1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
1. Giới thiệu một vài nét về Các Mác và F.Enghen
2. Sự gặp gỡ, tình bạn gắn liền với các hoạt động của Mác và Enghen
2.1. Gặp gỡ và sự kết hợp trong công việc
2.2. Tình bạn, tình đồng chí gắn bó
2.3 Tình cảm mà Enghen dành cho Các Mác thể hiện qua việc chỉnh lí, biên
soạn lại bộ “ Tư bản”
KẾT LUẬN
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ CÁC MÁC VÀ ENGHEN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
2
LỜI MỞ ĐẦU
Christopher đã từng viết : “ Nếu bạn hỏi tình bạn giá bao nhiêu thì bạn
không có đủ tiền mua đâu?”. Thật vậy, tình bạn là một thứ tình cảm thiêng
liêng cao đẹp, là sợi dây gắn kết giữa con người với con người. Nó có một ý
nghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc sống của mỗi người. Tình bạn được thể
hiện ở việc hai người có thể cùng chia sẻ cho nhau những niềm vui hay nỗi
buồn, những vướng bận trong cuộc sống cũng có khi là nơi để ta có thể gửi
gắm, giãy bày tâm sự. Không có một định nghĩa nào có thể định nghĩa được
chính xác tình bạn là gì?
Tình bạn giữa Các Mác và Enghen là một tình bạn như thế. Vĩ đại – cảm
động và không thể nói hết bằng lời. Các Mác và Enghen đến với nhau không
hẳn chỉ là sự sẻ chia trong công việc, trong suy nghĩ mà còn là đồng cảm trong
cuộc sống. Họ gặp gỡ nhau trong sự thống nhất về tư tưởng , tình cảm….
Bài tiểu luận nhỏ này, đề cập đến vấn đề “ Tình bạn vĩ đại và cảm động
giữa Các Mác và F.Enghen”. Trong quá trình thực hiện chắc chắn không tránh
khỏi thiếu sót, hạn chế …rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn
để bài viết được hoàn thiện hơn.
Sinh viên
Nguyễn Như Quỳnh
3
NỘI DUNG
1. Một vài nét về C.Mác và F.Enghen
Các Mác sinh ngày 5 tháng 5 năm 1818 ở thành phố
Tơrie thuộc miền sông Ranh, một trung tâm công
nghiệp nước Phổ. Cha C.Mác là một luật sư
người Do Thái , có học thức và có tư tưởng tự do
tiến bộ. Ông không những là một người cha, một
người thầy mà còn là người bạn gần gũi và thân
thiết cới C.Mác. Mẹ C.Mác là bà Henrietta
Presburg gốc Hà Lan, là người phụ nữ hiền thục
đảm đương công việc dạy dỗ con cái và nội trợ
trong gia đình đông con.
Thuở nhỏ, Mác sống hạnh phúc giữa cha mẹ và các anh chị em. Gia đình
dư dật nhưng vẫn sống giản dị cần cù lao động. Từ bé, Mác đã có biệt tài về kể
chuyện cổ tích. Bạn bè vừa yêu quý vừa nể phục Mác.Trong trò chơi nào, Mác
cũng là người dẫn đầu vui vẻ nhưng khi có một việc không đồng tình Mác cũng
tỏ thái độ phản đối ngay.
Năm 1930, Mác học trường trung học Tơrie, nổi tiếng là một người thông
minh. Sức học của Mác thuộc loại giỏi, đặc biệt nổi bật ở những lĩnh vực đòi
hỏi tính độc lập sáng tạo. Mùa thu năm 1835, C.Mác tốt nghiệp với bài luận
văn “ những suy nghĩ của một người thanh niên chọn nghề”, trong đó nêu lên
sứ mệnh cao cả của con người trong cuộc sống. Sau đó không lâu, tháng 10
năm 1835, Mác vào trường Đại học Bonn để học luật. Hai tháng sau nghe theo
lời khuyên của bố, Mác chuyển đến học tập tại trường Đại học tổng hợp Berlin.
Ở trường đại học ông, năm 1836, ngoài luật học, sử học , ngoại ngữ C.Mác bắt
đầu đi sâu nghiên cứu triết học. Mùa xuân năm 1837, Mác bắt đầu nghiên cứu
kĩ những tác phẩm của Hêghen, sang năm 1838 thì vùi đầu vào nghiên cứu triết
học. Cũng trong năm này, cha Mác qua đời, mẹ Mác nắm tài sản gia đình, nghe
4
theo những lời gièm pha của của các bà bạn trong giới “ tai mắt” của thành phố,
đã không cho hưởng phần gia tài nếu không chịu chọn con đường công danh
như bà mong muốn. C.Mác kết thúc thời niên thiếu của mình trong hoàn cảnh
hết sức khó khăn.
Suốt từ năm 1839 và một phần năm 1840, C.Mác tập trung nghiên cứu
những vấn đề lịch sử triết học cổ đại. Tháng 4 năm 1841, khi mới 23 tuổi Mác
nhận được bằng Tiến sĩ triết học với luận án về “ sự khác nhau giữa triết học tự
nhiên Đêmocrit với triết học tự nhiên Êpicua” tại trường Lêna.
Tháng 4-1842, Mác về Khuên làm cộng tác viên “ Báo sông Ranh” là tờ
báo của phái tư sản cấp tiến có một số quan diểm giống với phái Heghen trẻ mà
trước đây Mác đã từng tham gia. Ít tháng sau, C.Mác được mời làm tổng biên
tập của tờ báo này. Dưới sự lãnh đạo của Mác tờ báo đã nêu lên những vấn đề
cấp thiết của nước Đức lúc bấy giờ: vấn đề thống nhất nước Đức, cuộc đấu
tranh chống chủ nghĩa quân phiệt Phổ, tình cảnh người nông dân …Do những
tư tưởng tiến bộ đó, tháng 1- 1843, tờ báo bị đóng cửa, Mác rút khỏi ban biên
tập. Cũng trong năm 1843, Mác đến Kroisnak, một thành phố nhỏ vùng Rhein
và ông chính thức làm lễ thành hôn với Jenny Phôn Vetxphalen( bạn thuở nhỏ
của C.Mác hơn Mác 4 tuổi). Sau khi tờ báo bị cấm, Mác cùng vợ ra nước ngoài,
sang Pari rồi đến Brucxen( Bỉ) và cuối cùng cư trú lâu dài ở Luân Đôn.
Ở Pari ( khi đó là trung tâm của các nhà cách mạng Châu Âu), Mác thường
xuyên tiếp xúc với những nhà hoạt động cách mạng của phong trào công nhân
đồng thời chuyên tâm nghiên cứu lí luận cách mạng dân chủ tư sản. Mác nghiên
cứu các tác phẩm của những nhà kinh tế tư bản đặc biệt nghiên cứu lý luận giá
trị lao động của các nhà kinh tế học cổ điển Anh như Adam Smith( 1723- 1790)
và David Ricardo( 1772- 1823); học thuyết chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng
sản không tưởng của nhà hoạt động xã hội Anh Saint Simo( 1760- 1825) và nhà
hoạt động xã hội Pháp Robert Owen( 1771- 1858)…Những ngày lưu lại ở Pháp
đã làm cho Mác chuyển từ lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường cộng
sản chủ nghĩa. Sự chuyển biến về quan điểm chính trị đó gắn liền với sự chuyển
5
biến về quan điểm triết học từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật. Lúc
đầu còn chịu ảnh hưởng triết học Hêghen theo quan điểm chính trị phái tư sản
dân chủ cách mạng, đến năm 1844, Mác đã xây dựng cho mình một học thuyết
đúng của giai cấp vô sản- chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật
lịch sử.
Tháng 2- 1844, Mác xuất bản tạp chí “ Niên giám Pháp- Đức”, đăng nhiều
bài quan trọng trong đó có Lời nói đầu cuốn “ Phê phán triết học pháp quyền
của Hêghen”. Tác phẩm đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử phát
triển thế giới quan của ông. Qua đó, ông nêu lên rằng việc phê phán có tính chất
cách mạng đối với chế độ xã hội không chỉ hoàn toàn biểu hiện trong sự phê
phán tôn giáo mà phải làm thế nào cho nhân dân vứt bỏ xiềng xích và thực sự
trở thành tự do… Những luận điểm đó đặt cơ sở cho việc giải quyết một cách
khoa học và duy vật vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa tinh thần và vật
chất. Nói về tình hình nước Đức, Mác đề ra nhiệm vụ giải phóng con người
khỏi ách áp bức bóc lột và giai cấp có thể thực hiện việc giải phóng toàn thể
nhân loai phải là giai cấp vô sản. Triết học có nhiệm vụ phải phục vụ quần
chúng trước hết cho giai cấp vô sản trong sự nghiệp đấu tranh tự giải phóng.
Muốn vậy phải có lí luận đúng bởi “ vũ khí của sự phê phán không thể thay thế
được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực
lượng vật chất; nhưng lí luận nào cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi
nó thâm nhập vào quần chúng” và “ cúng giống như triết học thấy giai cấp vô
sản là vũ khí vật chất của mình, giai cấp vô sản thấy triết học là vũ khí tinh thần
của mình”…
Từ tháng tư đến tháng tám năm 1844, Mác viết “ Bản thảo kinh tế triết học
năm 1844”, thực chất là những phôi thai của những tư tưởng hết sức quan trọng
mà sau này ông đã phát triển một cách khoa học trong bộ Tư Bản.
6
F.Enghen sinh ngày 28-11-1820( kém C.Mác hai tuổi) ở thành phố
Barmen tỉnh Rhein thuộc miền sông Ranh-
một trung tâm công nghiệp của Phổ, trong
một gia đình chủ xưởng dệt giàu có. Cha là
người rất sùng đạo song trong công việc lại là
người có nghị lực, tháo vát, về chính kiến là
người bảo thủ. Mẹ là người xuất thân từ môi
trường tri thức, người phụ nữ đôn hậu, nhạy
cảm đặc biệt thích hài hước, yêu thích văn
học, nghệ thuật. Bà là người có ảnh hưởng rất
lớn đến Enghen và rất hi vọng vào cậu con trai này. Ông ngoại của Enghen là
một giáo sư đại học về ngôn ngữ học, thường kể cho cháu ngoại mình nghe
chuyện về các anh hùng trong các thần thoại Hi Lạp cổ đại và trong truyền
thuyết dân gian Đức.
Enghen có năng khiếu đặc biệt về ngôn ngữ, thường say mê đọc những tác
phẩm văn học của Hi Lạp, La Mã, Pháp.
Năm mười bốn tuổi, Enghen học ở trường trung học của thành phố
Barmen. Không chỉ học tập qua sách vở cũng như qua lời giảng của thầy,
Enghen còn tự tìm tòi thêm, tự suy ngẫm, nêu nghi vấn và tự giải đáp cho
những thắc mắc của mình. Châm ngôn của Enghen là “ Tôi nghi ngờ những gì
mà tôi chưa rõ”. Do nhu cầu tra cứu, ông đã học thêm rất nhiều ngoại ngữ.
Enghen có thể nói và viết thông thạo tiếng Latinh, cổ Hy Lạp, Tây Ban Nha,
Pháp, Anh, Hà Lan, Ý. Ngoài ra còn có thể đọc được một số thứ tiếng khác
như tiếng Bồ Đào Nha, Ba Lan… Ngồi trên ghế nhà trường, Enghen không chỉ
chuyên tâm vào sách vở mà còn chơi thể thao, cưỡi ngựa, đánh kiếm, mê âm
nhạc, giỏi đánh đàn piano, thích đi thăm những vùng ngoại ô…. Tháng 10 năm
1834 ông chuyển đến trường trung học Elberfelder- một trường tốt nhất ở Phổ
lúc bấy giờ, để học tập. Với một tinh thần ham học hỏi và tự lập nên ông có thái
độ bất bình và phản kháng đối với các trường học và gọi cá trường trung học ở
7
Đức thời bấy giờ là “các nhà tù ”. Tâm trạng đối lập với chế độ chuyên chế Phổ
đã góp phần thức tỉnh rất sớm ý thức chính trị ở chàng thanh niên này.
Theo ý nguyện của người cha là đào tạo cậu con trai út thành một nhà kinh
doanh thành thạo và giàu có, năm 1837, Enghen phải bỏ dở việc học ở trường
Trung học để về buôn bán tại văn phòng của cha sau đó được đưa vào đào tạo ở
một hãng buôn của người bạn kinh doanh của cha. Công việc buôn bán không
cản trở được ông trong việc tự học về toán học, triết học, mĩ thuật, văn học …
Làm việc trong hãng buôn hàng ngày thấy rõ sự bần cùng của những người thợ,
sự bóc lột tàn nhẫn, sự giả nhân, giả nghĩa của bọn chủ xưởng, Enghen căm
ghét chủ nghĩa tư bản và chế độ chuyên chế của nhà nước Phổ.
Năm 1941, Enghen đến Béclin làm nghĩa vụ quân sự. Tuy không thể phù
hợp được với cảnh gò bó của trại lính Phổ, nhưng Enghen vẫn nghiên cứu nghệ
thuật quân sự hết sức kĩ càng. Tuy luyện tập vất vả , nhưng Enghen vẫn dành
những thì giờ nhàn rỗi, ít ỏi để đi dự thính những buổi giảng bài ở trường Đại
học Béclin, tham gia vào các câu lạc bộ Tiến sĩ ( nơi cách đây không lâu C.Mác
vẫn thường lui tới) và tiếp xúc với phái “Hêghen trẻ ”. Ngay từ những ngày đầu
đến Béclin, Enghen đã được nghe nói nhiều về C.Mác “ sự thâm thúy cùng cực
của nhà triết học- như một người bạn của Enghen nói với ông- được kết hợp với
sự trào phúng hết sức sắc sảo chứ không phải được trộn lẫn với nhau”. Vì vậy,
sau khi hết hạn tại ngũ tháng 11-1942, Enghen đã ghé qua Côlonho, gặp C.Mác
ở phòng chủ bút báo Rênani.
Với những kinh nghiệm thực tiễn trong những năm tháng gia nhập binh
đoàn pháo binh rồi được bổ sung vào ban quân sự, xây dựng các chiến lũy và
tham gia các trận đánh chống lại quân Phổ trong cuộc khởi nghĩa ở Tây Nam
nước Đức và theo dõi các hoạt động của quân cách mạng ở Hunggari, Enghen
đã viết nên tập “ Luận văn quân sự nổi tiếng”.
Sống trong một trung tâm thành phố, từ nhỏ Enghen đã tận mắt chứng kiến
cảnh bần cùng hóa của người công nhân. Năm 1842, Enghen được cha phái
sang Manchexto- là một trung tâm công nghiệp dệt lớn của nước Anh để làm
8
việc với tư cách là một nhân viên thuộc hãng của cha ông. Trái với ý muốn của
cha muốn biến ông thành chủ xưởng, Enghen quyết định tìm hiểu đời sống
những người lao động. Ông đã đi thăm những nơi công nhân sống chen chúc
trong cảnh nghèo nàn bẩn thỉu và tìm đọc tất cả những gì người trước đã viết
về đời sống công nhân. Đồng thời thường xuyên liên hệ mật thiết với các tổ
chức công nhân, tham gia các cuộc đấu tranh của họ. Ba năm sau, công trình
nghiên cứu của Enghen ra đời “ Tình cảnh giai cấp công nhân Anh”. Bằng
những chứng cứ sinh động, Enghen đã miêu tả một cách chân thực và sâu sắc
nhất cuộc sống khốn cùng của giai cấp công nhân. Chính Enghen, lần đầu tiên
đã phát hiện ra rằng giai cấp công nhân không chỉ là giai cấp đau khổ trong xã
hội tư bản mà còn là giai cấp có sứ mệnh lịch sử trong sự nghiệp đấu tranh giải
phóng giai cấp mình, đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội.
Enghen cũng tham gia viết báo cáo cho tạp chí “Niên giám Pháp- Đức” -
tờ báo do C.Mác xuất bản vào đầu năm 1944.
9
2. Sự gặp gỡ, tình bạn gắn liền với các hoạt động của C.Mác và Enghen
2.1 Gặp gỡ và sự kết hợp trong công việc
Cuối năm 1843, C.Mác và Jenny
sống ở Pari. Đầu năm 1944, Mác xuất
bản tờ “ Niên giám Pháp- Đức” và làm
chủ bút của tờ báo này. Trong một lần
soạn những bức thư và bài báo gửi đến
cho tòa soạn, Mác chú ý đến bản thảo bài
“ Góp phần phê phán chính trị kinh tế
học” từ Manchexto ( Anh) gửi đến, tác giả là Friedrich Enghen. Trong tác phẩm
của mình, Enghen đã chỉ rõ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa là cơ sở của toàn bộ
sinh hoạt vật chất của xã hội tư bản. Mác đã say sưa đọc bản thảo một mạch từ
đầu đến cuối và rất vui mừng vì Enghen có những quan điểm giống mình. Từ
đó hai người thường xuyên trao đổi thư từ với nhau và có lúc cả hai ngạc nhiên
vì thấy cùng ý nghĩ. Lần gặp gỡ đầu tiên giữa hai người là vào cuối tháng 11-
1842, F.Enghen trên đường sang Manchexto ( Anh), qua Côlonho (Đức), đến
tòa soạn Báo sông Ranh gặp C.Mác. Tuy nhiên thời gian gặp gỡ quá ngắn ngủi
hai người chưa hiểu được bao nhiêu về nhau. Phải mãi đến cuối tháng 8- 1844,
Enghen từ Luân đôn tới Pari, sống với C. Mác mười ngày. Mác và Enghen đã
cùng thảo luận và hoàn toàn nhất trí với nhau những vấn đề quan trọng nhất.
Khi đó hai ông đã chuyển từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật, từ chủ
nghĩa dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa cộng sản khoa học. Cuộc gặp gỡ đó
đã mở đầu cho thời kì cộng tác lâu dài trong sự nghiệp đấu tranh cho chủ nghĩa
cộng sản của hai người.
Sau cuộc gặp gỡ mười ngày, Mác và Enghen trở thành hai người bạn chí
thân và hết lòng cộng tác với nhau trong hoạt động sáng tạo lí luận về chủ nghĩa
xã hội khoa học và lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp công
nhân. Hai người cùng chung lí tưởng đã kết thân với nhau đến cuối đời.
10
Lênin đã từng viết: “ Từ khi cuộc sống run rủi cho C.Mác và Enghen gặp
nhau, công trình lao động suốt cuộc đời của đôi bạn ấy đã là sự nghiệp chung
của họ”.
Thật vậy, trong công việc Mác và Enghen đã có sự cộng tác hết sức chặt
chẽ.
Tháng 2- 1845, C.Mác và Enghen cho ra đời cuốn sách “ Gia đình và thần
thánh” với nội dung phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa duy tâm chủ quan của phái
Heghen trẻ mà thực chất là phê phán toàn bộ chủ nghĩa duy tâm và phương
pháp của nó, đồng thời nêu lên những nhận điểm hết súc quan trọng về vai trò
quyết định của quần chúng nhân dân trong
lịch sử. Hai ông cùng hợp sức viết lên công
trình nổi tiếng “ Hệ tư tưởng Đức” ( 1845-
1846), phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa duy tâm
Hêghen và phái Hêghen trẻ đồng thời phê
phán chủ nghĩa duy vật không thống nhất của
Ledwig Feurbach, nêu những luận điểm cơ
bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử. Đây là cuốn sách lần
đầu tiên hai lãnh tụ vô sản phân tích một cách
có hệ thống quan điểm lịch sử của chủ nghĩa
duy vật.
Đầu năm 1846, Mác và Enghen thành lập Uỷ ban thông tin chủ nghĩa cộng
sản ở Brusel, truyền bá lí luận chủ nghĩa xã hội khoa học trong công nhân.
Năm 1847, Mác và Enghen nhận lời mời tham gia hội “ Đồng minh những
người chính nghĩa” – một tổ chức bí mật của công nhân Đức. Hai ông tích cực
tham gia công tác cải tổ của hội Đồng minh. Năm 1848, được sự ủy nhiệm của
Đại hội đại biểu lần thứ hai của hộ đồng minh những người cộng sản, Mác và
Enghen cùng khởi thảo và cho ra đời Cương lĩnh của hội đồng minh hay Tuyên
ngôn của Đảng cộng sản – văn kiện mang tính chất cương lĩnh của chủ nghĩa xã
11
hội khoa học, nó soi sáng cho công nhân toàn thế giới con đường đấu tranh để
thoát khỏi nô lệ từ chủ nghĩa tư bản và đưa cách mạng vô sản lên tháng lợi.
Những ngày ở nước Pháp, Mác và Enghen ra sức củng cố mối liên hệ giữa
các nhà hoạt động phong trào dân chủ và cộng sản ở Pháp. Tháng 3 năm 1848,
Mác và Enghen thảo ra “ Những yêu cầu của đảng cộng sản Đức” và được coi
là văn kiện có tính chất cương lĩnh cho hành động của giai cấp vô sản Đức.
Tháng 5 năm 1848, Enghen đến Koln cùng Mác chuẩ bị xuất bản tờ báo Neue
Rheinische Zeitung ( báo mới của tỉnh Ranh ). Tháng 8, khi Mác đi Beclin và
Vienne để quyên góp tiền cho vệc tiếp tục xuất bản tờ báo, Enghen đã thay thế
Mác cương vị tổng biên tập.
Từ tháng 8 năm 1851 đến tháng 3 năm 1862, Mác và Engen đã viết hơn
500 bài báo gửi đăng trên “ Báo diễn đàn hàng ngày NewYork” Nội dung của
các bài báo tường thuật và bình luận các sự kiện chính trị quốc tế trọng đại lúc
đó, đả kích các chính sách của chính phủ phản động các nước, ủng hộ phong
trào cách mạng của nhân dân các nước đặc biệt là phong trào giải phóng dân
tộc của nhân dân các thuộc địa ở phương Đông.
Trong thời gian 40 năm, Enghen đã cùng với Các Mác dày công nghiên
cứu, kế thừa những tinh hoa tư tưởng của nhân loại, mà trước hết và trực tiếp là
triết học cổ điển Ðức, kinh tế chính trị học Anh và chủ nghĩa xã hội Pháp; đồng
thời tắm mình vào trong thực tiễn phong phú, sinh động của phong trào đấu
tranh cách mạng của giai cấp công nhân, xây dựng nên chủ nghĩa Mác, một học
thuyết, một hệ thống lý luận khoa học và cách mạng, bao gồm triết học Mác-
xít, kinh tế chính trị học Mác-xít và chủ nghĩa xã hội khoa học; sáng tạo ra chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; phát hiện ra những quy
luật khách quan của sự phát triển xã hội và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân; xây dựng nên lý luận giá trị thặng dư với các quy luật chi phối sự vận
động, phát triển và diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản. Ðây là những cơ sở
lý luận khoa học, là vũ khí tư tưởng cho cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp
công nhân.
12
Trong quá trình hoạt động của mình, đã có rất nhiều tác phẩm cơ bản của
chủ nghĩa Mác là do C.Mác và Enghen cùng viết. Nhiều công trình nghiên cứu
của Enghen là sự phát triển những tư tưởng hình thành trong quá trình trao đổi
thường xuyên với C.Mác. Bên cạnh đó, cũng có nhiều tác phẩm của Các Mác
được viết với những ý tưởng và kiến thức của Enghen.
2.2. Tình bạn, tình đồng chí gắn bó
Trong công việc cũng như trong cuộc sống, Mác luôn coi trọng ý kiến của
Enghen và vô cùng thán phục khi nhắc tới Enghen “ khỏi phải nói Friedrich là
một khối óc sắc sảo, ông biết rộng vô cùng! Qủa là một kho bách khoa toàn
thư. Khi làm việc, Enghen có thể làm bất cứ lúc nào, ngày cũng như đêm, ngay
sau bữa ăn no nê hay khi bụng đói cồn cào, mà suy nghĩ và viết lách thì nhanh
như quỷ sứ”.
Nói về tình bạn của Mác và Enghen, Lênin đã viết rằng, họ là những người
có “ một tâm hồn biết yêu thương nhau sâu sắc”. “ Những tâm hồn yêu thương
nhau sâu sắc” có lẽ sẽ chẳng bao giờ ta hiểu được thật sự những gì chứa đựng
bên trong mấy chữ ngắn ngủi ấy, nếu không có những bức thư từ của hai ông.
“ Luân – đôn” …của F.Enghen gửi cho C.Mác và “ Manchextơ” …
Các Mác gửi cho Enghen Những lá thư như thế cứ nối tiếp nhau suốt hai mươi
năm trời. Trong khoảng thời gian đó, hai người đã viết cho nhau tới hơn 1386
bức thư. Đó dường như là phương tiện duy nhất của hai ông. Nó là kết quả của
nhiều cảm xúc và tư duy. Trên những trang giấy ấy không chỉ là những điều
suy luận về các sự kiện lịch sử, về các kết luận khoa học, những nhận xét hay
những lời khuyên về con người mà còn chứa đựng cả niềm vui, nỗi buồn, sự lo
lắng riêng tư, tình cảm quyến luyến, những lời lẽ dịu dàng thân thiết
Tình bạn của C.Mác và Enghen dành cho nhau không chỉ là tình bạn đơn
thuần mà còn là tình đồng chí, tình anh em, bạn bè Điều đó được thể hiện ở sự
quan tâm chia sẻ mà hai người dành cho nhau.
Khi được tin F.Enghen báo là mình bị ốm, Mác không phải chỉ lo lắng,
băn khoăn mà gần như hốt hoảng lên. Mác yêu cầu Enghen báo cho ông biết
13
những triệu chứng của căn bệnh và lời kết luận của bác sĩ sau đó ông tìm đến
những bác sĩ nổi tiếng nhất ở Luân – Đôn. Mác kể lại tất cả những gì mình biết
về bệnh tình của F.Enghen. Ý kiến của bác sĩ không làm ông thỏa lòng. Suốt
trong mấy ngày liền Mác hỏi mượn thư viện các tác phẩm y học mới nhất, cả
những cẩm nang của bác sĩ bằng các tiếng Anh, Pháp, Đức Cuối cùng, Mác
cũng tìm ra phương thuốc hay nhất theo ý mình để chữa cho Enghen và ông
viết thư báo cho bạn mình biết.
Đến lượt Mác ốm Enghen cũng lo lắng không kém Mác trước kia.
Enghen đã đi tới tất cả các bác sĩ nổi tiếng nhất Manchexto để hỏi bệnh. Ông
gửi các đơn thuốc xin được về Luân Đôn và khuyên Mác nên đến Manchexto
để nghỉ ngơi và dưỡng bệnh, khuyên C.Mác nên quan tâm chú ý đến sức khỏe
của mình.
Một điều không thể không nhắc tới trong tình bạn của hai người là sự hi
sinh, hai tâm hồn đồng điệu luôn sẻ chia trong khó khăn, hoạn nạn, vui trong
niềm vui của bạn va buồn trong nỗi buồn của bạn.
Trong những năm tháng hoạt động, C.Mác luôn bị chính phủ phản động
Châu Âu theo dõi kiểm soát và trục xuất. Nghèo đói, bệnh tật thường xuyên ám
ảnh của gia đình Mác. Đặc biệt là cái chết của con là vết thương không dễ gì có
thể hàn gắn ngay được. Lòng tràn ngập nỗi buồn, ngay cả công việc cũng
không làm Mác khuây khỏa và Mác chỉ còn biết giãi bày với người bạn thân
thiết nhất của mình là Enghen “ Trong tất cả những ngày buồn đau khủng khiếp
vừa qua, tôi luôn được tiếp sức mỗi khi nghĩ đến anh, tình bạn của anh và niềm
hi vọng rằng hai chúng ta còn có thể tìm được điều gì hữu ích hơn trên đời
này”.
Về phía Enghen, ông coi tình bạn của mình với Mác là tình cảm sâu sắc
và trong sáng nhất, là sự hi sinh tất cả, là sự gần gũi và giao tiếp về tinh thần, là
sự thử thách, là trách nhiệm và nghĩa vụ nặng nề. Enghen rất thích thú và cảm
phục về năng lực phân tích và tổng hợp của Mác, luôn khiêm tốn nhận rằng: “
Mác là một thiên tài còn chúng ta giỏi lắm chỉ là người có tài mà thôi”. Đối với
14
Mác, Enghen luôn tự nhận mình là cây vĩ cầm thứ 2 bên cạnh Các Mác còn
Mác mới chính là cây vĩ cầm số một . Là một người say mê nghiên cứu sáng
tạo và say mê hoạt động trong phong trào công nhân, ghét cay ghét đắng lối
buôn bán tư bản chủ nghĩa, nhưng để có tiền giúp đỡ bạn, Enghen đã phải quay
lại làm thư kí trong hãng buôn của cha ông ở thành phố Manchexto ( Anh)
trong suốt khoảng thời gian hai mươi năm từ năm 1850 đến năm 1870, tạo điều
kiện cho Mác làm việc, sáng tạo. Không có sự hi sinh của F.Enghen thì Mác
không có điều kiện để hoàn thành tác phẩm lí luận vĩ đại của cách mạng vô sản
– bộ “ Tư bản” ( quyển thứ nhất được xuất bản vào tháng 9 năm 1867), quyển
sách được coi như “ quả đại bác dữ dội nhất bắn vào đầu bọn tư bản”.
Tình bạn của Mác và Enghen thật khiến cho người ta phải cảm động. Một
điều không thể thay thế được tình bạn của họ: Đó là sự hi sinh, sẻ chia , đồng
cảm có khi bằng những hành động rất nhỏ thôi cũng đã thể hiện tấm lòng, sự
tri kỉ trong đó, có khi chỉ bằng những cái tên đặc biệt mà họ dành cho nhau
Enghen giống như một thành viên trong gia đình, một phần không thể
thiếu không chỉ trong công việc mà còn cả trong cuộc sống của bản thân Mác.
Bằng chứng là trên bàn viết của mình, Các Mác đặt hai bức ảnh: một là bức
ảnh của Jenny và hai là bức ảnh của F. Enghen. Cạnh đấy có mảnh giấy của
F.Enghen viết cho Mác, bắt đầu bằng những chữ: “ Chàng Môrơ thân yêu ”.
“Chàng Môrơ’ là tên gọi mà Enghen và những người thân yêu trong gia đình
dành cho Mác còn Enghen được Mác gọi bằng một cái tên thân mật và trìu
mến “ ông tướng”. Nếu như một ngày Enghen không gọi Mác là “ chàng Môrơ”
thì tức là giữa họ có những điều hiểu lầm cần giải quyết.
Với tất cả những tính gan góc của họ, hai người bạn vẫn thấy xa nhau là
buồn khổ và mỗi lần gặp nhau lại đem đến cho họ biết bao sung sướng, hạnh
phúc. Họ thường thức thâu đêm tới sáng, khoan khoái trò chuyện, vui sướng vì
được nhìn thấy nhau Khi không làm nghề buôn nữa, F.Enghen dọn nhà về
Luân Đôn. Ông thuê nhà cách gia đình Mác có 10 phút đi bộ Và thường
thường thì ngày nào Enghen cũng có mặt tại ngôi nhà số 1 đường Mai – len –
15
đơ – pác – cơ – rốt hoặc dạo chơi cùng với Mác trong công viên. Cũng có khi,
Mác và Enghen ở trong phòng làm việc. Và những khi ấy nếu khách qua đường
tò mò nhìn vào một trong những cửa sổ tầng dưới nhà thì sẽ thấy có hai người
đang đi đi lại lại trong căn phòng kê đầy những tủ sách. Họ đi lại trò chuyện
hàng giờ đủ mọi chuyện hoặc ngẫm nghĩ một chuyện gì đó.
Mác và Enghen đã cùng nhau làm việc cùng nhau lao động không ngừng
và những giây phút sẻ chia ấy họ không chỉ cảm nhận được sự ăn nhập với
nhau trong công việc cả về suy nghĩ và hành động mà qua đó họ còn cảm nhận
được những niềm vui, hạnh phúc khi được san sẻ.
2.3 Tình cảm mà Enghen dành cho Các Mác
Yêu thương, gắn bó với nhau như vậy thật sự không hề dễ dàng để chấp
nhận người kia không còn tồn tại trên thế giới này dẫu biết rằng quy luật của
sinh lão bệnh tử là không thể tránh khỏi.
Cuộc đời chiến đấu quyết liệt và không mệt mỏi chống mọi kẻ thù của
giai cấp vô sản, chống lại các trào lưu tư tưởng không vô sản và chống vô sản,
sự làm việc rất khẩn trương mà công tác lí luận đòi hỏi, sự nghèo khó của cuộc
sống lưu vong cộng với bệnh tật và những đau thương của gia đình đã làm cho
sức khỏe Mác ngày càng suy yếu. Cuối cùng, đến ngày 14- 3-1883, sau một
thời giai dài chống trọi với bệnh tật, Mác đã trút hơi thở cuối cùng. Nhận được
tin dữ, Enghen bàng hoàng, đau đớn và suy sụp bởi người bạn, người anh và
thậm chí là người thầy của ông đã không còn nữa. Trong một bức thư báo tin
buồn của bạn, Enghen viết “ Thế là cái trí tuệmanhj mẽ nhất của đảng ta đã
ngừng suy nghĩ, trái tim mạnh mẽ nhất mà tôi chưa từng thấy đã ngừng đập mất
rồi”. Và khi đọc điếu văn trước mộ Mác, Enghen đã thể hiện một niềm xót xa “
Con người ấy mất đi, thật không sao có thể lường cho hết tổn thất đối với giai
cấp vô sản chiến đấu của Châu Âu và châu Mỹ, tổn thất đối với khoa học lịch
sử. Không bao lâu chúng ta sẽ cảm thấy nỗi trống trải sau cái chết của bậc vĩ
nhân này”.
16
Sau khi Mác qua đời, Enghen đã gác nhiều dự định riêng của mình, tập
trung thời gian, công sức để thực hiện một công việc vô cùng nặng nề và khó
khăn mà chỉ có Enghen mới có thể làm được là chỉnh lí, biên tập và cho xuất
bản quyển II, quyển III của bộ “ Tư bản” – là tác phẩm lớn nhất, vĩ đại nhất của
Các Mác và chủ nghĩa Mác mà Mác để lại dưới dạng bản thảo. Bạn bè thấy sức
khỏe của Enghen ngày một yếu đi đã khuyên Enghen nên đi du lịch một thời
gian nhưng ông đã từ chối và quyết định ở lại Luân – Đôn chỉnh lí mấy tập tiếp
theo của bộ “ Tư bản” . Ông cho rằng đó là hoài niệm thiết thực nhất mà ông
dành cho người bạn quá cố của mình và cũng là trách nhiệm không thể chối từ.
Bằng việc này, Enghen đã dựng cho người bạn thiên tài của ông một đài kỉ
niệm trang nghiêm trên đó. Và ông cũng không ngờ là đã khắc luôn cả tên mình
“ bằng những chữ không bao giờ phai mờ được” - Lênin
Để thực hiện những dự định đó, Enghen đã bắt tay ngay vào công việc
của mình. Trong phòng làm việc của Mác, Enghen xếp cẩn thận từng chồng
những cuốn vở ghi, những tờ giấy, bảng kê chi chít nét bút xanh, bút đỏ do Mác
viết. Trước khi xếp vào chồng nào, ông lại đọc qua một lượt. Cuối cùng ông tìm
ra bốn bản thảo “ Lưu thông tư bản”, là bốn biến dạng của bản thảo viết cho tập
hai bộ “ Tư bản”.
Muốn chỉnh lí những bản nháp này, tất nhiên phải bỏ ra rất nhiều công
sức nhưng Enghen vẫn say mê làm. Ông xếp công việc đang viết dở cuốn “
phép biện chứng của tự nhiên” lại, tập trung toàn bộ sức lực cho công việc này.
Bước đầu tiên công việc của Enghen là nhận biết các dấu chữ trong bản nháp
của Mác, đồng thời viết lại. Đây là công việc vừa mất công sức, vừa mất thời
gian, không một người nào khác có thể làm được, như lời trong một bức thư
gửi cho bạn “ Vì trong số những người còn sống chỉ có tôi mới nhận biết được
lại bút tích này và cách viết tắt của từng chữ và toàn bộ câu”. Lúc bấy giờ,
Enghen đã là một ông già 63 tuổi, nhưng vẫn làm việc không kể ngày đêm.
Cuối cùng, Enghen lâm bệnh. Bác sĩ cấm ông không được làm việc ban đêm.
Về sau đến ban ngày ông cũng bị cấm làm việc. Enghen không thể ngồi viết
17
được, phải thuê một người thư kí mỗi ngaỳ từ mười giờ sáng đến năm giờ chiều
đến ghi chép còn ông nằm trên ghế sôpa đọc bản nháp. Buổi tối, ông thẩm tra
lại những bản ghi chép của người thư kí. Sau khi những bản nháp của Mác
được chép lại, Enghen tiến hành bổ sung chỉnh lí sau đó phân mục chương và
đóng lại thành tập. Sau gần hai năm nỗ lực, tháng 2 năm 1885, bản thảo quyển
II bộ “ Tư bản” đã chỉnh lí xong.
Sau khi hoàn thành quyển II và nộp bản thảo cho nhà xuất bản, ngay
ngày hôm sau Enghen lại tiếp tục ngồi vào bàn để chỉnh lí quyển III. Tuy nhiên,
trong quá trình chỉnh lí quyển III, Enghen gặp rất nhiều khó khăn. Mác khi viết
quyển này đã bị rất nhiều bệnh nên một số chương chỉ viết đại ý hoặc để lại
một số tài liệu, thậm chí chỉ viết được tiêu đè của chương mà thôi. Enghen phải
sắp xếp lại và bổ sung tài liệu đồng thời căn cứ vào ý tưởng của Mác mà viết lại
toàn bộ chương tiết mà Mác chỉ ghi đề mục. Bằng sự nỗ lực không mệt mỏi của
mình, đến năm 1894, quyển III được xuất bản. Như vậy để hoàn thành tâm
huyết mà Mác còn dang dở, Enghen đã phải bỏ công 12 năm ròng rã. Sau khi
hoàn thành quyển II và quyển III bộ “ Tư bản”, Enghen vô cùng sung sướng “
Chỉnh lí những di cảo của con người cẩn thận từng chữ như C.Mác cần phải bỏ
ra một công sức lớn. Song đó là việc mà tôi ưa thích vì tôi lại được cùng ở bên
cạnh người bạn già của tôi”.
Đồng thời trong thời gian làm việc, Enghen cũng dành nhiều thời gian,
công sức để tuyên truyền cho các tư tưởng của Mác và đấu tranh bảo vệ tư
tưởng của Mác trước sự tấn công, xuyên tạc của các lực lượng thù địch.
18
KẾT LUẬN
Như vậy, thông qua việc tìm tòi từ những nguồn tài liệu đáng tin
cậy đồng thời đi sâu phân tích, có thể thấy được tình bạn vĩ đại và cảm động
của hai nhà tư tưởng lớn Các Mác và Enghen. Tình bạn của họ thực sự là một
thứ tình cảm đẹp được vun trồng từ lòng yêu thương, sự khâm phục, sẻ chia,
tình thân ái, hi sinh vì nhau
Tình bạn của Các Mác và Enghen đẹp như một câu chuyện cổ tích. Lênin đã
từng nhận xét: “ Chuyện cổ kể lại những tấm gương rất cảm động về tình bạn.
Nhưng giai cấp vô sản châu Âu có thể nói rằng khoa học của mình đã do hai
nhà bác học và chiến sĩ ấy sáng tạo ra, những quan hệ cá nhân giữa hai người
đã vượt tất cả những chuyện cổ cảm động của người xưa nói về tình bạn”.
Tình bạn vĩ đại và cảm động của những con người vĩ đại ấy sẽ còn được
nhắc đến
19
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ CÁC MÁC VÀ ENGHEN
Enghen và gia đình C.Mác C.Mác và Enghen
Mác và vợ Jenny Vợ và con gái Các Mác
20
Các Mác (1818 - 1883) F. Enghen (1820 – 1895)
C. Mác -
Enghen
21
Tượng C.Mác
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đặng Đức An ( chủ biên), Những mẩu chuyện lịch sử thế giới, NXB GD,
2000
2. Vũ Dương Ninh – Nguyễn Văn Hồng, Lịch sử thế giới cận đại, NXB
GD, 2007
3. GS.TS Phan Ngọc Liên, Lịch sử thế giới cận đại ( tập 1), NXB Đại học
Sư Phạm, 2008
4. Đặng Đức An ( chủ biên), Nhân vật lịch sử và danh nhân văn hóa thế
giới, NXB GD, 1994
5. GS.Phan Ngọc Liên, Từ điển thuật ngữ lịch sử, NXB Đại học Quốc Gia
Hà Nội, 2007
Một số trang mạng: www.google.com
www.bachkhoatoanthu.gov.vn
vi.wikipedia.org
www.nlv.gov.vn
22