Trường Đại học sư phạm Hà Nội
Khoa Nghệ thuật
Đề tài nghiên cứu khoa học
TÌM HIỂU VỀ CHẤT LIỆU SƠN DẦU
VÀ CÁCH SỬ DỤNG SƠN DẦU TRONG HỘI
HỌA
Họ và tên học viên: Phạm Quốc An
Lớp Mỹ thuật – khóa 1,hệ tại chức – Cần Thơ
Giảng viên: TS – Nguyễn Thu Tuấn
Cần Thơ - 2013
LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian học tập và được hướng dẫn tận tình của Thầy Nguyễn
Thu Tuấn
tôi cảm thấy mình có vốn kiến thức và sự hiểu biết nhất định để có thể làm
một bài tiểu luận về môn nghiệp vụ sư phạm, tôi vô cùng cảm ơn thầy đã giúp
tôi có sự hiểu biết và tự tin để tôi có thể hoàn thành đề tài: “Tìm hiểu về chất
liệu sơn dầu và cách sử dụng sơn dầu trong hội họa”
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là hoàn toàn của chính
mình và không sao chép và trùng lặp với bất cứ đề tài khoa học nào đã được
công bố trước đây.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của chính mình.
Tác giả tiểu luận
Phạm Quốc An
MỤC LỤC
Lời cả ơn
Lời cam đoan
Mục lục
A. PHẦN MỞ
ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Mục đích nghiêng cứu
3. Nghiệm vụ nghiên cứu
4. Giả thiết khoa học
5. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
7. Các phương pháp nghiên cứu
8. Đóng góp mới của đề tài
9. Cấu trúc đề tài
B. NỘI
DUNG
CHƯƠNG 1 : NGUỒN GỐC
VÀ ĐẶC ĐIỂM CHẤT LIỆU SƠN DẦU
1.1. Nguồn gốc và sự phát triển của chất liệu sơn dầu
1.2. Đặc điểm chất liệu sơn dầu
CHƯƠNG 2 : CÁCH SỬ DỤNG CHẤT LIỆU SƠN DẦU
2.1. Nguyên tắc cơ bản khi sử dụng chất liệu sơn dầu
2.2 cách sử dụng chất liệu sơn dầu
CHƯƠNG 3: GIÓI THIỆU MỘT SỐ TÁC GIẢ CHUYÊN VẼ SƠN
DẦU VÀ CÁC TÁC PHẨM SƠN DẦU TIÊU BIỂU
3.1. Giới thiệu một số tác giả chuyên vẽ sơn dầu (trong nước)
3.2. Giới thiệu và phân tích một số tác phẩm tiêu biểu
C. KẾT LUẬN
1. Kết luận
2. Kiến nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
- Trong nhiều năm qua, nước ta chuyển mình trong công cuộc
đổi mới sâu sắc toàn viện, từ một nền kinh tế tập chung bao cấp chuyển sang
nền kinh tế nhiều thành phần. Từ đó sự phát triển của nền nghệ thuật cũng đã
dần phát triển theo công cuộc đổi mới của đất nước. Chính vì vậy cho nên
chúng ta có rất nhiều thành tựu trong nền nghệ thuật cũng như về chất liệu,
đặc biệt là chất liệu sơn dầu chiếm vị trí quan trọng trong nền mỹ thuật hiện
đại.
- Sơn dầu là một chất liệu với sự phong phú về bảng màu, khả
năng vẽ và cảm xúc cao. Từ đó, sơn dầu được phổ biến rộng rãi đươc dùng
phổ biến hầu hết các nước trên thế giới trong dó có Việt Nam. Có thể nói,
việc hoàn thiện chất liệu sơn dầu là một cuộc cách mạng kỹ thuật lớn, làm
chuyển biến và nâng cao nghệ thuật vẽ tranh.
- Để sử dụng thành công, có hiệu quả chất liệu sơn dầu không hề
dễ dàng. Chính vì thế, chúng tôi muốn đưa ra cách sử dụng chất liệu này để
nhiều sinh viên, học viên mĩ thuật như chúng tôi có thể tham khảo để sử dụng
có hiệu quả chất liệu sơn dầu này.
- Kỹ thuật sử dụng chất liệu sơn dầu xuất phát từ những lý do trên là
một người nằm trong nghệ thuật, tôi mạnh dạn chọn đề tài này để làm bài
nghiên cứu khoa học.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
- Nghiên cứu về kỹ thuật vẽ tranh sơn dầu.
- Nghiên cứu các tác phẩm hội họa được vẽ bằng chất liệu sơn
dầu.
- Qua đó để giới thiệu cho các sinh viên tham khảo nguồn tài liệu
này.
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
3.1. Tìm hiểu về nguồn gốc và sự phát triển của chất liệu sơn dầu.
3.2. Tìm hiểu về kỹ thuật sử dụng chất liệu sơn dầu.
3.3. Tìm hiểu một số tác phẩm chuyên vẽ sơn dầu.
4. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
4.1. Khách thể nghiên cứu.
- Chất liệu sơn dầu.
4.2. Đối tượng nghiên cứu.
- Các tác phẩm hội họa vẽ bằng chất liệu sơn dầu.
5. GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
5.1. Giới hạng nghiên cứu
- Nghiên cứu kỹ thuật sử dụng chất liệu sơn dầu
- Nghiên cứu các tác phẩm hội họa vẽ bằng chất liệu sơn dầu
5.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Trong khuông bài tiểu luận, đề tài chỉ giới hạn tìm hiểu về kỹ
thuật vẽ tranh sơn dầu của một số họa sĩ và tác phẩm tiêu biểu của Việt Nam
từ xưa đến nay.
6. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC.
- Nếu người vẽ nắm được cách vẽ về chất liệu sơn dầu thì ta có
thể vẽ được tranh sơn dầu thành công.
7. CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu các tài liệu liên
quan đến chất liệu sơn dầu, kỹ thuật sử dụng sơn dầu.
- Phương pháp phân tích: Sơn dầu là một họa phẩm được làm từ
các sắc tố dưới dạng bột, nghiền kĩ, được trộn với dầu lanh tao thành
sơn dầu có tính chất không thấm nước, dẻo và bền với thời gian.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp quan sát: Quan sát một số buổi vẽ sơn dầu ở
trường CĐCT để bổ sung cho phương pháp điều tra.
- Phương pháp điều tra:
+ Đối tượng điều tra: Các học viên – sinh viên mỹ thuật ở các
trường .
+ Địa bàn điều tra: Các trường VHNT – CĐCT trong quận
Ninh Kiều.
+ Nội dung điều tra: Xem cách sử dụng chất liệu sơn dầu của
sinh viên qua các buổi vẽ trên lớp
7.3.Phương pháp thực nghiệm:
- Sau phương pháp điều tra tôi dùng sơn dầu pha với dầu
lanh vừa phải thì bức tranh sơn dầu mượt hơn không bị nứt so
với dùng ít dầu lanh, nhưng dùng dầu lanh pha với màu sáng sẽ
làm cho màu sáng có màu vàng sậm, vì vậy sử dụng dầu thông sẽ
làm cho màu sáng rực và mau khô hơn dầu lanh.
7.4.Phương pháp nghiên cứu chuyên gia:
- Trong quá trình nghiên cứu về chất liệu sơn dầu tôi có
gặp và trao đổi với một vài giảng viên có kinh nghiệm vẽ tranh
bằng chất liệu sơn dầu đã tư vấn cho tôi về cách vẽ sơn dầu.
7.5. Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm:
- Sơn dầu rất đắc, nhưng tính chất nó rất đặc biệt không
thấm nước, rất bền với thời gian. Khi vẽ sơn dầu không nên nóng
vội, sơn dầu có rất nhiều loại, màu sắc cũng khác nhau nhưng
mọi thứ đều có ưu và nhược điểm riêng.
- Qua đó tôi đã đúc kết được những kinh nghiệm khi vẽ
sơn dâu không được nóng vội sử dụng dầu thông thay thế cho
dầu lanh sẽ đạt được hiệu quả cao hơn.
8. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Sự xuất hiện của sơn dầu đã giúp cho nền nghệ thuật phát triển
hơn.Về chất liệu cũng như về màu sắc đẹp và bền vững hơn. Vì vậy sơn dầu
sẽ được sử dụng như một chất liệu không thể thiếu cho nền mỹ thuật, từ đó sẽ
nâng cao chất lượng của nghệ thuật vẽ tranh trong thực tại.
9. CẤU TRÚC ĐỀ TÀI
-Ngoài phần mở đầu và kết thúc, đề tài nghiên cứu của tôi gồm có
ba chương, đó là:
-Chương 1: Nguồn gốc và đặc điểm chất liệu sơn dầu
- Chương 2: Cách sử dụng chất liệu sơn dầu
-Chương 3:Giới thiệu một số tác phẩm chuyên vẽ sơn dầu và các
tác phẩm sơn dầu tiêu biểu.
- Ngoài ra, ở cuối đề tài còn có phần phụ lục và tài liệu tham khảo.
B. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
CHƯƠNG 1: NGUỒN GỐC VÀ ĐẶC ĐIỂM CHẤT LIỆU SƠN DẦU
1.1. Nguồn gốc và sự phát triển của chất liệu sơn dầu.
1.1.1. Nguồn gốc của chất liệu sơn dầu.
Từ xa xưa, khi băt đầu biết vẽ, con người đã co chủ ý tìm kiếm những
chất
liệu tốt để vẽ và mong tranh co mau sắc đẹp bền vững. Ngay từ thòi
cổ đại,
con người dùng màu trọn vói dầu để vẽ, nhưng chất liệu lúc này vẫn
rất thô
sơ, còn nhiều nhược điểm và hạn chế. Trãi qua thời gian nhiều thế hệ
họa sĩ
đã dày công tìm tòi nguyên liệu, mày mò tự chế ra sơn vẽ.
Nhưng phải đến thời anh em họa sĩ Van Eyck ( Khoảng 1390-
1441)
họ mới có thành công lớn trong việc hoàn thiện và phát triển kỹ thuật
vẽ sơn
dầu đến thời kỳ này đã trong trẻo tươi sáng hơn, có độ bóng
đẹp,không thấm
nước, bền vững và chịu được thử thách của thời gian.
Từ đó, sơn dầu được sử dụng rộng rãi, được dùng phổ biến ở
hầu hết
các nước trên thế giới. Có thể nói, việc hoàn thiện chất liệu sơn dầu là
một
cuộc cách mạng kỹ thuật lớn, làm chuyển biến và nâng cao nghệ thuật
vẽ
tranh của thế giới.
1.1.2. Sự phát triển của chất liệu sơn dầu.
Trong lịch sử mĩ thuật thế giới,từ thế kỉ thứ XI hội họa sơn dầu co
địa vị rất quan trọngTrong lịch sử mỹ thuật thế giới, từ thế kỷ XI
hội họa sơn dầu giữ địa vị rất quan trọng, là vinh quang của nền mỹ
thuật. Thời phục hưng, các nghệ sĩ ra sức học tập tinh hoa của mỹ
thuật quá khứ. Họ nghiên cứu, thể nghiệm, khám phá, sáng tạo.
Đồng thời những phát minh sáng chế của các bộ môn khoa học khác
được các nghệ sĩ tiếp nhận. Điều đó có lý do của sự hoàn thiện chất
liệu mới là sơn dầu.
lúc đầu người ta cho sự phát minh ra sơn dầu là của anh em nhà
hoạ sĩ Uy - be - rơ (Hubert) và Giăng - Van - Êch (Jean Van
Eyck) ở xứ Phơ - La - măng (Flamand), nhưng từ thời cổ đại
người Hy lạp và Ai cập đã tìm cách trộn màu với dầu để vẽ tranh.
Nhưng chất liệu này có nhược điểm là chất dầu khô, khi vẽ muốn
sửa chữa chỗ nào phải đợi rất lâu mới tiếp tục được. Đã thế sơn
lại chảy, không thể vẽ dầy và khó giữ được nét vẽ theo nh ý
muốn. Theo Xe-ni-nô, Xê - ni - ni (hoạ gia ý thế kỷ 14) thì sơn
dầu của người Đức có cải tiến đôi chút, nhưng không nói rõ cách
chế hoá. Tài liệu “Truyền thống kỹ thuật hội hoạ” cho biết vào
thế kỷ 14 ở áctoa và Noocmăngđi đã có những bức tranh trang trí
vẽ bằng sơn dầu.
Nhưng chắc chắn là phải đợi đến đầu thế kỷ 15 vào khoảng năm 1410
ở xứ Phơ - La - măng anh em hoạ sĩ Uy - be - rơ và Giăng - Van - Êch
mới tìm ra chất dầu thích hợp để hoàn thiện sơn dầu. Theo phỏng
đoàn của Mô - rô Vô - chi - ê (Moreau Vauthier), anh em Van - Êch
đã tìm ra dầu quang nhờn chế hể phách và mastic, còng có thể là một
chất nhựa Sandaraque có pha thêm chất Siccatif lấy ở kẽm Sun pha
trắng (Couperose blanche) hoặc ở xương đốt thành tro. Chất dầu do
anh em Van - Êch tìm ra hơn hẳn trước, màu không bị biến chất, để
tạo những hoạ sắc mới. Hoạ sĩ sử dụng vẽ tranh một hơi và thuận tiện
chứ không phải đợi nh trước đây. Đây là một đóng góp rất lớn, là
bước ngoặt quyết định thắng thế trong kỹ thuật, mày nghiền với dầu
để hoạ sĩ sử dụng thuận tiện trong nghiên cứu, sáng tác và sơn dầu đã
thực sự giữ vai trò quan trọng trong hội hoạ.
Nh thế trước thế kỷ 15 sử dụng sơn dầu còn nhiều bất tiện. Việc dùng dầu
thường chỉ ở phạm vi quang phủ hoặc trộn màu với dầu còn thô sơ, các
màu Ý pha trộn với nhau bởi sự tác động qua lại giữa màu với dầu có
nhiều chỗ chưa thích hợp. Việc anh em Van - Êch làm cho sơn dầu hoàn
thiện và những sáng tác của họ làm bằng cứ đã khẳng định từ đó trở đi sơn
dầu thực sự là chất liệu chính, đưa hội hoạ châu Âu tiến xa hơn trước rất
nhiều. Kỹ thuật chế sơn dầu tuy được giữ bí mật nhưng rồi còng nhanh
chóng được lan truyền bởi những khát vọng và mong muốn của nhiều
danh hoạ.
từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 17 các hoạ sĩ chủ yếu tự mình tạo ra sơn dầu.
Những màu bền chắc chủ yếu lấy từ khoáng chất. Biết rõ tính chất của
nguyên liệu, nên các hoạ sĩ rất thận trọng lựa chọn bột màu để nghiền sơn
cho bảo đảm. Công việc chế màu được làm tại xưởng hoạ, theo những
kinh nghiệm và cách thức đã được thử thách của các danh hoạ đi trước. ở
Ăngver người ta còn giữ lại những phiến cẩm thạch, chày, cối đá và chiếc
rương đựng những nguyên liệu chế màu của Pol Rubenx. Đến thế kỷ 18,
công nghiệp phát triển, có những hàng sơn dầu đựng vào ống thiếc và
đóng hộp. Hoạ sĩ mua về dùng rất tiện. Tuy vậy cũng có những trường hợp
dầu không được tinh khiết, hoặc bột màu có pha hoá chất hoặc trục trặc
máy móc nghiền không kỹ và sơn dầu có thể không tốt.
Sau khi chế được sơn dầu, Van - Êch dùng sáng tác ngay, mở đầu mét giai
đoạn mới trocủa Van - Êch (1386-1441) được ví là tác phẩm đầu tay quan
trọng, làm cho các hoạ sĩ bấy giờ thán phục.
Sơn dầu từ Phơ - La - măng lan truyền nhanh sáng ý, nhờ sự tích cực
của Antônellô đờ Mexinee. Sau đó sơn dầu ngày càng lan rộng ở châu
Âu. Nghệ thuật sơn dầu ra đời gắn liền với ý tưởng thẩm mỹ mới của
chủ nghĩa nhân văn, thời kỳ đang lên của chủ nghĩa tư bản. Vai trò tích
cực của cá nhân được khẳng định. Trong xã hội có nhiều chuyển biến
lớn, với những vấn đề phức tạp. Những xung đột trong cuộc sống luôn
xảy ra. Sơn dầu ra đời thích ứng ngay với nhu cầu của thời đại. Bởi vậy
sơn dầu đã đề cập nhiều đề tài phức tạp của hiện thực. Sơn dầu bắt đúng
thời đại và phát triển rất rực rỡ với nhiều tác phẩm tuyệt tác của nhiều
danh hoạ xuất chúng.Vào thập niên 1920,người Pháp đã xây dựng khá
hoan chỉnh nền hành chính của họ trên đất Việt Nam. Người Việt Nam
muốn hiểu nền văn minh phương Tây và phải đối phó với nó, nên đã
hăm hở đoán nhận các trường xây dựng khá hoàn chỉnh
Sự thành lập trường Cao Đẳng Mĩ Thuật Đông Dương tại
Hà
Nội vào năm 1925 có ảnh hưởng lớn vào đời sống văn hóa Việt Nam vì một
sốlý do sau. Trước hết trường mĩ thuật Đông Dương là một trường mĩ thuật
đầu
tiên nó trở thành mà tài năng có hể được khám phá, đào tạo và nun đúc. Kế
tiếp
nhà trường này mang lại cung cánh mới để diễn đạt trong mĩ thuật, nhất là
một
đất nướcmà hội họa trước đó không phải là một ngành nghệ thuật phát triển.
Trường Cao Đẳng Mĩ Thuật Đông Dương thành lập ra một
truyền
thống mới trong mĩ thuật, đó là nền mĩ thuật mới. Cuối cùng, không kém
phần
quan trọng, sự thành lập của trường, cùng với sự phát triển của chữ quốc ngữ,
thể hiện sự khao khat canh tân của xã hội.
Victor Tardieu ( !870-1937), hiệu trưởng đầu tiên của Trường Cao
Đẳng
Mĩ Thuật Đông Dương, đã xây dựng chương trình học của trường trên
khuông
mẫu của L’ Ecole dé Beauux Arts tại Paris, và mang theo ảnh hưởng của chủ
nghĩa Ấn Tượng pháp vào Việt Nam vói môt lòng nhiệt thành đối với nghề
nghiệp và đối với sinh viên. Họa sĩ Victor Tardieu đã mang một cách nhìn
hoàn
toàn mới lạ và đầy sáng tạo về hội họa tới sinh viên Việt Nam. Khác hẳn với
lối
vẽ khi đó của các nghệ nhân Việt Nam, khi đó bị hoàn toàn giới hạn sau lũy
tre làng: Không xa hơn cấc tác phẩm Đông Hồ, hoặc tranh Háng Trống.Họa
sĩ
Việt Nam trước khi có sự ra trường Cao Đẳng Mĩ Thuật Đông Dương chỉ
thuần sáng tác bằng trí tưởng tượng và cọ vẽ là bút lông chấm mực tầu. Các
tác phẩm gần như không có sự khác biệt của mỗi cá nhân, nên không có
chuyện kí tên sau khi hoàn thành bức vẽ.
Bằng nhiệt tâm và yêu mến nghệ thuật, họa sư đã khuyến khích
các
sinh viên mĩ thuật Việt Namkhi đó hãy tim một hướng đi mới cho riêng mình.
Dựa vào kĩ thuật Tây phương, nhưng đừng quên bản sắc của từng văn hóa
truyền thống. Nhờ sự chỉ dạy tận tâm và khuyến khích, theo sat học trò mình,
mà ông đã như một thanh đòn bẫy, đưa lên đỉnh cao của hội họa Việt Nam
những tên tuổi như: Nguyễn Phan Chánh đặc sắc về tranh lụa, Tô Ngọc
Vân đặc sắc về tranh sơn dầu Cái thần của Victor Tardieu là gạch nối của
sự
kết hợp Đông –Tây trong hội họa của Việt Nam khi đó.
Người đồng sáng lập với Victor Tardieu là họa sĩ Nam Sơn, tên
thật là Nguyễn Văn Thọ (1890-1973) được giử sang Paris để học mĩ thuật một
năm trước khi về lại Việc Nam khi giảng dạy tại trường. Trong thời gian ở
Paris, Nam Sơn chắc đã tận mắt cảm nhận được hội họa Ấn Tượng ở
Pháp.Năn 2002 có một cuộc tranh luận ở Hà Nội trên báo chí về việc khôi
phục vai trò của Nam Sơn trong việc hình thành trường Cao Đẳng Mĩ Thuật
Đông Dương. Điều chắc chắn là sự phối hợp giữa người Pháp và một người
bản xứ dựa trên tinh thần yêu chuộng nghệ thuật rất cần thiết cho việc hình
thành một ngôi trường mà mục đích xem ra chỉ lợi cho người Việt mà thôi.
Ngoài tác phẩm sơn dầu đầu tiên được lưu trữ tại bao tàng Mỹ
thuật Hà nội do họa sĩ Lê Văn Miến sơn dầu được chính thức giowis thiệu vào
Việt Nam qua trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương vào năm 1925.Tô
Ngọc Vân (1906-1945) được nhiều sử gia mỹ thuật xem như bật thầy trong
việc xử lý chất liệu này. “Thiếu nữ bên hoa huệ” (1943) trình bài vẻ đẹp của
phụ nữ Việt Nam trong thời đại bấy giờ, một phụ nữ thành thị trong chiếc áo
dài. Cô ngồi tựa lưng vào ghế, đầu nghiên nghiên e lệ, vừa thướt tha, vừa gọi
cảm.
Trong giai đoạn (1930-1940), văn chương và mỹ thuật có mối
quan hệ với nhau. Rất nhiều họa sĩ cũng đồng thời là nhà văn, nhà soạn nhạc
và nhà thơ. Phong trào thơ mới cho chủ nghĩa lãng mạn trong văn chương
được tầng lớp thị dân đoán tiếp nồng nhiệtđã ảnh hưởng đến mỹ thuật. Những
đề tài lãng mạn được thể hiện trong tranh rất nhiều. Nhóm Tự Lực Văn Đoàn
và những tác phẩm do nhóm này xuất bản đã có tác động rất lớn trong việc
thay đổi tư tưởng và văn hóa của Việt Nam, chẳng hạn như việc giải thoát cá
nhân ra khỏi không khí ngột ngạt của những lễ giáo và nghĩa vụ phong kiến.
Chính trong bối cảnh xã hội và thẩm mỹ như các họa sĩ Việt Nam đã bắt đầu
vào giới nghệ thuật.
Hội họa hiện đại của Việt Nam thực sự có đường hướng riêng,
cũng như vững chắc hơn với bút pháp của từng họa sĩ,đặc biệt là sự ra
đời của tranh sơn dầu ở Việt Nam, một thể loại quan trọng bậc nhất
và được xem là chính thống trong lĩnh vực nghệ thuật tạo hình.
Nhưng chất liệu sơn dầu của Việt Nam trai qua bốn giai đoạn
hinh thành và phát triển
1.2.Đặc điểm của chất liệu tranh sơn dầu
1.2.1. Ưu và nhược điểm của chất liệu tranh sơn dầu
1.2.1.1.Ưu điểm của chất liệu tranh sơn dầu
Các họa sĩ hay người vẽ tranh chuyên nghiệp hay dùng
chất liệu sơn dầu để vẽ vì nó có những ưu điểm sau:
Tranh sơn dầu có thể vẽ trên nhiều chất liệu khác nhau như: Vải , bố, gỗ,
giấy, nhựa Có độ bền và giữ được màu sắc vĩnh viễn không phai theo thời
gian.
Khi vẽ tranh sơn dầu tranh sơn dầu lâu khô,trong thời gian chờ sơn dầu khô
thì người họa sĩ có thời gian để suy nghĩ, tìm tòi những nét sắc bén,và tong
màu cho tranh. Chúng ta thường bảo là "gửi gấm tâm hồn" Do vậy thời
gian để hoàn thành 1 bức tranh thường thì không cần nhắc đến, ai cũng dư
biết là rất lâu. Đôi khi có những bức tranh kéo dài vài tháng vài năm. Thật sự
ra người ta chỉ quan tâm đến kết quả của bức tranh.
.Tranh sơn dầu có độ mịn rất cao các họa sĩ có thể dễ dàng pha trộn, chất
liệu này danh cho người vẽ nằm trong giới chuyên môn.
1.2.2.2. Nhược điểm của chất liệu sơn dầu.
Ngoài những ưu điểm của chất liệu sơn dầu, sơn dầu cũng có những nhược
điểm của nó. Sơn dầu thường quá đắt tiền người sử dụng nó cần phải tốn
nhiều tiền, ngoài ra sơn dầusử dụng rất khó khi pha sơn dầu với dầu lanh hoặc
xanh thì màu dầu giảm đi, màu sẽ khô nhanh hơn. Ngươc lại nếu pha với dầu
lanh thì chất dầu tăng lên nhưng sẽ khô chậm hơn. Bởi vậy,nếu nét vẽ trước
dùng màu trộn với dầu lanh và những nét đè lên lại dùng pha với xăng dầu
thông thì phần đè lên trên sẽ khô trước trong khi đó phần màu lớp dưới chưa
khô và đó cũng chính là nguyên nhân gây ra những vết nứt cho bai sơn dầu.
CHƯƠNG 2: CÁCH SỬ DỤNG CHẤT LIỆU SƠN DẦU
2.1. Nguyên tắc cơ bản khi sử dụng chất liệu sơn dầu.
2.1.1. Sử dụng ánh sáng trong chất liệu sơn dầu
Điều quan trọng nhất cần để vẽ tranh vẽ chất liệu sơn dầu đó
chính là ánh sáng. Ánh sáng khiến cho người ta nhìn được cái lõm của sự vật.
Chính ánh sáng giúp ta phân biệt được cái thân cây sù xì khác với mặt hồ
phẳng lặng. Trước khi kết thúc bài này, xin nhắc lại vài quy luật chung mà
phần lớn là liên quan đến ánh sáng.
Điểm sáng nhất trong bóng râm cũng không sáng bằng điểm tối nhất
chường ra ánh sáng. Hay nói ngược lại điểm tối nhất của vùng chường ánh
sáng cũng vẫn sáng hơn điểm sáng nhất trong bóng râm. Hãy để một vật gì đó
ra ngoài ánh sáng ban chiều hay ban sáng, rồi nhìn vào đó sẽ thấy ngay.
Đối tượng càng xa,càng mờ nhạt,và có màu sắc lạnh hơn. Đối tượng
càng ở gần, có màu ấm hơn và rõ nét. Màu đỏ và màu vàng đó là những màu
nóng nhất. Màu xanh dương là màu lạnh nhất. Khi pha chúng với nhau ta
được những màu trung gian, hoặt hơi ấm, hay hơi lạnh. Một vật ở xa có màu
xanh, ở xa sẽ bớt xanh. Một vật ở gần có màu đỏ ở xa sẽ bớt đỏ
Giữ vùng sáng và vùng tối luôn luôn co vùng có sắc độ
trung gian. Sắc độ trung gian này quan trọng vì nó thường chiếm phần lớn
diện tích của bức tranhvì nó cân bằng được hai đầu. Cần nhận diện ra sắc độ
này và phât họa nó trước tiên. Điều này giúp vẽ bức tranh quá sáng hay quá
tối. Khi vẽ xong mới nhận ra sai lầm này thì đã quá trễ.
.
3.1.2. Sử dụng luật phối cảnh trong chất liệu sơn dầu.
Đường chân trời lá đường chính trong quy luật phối cảnh. Tầm
mắt ta phóng xa sẽ ngừng lại ở đó. Những đường nằm trên đường chân
trời khi chay ra xa sẽ hạ thấp xuống và nhập với nó. Những đường nằm
dưới chân trời khi chạy ra xa sẽ vươn lên cao rồi quy vào đó. Vẽ theo
quy luật phối cảnh sẽ cho búc tranh có chiều sâu. Luật phối cảnh không
bất di bất dịch, nó được nhìn nhiều dạng nhiều hướng,rất phong phú và
tạo nhiều cảm giác ấn tượng. Nó không nhất thiết là đúng theo luật định
mà nó tạo ra bằng con mắt cảm nhận của người họa sĩ bằng cả chất
liệu, màu sắc.
Sơn dầu rất đa dạng, không như màu nước chỉ vẽ
theo kĩ thuật màu nước, sơn dầu có cách vẽ riêng và có thẻ vẽ như màu
nước. Sơn dầu có thể vẽ những cảnh chi âm chí u mà cũng diễn tả được
những cảnh trí rực rỡ. Và sau chót sơn dầu rất bền, bền nhất trong các
loại phương tiện kỹ thuật của hội họa. Những bức tranh thời Leonardo
Da Vinci, với kỹ thuật rất xưa mà vẫn giữ được tới ngay nay, sơn dầu
hiện nay với kỹ thuật pha chế tân tiến chắc còn bền hơn nhiều.
2.2. cách sử dụng chất liệu sơn dầu.
Tranh sơn dầu rất lâu khô. Co thể mất sáu tháng đến một năm mới
khô hoàn toàn. Trong thời gian này, dầu tiếp xúc với không khí từ
từ khô cứng vì ốc xít hóa co lại một chút. Nếu ta vẽ ngược lại, hiểu
là ta dùng dầu thông pha loãng sơn ra và dùng nó vẽ lên lớp sơn
dầu (chưa khô hẳn) như vậy lớp sơn sẽ khô nhanh vì ít dầu hơn.
Khi lớp sơn khô lớp dưới chưa khô hẳn thì nó sẽ làm cho bức tranh
nức nẻ. Bởi vậy khi vẽ sơn dầu ta luôn nhớ nguyên tắc “Sơn vẽ sau
béo hơn sơn vẽ trước”
Có nhiều cách để vẽ sơn dầu.
Từ từ tăng độ dầu trong sơn. Giảm bớt độ dầu trong sơn khi vẽ,
dùng những màu mau khô để vẽ màu nền.
2.2.1 Cách vẽ chất liệu sơn dầu trên sơn ướt
Sơn dầu lâu khô. Người muốn vẽ một bức tranh hoàn thành trong
một lần vẽ, buột phải vẽ ngay trên sơn ướt. Kết quả nhận được khi
vẽ trên sơn ướt khác xa cách vẽ trên sơn khô. Bởi lẽ lớp sơn mới vẽ
có thể trộn với lớp sơn bên dưới và tạo ra nhiều màu trung gian.
Thay vì pha màu trên khay, chúng ta có thể pha màu ngay trên bố
khi vẽ. Cái phiền là một nét vẽ không vùa ý sẽ rất khó sửa. Càng tô
đi vẽ lại nhiều, sơn sẽ nhòe nhoẹt và sau cùng trở thành màu bùng
lầy lội làm cho bức tranh bị dơ, không còn màu nữa.
Cách vẽ trên sơn ướt đòi hỏi người vẽ phải có một số vốn về cách
pha màu sắc. Hình dung ra được phần màu lớp trên pha xuống lớp
màu dưới sẽ ra màu gì.
Cách vẽ nay là con đẻ của trường phái Ấn Tượng. Bắt đầu là
xong không cho người ta cơ hội đi vào chi tiết. Nó cho người
thưởng lãm cái ấn tượng về thị giác chứ không phải về đường né và
hình thể. Cái mỹ thuật này tạo ra rất ngoạn mục. Nó tạo ra cái đẹp
lấp lánh vì màu thứ ba tạo ra là những đóm màu nằm cạnh nhau
chứ không phải luôn luôn trộn với nhau. Và cũng chính vì thế mà
đường cọ phải lướt nhẹ vững vàng và can đảm.
Cao điểm của lối vẽ này là vẽ đấp, dùng cọ hay bay, quệt từng
mảng sơn dầu dầy cộm lên lớp ven sơn còn ướt, hay mảng màu nay
chồng lên mảng màu kia. Lối vẽ đáp có thể được coi là lối vẽ riêng
và dùng kỹ thuật. Có thể sử dụng lối vẽ đắp vào một lúc nào đó, ở
một phần nào đó của bức tranh, sử dụng lối vẽ đắp để vẽ Người ta
khuyên dùng sơn hơi loãng để phác họa chi tiết của bức tranh
trước. Làm như vậy sẽ phủ hết lớp màu trắng của cavas và bức
tranh sẽ thống nhất hơn.
2.2.Cách vẽ chất liệu sơn dầu trên sơn khô
Người ta còn gọi cách vẽ này là cách vẽ theo tầng. Có nhiều người
không thích vẽ thẳng lên lớp sơn bảo vệ vải bố màu trắng, mà phủ
lên một lớp sơn dầu khác trước khi vẽ. Lớp sơn vẽ đầu tiên này
được gọi là lớp sơn nền, hiểu là lớp sơn phủ lên toàn mặt vải bố. Có
nhiều người, nhất là khi vẽ những bưc tranh phong cảnh nhiều chi
tiết, lại dùng một vài màu đơn giản, xám hay nâu miễm là màu
mau khô, vẽ trước rồi sau đó mới thật sự vẽ. Đó là sơn lót, hay sơn
lót nền, đó chỉ la cách gọi để ta dễ nhớ một ý niệm thế thôi. Không
được dùng màu trắng hay màu vàng để sơn lót hay sơn nền, vì là
những màu rất lâu khô.
Dù là sơn nền hay sơn lót theo cách đã “vẽ trên sơn đã khô” thì dĩ
nhiên phải để cho những lớp sơn này khô rồi mới vẽ lên.Ba đặc
điểm chính của lối vẽ này là:
Vì sơn dưới đã khô nên không thắm trộn với sơn mói vẽ, không tạo
ra những màu phụ mà mình không thích. Cũng chính vì thế mà ta
trộn màu trên khay.
Bức tranh có thể vẽ chi tiết hơn, vì chúng ta có thể vẽ thêm
đường vẽ hay những lớp màu một cách dễ dàng.
Đơi sơn khô, chúng ta có thì giờ để suy nghĩ và phát triển bức
tranh kỹ lưỡng.
Cách vẽ này nên kiên nhẫn, đừng lạm dụng chất màu khô để pha
sơn, vì như thế khi khô, sơn có thể bị nức học tróc ra. Để sơn mau
khô, người ta pha loãng màu với dầu thông, đặc biệt khi vẽ lót. Tuy
nhiên không nên vẽ lót nhiều quá vì sơn bị xỉn đi. Nói chung, có
thể kết hợp với hai lối vẽ trên với nhau, khi sn còn ướt cho những
bút pháp trông rất xúc động, còn khi sơn đã khô, có thể vẽ thoáng
với lớp nền dưới ẩn hiện rất đẹp.
Đi xa nhất theo lối vẽ này là vờn bóng. Từ đầu tới cuối, bức tranh
vẽ bằng sơn pha loãng với dầu thông. Vẽ kiểu này tương tự với vẽ
màu nước. Lối vẽ này đã xưa cũ, chỉ con dùng đôi chút với những
lối vẽ khác, vì không tận dụng được cái hay của sơn dầu và màu
sắc không bền.
2.2.1 Cách vẽ chất liệu sơn dầu bằng cọ, bay
Cọ là dụng cụ chính để vẽ. Nói thế người ta có thể vẽ sơn dầu với
bất cứ phương tiện nào: Dùng bay, dùng tay,dùng muỗng tuy là
như vậy cọ được coi là phổ biến nhất.
Tùy theo độ cứng của lông cọ mà ta có thể sử dụng những vết cọ
trên sơn khác nhau. Cọ có phẩm chất cao sẽ không bị rụng lông
khi vẽ, không bị tòe đầu, biến hinh một sớm một chiều. Cọ tôt sao
khi dùng trở lại hình thể nguyên thủy, và nếu được bảo quản kỹ
lưỡng thì sẽ rất bền. Nên mua cọ tốt, cọ rẻ tiền sẽ gây phiền toái
cho chúng ta trong khi vẽ màu. Lúc đầu nên dùng cọ lông tương
đối mềm, vì ta có khuynh hướng nhấn cọ hơi mạnh, nếu dùng cọ
lông cứng sẽ làm vệt sơn đi hết. Có nhiều nhãn hiệu cọ khác nhau,
chúng ta nên lựa chọn cho mình một bộ cọ cho phù hợp.
Chỉ cần một bộ cọ vài cái đủ có thể vẽ bất cứ loại tranh nào. Một
người mới bắt đầu làm quen với sơn dầu chỉ cần:
Một bộ cọ tương đối dẹp,đầu bằng, rộng 1/2 để sơn những mảng
tương đối lớn, hay sơn lót và một cọ dẹp đầu rộng khoảng 3/4
Một cọ có hình bầu dục. Có thể hơi nhọn ( khoảng nữa inch) và
một cọ nhỏ hơn khoảng 1/4
Một cọ nhỏ nhọn đầu( như bút viết chữ nho) để vẽ nét mảnh.
Có thể dùng cọ 1/4 để vẽ những nét nhỏ như cành cây , cỏ.
Cầm cọ như thế nào ? Thật ra không có một cách cầm cọ nào cọng
nhất định cả. Tuy nhiên người ta thấy đa số các họa sĩ khi cần vét
những đường dài thì cầm cán cọ trong lòng bàn tay, làm thế nào để
cánh tay và cườm tay di chuyển một cách thoải mái. Còn khi vẽ
những đường ngắn, thì cầm cọ như cầm cây viết chì vậy. Nếu cần
vẽ những đường chính xác thì bàn tay cần một cây nhỏ như cây
thướt để bàn tay có thể tựa lên.
Ngoài cọ ra, cũng cần có bay dùng để trộn màu và để cạo sơn
trên khay pha màu. Bay còn là phương tiện để vẽ thông dụng thứ
hai sau cọ, đặt biệt công hiệu khi vẽ trên lớp sơn còn ướt . Người ta
chỉ dùng bay từ đầu đến cuối mà vẽ được nguyên bức tranh. Vẽ
bằng bay tương đối khó hơn nhưng không vì vậy mà không thử và
luyện tập. Bay có ưu điểm là không để lại đường vết của những sợi
lông như khi vẽ bằng cọ, chùi mau sạch, bền, không cần dùng hóa
chất để rửa nên nơi làm việc bớt bị ô nhiễm. Vi lau sạch rất mau
nên chuyển đổi màu rất nhanh, không phải đợi lâu lam cho người
họa sĩ mất hết hứng thú trong khi vẽ.
CHƯƠNG 3
GIƠI THIỆU MỘT SỐ TÁC GIẢ CHUYÊN VẼ SƠN DẦU VÀ CÁC TÁC
PHẨM SƠN DẦU TIÊU BIỂU
3.1. Giới thiệu một số tác giả chuyên vẽ sơn dầu
Trong nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam có rất nhiều danh họa nổi tiếng như:Tô
Ngọc Vân- Bậc thầy về chất liệu sơn dầu
Danh họa Tô Ngọc Vân là một trong “ tứ kiệt” của hội họa hàng đầu của mỹ
thuật hiện đạiViệt Nam: Nhất Trí (Nuyễn gia Trí), nhì Vân (Tô Ngọc Vân),
tam Lân (Nguyễn Tường Lân) tứ Cẩn (Trần Văn Cẩn)
Tô Ngọc Vân vừa là người mở đường, vừa là người đặt nền móng đầu
tieenvaf góp phần nhiều trong công cuộc xây dựng nền móng vẻ vang của hội
họa Việt Nam thế kỷ 20.
Ông là một nghệ sĩ có nhiều tác phẩm nổi tiếng, một nhà giáo đã có công tổ
chức, lãnh đạo Trường Mỹ Thuật Và giảng dạy nhiều thế hệ họa sĩ.
Ông là người chiến sĩ xuất sắc trên mặt trận văn hóa nghệ thuật, là tấm gương
sáng của của các thế hệ họa sĩ tạo hình Việt Nam.
Nền mỹ thuật Việt Nam tự hào có một Tô Ngọc Vân. Ông vinh dự được Bác
Hồ và Nhà nước tặng bức trướng với dòng chữ vàng “Một tài năng lớn – Một
nhà trí thức yêu nước chân chính.”
Một tài năng mỹ thuật lớn
Tô Ngọc Vân sinh ngày 15/12/1906, ở làng Xuân Cầu, Văn Giang, Hưng
Yên, lớn lên tại phố hàng Quạt(Hà Nội). Cha ông thuộc giai cấp tiểu tư sản
thành thị, mẹ ong thuộc dòng nho nghèo ở nông thôn.
Từ năm lên sáu tuổi gia đình nghèo, ông phải ở với bà nội và một người cô.
Có năng khiếu hội họa từ nhỏ, học hết năm thứ ba trường Bưởi ( cấp trung
học), ông quyết tâm bỏ trường Bưởi để ra ngoài tập vẽ thêm.
Say mê với nghệ thuật, ông thi đỗ vào khóa 2 Trường Cao Đẳng Mỹ
Thuật Đông Dương( khoa sơn dầu), và là một trong số ít tài năng được chú ý
khi mới nhập môn. Năm 1931, ông thi đỗ tốt nghiệp vào thủ khoa của trường.
Về kỹ thuật sơn dầu, ông đã đạt đến trình độ bậc thầy. Ngay từ khi còn là sinh
viên, ông đã có ba tác phẩm sơn dầu được trưng bài tại triển lãm mỹ thuật đầu
tiên tại Sài gòn tháng 12/1930 và được nhiều người hâm mộ về phong cách
diễn tả như: “ Ánh mặt trời,” “Bụi chuối ngoài nắng”và “ Trời dịu.”
Nhiều tác phẩm sơn dầu của ông đến nay vẫn được đánh giá là kiệt tác của
nền mỹ thuật Việt Nam.
Khi cảm thụ tranh của ông, ngươi ta dễ dàng nhận ra âm hưởng của Gauguin
(pháp) Trong bức “ Lễ vật,” củng như phảng phất ảnh hưởng của bích họa
Ajnta (Ấn Độ) trên bức lụa “ Quà cưới”(1932) hay của hội họa Nhật Bản ở
bức lụa “Hai em bé mục đồng”
Qua những thử nghiệm đầu tay, những tác phẩm của ông đã lộ ra tính cách
của một họa sĩ duy sắc: Ưa thích thể chất đẹp, say sưa với ánh sáng, với
những phản quang phong phú của màu sắc nồng nàn.
Những nét riêng được trao dồi đã thành định hình cơ bản trong phong cách
Tô Ngọc Vân và những năm sau này.
Năm 1831 và 1932, oonggiowr tranh tham gia triển lãm mỹ thuật tại Paris,
(Pháp), và được tặng huy chương vàng với bức sơn dầu “ Bức thư”. Cũng
năm 1932, ông được cấp bằng danh dự phòng triển lãm họa sĩ Pháp và đươc
bầu làm hội viên hội họa sĩ Pháp
Từ năm 1935 đến 1939, oog được cử đi dạy họa ở trường Sisowath ở Phnom
Penh,( Campuchia). Tại đây, ông đã sáng tác nhiều bức tranh với những đặc
trưng của con người, phong cảnh đất nước Chùa Tháp.
Từ 1930 đến 1945, ông là giáo sư hội họa Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật ĐÔng
Dương. Nhiều học sinh của ông sau nay nhận được giải thưởng Hồ Chi Minh
Và giải thưởng Nhà nước.
Vừa giảng dạy, ông vừa sáng tác nhiều bức sơn dầu đã trở nên nổi tiếng như “
Thiếu nữ bên hoa huệ” ( sơn dầu- 19430), “Buổi trưa” (sơn dầu- 1943),
“Thiếu nũ bên hoa sen” (sơn dầu- 1944).
Có thể nói, giai đoạn từ năm 1940 đến 1944 là giai đoạn sáng tác nhiều tranh
về thiếu nữ (ngoài những tranh trên còn có “Thiếu Nữ bên hoa sen,” “Thiếu
nữ ngồi.” “ Thiếu nữ tựa kỷ”).
Tô Ngọc Vân còn là một trong những họa sĩ đã viết nhiều về bài báo có
những luận định sắc bén về mỹ thuật có giá trị nhằm phổ cập, quản bá, hướng
dẫn và phê bình về mỹ thuật.
Những bài trong giai đoạn nay ông viết vói bút danh Ái Mỹ hoặc Tô Tử: “
Cái đẹp trong hội họa” (1936), “ Nguyễn Gia Trí và sơn ta” (1930), “ Phòng
triễn lãm 1940”, “ Phê bình nghệ thuật vẽ sơn của họa sĩ Nhật” (1941), “Cái
đẹp trong tranh” (1942), “ Những bức vẽ bằng sơn ta của Nguyễn Gia Trí”
(1944).
Nghệ sĩ – chiến sĩ trọn dời vì cách mạng
Họa sĩ Tô Ngọc Vân không chỉ có tài năng mà còn là một nhân cách nghệ
thuật lớn. Với tình yêu cái đẹp, mê say màu sắc và giá trị thẩm mỹ dân
tộc, ông đã đến với nghệ thuật cách mạng như một lẻ sống để ông thực
hiện ước mơ xây dựng một nền hội họa Việt Nam.
Cách mạng chuyển mình, Tô Ngọc Vân cũng đã chuyển biến tư tưởng,
nhìn thấy con đường đi đúng đắn của một họa sĩ.
Về quá trình lột xác và hóa thân này, Tô Ngọc Vân đã viết “Sự chuy
ển hướng nghệ thuật, chúng tôi thấy còn khó khăn, nặng nề như trái núi.
Việc không dễ dàng như người ta tưởng, như giở một bàn tay úp thành
ngửa hay thay cái nhãn hiệu này thành cái nhãn hiệu kia”
Sau đó vài năm, ông trở thành một họa sĩ cách mạng, một nghệ sĩ nhân
dân, đúng theo nghĩa của nó.
Năm 1945, ông được cử làm Giám Đốc Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Việt
Nam trên cơ sở trường bị tàn phá nặng nề. Khóa học đầu tiên được khai
giảng vào ngày 15/11/1945.
Đầu năm 1946, ông được giới thiệu vào Bắc Bộ phủ vẽ tranh và nặng
tượng Bác Hồ. Ông đã sáng tác bức tranh sơn dầu “ Hồ Chủ tịch làm
việc Bắc Bộ phủ” và đây là bức chân dung sơn dầu đẹp nhất của ông sáng
tác về Bác.
Sau ngày toàn quốc kháng chiến (19/12/1946), ông cùng nhiều văn nghệ sĩ
lên chiến khu Việt Bắc, công tác tại Đội tuyên truyền xung phong, rồi Đội
kịch Tháng Tám.
Năm 1948, ông được cư lam trưởng đoàn văn hóa kháng chiến Việt Bắc.
Cuố năm 1949, ông làm Giám Đốc xưởng họa sơn mài Việt Nam, đồng
thời là biên tập viên đầu tiên và là người sáng lập ra báo Văn Nghệ.
Năm 1950, Ông được cử làm Hiệu Trưởng Trường Mỹ Thuật Trung
Ương sau này trở thành trường mỹ thuật Việt Nam.
Hai mươi lăm sinh viên” khóa mỹ thuật kháng chiến,” được sự giảng dạy
trực tiếp của Tô Ngọc Vân và các họa sĩ tài danh khác đã trở yhanhf họa
sĩ tên tuổi của nền mỹ thuật đươing đại Việt Nam như: Nguyễn Tư
Nghiêm, Bùi Xuân Phái, Kim Đồng, Phan Kế An, Diệp Minh Châu,
Huỳnh Văn Gấm, Lê Thanh Đắc, Mai Văn Hiến, Mai Văn Nam, Quang
Phòng, Trần Lưu Hậu, Luu Công Nhân, Trọng Kiệm, Đào Đức Đào tạo
lớp anh chi em họa sĩ kế cận là mmootj đóng góp lớn lao của ông. Những
năm sống trong lòng dân, cùng vui buồn vói những con người chất phác,
những chiến sĩ, những người lao động cần mẫm đã đem lai cho ông cảm
hứng sáng tác đề tài mới:” Hà Nội vùng lên” 1948), “Giặc đến Giặc đi”
(1949), “Nũ y tá” (1949).
Các tác phẩm trong giai đoạn này đã có sự chuyển biến bước đầu của
ông, đề tài và đối tượng như: Tiết tấu năng động, rộn ràng, chiều hướng
đi vào khắc họa tính cách nhân vật
Trong thời gian này, ông làm nhiều việc, khi thi hóa trang trình bài cho
một vở sân khấu,khi thì in truyền đơn khi thì tranh thủ thời gian ký họa
cuộc sống con người, cảnh vật núi rừng Việt Bắc dưới nhiều chất liệu
sơn mài, sơn dầu, màu nước, chì.
Tháng 4/1954, vào lúc chiến trường Điện Biên Phủ ác liệt nhất, Tô Ngọc
Vân đã lên đường kleen mặt trận. Ông đã trưc tiếp tham gia và đã ghi lại
không khí ác liệt của chiến trườn cũng như sinh hoạt thường nhật của bộ
đội ta ở Điện Biên qua các tác phẩm như: “Giáo viên dân tộc Thái,” “
Cho ngựa ăn”, “ Qua đèo,” “Qua suối,” Trú quân”
Ngày 17/6/1954, ông hy sinh tại Ba Khe, bên kia dèo Lũng Lô lịch sử
trong luc nghệ thuật của ong đang lớn mạnh mẽ.Chiếc cặp vẽ mà ông
mang theo bên mình đi chiến dịch có nhiều ký họa dọc đường như: “Trú
quân,” “Hành quân qua suối,” “Lên đèo,” “Qua đèo Lũng Lô,” “Chuẩn
bị lên đường”.
Bức ký họa chì “Đèo Lũng Lô” là bưc tranh cuối cùng trong cuộc đời
sáng tác của ông.
Với những đóng góp to lớn của ông cho nền mỹ thuật cách mạng hiện
đại Việt Nam, Toàn bộ tác phẩm của ông được nhà nươc trưng thu và
lưu trữ tại Bảo Tàng Mỹ Thuật Việt Nam.
Năm 1958, mmootj thành phố Hồ Chí Minh mang tên Tô Ngọc Vân,
năm 1995, một đường phố Hà Nội mang tên Tô Ngọc Vân.
Ông được nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt 1 năm 1996) về
văn học nghệ thuật.
Ngoài họa Tô Ngọc Vân mà Không nhắc đến họa sĩ Trần Văn Cẩn là một điều
thiếu xót
Trần Văn Cẩn ( 1910 - 1994 ) là một họa sĩ nổi tiếng của Việt Nam , được mệnh
danh là một trong bộ tứ danh họa hàng đầu của nền mỹ thuật hiện đại Việt
Nam: Nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn. Ông cũng là người chỉnh sửa mẫu
phác thảo Quốc huy Việt Nam thành dạng hoàn chỉnh như ngày nay.
Thân thế và niềm đam mê hội họa
Ông sinh ngày 13 tháng 8 năm 1910 tại thị xã Kiến An, tỉnh Kiến An (nay là
quận Kiến An, thành phố Hải Phòng). Sinh ra trong một gia đình trí thức
nghèo, cha là một công chức bưu điện, ông được gia đình cho ăn học tử tế.
Năm 1924, sau khi học hết hết bậc Tiểu học ở Kiến An, ông được gia đình
đưa lên Hà Nội sống với bà nội.
[1]
Thuở nhỏ, chịu ảnh hưởng từ thân mẫu, vốn là một nghệ nhân làm nghề thủ
công nặn tò he và đèn giấy bằng nan tre, và người cậu chuyên nghề vẽ đèn
giấy, ông sớm có biểu lộ năng khiếu và sự ham thích với ngành hội họa. Sự
ham thích này được cha ông tán thành. Chính vì vậy, chỉ sau chưa đến 2 năm
học bậc Trung học, năm 1925, theo ý kiến của bố, ông thi vào Trường Kỹ
nghệ thực hành (École de l’art appliqué) Hà Nội
[2]
, học vẽ mẫu đăng ten và
thiết kế đồ gỗ.
[1]
Năm 1930, ông tốt nghiệp và được điều về làm việc ở Viện Hải dương học
Nha Trang, làm công việc vẽ, chép lại những con cá lạ đánh bắt được từ biển
về để lưu trữ vào hồ sơ gốc. Tại đây, ông làm quen với một họa sĩ Pháp đến
giúp Viện xây dựng mô hình để tham dự hội chợ triển lãm ở Paris, và bắt đầu
làm quen với kỹ thuật hội họa phương Tây. Ông bắt đầu sáng tác những tác