Hớng dẫn học sinh lớp 5 giải toán
bằng sơ đồ đoạn thẳng
phần I: Đặt vấn đề
Thời gian qua bậc Tiểu học Việt Nam đã thực hiện những thay đổi trong toàn bộ
quá trình dạy học. Mục đích của giáo dục tiểu học đã đợc hoàn thiện theo hớng toàn
diện hơn nhằm đáp ứng yêu cầu của sự phát triển của đất nớc và hội nhập vào sự tiến bộ
chung của khu vực và trên thế giới. Toán học là một môn học độc lập, nó cùng với các
môn học khác góp phần đào tạo con ngời phát triển toàn diện. Môn toán ở tiểu học góp
phần rất quan trọng trong việc rèn phơng pháp nghĩ, phơng pháp suy luận, phơng pháp
giải quyết vấn đề, nó góp phần đào tạo và phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc
lập, sáng tạo góp phần vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng của
ngời lao động trong thời đại mới. Học tốt môn toán nó hỗ trợ cho các môn học khác
trong chơng trình Tiểu học.
Dạy học giải toán có một vị trí đáng kể trong toàn bộ nội dung chơng trình bậc
Tiểu học. Có thể coi việc dạy học giải toán là quan trong bậc nhất trong dạy học toán.
Qua giải toán học sinh bộc lộ đợc năng lực t duy, óc suy nghĩ linh hoạt, sáng tạo giải
toán là một trong những biểu hiện năng động nhất của hoạt động trí tuệ học sinh.
Việc dạy học giải toán ở Tiểu học nhằm giúp học sinh biết cách vận dụng những
kiến thức về toán, đợc rèn luyện kĩ năng thực hành với những yêu cầu đợc thể hiện một
cách đa dạng, phong phú. Nhờ việc giải toán mà học sinh có điều kiện rèn luỵên phơng
pháp suy luận và những phẩm chất của con ngời lao động mới.
Trong nhà trờng Tiểu học hiện nay, khi học sinh học đến các bài toán hợp điển hình
- các bài toán mà quá trình giải có phơng pháp riêng cho từng dạng toán, học sinh th-
ờng lúng túng khi lựa chọn phơng pháp giải . Đặc điểm của học sinh tiểu học là t duy cụ
thể nên các em gặp rất nhiều khó khăn trong việc phân tích yêu cầu bài toán. Để giải
quyết những khó khăn đó đòi hỏi ngời giáo viên phải có trình độ kiến thức, lòng say mê
nghề nghiệp, biết sử dụng phơng pháp hình thức tổ chức dạy học sao cho hợp lí thì kết
quả dạy học mới đợc nâng cao.
Trong phạm vi nghiên cứu về đề tài : Hớng dẫn học sinh lớp 5 giải toán bằng sơ đồ
đoạn thẳng. Tôi chỉ có một mong muốn giúp học sinh hạn chế đợc phần nào những
khó khăn của các em khi lựa chọn phơng pháp giải phù hợp trớc một bài toán điển hình.
Với đặc điểm lứa tuổi học sinh tiểu học là t duy cụ thể, giúp các em dễ tìm ra cách giải
cho bài toán, gây hứng thú học tập, khơi gợi học sinh yêu thích học toán.
* Mục đích nghiên cứu:
- Hệ thống các phơng pháp giải toán thờng dùng trong trờng Tiểu học
- Tìm hiểu nội dung các bớc giải và ứng dụng của phơng pháp dùng sơ đồ đoạn
thẳng để giải toán ở lớp 5.
- Trên cơ sở tìm hiểu và phân tích thực trạng giải toán bằng phơng pháp dùng sơ đồ
đoạn thẳng ở lớp 5 đa ra một số giải pháp dùng sơ đồ đoạn thẳng để giải toán.
*Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt đợc mục đích trên , nhiệm vụ của đề tài là giải quyết các vấn đề sau:
- Nghiên cứu những vấn đề chung về toán học nh tầm quan trọng, vị trí, mối quan
hệ với các kiến thức khác.
- Nghiên cứu về phơng pháp dùng sơ đồ đoạn thẳng để giải toán.
- Nghiên cứu tâm sinh lí lứa tuổi tiểu học.
- Tìm hiểu thực tế học sinh lớp mình.
Phần II: Nội dung
Trong thực tế giảng dạy đã nhiều năm, tôi thấy rằng điều chủ yếu của việc dạy học
giải toán là giúp học sinh tự mình tìm hiểu đợc mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải
tìm trong điều kiện của bài toán mà thiết lập đợc các phép tính số học tơng ứng, phù
hợp, từ đó các em có cách giải đúng .Chính vì thế mà việc lựa chọn các phơng pháp giải
1
toán trong dạy học toán là rất quan trọng. Trong việc dạy học sinh giải toán giáo viên
phải giải quyết hai vấn đề then chốt sau:
* Làm cho học sinh nắm đợc các bớc cần thiết của quá trình giải toán và rèn luyện
kĩ năng thực hiện các bớc đó một cách thành thạo.
* Làm cho học sinh nắm đợc và có kĩ năng vận dụng các phơng pháp chung cũng
nh các thủ thuật thích hợp với từng loại bài toán thờng gặp để đi đến kết quả mong
muốn.
Nh vậy việc lựa chọn phơng pháp giải toán trong dạy học toán tức là đi giải quyết
vấn đề then chốt thứ hai trên đây.
Khi đứng trớc một bài toán, học sinh phải nhận dạng đợc bài toán, từ đó có thể lựa
chọn phơng pháp giải thích hợp và tối u nhất. Đây cúng chính là điều mà tôi mong
muốn đạt tới khi dạy giải toán cho học sinh.
Các phơng pháp giải toán thờng dùng khi giải toán ở tiểu học là:
1. Phơng pháp sơ đồ đoạn thẳng.
2. Phơng pháp rút về đơn vị và phơng pháp tỉ số
3. Phơng pháp thử chọn
4. Phơng pháp thế
5. Phơng pháp tính ngợc từ cuối
6. Phơng pháp khử
7. Phơng pháp giả thiết tạm
8. Phơng pháp suy luận đơn giản
Khi sử dụng phơng pháp sơ đồ đoạn thẳng để giải các bài toán ở lớp 5 thì giáo viên
phải làm cho học sinh hiểu đợc phơng pháp sơ đồ đoạn thẳng là phơng pháp giải toán
mà ngời ta dùng các đoạn thẳng để biểu diễn mối quan hệ giữa các đại lợng đã cho và
các đại lợng phải tìm. Phơng pháp sơ đồ đoạn thẳng đợc ứng dụng để giải các bài toán
đơn ( có ở tất cả các khối lớp) toán hợp và toán có lời văn điển hình ( chủ yếu là lớp 4,5)
Các dạng toán có lời văn ở lớp 5 giải bằng phơng pháp sơ đồ đoạn thẳng là:
+ Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó.
+ Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó.
Hai dạng toán trên đợc lồng ghép vào các bài toán khác nhau ( nh bài toán về cấu tạo số
tự nhiên,toán tính tuổi, toán có nội dung hình học, toán về chuyển động đều )
Trong suốt chơng trình của lớp 5. Học sinh phải biết vận dụng cách giải của bài
toán dạng này để giải các bài tập ứng dụng.
Khi giải các bài toán bằng phơng pháp sơ đồ đoạn thẳng tôi thờng HD HS tiến
hành theo các bớc dới đây:
B ớc 1: Tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng
- Trong bớc này ta biểu diễn mối quan hệ giữa các đại lơng đã cho và đại lợng phải
tìm bằng các đoạn thẳng. Số phần bằng nhau trên mỗi đoạn thẳng tơng ứng với tỉ
số của các số phải tìm. Để bài toán có lời giải tờng minh ta cần sắp xếp thứ tự các
đoạn thẳng trong sơ đồ một cách hợp lí.
B ớc 2: Tìm tổng hoặc hiệu số phần bằng nhau trên sơ đồ.
B ớc 3: Tìm giá trị một phần bằng nhau.
B ớc 4: Xác định các số cần tìm.
Trong thực hành giải toán ta có thể kết hợp các bớc 2,3 và 4 để cho lời giải ngắn gọn
hơn.
* Khi hớng dẫn học sinh dùng phơng pháp sơ đồ đoạn thẳng để giải bài toán về :
tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của chúng:
+ Căn cứ vào tỉ số ta phân ra các dạng sau:
- Tỉ số cho dới dạng một số tự nhiên n ( số này gấp mấy lần số kia )
- Tỉ số cho dới dạng số này bằng 1 phần mấy số kia.
- Tỉ số cho dới dạng m/n
- Tỉ số không nguyên
2
* Xét một số ví dụ sau:
* Hớng dẫn học sinh dùng sơ đồ đoạn thẳng để giải các bài
toán về tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó
Ví dụ 1: Chu vi của một hình chữ nhật là 630m, chiều dài gấp 4 lần chiều rộng. Tìm
chiều dài và chiều rộng của hình đó.
- Phân tích dẫn dắt HS giải :
+ Bài toán cho biết gì? ( chu vi hình chữ nhật là 630m và chiều dài gấp 4 lần chiều
rộng)
+Bài toán yêu cầu gì?( tìm chiều dài và chiều rộng)
+ Ta có thể vẽ sơ đồ tóm tắt bài toán nh thế nào?
Chiều dài:
630 m
Chiều rộng:
+ Dựa vào sơ đồ ta thấy : Nếu chiều rộng là một phần thì chiều dài là 4 phần nh thế.
Vậy chu vi của hình chữ nhật gồm mấy phần?
1 + 4 = 5 ( phần)
- Một phần nh thế có mấy m:
630 : 5 = 126 (m)
- 4 phần gồm bao nhiêu m?
4 x 126 = 504 (m)
- Vậy chiều dài hình chữ nhật là bao nhiêu? ( 504m)
- Chiều rộng là bao nhiêu? ( 126m)
Bài toán này thuộc dạng toán nào? ( tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó). Từ đó
tôi HD HS giải bài toán bằng cách ngắn gọn:
Giải:
Chiều rộng của hình chữ nhật là:
630 : ( 4 + 1) = 126 (m)
Chiều dài hình chữ nhật là:
126 x 4 = 504 (m)
hoặc 630 - 126 = 504 (m)
Đáp số : chiều dài: 504 m
Chiều rộng: 126 m
Ví dụ 2: Một cửa hàng đã bán 49 kg gạo, trong đó số gạo nếp bằng
5
2
số gạo tẻ. Hỏi
cửa hàng đó đã bán bao nhiêu kg mỗi loại?
HD HS tìm hiểu bài toán và giải:
? Bài toán cho biết gì? ( cửa hàng đã bán 49 kg gạo. gạo nếp bằng
5
2
gạo tẻ)
? tỉ số gạo nếp bằng
5
2
gạo tẻ có thể hiểu nh thế nào? ( nếu gạo nếp đợc chia thành 2
phần bằng nhau thì gạo tẻ là 5 phần nh thế)
- Bài toán yêu cầu tìm gì? ( tìm số gạo nếp, gạo tẻ đã bán)
- Ta có thể giải bài toán theo dạng nào? ( tìm hai số khi biét tổng và tỉ của hai số
đó)
- Tôi HD HS giải bài toán bằng cách ngắn gọn nh sau:
Tóm tắt:
Gạo nếp:
49 kg
Gạo tẻ :
Giải:
3
Số gạo nếp của cửa hàng đã bán là:
49 : ( 2 + 5) x 2 = 14 (kg)
Số gạo tẻ là:
49 - 14 = 35( kg)
Đáp số: gạo nếp: 14 kg
Gạo tẻ : 35 kg
* Hớng dẫn học sinh dùng sơ đồ đoạn thẳng để giải các bài
toán về tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó
Ví dụ 1: Hiệu của hai số là 30. Số thứ nhất gấp 4 lần số thứ hai. Tìm hai số đó.
HD HS tìm hiểu bài toán và giải:
? Bài toán cho biết gì? ( Hiệu của hai số là 30, số thứ nhất gấp 4 lần số thứ hai
? Bài toán yêu cầu gì? ( tìm mỗi số )
- Ta vẽ sơ đồ và biểu diễn hiệu số 30 trên sơ đồ:
Số thứ nhất:
? 30
Số thứ hai :
( Học sinh vẽ và chỉ trên sơ đồ)
Nhìn vào sơ đồ ta thấy : Nếu số thứ nhất đợc chia làm 4 phần bằng nhau thì số thứ
hai là một phần nh thế. Vậy hiệu số 30 tơng ứng với mấy phần nh thế?
4 - 1 = 3 ( phần)
? 1 phần gồm bao nhiêu đơn vị?
30 : 3 =10
? 4 phần gồm bao nhiêu đơn vị?
10 x 4 = 40
Vậy số thứ nhất là bao nhiêu? ( 40 )
Số thứ 2 là bao nhiêu? ( 10)
Bài toán thuộc dạng toán nào? ( tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó) . Từ
đó HD HS giải ngắn gọn:
Giải:
Số thứ hai là:
30 : ( 4 - 1) = 10
Số thứ nhất là:
10 x 4 = 40
Đáp số: Số thứ nhất: 40
Số thứ hai: 10
Ví dụ 2:
Hiệu của hai số bằng 58. Lấy số lớn chia cho số nhỏ, ta đợc thơng bắng 5 d 2. Tìm
hai số đó.
HD HS tìm hiểu đề:
? Bài toán cho ta biết gì? ( Hiệu của hai số bằng 58, lấy số lớn : số nhỏ = 5 d 2)
? Bài toán yêu cầu gì? ( Tìm hai số đó)
? Hai số đó có quan hệ nh thế nào với nhau? ( số lờn - số bé = 58; số lớn : số bé = 5
d 2)
? Lấy số lớn chia số bé đợc thơng bắng 5 d 2 có thể hiểu nh thế nào?( nếu coi số
nhỏ là một phần thì số lớn là 5 phần nh thế và thêm 2 đơn vị)
? Bài toán thuộc dạng nào? ( tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó)
Tóm tắt:
Số bé:
Số lớn :
2
4
Giải:
Số bé là:
( 58 - 2 ) : ( 5 - 1) = 14
Số lớn là:
14 + 58 = 72
Đáp số : Số bé: 14
Số lớn : 72
* Hớng dẫn học sinh sử dụng sơ đồ đoạn thẳng để giải bài
toán về cấu tạo số tự nhiên
Ví dụ:
Khi viết thêm chữ số 8 vào bên trái một số tự nhiên có hai chữ số ta đợc một số mới
gấp số cũ 26 lần. Tìm số tự nhiên đó.
HD HS tìm hiểu bài toán:
? Khi viết thêm chữ số 8 vào bên trái một số tự nhiên có hai chữ số có nghĩa là ta đã
thêm vào số cũ bao nhiêu đơn vị? ( 800 đơn vị)
? Bài toán cho ta biết gì? (viết thêm chữ số 8 vào bên trái một số tự nhiên có hai chữ
số thì số đó tăng gấp 26 lần)
? Bài toán yêu cầu tìm gì?( tìm số tự nhiên đã cho)
? Muốn tìm số tự nhiên đã cho ta cần tìm gì?( xác lập đợc mối liên hệ giữa số tự
nhiên đã cho và số mới sau khi viết chữ số 8 vào bên trái)
? Ta có thể hiểu mối liên hệ đó bằng sơ đồ không? vẽ sơ đồ tóm tắt bài toán trên?
Tóm tắt:
Số tự nhiên đã cho:
800
Số mới :
26 phần
? Bài toán thuộc dạng toán nào? ( Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó)
Giải:
Số tự nhiên cần tìm là:
800 : ( 26 - 1) = 32.
* hớng dẫn học sinh ứng dụng phơng pháp sơ đồ đoạn
thẳng để giải bài toán về chuyển động đều
Ví dụ: Một ngời dự định đi xe đạp từ nhà với vận tốc 14 km/ giờ để lên tới huyện lúc
10 giờ. Do đờng ngợc gió nên mỗi giờ chỉ đi đợc 10 km và tới huyện lúc 10 giờ 36
phút . Tính quãng đờng từ nhà lên huyện.
HD HS tìm hiểu bài toán:
? Bài toán yêu cầu tìm gì? ( Quãng đờng từ nhà lên huyện)
? Muốn biết quãng đờng từ nhà lên huyện ta cần biết thêm gì ? ( biết vận tốc và thời
gian đi từ nhà lên huyện)
? Với vận tốc dự định và vận tốc thực đi, thời điểm tới huyện theo dự định và thời
điểm thực tới huyện đã biết ta có thể tìm thời gian ngời đó đi từ nhà lên huyện nh thế
nào?
Vận dụng tính chất Trên cùng một quãng đờng đi thì vận tốc và thời
gian là hai đại lợng tỉ lệ nghịch với nhau. Ta tìm đợc tỉ số giữa thời gian dự
định đi với thời gian thực đi. Mạt khác ta cũng tìm đợc hiệu số giữa thời gian dự
định đi và thời gian thực đi. Biết tỉ số , biết hiệu ta tìm đợc hai khoảng thời gian
cha biết đó.
Giải:
Tỉ số giữa vận tốc dự định và vận tốc thực đi là:
14 : 10 = 7/5
Tỉ số giữa thời gian dự định và thời gian thực đi là 5/7 ( vì vận tốc và thời
gian là hai đại lợng tỉ lệ nghịch trên cùng một quãng đờng đi)
5
Hiệu số giữa thời gian dự định với thời gian thực đi là:
10 giờ 36 phú t- 10 giờ = 36 phút
Ta có sơ đồ:
Thời gian dự định đi:
36 phút
Thời gian thực đi :
Thời gian dự định đi là:
36 : ( 7 - 5) x 5 = 90 phút = 1,5 giờ
Quãng đờng từ nhà đến huyện là:
14 x 1,5 = 21 ( km)
Đáp số: 21 km.
Từ đó tôi hớng dẫn học sinh với những bài toán khó dần lên nh giải các bài toán có
nội dung hình học, các bài toán tìm ba số khi biết tổng và tỉ của chúng hoặc tìm ba
số khi biết hiệu và tỉ số của chúng, giải toán vui và toán cổ.
Qua thực tế tìm hiểu việc dạy giải toán bằng phơng pháp sử dụng sơ đồ đoạn
thắng ở lớp 5 tôi thấy có những thuận lợi và khó khăn sau:
* Thuận lợi:
- Các trờng hiện nay đã đợc trang bị tơng đối đầy đủ tài liệu, thiết bị dạy học phục
vụ cho việc dạy và học của giáo viên và học sinh.
- Giáo viên đã tổ chức dạy học một cách hợp lí, học sinh đợc giành nhiều thời gian
cho thực hành làm bài tập
- Giáo viên biết kết hợp nhiều phơng pháp dạy học để dẫn dắt HS tới kiến thức cần
đạt
* khó khăn:
- Việc dạy học giải toán bằng sơ đồ đoạn thẳng cha thực sự đợc chú trọng bởi giáo
viên cha thấy hết tầm quan trọng của việc dạy loại toán này, cha thấy đợc ứng dụng
rộng rãi của phơng pháp trong việc giải các loại toán điển hình ở tiểu học.
- Trong quá trình lên lớp giáo viên còn giảng nhiều, làm mẫu nhiều. Do đó HS tiếp
thu còn thụ động, ghi nhớ cách giải một cách máy móc.
- Học sinh chỉ biết giải các bài toán cụ thể chứ không biết cách so sánh, liên hệ với
các bài toán khác. Vì vậy HS còn khó khăn trong việc nhận ra cái chung .trong các
bài toán có nội dung bề ngoài khác nhau nhng cùng một dạng toán.
- Khả năng phân tích đề của HS còn hạn chế nên HS lúng túng khi gặp bài toán có
dữ kiện ở dạng gián tiếp.
Phần III: Kết luận
Việc đổi mới nội dung và phơng pháp dạy học là nhiệm vụ hàng đầu của mọi
cấp học hiện nay. Đối với giáo viên thì đó là nhiệm vụ thờng xuyên, liên tục, đổi mới
nội dung phơng pháp phải đợc thể hiện trong từng bài học , từng tiết dạy . GV phải
nghiên cứu tìm tòi đa ra những cách dạy hay làm thế nào mà học sinh dễ hiểu, nhớ
lâu. Việc vận dụng phối hợp các phơng pháp dạy học tích cực trong giờ học toán sẽ
kích thích học sinh tự giác, hứng thú học tập. Các em đã tích cực tự giác lĩnh hội đợc
các bớc giải của mỗi dạng toán, phân tích đợc đề toán, biểu diễn đợc nội dung bài
toán trên sơ đồ đoạn thẳng. Bên cạnh đó, việc khai thác để giúp HS nắm đợc bản
chất của dạng toán và khắc sâu phơng pháp giải dạng toán đó. Đây cũng chính là
một trong những biện pháp giúp GV khơi gợi ở HS tính độc lập khả năng sáng tạo
nhất là đối với HS khá giỏi.
*Những bài học rút ra cho bản thân và đồng nghiệp sau quá
trình thực hiện đề tài:
Do điều kiện và khả năng có hạn nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót.
Song qua quá trình thực hiện đã giúp tôi và các đồng nghiệp nhiều bổ ích.
6
Trớc hết đề tài giúp tôi hiểu đợc vị trí, tầm quan trọng của việc lựa chọn các ph-
ơng pháp giải toán trong dạy toán. Mặt khác giúp tôi hệ thống lại các phơng pháp
giải toán thờng dùng ở tiểu học.
Tìm hiểu thực trạng dạy giải toán bằng sơ đồ đoạn thẳng ở lớp 5 đề tài đã giúp
tôi khắc phục đợc những sai lầm, tồn tại hiện nay, nó góp phần nâng cao chất lợng
dạy và học.
Về phơng pháp dạy học, tôi có đợc sự kết hợp hài hòa giữa các phơng pháp dạy
học toán, có sự mạnh dạn khi vận dụng một số phơng pháp đổi mới thiết kế các hoạt
động trên lớp cho học sinh .
Và cuối cùng đề tài giúp tôi cũng nh các đồng nghiệp có đợc hệ thống phơng
pháp giải toán và những kinh nghiệm quý báu nhằm nâng cao chất lợng dạy học
toán ở tiểu học.
Hớng dẫn học sinh lớp 5 cách tìm số d
trong phép chia số thập phân
A. Đặt vấn đề
Ngày nay trên thế giới mục đích của giáo dục thờng đợc nêu lên trong 4 câu:
học để biết, học để làm , học để hợp tác, học để sống. Thời gian qua bậc Tiểu học
Việt Nam đã thực hiện những thay đổi trong toàn bộ quá trình dạy học. Mục đích giáo
dục tiểu học đã đợc hoàn thiện theo hớng toàn diện hơn , nhằm đáp ứng yêu cầu của sự
phát triển của đất nớc và hội nhập vào sự tiến bộ chung của khu vực và trên thế giới.
Toán học là một môn học độc lập, nó cùng với các môn học khác góp phần đào tạo con
ngời phát triển toàn diện. Môn toán ở tiểu học góp phần rất quan trọng trong việc rèn
phơng pháp nghĩ, phơng pháp suy luận, phơng pháp giải quyết vấn đề, nó góp phần đào
tạo phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, sáng tạo góp phần vào việc hình
thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng của ngời lao động trong thời đại mới. Học
tốt môn toán nó hỗ trợ cho các em học tốt các môn học khác trong chơng trình tiểu học.
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy ở lớp 5 theo chơng trình mới. Trong quá
trình dạy học tôi đã học hỏi , tìm tòi và đã nắm bắt đợc những kiến thức rất mới mẻ, bổ
ích và thiết thực. Nhìn lại quá trình dạy học tôi thấy hoạt động giải toán là một trong
những biểu hiện năng động nhất của hoạt động trí tuệ của HS. Khi tính toán yêu cầu
học sinh phải t duy một cách tích cực, huy động thích hợp các kiến thức vào tình huống
khác nhau.
7
Vì vậy, để HS hiểu bài nắm đợc kiến thức, biết tính toán đúng, chính xác GV cần
phải cải tiến cách dạy theo hớng tích cực hóa hoạt động của HS và đẩy mạnh chất lợng
học. GV phải làm thế nào để HS dễ hiểu, nhớ lâu.
Trong chơng trình toán lớp 5. khi học về chơng: Số thập phân- các phép tính về
số thập phân là kiến thức mới và khó đối với HS. Nhất là các dạng phép chia số thập
phân không phải phép chia nào cũng chia hết. Tìm số d trong phép chia số thập phân là
một bài tập nhỏ trong phép chia số thập phân nói riêng và trong chơng số thập phân -
các phép tính về số thập phân nói chung. Đây là một bài tập nhỏ đợc đa vào phần
luyện tập. Yêu cầu của bài tập này là HS đọc đúng số d.
Mặc dù là bài tập nhỏ, đợc SGK ra rải rác ở các tiết luyện tập nhng việc tìm số d
liên quan đến dạng toán tính tỉ số phần trăm rất nhiều: Tính tiền vốn, tiền lãi hay tính
vải để may quần áoTrong thực tế HS lại hay tìm sai, nhầm lẫn. Điều đó ảnh hởng rất
nhiều đến kết quả giải toán.
Tại sao nh vậy? Qua thực tế giảng dạy tôi rút ra đợc một số nguyên nhân sau đây:
- Do nội dung và thời lợng ít.
- Không có bài nào trang bị kiến thức về số d riêng, SGK lại không hớng dẫn
cụ thể.
- Học sinh đã quen với các tìm số d ở số tự nhiên
- Phép chia số thập phân đã khó, đòi hỏi HS tìm số d lại càng khó hơn.
B. Giải quyết vấn đề
Số thập phân- phép chia số thập phân là chơng mới. Trong các phép tính
cộng, trừ, nhân, chia số thập phân thì phép chia là khó hơn cả.
Phép chia số thập phân có các dạng:
- Chia một số thập phân cho một số tự nhiên.
- Chia một số thập phân cho 10, 100, 1000
- Chia một số tự nhiên cho một số tự nhiên mà thơng tìm đợc là một số thập
phân.
- Chia một số tự nhiên cho một số thập phân.
- Chia một số thập phan cho một số thập phân.
Sách giáo khoa toán 5 là một hệ thống rất nhiều bài tập nhng các bài tập về tìm
số d rất ít, một số bài tập thiếu thực tế. Qua quá trình giảng dạy tôi đã đa ra một số biện
pháp để hớng dẫn HS tìm số d nh sau:
Trờng hợp 1:
Tìm số d trong phép chia: Chia một số thập phân cho một số tự nhiên.
Ví dụ: Sau khi thực hiện phép chia:
784,45 24 - Bạn A nói: Phép chia này có số d là 13.
064 4 32,68 - Bạn B nói: Phép chia này có số d là 0,13
16 4 Ai nói đúng? ai nói sai ?
2 0 5
1 3
Tôi đã HD HS nh sau:
- Cho HS đọc lại yêu cầu
- Tôi hỏi HS: Theo em bạn nào nói dúng? Bạn nào nói sai?
- Gọi nhiều em trả lời: có em nói bạn A đúng, có em nói bạn B đúng
- Tôi yêu cầu HS thử lại:
32,68 x 24 + 13 = 797,32 và 32,68 x 24 + 0,13 = 784,45
- Tôi hỏi tiếp: Vậy ở phép chia trên số d là mấy? ( 0,13)
- Bạn nào nói đúng ? bạn nào nói sai ?( bạn B đúng)
8
Với cách dạy trên HS vẫn hiểu đợc bài, tìm đúng số d nhng tôi thấy: khi thử lại phép
nhân số thập phân co nhiều chữ số nên nhiều em thực hiện sai. Mặt khác để đi đến kết
quả đã mất rất nhiều thời gian. Trên cơ sở cộng số thập phân với số thập phân dựa vào
dấu phẩy đặt thẳng cột nên khi lấy thơng nhân với số chia cộng với số d bằng số bị chia.
Từ đó tôi HD HS : số chữ số ở phàn thập phân của số d bằng số chữ số ở phần thập
phân của số bị chia. Tìm số d theo cách này đúng và nhanh hơn nghĩa là dựa vào hàng
và dấu phẩy ở số bị chia để xác định số d.
Cụ thể là:
Nêu số d trong các phép chia:
a. 470,15 12 b. 985,37 32
110 39,17 025 3 30,79
021 2 97
095 09
11
-Cho HS thảo luận nhóm
- Sau khi HS thảo luận nhóm xong, gọi một số em đọc kết quả và số d ở phép chia a
Tôi hỏi HS:
- Chữ số cuối cùng ở số d thuộc hàng nào?( hàng phần trăm)
- Chữ số 1 tiếp theo ở hàng nào? ( hàng phần mời)
GV nói: ta đã xác định đợc chữ số ở số d là
;
10
1
100
1
- Phần nguyên là bao nhiêu? 0
- Vậy số d là mấy? 0,11
- Hãy thử lại kết quả phép tính: 39,17 x 12 + 0,11 = 470,15
*HS kết luận số d là 0,11
GV yêu cầu:
- Hãy đọc ngay số d ở phép tính b? ( 0,09)
- Hãy thử lại kết quả? 30,79 x 32 + 0,09 = 985,37
GV hỏi: Để tìm số d trong phép chia số thập phân ta dựa vào đâu? ( dựa vào hàng và
dấu phẩy ở số bị chia)
*GV kết luận: Nh vậy để đọc đúng số d trong phép chia số thập phân ta dựa vào hàng
và dấu phẩy ở số bị chia.
Trờng hợp 2:
Tìm số d trong phép chia chia một số thập phân cho một số thập phân. Sau khi thực
hiện theo quy tắc bỏ dấu phẩy ở số bị chia, số chia rồi chia. Để tìm số d trong phép chia
ta dựa vào dấu phẩy cũ trên cơ sở của quy tắc nhân số thập phân với số thập phân.
Ví dụ: Tìm số d của phép chia nếu chỉ lấy đến một chữ số ở phần thập phân của thơng.
a. 9,6 2,5 b. 0,4 0,9
210 3,8 40 0,4
10 04
GV hớng dẫn: Tìm số d của hai phép chia trên ta dựa vào dấu phẩy cũ ở số bị chia.
- HS đọc số d : a, d 0,1 ( hoặc 0,10 ) b, d 0,04
- HS thử lại :
a. 3,8 x 2,5 + 0,1 = 9,6
b. 0,4 x 0,9 + 0,04 = 0,4
GV lu ý cho HS ở phép tính b ta thực hiện theo y/c của đề bài song nếu chia tiếp thì chữ
số ở phần thập phân của thơng lặp lại nh cũ , số d cũng vậy thơng của nó là số thập
9
phân vô hạn tuần hoàn, lên lớp trên các em sẽ đợc học để nhằm kích thích tính tò mò
ham học của các em.
- HS chỉ thử lại 1-2 phép tính đầu còn các phép tính tơng đơng thì có thể sử dụng nh
quy tắc.
- Với cách trên, HS dễ dàng đọc đúng và nhanh số d. Nhng sang tìm số d trong phép
chia số tự nhiên cho số thập phân thì HS lại gặp khó khăn ,lúng túng.
Trờng hợp 3:
a. 40,708 : 9,6 b. 14 : 5,7 c. 10 : 0,03
Theo quy tắc chia, khi thêm 0 vào số bị chia thì không đánh dấu phẩy, ở các phép chia
trên ta đặt tính nh sau:
a. 40,708 9,6 b. 14 5,7 c. 10 0,03
2 30 4,24 140 2,45 1000 333,3
388 260 10
4 320 10
35 1
Tôi yêu cầu HS:
- Hãy đọc số d trong các phép chia trên?
Tôi chia lớp thành 3 nhóm thảo luận:
Nhóm 1: bài a
Nhóm 2: bài b
Nhóm 3: bài c
- Sau khi HS thảo luận xong.Tôi gọi đại diện các nhóm đọc số d:
+ Nhóm 1: HS đã đọc số d đúng vì biết dựa vào hàng và dấu phẩy ở số bị chia nh trờng
hợp 2.
+ Nhóm 2,3: Sau khi thảo luận xong vẫn cha đi đến thống nhất kết quả số d.
- Theo cách làm thứ nhất: dựa vào hàng và dấu phẩy ở số bị chia để đọc số d. Trên cơ sở
số thập phân bằng nhau.
14 = 14,0 = 14,00 = 14,000
Yêu cầu HS hãy đọc số d ở bài b, bài c?
Bài b số d là 0,035 bài c số d là 0,001
Sau đó tôi đã dẫn dắt HS đi đến cách làm thứ hai nh sau: ( ví dụ bài b)
? Số chữ số ở phần thập phân của thơng là bao nhiêu? ( 2 chữ số)
? Số chữ số ở phần thập phân của số chia là mấy chữ số? ( 1 chữ số)
? Vậy số chữ số ở phần thập phân của thơngvà số chia có bao nhiêu chữ số? ( 3 chữ số)
? Nhận xét số chữ số ở phần thập của thơng và số chia với số chữ số ở phần thập phân
của số d? (có số chữ số bằng nhau)
? Từ đây ta có kết luận gì?
+ Số chữ số ở phần thập phân của thơng và số chia bằng số chữ số ở phần thập phân của
số d.
Vậy khi tìm số d ta xem ở phần thập phân của thơng có bao nhiêu chữ số cộng với số
chữ số ở phần thập phân của số chia thì đó chính là số chữ số ở phần thập phân của số
d
- Hỏi HS : Ta dựa vào cơ sở nào để kết luận nh vậy?
- Gọi 1 số em trả lời , sau đó tôi giải thích cơ sở cho HS hiểu nh sau:
* Số chữ số ở phần thập phân của số bị chia bằng tổng số chữ số ở phần thập phân của
thơng và số chia vì ta dựa vào quy tắc nhân các số thập phân.
Ví dụ:
2,5 Sau khi thực hiện nh phép nhân số tự nhiên ta đếm xem phần
x 5,7 thập phân ở các thừa số có bao nhiêu chữ số thì dùng dấu phẩy
10
1 715 tách ở tích ra bấy nhiêu chữ số kể từ phải sang trái.
12 25
13,965
* Số chữ số ở phần thập phân của số d bằng tổng số chữ số ở phần thập phân của số bị
chia dựa vào dấu phẩy đặt thẳng cột ở quy tắc cộng số thập phân.
Ví dụ: 13,965
+ 0,046
14,011
Từ đó theo tính chất bắc cầu ta có thể kết luận: Số chữ số ở phần thập phân của số d
bằng tổng số chữ số ở phần thập phân của thơng và số chia.
- GV nhấn mạnh và cho HS đọc lại nhiều lần:
+Khi tìm số d trong phép chia số thập phân ta tìm tổng số chữ số ở phần thập phân của
thơng và số chia , chính bằng số chữ số phần thập phân của số d.
- Tiếp theo tôi ra cho HS một phép chia: 5304 : 7,5
- Yêu cầu HS tìm số d theo hai cách đã hớng dẫn nh trên. HS đã đọc đúng số d và tôi
hỏi: Trong hai cách , em thấy cách làm nào dễ nhớ và tìm số d nhanh, đa số các em
thích làm cách 2.
* Từ đó tôi kết luận; Trong hai cách tìm số d trong phép chia, cách nào cũng tìm nhanh
đợc kết quả. Song với cách 1 đối với phép chia chia số thập phân cho số tự nhiên
chia số thập phân cho số thập phân các em dựa vào hàng và dấu phẩy ở số bị chia ta
đọc nhanh đợc số d. Nhng sang phép chia chia số tự nhiên cho số thập phân các em
khó nhận ra và dễ nhầm nên làm cách 2. Cách 2 áp dụng tìm số d trong tất cả các trờng
hợp về phép chia số thập phân.Từ đó tôi khuyến khích HS sử dụng cách 2.
Qua các ví dụ về tìm số d tôi lu ý cho HS khi tìm tỉ số phần trăm gặp những bài số
thập phân vô hạn tuần hoàn cách xác định đúng số d
Ví dụ: 1 : 3 = 0,3333d 0,001
- Trong thực tế may quần áo từ một tấm vải ta phải tính toán xem may đợc mấy bộ quần
áo , thừa bao nhiêu để tiết kiệm và sử dụng hợp lí.
c. Kết thúc vấn đề
Việc đổi mới nội dung và phơng pháp dạy học là nhiệm vụ hàng đầu của mọi cấp
học hiện nay. Đối với GV thì đó là một nhiệm vụ thờng xuyên, liên tục.Đổi mới nội
dung phơng pháp phải đợc thể hiện trong từng bài học từng tiết dạy. Giáo viên phải
nghiên cứu tìm tòi đa ra những cách dạy hay, làm thế nào để HS dễ hiểu nhớ lâu, và học
tập có hiệu quả nhất đó là điều mà mọi GV đều mong muốn.
Nhng do điều kiện và khả năng có hạn nên không tránh khỏi những thiếu sót. Song
trong quá trình thực hiện về tìm số d trong phép chia số thập phân đã giúp tôi rất nhiều,
phần lớn HS đã biết đọc đúng số d, nó cũng đóng góp một phần nhỏ trong việc nâng cao
chất lợng dạy và học.
* Kiến nghị:
- Đề nghị các cấp quản lí mở các hội thảo sáng kiến kinh nghiệm đạt bậc cao để
GV đợc học tập.
- Mở các chuyên đề chuyên sâu về các môn học .
11
Sáng kiến kinh nghiệm
Tên đề tài:
“ CÁCH TÌM MẪU SỐ CHUNG NHỎ NHẤT”
Người thực hiện: Tổ khối chuyên môn 4, 5 – Lê Ngọc Loan.
Trường Tiểu học Lương Thế Vinh – Thò Xã – Tây Ninh.
PHẦN A: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Giai đoạn cuối của bậc tiểu học có nhiệm vụ hoàn thành yêu cầu phổ cập
tiểu học giáo dục cho trẻ em. Vừa tạo cơ sở cho trẻ em có thể tiếp tục lên trung
học, vừa chuẩn bò kiến thức, kỹ năng…. cần thiết để các em bước vào cuộc sống. Do
đó, ở giai đoạn này, việc dạy và học các môn vừa phải quan tâm đến việc hệ thống
hoá, khái quát hoá các nội dung học tập, vừa phải chú ý đáp ứng nhu cầu của cuộc
sống để học sinh dễ dàng thích nghi hơn khi bước vào đời.
Số học là môn học có tác dụng lớn trong việc rèn tư duy logic và sáng tạo cho
học sinh cấp tiểu học lớp 1,2,3, số học chỉ dạy cho học sinh đọc ,viết số tự nhiên
nhưng đến năm 1994 chương phân số đã đưa vào lớp 4 đòi hỏi học sinh phải biết
đọc, viết, so sánh các phân số, quy đồng các phân số. Học sinh rất bỡ ngỡ khi giáo
viên cho học sinh biết khái niệm về phân số, quả đây là vấn đề quá khó so với trình
độ học sinh. Những năm trước đây một số giáo viên cứ cho rằng lớp 4 chỉ hình
thành cho học sinh biết khái niệm đọc, viết phân số nên một số giáo viên chỉ dạy
12
qua loa không đi sâu vào lónh vực này. Riêng bản thân cho rằng nếu học sinh không
nắm vững được chương phân số thì sau này lên lớp trung học sẽ gặp nhiều khó
khăn.
Xuất phát từ hai đặc điểm trên đây, tôi đã dành một phần thời gian để nghiên
cứu, vận dụng kinh nghiệm về nghiệp vụ sư phạm…. thực hành giảng dạy, qua đó
tìm tòi được những sáng kiến “ Cách tìm mẫu số chung nhỏ nhất”, kinh nghiệm dạy
một phần kiến thức này cho học sinh lớp 5 của trường tiểu học Lương Thế Vinh –
Thò Xã – Tây Ninh.
2/ ĐỐI TƯNG NGHIÊN CỨU
Tôi chỉ tập trung nghiên cứu việc “ Cách tìm mẫu số chung nhỏ nhất”, thông
qua chương phân số ở khối lớp 4, 5
3/ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Do trình độ và thời gian có hạn nên tôi chỉ nghiên cứu làm thế nào để giúp
cho giáo viên và học sinh “ Tìm mẫu số chung nhỏ nhất” để đạt hiệu quả trong tiết
dạy tốt nhất.
Trang 1
Đề tài chỉ được chứng minh thực tế ở lớp 5A đang dạy trong tổ, chứ chưa
thực hiện đại trà cho tất cả học sinh đang học ở khối lớp 4,5.
4/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Để đạt được nhiệm vụ mà đề tài đưa ra. Khi nghiên cứu phải biết vận dụng
các phương pháp nghiên cứu khoa học thì đề tài mới đạt được kết quả cao. Vì thế
tôi vận dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp đọc tài liệu
- Phương pháp đàm thoại
- Phương pháp trò chuyện
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp thử nghiệm
PHẦN B: NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận:
a) Cơ sở toán học:
Số học là khoa học về các tập hợp số: tập hợp số tự nhiên, tập hợp số
nguyên…
Các tập hợp số được nghiên cứu dưới quan điểm cấu trúc, tức là:
- Trong tập hợp số xác đònh thì có những phép toán nào?
- Các phép toán này có những tính chất gì?
+ Phép cộng và phép nhân có tính chất giao hoán và tính chất kết hợp.
+ Phép cộng và phép nhân có tính chất phân phối đối với phép cộng
13
( 3 + 5 ) x 2 = ( 3 x 2 ) + ( 5 x 2 )
- Trong tập hợp các số tự nhiên phép trừ và phép chia không phải bao giờ
cũng thực hiện được. Ví dụ:
+ Không có số tự nhiên nào là kết quả của phép trừ ( 5 – 8 ).
+ Không có số tự nhiên nào là kết quả của phép chia ( 5 : 8 ), người ta xết
tập hợp các số tự nhiên vào một loại cấu trúc đại số. Những nội dung về phân
số được giới thiệu là những vấn đề cơ bản nhằm giúp học sinh hiểu biết về loại
“ số” mới trên tập hợp các “ số” này có các phép toán, mở rộng các phép toán
các số tự nhiên. Chương phân số lớp 4,5 được thiết kế nhằm giúp cho học sinh
hình thành những kiến thức kỹ năng cơ bản như: đọc, viết phân số, so sánh các
phân số có cùng mẫu số a/b ( b # 0 ), quy đồng mẫu số các phân số…
b) Cơ sở tâm lý: Học sinh tiểu học nhận thức bằng tri giác, bằng cảm tính
và tổng thể nên dạy cần có dụng cụ để học sinh hình thành phân số và quy
đồng phân số.
Trang 2
c) Cơ sở giáo dục: Dạy phân số chính là dạy số hữu tỉ không âm ( khái
niệm, so sánh, quy đồng…) nhưng vì lý do sư phạm ở tiểu học ta dùng thuật ngữ
phân số.
Ở trung học cơ sở, học sinh sẽ được học cách quy đồng mẫu số chung bé
nhất, nhưng ở bậc tiểu học lại không đề cập đến cách quy đồng này.
Vậy làm cách nào để giúp học sinh có thể tìm được mẫu số chung bé nhất
khi quy đồng mẫu số các phân số đó?
2. Cơ sở thực tiễn:
Trong chương trình phân số của môn toán lớp 4, 5, học sinh được học bài “
Quy đồng mẫu số các phân số”. Bài học này giúp cho việc so sánh, cộng, trừ các
phân số dễ dàng hơn.
Khi luyện tập, nếu áp dụng theo qui tắc trong sách giáo khoa thì học sinh sẽ
lúng túng khi phải quy đồng nhiều phân số mà kết quả của chúng là những phân số
có tử số và mẫu số là những số lớn.
Ví dụ:
Quy đồng mẫu số các phân số sau:
7
15
,
2
3
và
5
6
Hay: Quy đồng các phân số sau đây sao cho mẫu số chung của nó bé nhất
7
8
,
6
15
và
7
12
14
3. Nội dung đề tài “Cách tìm mẫu số chung nhỏ nhất” ở khối lớp 5:
Theo sách giáo khoa hiện nay, có hai trường hợp để quy đồng mẫu số:
a/ Trường hợp tổng quát:
Quy tắc:
Muốn quy đồng mẫu số hai phân số, ta làm như sau:
- Lấy tử số và mẫu số của phân số thứ nhất nhân với mẫu số của phân số thứ
hai.
- Lấy tử số và mẫu số của phân số thứ hai nhân với mẫu số của phân số thứ
nhất.
Ví dụ:
Quy đồng mẫu số hai phân số sau:
7
10
và
3
8
Ta có:
7
10
=
7 8
10 8
x
x
=
56
80
;
3
8
=
3 10
8 10
x
x
=
30
80
b/ Trường hợp riêng:
Trang 3
Trong một số trường hợp có thể quy đồng bằng cách đơn giản hơn:
Đó là khi mẫu số của phân số này chia hết cho mẫu số của phân số
kia.
Ví dụ:
Quy đồng mẫu số hai phân số
2
3
và
5
6
, ta có thể làm như sau:
Vì 6: 3 = 2 nên
2
3
=
2 2
3 2
x
x
=
4
6
Nói chung, quy tắc quy đồng mẫu số dễ nhớ, dễ thuộc nhưng thường dẫn đến
các phân số tử số và mẫu số là những số lớn.
Ví dụ:
Quy đồng mẫu số các phân số sau:
7
15
,
2
3
và
5
6
7
15
=
7 3 6
15 3 6
x x
x x
=
126
270
2
3
=
2 15 6
3 15 6
x x
x x
=
180
270
5
6
=
5 15 3
6 15 3
x x
x x
=
225
270
15
Với những bài như ví dụ trên, các em thường mất nhiều thời gian để tính
toán và nếu như thực hiện thêm bước tính cộng trừ, các em sẽ lúng túng rất nhiều
khi rút gọn phân số để kết quả bài tính luôn là phân số tối giản. Do đó, tôi đã nghó
ra cách để hướng dẫn các em tìm mẫu số chung bé nhất theo hai bước sau:
Ta quay lại ví dụ trên:
Quy đồng mẫu số các phân số:
7
15
;
2
3
và
5
6
Cách thực hiện:
Bước 1: Chọn mẫu số lớn nhất là 15, lần lượt gấp lên 2,3,4,….lần cho đến khi
được một số chia hết cho các mẫu số còn lại 3 và 6
15 x 2 = 30
30 chia hết cho 3 và 6
Vậy chọn mẫu số chung là 30
Bước 2: Thực hiện tìm các phân số bằng nhau với mẫu số chung là 30
7
15
=
7 2
15 2
x
x
=
14
30
;
2
3
=
2 10
3 10
x
x
=
20
30
;
5
6
=
5 5
6 5
x
x
=
25
30
Vậy là ta đã quy đồng mẫu số các phân số trên với mẫu số chung bé nhất là
30
Các ví dụ khác:
Quy đồng mẫu số các phân số sau:
Trang 4
3
4
,
5
6
,
7
8
Bước 1: Chọn mẫu số lớn là 8 đem gấp lên 2,3,4…………lần
8 x 2 = 16 ( loại vì 16 chia hết cho 4 nhưng không chia hết cho 6 )
8 x 3 = 24 ( chọn vì 24 vừa chia hết cho 4 lại vừa chia hết cho 6 )
Bước 2: Tìm các phân số bằng nhau với mẫu số chung là 24
3
4
=
3 6
4 6
x
x
=
18
24
;
5
6
=
5 4
6 4
x
x
=
20
24
;
7
8
=
7 3
8 3
x
x
=
21
24
Ví dụ :
Quy đồng mẫu số các phân số sau :
3
7
;
5
12
và
4
21
Bước 1:
21 x 2 = 42 ( loại vì 42 chia hết cho 7 nhưng không chia hết cho 12 )
21 x 3 = 63 ( loại vì 63 chia hết cho 7 nhưng không chia hết cho 12 )
21 x 4 = 84 ( chọn 84 vừa chia heat cho 7 vừa chia heat cho 12 )
Bước 2:
16
3
7
=
3 12
7 12
x
x
=
36
84
;
5
12
=
5 7
12 7
x
x
=
35
84
;
4
21
=
4 4
21 4
x
x
=
16
84
Vì vậy, muốn quy đồng mẫu số các phân số được đúng và nhanh, học sinh
phải nắm vững các bước khi quy đồng mẫu số, phải biết vận dụng các trình tự đặt
biệt để nhanh chóng tìm ra mẫu số chung. Nhưng khi nào học sinh sẽ áp dụng được
quy tắc, khi nào sẽ gấp mẫu số lớn lên nhiều lần? Đó cũng là điều quan trọng
không kém.
Học sinh phải biết nhận dạng các phân số cần quy đồng.
1) Với các phân số mà mẫu số của chúng không cùng chia hết cho một số nào
cả thì áp dụng theo quy tắc của sách giáo khoa.
Ví dụ:
Quy đồng mẫu số các phân số sau:
3
5
và
2
7
hoặc
5
9
và
4
11
( 5 và 7 không cùng chia hết cho số nào cả, 9 và 11 cũng không cùng chia hết
cho số nào )
2) Với các phân số mà mẫu số này chia hết cho mẫu số kia thì các em lấy mẫu số
lớn làm mẫu số chung.
Ví dụ:
5
7
và
3
14
MSC là 14 ( vì 14 chia hết cho 7 )
5
9
và
11
18
MSC là 18 ( vì 18 chia hết cho 9 )
3) Với các phân số mà mẫu số của hai phân số cùng chia hết cho một số
nào đó thì sẽ chọn mẫu số lớn nhất gấp lên nhiều lần.
Ví dụ:
Quy đồng mẫu số các phân số sau:
a/
7
10
và
3
8
MSC là 40
( vì 40 cùng chia hết cho 10 và 8 )
b/
7
18
;
6
15
và
7
12
MSC là 180
( vì 180 cùng chia hết cho 18, 15 và 12 )
c/
3
7
;
5
12
và
4
21
MSC là 84
( vì 84 cùng chia hết cho 7, 12 và 21 )
4. Kết quả:
17
Qua các ví dụ và các tiết học sau ( cộng, trừ, so sánh phân số ) với các bước
thực hiện như trên. Trong khối lớp tôi trên 80 % số học sinh biết áp dụng thuần thục
quy đồng mẫu số với cách chọn mẫu số chung bé nhất. Nhờ đó, học sinh tính toán
các phép tính cộng, trừ và so sánh phân số hoặc giải các bài toán với kết quả là
những phân số tối giản một cách nhanh chóng và dễ dàng, đỡ tốn nhiều thời gian.
5. Hạn chế:
Tuy nhiên vẫn còn vài em do khả năng tính toán, nhẩm, ước lượng còn chậm,
chưa biết cách nhận dạng để tìm cách quy đồng cho nhanh mà chỉ đơn thuần áp
dụng theo quy tắc của sách giáo khoa.
Cụ thể Só số Vận dụng tốt Còn chậm
Đầu năm 48 em/ 2 lớp 38 em 10 em
Hiện nay 48 em/ 2 lớp 46 em 2 em
PHẦN C: KẾT LUẬN
Tóm lại, quá trình dạy học là một quá trình hoạt động song phương của thầy
và trò nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy và học.
Quá trình này chỉ có thể đạt hiệu quả cao khi cả thầy và trò cùng tích cực, chủ
động, sáng tạo, tìm tòi nhanh nhạy giúp các em tìm thêm các cách giải khác ngắn
gọn hơn sẽ tạo niềm hứng thú say mê học toán và đỡ mất thời gian cho cả thầy và
trò.
Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ trong công tác giảng dạy. Tôi
mong được học tập thêm ở các bạn đồng nghiệp.
Trang 6
18
19