Tải bản đầy đủ (.docx) (22 trang)

skkn hướng dẫn học sinh tạo giống cây keo bằng phương pháp giâm hom

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.96 MB, 22 trang )

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị: Trường PT Dân Tộc Nội Trú Tỉnh
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
HƯỚNG DẪN HỌC SINH
TẠO GIỐNG CÂY KEO BẰNG PHƯƠNG
PHÁP GIÂM HOM
Người thực hiện: LÊ THỊ BIÊN
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lý giáo dục: 
Phương pháp dạy học bộ môn: X
Phương pháp giáo dục : 
Lĩnh vực khác: 
Có đính kèm:
 Mô hình  Đĩa CD(DVD)  Phim ảnh:  Hiện vật khác
1
Mã số: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Năm học: 2013 -2014
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: LÊ THỊ BIÊN
2. Ngày tháng năm sinh: 21/12/1980
3. Giới tính: Nữ
4. Địa chỉ: 138/2 Nhân Hòa, Tây Hòa, Trảng Bom, Đồng Nai
5. Điện thoại: 01642425134
6. E-mail:
7. Chức vụ: Giáo viên trung học
8. Đơn vị công tác: Trường Phổ Thông Dân Tộc Nội Trú Tỉnh
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị:Cử nhân
- Năm nhận bằng: 2002
- Chuyên ngành đào tạo: Sinh học


III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giảng dạy môn sinh học
Số năm có kinh nghiệm: 12 năm
- Các sáng kiến kinh nghiệm trong 5 năm gần đây:
Giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh qua hoạt động ngoại khóa.
2
MỤC LỤC
I. Lý do chọn đề tài 2
II. Cơ sở lý luận và thực tiễn 3
A. Cơ sở lý luận 3
B. Thực tiễn 5
III. Tổ chức thực hiện các giải pháp 6
IV. Hiệu quả của đề tài 13
V. Đề xuất, khuyến nghị khả năng áp dụng 16
VI. Tài liệu tham khảo 17
3
HƯỚNG DẪN HỌC SINH TẠO GIỐNG CÂY KEO BẰNG PHƯƠNG
PHÁP GIÂM HOM
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Qua nhiều năm giảng dạy ở trường THPT tôi nhận thấy, đa số học sinh khi
còn trên ghế nhà trường thường chỉ chú trọng đến việc lĩnh hội tri thức về mặt lý
thuyết mà không mấy quan tâm đến việc thực hành. Và ngay cả giáo viên cũng
vậy, trong quá trình giảng dạy chỉ mong học trò của mình lĩnh hội kiến thức về mặt
lý thuyết sao cho vững để hoàn thành các bài kiểm tra một cách tốt nhất là được.
Đa phần giáo viên thường có suy nghĩ là: việc ứng dụng lý thuyết học được vào
thức tiễn là việc của cấp học cao hơn như là đại học chẳng hạn, hoặc đó là việccủa
tương lai khi mà những học sinh này bước vào đời.
Chính vì vậy, trong những tiết thực hành học sinh thường lung túng với các
thao tác, thường rất khó khăn khi tương tác với các thiết bị máy móc và đặc biệt là
học sinh thường ít tự giác tìm tòi để hoàn thành bài thực hành mà thường phải

chờgiáo viên hướng dẫn sau đó mới bắt đầu công việc. Với việc học như vậy thì
học sinh thường không thấy được hữu ích thực sự của việc học.
Mà như chúng ta biết thực hành là để giúp học sinh chứng minh lại lý
thuyếtvà là một bước nhỏ để tiến tới vận dung lý thuyết vào trong thực tiễn. Học
sinh có thành thục trong thực hành mới thấy sự yêu thích khoa học, từ đó mới có
các ý tưởng mới lạ và thực hiện ý tưởng dễ dàng hơn.
Trong những năm gần đây, bộ giáo dục đã đổi mới giáo dục cả về dạy và học,
với mong muốn học sinh khi rời khỏi ghế nhà trường phải có những kỹ năng nhất
định, phải làm chủ kiến thức mà mình đạt được. Cũng như quan điểm chỉ đạo của
Đảng về việc đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo là: “Phát triển giáo dục và đào
tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá
trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và
phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà
trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”. Vậy nên chăng trong quá
trình giảng dạy, mỗi giáo viên nên mạnh dạn có những sáng kiến để giúp học sinh
có thể vận dụng những kiến thức mà mình học được vào trong thực tế để học sinh
thực sự nhận thấy giá trị đích thực của những trang sách mà mình đang học, những
kiến thức mà mình đang lĩnh hội. Ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường, học sinh
có thể tham gia những đề tài khoa học để học sinh có niềm tin hơn vào khoa học,
thấy hứng thú hơn trong việc học, trong việc lĩnh hội kiến thức.
4
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
A. Cơ sở lý luận.
1. Đối tượng tiến hành ứng dụng:
Keo lai là tên gọi của giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng (Acacia mangium)
và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis). Keo lai thường được trồng bằng phương
pháp giâm hom hoặc nuôi cấy mô, người ta ít tạo cây keo lai từ hạt.
Keo lai là giống có nhiều đặc điểm hình thái trung gian giữa bố và mẹ, đồng
thời có ưu thế lai rõ rệt về sinh trưởng nhanh, có hiệu suất bột giấy, độ bền cơ học
và độ trắng của giấy cao hơn hẳn các loài bố mẹ, có khả năng cố định đạm khí

quyển trong đất nhờ các nốt sần ở hệ rễ, nhiều trung tâm nghiên cứu cây trồng đã
nghiên cứu và phát hiện những ưu điểm của giống keo lai tạo ra bằng nhân giống
vô tính. Vì vậy việc đưa nhanh các dòng vô tính này vào sản xuất sẽ góp phần đáng
kể vào việc tăng năng suất rừng và cải thiện điều kiện đất đai ở những vùng đồi núi
trọc. [1]
Ngoài ra, cây keo còn có khả năng thích nghi với các điều kiện rừng bị phá,
đất nghèo và cạnh tranh mạnh với cỏ dại. Bên cạnh đó chúng còn có khả năng
phân hủy chất hữu cơ rất tốt do vậy chúng góp phần làm giàu đất, chống xói mòn
đất. [5]
Tuy nhiên, trong chuyên đề này tôi không đặt nặng tính kinh tế của chuyên đề
mà chỉ tập trung vào việc giúp học sinh rèn luyện một số kỹ năng thực hành, kỹ
năng ứng dụng kiến thức lý thuyết vào thực tế và một số kỹ năng khác.
2. Phương pháp nhân giống keo lai
Như đã đề cập ở trên, có hai phương pháp nhân giống vô tínhcây keo lai là:
giâm hom và nuôi cấy mô. Trong chuyên đề này tôi chỉ hướng dẫn học sinh tiến
hành nhân giống cây keo laibằng phương pháp giâm hom, là biện pháp nhân giống
sinh dưỡng đang phát triển mạnh.
2.1. Khái niệm giâm hom:
5
Nhân giống bằng hom là một trong những phương pháp nhân giống vô tính,
được sử dụng khá rộng rãi trong nghề trồng trọt, như là trong sản xuất cây ăn quả,
cây công nghiệp, cây lâm nghiệp và cả trong cây cảnh.[4]
Hom là một đoạn thân, cành, rễ hoặc một mẫu phiến lá được sử dụng để tái
tạo ra một cây con hoàn chỉnh.[3]
Trong chuyên đề này chỉ sử dụng hom là một đoạn cành của cây mẹ. Đây là
biện pháp sử dụng các đoạn cành bánh tẻ (hom giống)và tác động bằng kỹ thuật
nông học là chính, để các yếu tố sinh học bên trong hom giống được đổi thay, có
khả năng sinh ra rễ và thân mới, tức là một cây mới hoàn chỉnh có thể tự sinh
trưởng, phát triển cho sản phẩm.
2.2. Ưu, nhược điểm của phương pháp giâm hom.

a. Ưu điểm:
Cây con vẫn giữ được những đặc tính tốt của cây bố mẹ.
Cây con sinh trưởng phát triển nhanh, sớm thành thục sinh trưởng, thời gian
tạo ramột cây giống ngắn.
Chất lượng cây giống đồng đều.Hệ số nhân giống cao.
b. Nhược điểm:
Đòi hỏi kỹthuật phức tạp hơn phương pháp tạo cây con bằng chiết hoặctrồng
từ hạt.
Cây con thường thích nghi kém với môi trường nhiều thay đổi.
2.3. Môi trường giâm hom:
Môi trường giâm hom chính là nền giâm hom. Nền giâm hom có ảnh hưởng
rõ rệt tới sự ra rễ của hom. Chính vì vậy, để tạo điều kiện cho hom ra rễ, yêu cầu
nền giâm hom phải tơi xốp, thoáng khí, sạch nấm bệnh, khả năng hút nước và thoát
nước tốt. Hom có thể giâm thẳng vào bầu hoặc giâm trên luống đều được.[3]
Nền giâm hom tốt cần đảm bảo các yếu tố sau:
- Đủ chặt để giữ cành giâm, thể tích ít thay đổi trong điều kiện ẩm hoặc khô,
nhất là không bị co rút khi khô.
- Giữ ẩm tốt, dễ thoát nước, thông khí. Nước có thể được cung cấp thường
xuyên qua hệ thống vòi phu sương để duy trì độ ẩm.
- Không có hạt cỏ dại, tuyến trùng, mầm bệnh, không bị mặn phèn.
- Cần thay đổi nền giâm mới sau vài vụ để tránh tích lũy mầm bệnh.
2.4. Kỹ thuật giâm hom: [3]
a. Chọn hom và cắt hom
Để chọn được hom cho rễ tốt thì cần phải tưới đủ nước cho cây giống, đặc
biệt trong 15-20 ngày sau khi trồng. Khi cây đạt chiều cao 40cm thì tiến hành bấm
ngọn tạo chồi lần đầu cách mặt đất 30 cm.
6
Hom được cắt từ chồi hoặc cành của những cây mẹ khỏe mạnh, mọc nơi có
đủ ánh sáng. Hom giâm cắt từ cành có chiều dài 10 – 30cm hoặc cắt từ chồi thân
thường dài từ 10 – 20cm. Khi cắt hom cần tránh vết cắt bị dập nát. Sau khi cắt hom

xong cần xử lý hom trong dung dịch KMnO
4
hoặc Benlate.
b. Xử lý hom và cắm hom
Xử lý hom bằng các loại thuốc kích thích ra rễ nhằm giúp hom nhanh ra rễ,
tăng về số lượng, chất lượng và sự đồng đều của rễ. Các chất kích thích tạo rễ
thường dùng là NAA (α-naphthaleneaceticd),IBA (Indol butyric axit), IAA (Indol
axecticaxit).
Một số phương pháp xử lý hom giâm:
- Phương pháp nhúng nhanh: nhúng phần gốc của hom trong dung dịch chất
kích thích ra rễ khoảng 3 – 5 giây. Sau đó đưa hom vào môi trường giâm hom.
- Phương pháp ngâm: Ngâm gốc hom vào dung dịch chất kích thích ra rễ từ
15 phút đến 24 giờ tùy loại thuốc, nồng độ xử lý và loại hom. Sau đó đưa hom vào
môi trường giâm hom.
- Phương pháp lăn bột: Gốc hom được xử lý với chất kích thích dạng bột trộn
lẫn với chất mang dạng bột trơ thật mịn.
Hom sau khi dược xử lý bằng các chất kích thích ra rễ cần được cắm vào bầu
hoặc giá thể giâm bằng cát pha.
c. Chăm sóc vườn ươm hom
- Tưới nước: Đảm bảo độ ẩm thường xuyên cho hom nhưng không quá nhiều
sẽ gây cho hom bị úng thối, nấm bệnh, tốt nhất là dùng dàn phun sương tự động để
tưới.
- Phòng trừ sâu hại: Thường xuyên theo dõi để kịp thời phát hiện sâu, bệnh
hại vườn ươm để xử lý.
- Bón phân: Sau khi giâm hom được 5 -7 ngày có thể phun phân bón lá HVP
nồng độ thấp để cung cấp chất dinh dưỡng cho hom. Khi hom ra rễ sẽ tăng nồng độ
cao hơn để hom có đầy đủ chất dinh dưỡng phát triển thành cây con hoàn chỉnh.
- Kiểm tra sự ra rễ: Sau khi giâm 10 đến 25 ngày tiến hành kiểm tra sự ra rễ.
Khi hom ra rễ cần tăng độ chiếu sáng cho cây quang hợp, phát triển tốt.
B. Thực tiễn.

Việc tạo giống cây keo lai bằng phương pháp giâm hom được tiến hành nhiều
ở các vườn ươm giống cây trồng. Còn theo tôi được biết, ở các trường THPT lân
cận,việc hướng dẫn học sinh tạo giống keo bằng hom nếu có thì chỉ về mặt lý
thuyết được tiến hành trong môn nghề làm vườn hoặc trồng rừng, còn tuyệt nhiên
chưa hướng dẫn học sinh tiến hành thực nghiệm, với nhiều lý do. Một trong những
lý do đó là trong trường học phần cơ sở vật chất để tiến hành thực nghiệm gặp
nhiều khó khăn.
7
Với bản thân tôi khi hướng dẫn cho học sinh thực hiện chuyên đề này cũng
gặp các khó khăn như:ở trường không có chất kích thích ra rễ,không có hệ thống
vòi phun sương, không có nhà vòm để che các bầu sau khi ươm hom và một khó
khăn nữa là học sinh phải lên lớp nên thời gian tưới phun sương để giữ ẩm cho các
bầu ươm cũng hạn chế.
Tuy nhiên, để khắc phục những khó khăn trên cần phải có hệ thống giữ ẩm
thường xuyên cho các bầu ươm mà không cần hệ thống vòi phun sương cũng như
không đòi hỏi học sinh phải tưới phun mưa liên tục.Ở đây, tôi cùng học sinh đã tạo
hồ nước ở dưới, phía trên hồ nước làm sàn để các bầu ươm lên trên sàn, phần trên
tạo mái che cho các bầu ươm.Với thiết kế như vậy sẽ hạn chế được thời gian tưới
phun cho các bầu ươmvà không ảnh hưởng đến việc lên lớp của học sinh.
III. TỒ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
1.Làm bầu ươm hom:
Bầu để giâm hom làm bằng các túi nilông có đường kích khoảng 10-12 cm,
dưới đáy đục 6-8 lỗ chứa hỗn hợp môi trường giâm hom gồm 1/2 đất mặt được
sàng sạch cộng với 1/2 phân chuồng hoai mục và xơ dừa, phía trên đổ một lớp đất
đỏ vàng dày 5-7cm.
Khi làm bầu cần chú ý độ chặt của hỗn hợp môi trường giâm hom sao cho
không quá chặt sẽ khó thoát nước nhưng cũng không quá lỏng sẽ làm hom bị lỏng
khi tưới nước và ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom. Các túi bầu làm xong
được xếp thành các luống và làm dàn che để giữ ẩm cho bầu đất.
Bầu đất để ươm hom

8
Bầu đất để ươm hom
2.Chọn hom và cắt hom:
2.1. Chọn hom:
Công việc chọn hom đóng một phần quan trọng trong việc ra rễ của hom,
chính vì vậy để chọn hom đạt chất lượng cần đảm bảo các điều kiện sau:
Cây mẹ để lấy hom phải đủ tuổi (khoảng 6 tháng đến 1 năm)
Cành để lấy hom phải là cành bánh tẻ, cành có độ hóa gỗ 50%.
Cành lấy hom phải mập, có đủ lá và chồi ngọn.
Cành lấy hom phải nằm ở giữa tán cây.
Cành lấy hom phải đúng lứa để có được hom trẻ, cành quá lứa sẽ cho những
hom ra rễ kém, sinh trưởng chậm và yếu.
9
Công đoạn chọn hom
2.2. Cắt hom:
Dùng kéo cắt cành sắc để cắt hom nhằm tránh cho hom bị dập. Cắthom khi
chồi vượt dài 18-20cm.
10
Vị trí cành
không nên
cắt hom
Vị trí cành cắt
hom
Vị trí cành cắt
hom
Cắt hom vào những ngày râm, mát, mưa nhẹ hoặc sáng sớm, chiều mát. Cắt
xong, phun nước lã và đặt đứng vào các xô chậu có nước cao 5cm, được che đậy.
Hom cắt xong đem ngay về, cắt thành các hom dài 5-7cm có 2-4 lá, có thể cắt
bớt một phần phiến lá để tránh bốc hơi nước.
Hom vừa được cắt về

Cắt hom thành các hom ngắn
11
Cắt hom thành các hom ngắn
12
Hom đã được cắt chỉ còn 2 đến 3 lá non
3 Xử lý hom và cắm hom:
3.1. Xử lý hom:
Dùng Benlate pha với nồng độ 0,06% (6 gam Benlate pha với 10 lítnước)hoặc
dùng thuốc tím (K
2
MnO
4
) nồng độ 0,1% (10gam thuốc tím pha với 10lít nước) tưới
ướt lớp mặt bầu hoặc nền giâm vưới độ thấm sâu >3cm để phòngchống nấm bệnh.
Việc xử lý tiến hành trước khi cắm hom từ 12 – 24 giờ.Trước khi cắm hom, nền
giâm phải được tưới nước cho đủ ẩm.
Ngoài việc xử lý mặt bầu bằng benlate thì hom sau khi cắt phải được ngâm
ngay vào dung dịch benlate nồng độ 0,02 –0,03% (pha 2-3 gam Benlat trong 10 lít
nước) trong thời gian từ 10 – 20 phút đểphòng nấm bệnh, sau đó vớt ra xử lý bằng
cách chấm gốc hom vào chế phẩm thuốckích thích ra rễ dạng bột IAA 1% hoặc
IAA 0,5 % hoặc NAA 1%.
3.2. Cắm hom:
Hom sau khi cắt và xử lý chất kích thích ra rễ phải cắm ngay vào bầu, bằng
cách dùng que tròn nhọn có đường kính 5 mm chọc một lỗ thẳng đứng, sâu 2,5 – 3
cmở giữa bầu sau đó cắm hom vào giữa lỗ vừa tạo sâu 2 – 3cm, mỗi lỗ cắm 1 hom.
Cuối cùng dùng ngóntay bóp nhẹ xung quanh gốc hom để phần gốc hom dưới mặt
bầu được tiếp xúchoàn toàn với đất và giữ cho hom đứng thẳng. Trong quá trình
13
cắm hom sau khôngđược chạm vào hom trước, không làm mất chất kích thích ra rễ
hoặc làm chầy xátgốc hom.

Công đoạn cắm hom vào bầu
4. Chăm sóc hom ươm
Sau khi cắm hom vào bầu cho tới khi homra rễ, cần luôn giữ ẩm vànhiệt độ
thích hợp cho các bầu có hom ươm bằng cách tạo hệ thống giữ ẩm ở dưới làhồ
nước và làm sàn trên hồ nước, sau đó xếp các bầu ươm lên sàn,phía trên tạo vòm
che cho các bầu ươm hom và cứ khoảng 30 đến 45 phút tưới phun sương một
lần.Duy trì như vậy trong vòng khoảng 3 tuần.
Khi tưới phun mưa cho bầu ươm cũng lưu ý tưới xa để không làm lay gốc gây
ảnh hưởng tới hiệu quả ra rễ của hom.
14
Chăm sóc hom ươm sau khi cấy vào bầu
IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
1. Đối với giáo viên.
Trong quá trình hướng dẫn học sinh thực nghiệm, giáo viên có nhiều cơ hội
để cọ sát với thực tiễn, mở rộng hơn sự hiểu biết của mình và tích lũy nhiều kinh
nghiệm hơn cho công tác giảng dạy.
Chính sự say mê của học sinh đã kích thích cho giáo viên có nhiều sáng tạo
và đam mê hơn trong công việc giảng dạy của mình.
2. Đối với học sinh.
15
Học sinh vững vàng hơn trong các thao tác thực hành, tự tin hơn để tự mình
hoàn thiện các bước thực nghiệm, từ đó học sinh thấy hứng thú hơn trong quá trình
học tập.
Qua việc ứng dụng lý thuyết học được vào thực tiễn đã giúp học sinh có niềm
tin hơn vào khoa học, có hứng thú trong việc nghiên cứu khoa học, từ đó phát huy
tính sáng tạovà khả năng tìm tòi, phát huy những sáng kiến của mình, gắn lý thuyết
với thực tiễn.
Sau quá trình học sinh thực hiện chuyên đề, kết quả thu được như sau:
Các hóa chất
tiến hành thực

nghiệm
Tổng số hom
tiến hành thực
nghiệm trong
một lần
Số hom ra rễ
lần 1
Số hom ra rễ
lần 2
Số hom ra rễ
lần 3
Nồng độ
IAA 1%
15 7 10 8
Nồng độ
IAA 0,5 %
15 6 4 7
Nồng độ
NAA 1%
15 5 3 6
Đồ thị số hom ra rễ ở các lần tiến hành thực nghiệm
16
Số hom còn sống sau 2 tuần khi xử lý NAA 1% (thí nghiệm lần 2)
17
Số hom ra rễ sau 1 tháng khi xử lý NAA 1% (thí nghiệm lần 1)
Số hom ra rễ sau 1 tháng khi xử lý IAA 1% (thí nghiệm lần 3)
3. Nhận xét về kết quả đạt được:
Qua nghiên cứu thực nghiệm cho thấy:
- Có nhiều chất kích thích sinh trưởng thực vật, tuy nhiên tùy từng đối tượng
cây trồng để thích nghi với một loại chất kích thích khác nhau, do vậy phải chọn

được loại chất kích thích phù hợp với đối tượng cây trồng thì tỉ lệ hom ra rễ sẽ cao.
- Mặc dù chưa thể khảo sát được với nhiều loại chất kích thích ra rễ, tuy
nhiên với hai loại chất kích thích (ở các nồng độ khác nhau) mà bản thân tôi cho
học sinh tiến hành thực nghiệm trong đợt này thì nhận thấy với cây Keo lai, loại
chất kích thích thích hợp để cho tỉ lệ hom ra rễ cao là AIA 1%.
- Số lượng hom tiến hành thực nghiệm trong mỗi đợt là chưa nhiều nhưng
kết quả tương đối khả quan.
V. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ
Nên chăng cần nhiều chuyên đề có tính thực nghiệm cao để học sinh có cơ
hội vận dụng lý thuyết học được vào thực tiễn, học sinh có nhiều cơ hội cọ sát với
thực tế để tự do sáng tạo và đúc rút kinh nghiệm cho mình trong quá trình học,
thực hành nhằm nâng cao kiến thức về lý thuyết và tự tin, mạnh dạn hơn khi bắt
tay vào thực tiễn sản xuất.
18
VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO.
[1]. www khoahochconhanong.com
[2]. Giáo trình sản xuất cây giống bằng hom cành - Bộ Nông nghiệp và phát
triển nông thôn.
[3]. Giáo trình kĩ thuật lâm sinh - Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn,
trường trung học Lâm nghiệp số 2.
[4]. www cuctrongtrot.gov.vn
[5]. Phát triển các loài keo Acacia ở Việt Nam – Nguyễn Hoàng Nghĩa, NXB
Nông nghiệp.
19
SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI
TRƯỜNG PTDT NỘI TRÚ TỈNH
–––––––––
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
––––––––––––––––––––––––

Trảng Bom, ngày 20 tháng 5 năm 2014
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2013 - 2014
–––––––––––––––––
Tên sáng kiến kinh nghiệm:
HƯỚNG DẪN HỌC SINH
TẠO GIỐNG CÂY KEO BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIÂM HOM
Họ và tên tác giả: .LÊ THỊ BIÊN. Chức vụ: GIÁO VIÊN
Đơn vị: . TRƯỜNG PTDT NỘI TRÚ TỈNH
Lĩnh vực: (Đánh dấu X vào các ô tương ứng, ghi rõ tên bộ môn hoặc lĩnh vực khác)
- Quản lý giáo dục  - Phương pháp dạy học bộ môn: 
20
- Phương pháp giáo dục  - Lĩnh vực khác: 
Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng: Tại đơn vị  Trong Ngành 
1. Tính mới (Đánh dấu X vào 1 trong 3 ô dưới đây)
- Đề ra giải pháp thay thế hoàn toàn mới, bảo đảm tính khoa học, đúng đắn 
-Đề ra giải pháp thay thế một phần giải pháp đã có, bảo đảm tính khoa học, đúng đắn 
- Giải pháp mới gần đây đã áp dụng ở đơn vị khác nhưng chưa từng áp dụng ở đơn vị mình, nay tác
giả tổ chức thực hiện và có hiệu quả cho đơn vị 
2. Hiệu quả (Đánh dấu X vào 1 trong 5 ô dưới đây)
- Giải pháp thay thế hoàn toàn mới, đã được thực hiện trong toàn ngành có hiệu quả cao 
- Giải pháp thay thế một phần giải pháp đã có, đã được thực hiện trong toàn ngành có hiệu quả cao

- Giải pháp thay thế hoàn toàn mới, đã được thực hiện tại đơn vị có hiệu quả cao 
-Giải pháp thay thế một phần giải pháp đã có, đã được thực hiện tại đơn vị có hiệu quả 
- Giải pháp mới gần đây đã áp dụng ở đơn vị khác nhưng chưa từng áp dụng ở đơn vị mình, nay tác
giả tổ chức thực hiện và có hiệu quả cho đơn vị 
3. Khả năng áp dụng (Đánh dấu X vào 1 trong 3 ô mỗi dòng dưới đây)
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách:
Trong Tổ/Phòng/Ban  Trong cơ quan, đơn vị, cơ sở GD&ĐT  Trong ngành 

- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện và dễ đi vào cuộc sống:
Trong Tổ/Phòng/Ban  Trong cơ quan, đơn vị, cơ sở GD&ĐT  Trong ngành 
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu quả trong phạm vi rộng:
Trong Tổ/Phòng/Ban  Trong cơ quan, đơn vị, cơ sở GD&ĐT  Trong ngành 
Xếp loại chung: Xuất sắc  Khá  Đạt  Không xếp loại 
NGƯỜI THỰC HIỆN SKKN
(Đãcam kết và Ký tên)
Lê Thị Biên
XÁC NHẬN CỦA TỔ
CHUYÊN MÔN
(Đãcam kết và Ký tên)
Sầm Thị Lệ Thanh
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
(Đãcam kết và Ký tên)
Nguyễn Phi Phúc
21
22

×