nhiên, lao động, sự ổn định chính trị xã hội v.v
 Kinh tế:
Tính ổn định hay bất ổn định về kinh tế và chính sách kinh tế của một quốc
gia có tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp trên thị trường trong và ngoài nước. Hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp chịu ảnh hưởng của những chính sách kinh tế của Chính phủ, do vậy các

doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp với các chính sách kinh
tế để nâng cao hiệu quả hoạt động. Chính phủ sử dụng các chính sách tài khóa và
chính sách tiền tệ để điều tiết nền kinh tế đất nước, do đó nó tác động trực tiếp đến


15
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Để tăng tổng cầu và tạo ra sự cạnh tranh cho
các doanh nghiệp, Chính phủ có thể tăng chi tiêu hoặc giảm thuế, hoặc Chính phủ
có thể dùng chính sách mở rộng tài chính và nới lỏng tiền tệ. Để thực hiện chính
sách thương mại "mở cửa", Chính phủ cần thỏa thuận để ký các hiệp định thương
mại song phương và đa phương với các nước, tham gia hội nhập thương mại quốc
tế. Việc hội nhập thương mại quốc tế sẽ buộc các doanh nghiệp phải nâng cao năng
lực cạnh tranh của mình bởi vì mức độ cạnh tranh trên thị trường quốc tế gay gắt
hơn rất nhiều so với cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước.
 Chính trị:
Môi trường chính trị có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế đất nước nói
chung, đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng. Sự ổn định về chính
trị ở từng quốc gia cũng như mối quan hệ chính trị tốt với các quốc gia khác sẽ tạo
môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất
khẩu. Các quan điểm, chính sách của Chính phủ tác động mạnh mẽ đến hoạt động
của doanh nghiệp trong việc xác định phạm vi, lĩnh vực, mặt hàng đối với từng thị
trường đối tác khác nhau. Mặt khác, doanh nghiệp muốn chiếm lĩnh được thị
trường, nâng cao năng lực cạnh tranh thì việc tìm hiểu về hệ thống chính trị, tình
hình chính trị tại các thị trường mà doanh nghiệp đó hướng tới, là rất cần thiết. Sự
can thiệp của Chính phủ các nước sẽ diễn ra với những mức độ khác nhau đối với
doanh nghiệp của các quốc gia, vì vậy để thành công trong kinh doanh tại nước
ngoài, các doanh nghiệp phải tìm hiểu xem chính phủ nước đó được thành lập và
hoạt động theo nguyên tắc nào, chính sách ngoại thương, chính sách bảo hộ ngành
kinh tế, bảo vệ người tiêu dùng…sẽ ảnh hưởng như thế nào đến chiến lược xuất
khẩu tại thị trường đó.

 Luật pháp, văn hóa xã hội:
Luật quốc tế và luật của từng quốc gia có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình
và kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp tham gia thương mại quốc
tế. Mỗi quốc gia đều có hệ thống luật pháp riêng điều chỉnh cho các hoạt động
thương mại quốc tế, do vậy để tạo điều kiện và môi trường kinh doanh thuận lợi,
các nước thường tiến hành ký kết các hiệp định thương mại, hiệp ước. Để đưa hàng


16
hóa xuất khẩu thâm nhập vào các thị trường trên thế giới, đặc biệt là thị trường của
các nước phát triển, có sức mua lớn, đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm bắt đầy đủ
về chế độ luật pháp ở các quốc gia đó. Đối với hàng thủy sản xuất khẩu, việc tìm
hiểu các quy định về chính sách bảo hộ ngành sản xuất, các quy định của pháp luật
về chất lượng sản phẩm, đặc biệt là tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, về chính
sách thuế đối với các chủng loại sản phẩm cụ thể…là rất cần thiết đối với các doanh
nghiệp xuất khẩu.
Về yếu tố văn hóa, xã hội: Các tập tục truyền thống, quan điểm sống, thói
quen, tỷ lệ dân số, mức thu nhập bình quân…đều là các nhân tố ảnh hưởng đến nhu
cầu thị trường và do đó ảnh hưởng đến nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Các khu vực khác nhau có thị hiếu tiêu dùng và nhu cầu khác nhau do vậy
đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự am hiểu nhất định về văn hóa của nước sở tại để từ
đó có chiến lược kinh doanh phù hợp với từng hoàn cảnh của môi trường mới.
1.1.3.2 Các yếu tố thuộc về hàng hóa
 Giá cả hàng hóa:
Giá cả hàng hóa là tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá năng lực cạnh tranh của
hàng hóa. Doanh nghiệp muốn có sức cạnh tranh cao thì doanh nghiệp đó phải xây
dựng được cách thức tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh có hiệu quả bằng cách hạ
giá thành sản phẩm, giảm giá bán nhằm thu hút được nhiều người tiêu dùng. Để có
thể hạ giá thành sản phẩm, doanh nghiệp phải tích cực tìm kiếm nguồn nguyên liệu
đầu vào với giá thấp, nhân công rẻ, đồng thời phải đổi mới công nghệ, áp dụng khoa

học kỹ thuật tiên tiến vào trong sản xuất, giảm thiểu các khoản chi phí khác. Cụ thể
đối với xuất khẩu thủy sản, trong chuỗi các công đoạn từ nuôi trồng, đánh bắt đến
chế biến, xuất khẩu là công đoạn cuối cùng, do vậy, cạnh tranh về giá của sản phẩm
thủy sản xuất khẩu phụ thuộc vào việc hạ thấp chi phí ở các công đoạn trước đó.
 Chất lượng hàng hóa:
Với cùng một loại hàng hóa, nhưng hàng hóa nào có chất lượng cao hơn, giá
trị sử dụng cao hơn có thể là giá đắt hơn cũng sẽ được người tiêu dùng ưu tiên mua.
Vì vậy, với hàng hóa xuất khẩu, đặc biệt là loại hàng hóa tương tự nhau, chất lượng
hàng hóa là yếu tố quan trọng hàng đầu để các doanh nghiệp cạnh tranh với những


17
doanh nghiệp khác. Đối với ngành thủy sản và xuất khẩu thủy sản ra thị trường
quốc tế, chất lượng hàng thủy sản phụ thuộc phần lớn vào các yếu tố: điều kiện tự
nhiên, điều kiện kỹ thuật, trình độ công nghệ sản xuất. Nếu doanh nghiệp áp dụng
các quy trình sản xuất hiện đại để nuôi trồng hay chế biến thì sẽ có lợi thế hơn nhiều
so với các doanh nghiệp áp dụng quy trình sản xuất lạc hậu, sản phẩm làm ra sẽ
đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng hơn, đáp ứng được nhiều hơn nhu cầu của
người tiêu dùng.
Hàng thủy sản là hàng thực phẩm và có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe
người tiêu dùng do đó cơ cấu hàng thủy sản phải đa dạng, phù hợp với tập quán
phong tục, thị hiếu tâm lý người tiêu dùng của nước nhập khẩu. Đặc biệt, vấn đề vệ
sinh an toàn vệ sinh thực phẩm là vấn đề mà các doanh nghiệp phải lưu ý, quan tâm
hàng đầu trong việc nâng cao sức cạnh tranh về chất lượng của hàng hóa.
 Kiểu cách, mẫu mã của hàng hóa và thương hiệu sản phẩm:
Sản phẩm với tư cách là hàng hóa sẽ được xem xét trên các chỉ tiêu về mức
độ thỏa mãn đối với nhu cầu của người tiêu dùng về một số yêu cầu về hình thức
bao bì, nhãn mác sản phẩm. Bao bì mẫu mã đẹp cung cấp đầy đủ các thông tin cần
thiết phù hợp với thói quen tiêu dùng và văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc, phù hợp
với mỗi lứa tuổi là yếu tố rất quan trọng trong cạnh tranh bằng sản phẩm, đặc biệt là

đối với các sản phẩm thực phẩm, nó ảnh hưởng trực tiếp tới quyết định tiêu dùng
của người mua. Việc xây dựng thương hiệu tốt cũng giúp doanh nghiệp thu hút
ngày càng nhiều khách hàng và thâm nhập thành công thị trường các nước nhập
khẩu. Một sản phẩm xuất khẩu chỉ có thể đứng vững và phát triển trên thị trường
quốc tế khi nó được củng cố bằng thương hiệu mạnh, uy tín, được nhiều khách hàng
kiểm nghiệm và tin tưởng sử dụng.
 Hệ thống phân phối, dịch vụ bán hàng:
Hệ thống phân phối được thiết kế hợp lý, đa dạng hóa các kênh phân phối
tương ứng với các cơ cấu sản phẩm đa dạng, phân định được kênh phân phối chủ
lực có ý nghĩa quan trọng trong việc tối thiểu hóa chi phí dành cho hoạt động tiêu
thụ sản phẩm. Một hệ thống phân phối hợp lý bao gồm mạng lưới các đại lý, các cơ
sở trung tâm bán hàng giúp doanh nghiệp đẩy nhanh tốc độ lưu thông hàng hóa với

×