Mối quan hệ hợp tác thương mại giữa Mexico và Liên minh châu Âu EU
LỜI MỞ ĐẦU
Quan hệ hợp tác thương mại để phát triển là xu thế tất yếu của thế giới, là
nhu cầu của mỗi quốc gia. Ngày nay trong bối cảnh toàn cầu hoá, khu vực hoá,
hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ hơn bao giờ hết, không một quốc gia nào
muốn phát triển mà lại “đóng cửa”. Các nền kinh tế dù ở trình độ nào cũng đều
có xu hướng tìm đến nhau để trao đổi, học hỏi kinh nghiệm, giúp đỡ và hợp tác
lẫn nhau. Phát triển mối quan hệ giữa các nước, các tổ chức quốc tế đã trở thành
mục tiêu hàng đầu trong chính sách ngoại giao cũng như chính sách kinh tế của
mọi quốc gia trên Thế giới.
Giữa một bên là một quốc gia ở khu vực Mỹ Latinh, một bên là trung tâm
kinh tế và thương mại hàng đầu Thế giới, mối quan hệ hợp tác thương mại giữa
Mexico và Liên minh châu Âu EU đã từng bước được thiết lập. Với đỉnh cao là
Hiệp định thương mại tự do MEUFTA, Mexico và Liên minh châu Âu đã tăng
cường, đẩy mạnh quan hệ đối tác kinh tế, hợp tác song phương toàn diện trên
nhiều lĩnh vực góp phần củng cố sự phát triển, tăng trưởng và thịnh vượng của
mỗi bên. Những thành quả, lợi ích mà Hiệp định thương mại tự do mang lại cho
hai bên là động lực để Mexico lẫn Liên minh Châu Âu tiếp tục phát huy mối
quan hệ khăng khít này trong xu thế hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu.
I. KHÁI QUÁT VỀ THƯƠNG MẠI LIÊN MINH CHÂU ÂU VÀ
MEXICO
1. Thương mại Liên Minh Châu Âu
Liên minh Châu Âu EU là một tổ chức liên chính phủ của các nước châu
Âu. Từ 6 thành viên ban đầu, hiện nay EU đã trở thành một khu vực rộng lớn
với 27 quốc gia thành viên. EU đã thực sự trở thành một thị trường kinh tế rộng
lớn vượt xa các tổ chức khu vực khác trên thế giới.
Liên minh châu Âu là thị trường có sức mua lớn, tốc độ tăng trưởng kinh
tế cao và ổn định. Liên minh Châu Âu là thị trường thống nhất rộng lớn nhất thế
giới với 492,9 triệu người tiêu dùng (2006)
1
. Năm 2001 GDP của EU là
8.491,09 tỷ USD (chiếm 19,5 % GDP của thế giới) đứng thứ hai sau Hoa Kỳ
(9.963 tỷ USD chiếm 22,9% GDP của thế giới), tốc độ tăng trưởng GDP năm
2002 là 3,4%
2
. Năm 2007, GDP của EU đã lên tới 15.800 tỷ USD
3
. Liên minh
châu Âu là nơi khởi phát và khai sinh đầu tư trực tiếp nước ngoài. Năm 1998
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Liên minh châu Âu đạt mức kỷ lục 386 tỷ
USD tăng 75% so với năm 1997. Càng ngày các nước trong Liên minh châu Âu
càng nhận được lòng tin cậy của các đối tác. Năm 1998 EU nhận tới 230 tỷ USD
và năm 1999 là 280 tỷ USD
4
.
Liên minh châu Âu có nền thương mại phát triển lớn thứ hai thế giới sau
Hoa Kỳ. Khu vực này chiếm tỷ trọng 30-40% trong tổng giá trị xuất và nhập
khẩu của toàn thế giới, chiếm 50% nguồn tư bản, là thị trường xuất khẩu lớn
nhất và nhập khẩu lớn thứ hai thế giới. Theo thống kê của Tổ chức Thương mại
Thế giới (WTO), trong số 10 nước có nền thương mại mạnh nhất thế giới thì có
1
/>2
http//euroinitiative.free.fr/eco-com.ttm
3
/>4
Lê Văn Sang, chiến lược kinh tế và quan hệ kinh tế Mỹ-eu-nhật Bản thế kỷ XXI, NXB Khoa
học xã hội Hà Nội-2002
2
5 nước là thành viên của Liên minh châu âu, đó là Đức, Anh, Ý, Pháp và Hà Lan
với tổng giá trị xuất nhập khẩu 300 tỷ USD. Hàng năm Liên minh châu Âu nhập
hàng hoá từ khắp các nước trên thế giới và cũng xuất khẩu hàng hoá đi khắp thế
giới với tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu gần 17,2% (năm 2002)
5
. Với tư cách là
một thị trường quan trọng nhất thế giới, Liên minh này luôn giữ vai trò chủ chốt
trong các cuộc đàm phán thương mại đa phương.
Thương mại của Liên minh châu Âu chi phối mạnh thương mại toàn cầu
và kim ngạch xuất nhập khẩu của khu vực này không ngừng tăng lên hàng năm.
Liên minh chân Âu vươn lên trở thành thị trường xuất khẩu hàng hóa lớn trên
thế giới. Các mặt hàng xuất nhập khẩu chủ yếu là sản phẩm công nghiệp và hàng
chế biến. Liên minh châu Âu nhập khẩu các sản phẩm thô, máy móc thiết bị,
xuất khẩu các sản phẩm chế tạo và dịch vụ. Liên minh Châu Âu là đối tác
thương mại lớn nhất của 80 nước trên thế giới.
Tóm lại, 50 năm hợp tác và phát triển ( 1957-2007) đã cho thấy sự lớn
mạnh vượt bậc của các nước châu Âu: Từ thị trường chung than thép trở thành
liên minh thuế quan rồi thị trường chung châu Âu và đỉnh cao là thị trường
thống nhất, liên minh châu Âu ngày nay trưởng thành và phát triển trở thành
trung tâm kinh tế và thương mại hàng đầu thế giới.
2. Thương mại của Mexico
Là một quốc gia Mỹ Latinh, Mexico có nền kinh tế đứng thứ 12 trên Thế
giới xét về GDP và có thu nhập tính theo đầu người lớn thứ tư trong khu vực Mỹ
Latinh chỉ sau Argentina, Chile, và Costa Rica
6
. GDP của Mexico năm 2005 là
693 tỷ USD và GDP bình quân đầu người là 10.000 USD
7
. Năm 2004, tăng
trưởng GDP của Mexico đạt 4,4% và năm 2005 là 3%. Khu vực dịch vụ có mức
tăng trưởng hàng năm khoảng 4,8%, khu vực công nghiệp là 2,4% và nông
nghiệp là 0,4%. Tỷ lệ lạm phát ở mức 5,19% năm 2004 và giảm xuống 3,3%
năm 2005
8
.
5
Kim.Ngọc, kinh tế thế giới 2000-2001,2001-2002 đặc điểm và triển vọng, NXB Chính trị
quốc gia
6,7,8
www.mofahcm.gov.vn/vi/tintuc_sk/tulieu/nr060504090947/ns060924232045 - 50k -
3
Mexico có thị trường mở và tự do thương mại. Sau cuộc suy thoái kinh tế
vào năm 1994, Mexico đã nhanh chóng khôi phục, xây dựng một nền kinh tế
hiện đại và đa dạng hoá, mở cửa hợp tác kinh tế thương mại với nhiều nước và
khu vực trên Thế giới. Mexico gia nhập GATT vào năm 1986 và hiện là thành
viên tích cực của Tổ chức thương mại Thế giới WTO. Mexico là thành viên Mỹ
Latinh duy nhất của tổ chức phát triển và hợp tác kinh tế OECD. Mexico đã ký
12 hiệp định thương mại tự do với 44 nước bao gồm Liên minh châu Âu EU,
Japan, Israel và nhiều nước ở Trung và Nam Mỹ. Đối tác thương mại lớn nhất
của Mexico là Hoa Kỳ (chiếm hơn 80% giao dịch thương mại). 90% giao dịch
thương mại Mexico đạt được là thông qua các hiệp định tự do thương mại với
các nền kinh tế khác. Hiệp định quan trọng nhất là Hiệp định Thương mại tự do
Bắc Đại Tây Dương NAFTA, đứng thứ hai là Hiệp định Thương mại tự do được
ký kết với EU.
Giá trị xuất khẩu của Mexico đạt 248,8 tỷ USD (năm 2006) với những
mặt hàng chủ yếu là dầu mỏ và các sản phẩm từ dầu mỏ, bạc, rau quả, cà phê,
bông vải. Thị trường xuất khẩu chính là Hoa Kỳ (chiếm 87,6%), Canada (1,8%),
Tây Ban Nha (1,1%). Giá trị nhập khẩu đạt 253,1 tỷ USD (năm 2006) với những
mặt hàng chủ yếu là các trang thiết bị kim loại, những sản phẩm thép cán, máy
móc nông nghiệp, thiết bị điện tử, các bộ phận ô tô, xe máy, máy bay. Thị
trường nhập khẩu chính là Hoa Kỳ (chiếm 55,1%) , Trung Quốc (7,1%), Nhật
Bản (5,3%)
9
. Mexico là nền kinh tế chủ trương hướng tới xuất khẩu. Năm 2005,
Mexico là nhà xuất khẩu hàng hoá lớn thứ 15 trên thế giới và nhập khẩu hàng
hoá lớn thứ 12 với tỷ lệ tăng thương mại hàng năm 12%
10
. Từ năm 1991 đến
2005, thương mại Mexico đã tăng gấp 5 lần. Mexico là nhà xuất nhập khẩu hàng
hoá lớn nhất ở Mỹ Latinh. Thương mại với Mỹ tăng 183% , với Canada tăng
165% và với EU tăng 105% từ năm 1993 đến 2002
11
.
4
9
. www.mofahcm.gov.vn/vi/tintuc_sk/tulieu/nr060504090947/ns060924232045 - 50k -
10,11
/>II. QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA MEXICO VÀ LIÊN MINH
CHÂU ÂU EU
1. Quá trình thiết lập quan hệ thương mại giữa Mexico và Liên minh
Châu Âu EU
Quan hệ chính thức giữa Mexico và Cộng đồng kinh tế Châu Âu EEC bắt
đầu được thiết lập từ năm 1957. Vào thời gian này, Mexico cũng tiến hành đa
dạng hoá các quan hệ ngoại giao dưới thời tổng thống Adolfo López Mateos.
Năm 1975, EEC đã ký một hiệp định khung với Mexico và Argentina, Brazil,
Paraguay để đa dạng hoá quan hệ ở Mỹ Latinh. Năm 1987, hai bên đã đi đến
một thoả thuận về thương mại đối với mặt hàng dệt may. Thoả thuận này được
ký kết trong khuôn khổ vòng đàm phán GATT về việc nhập khẩu hàng dệt may
của Mexico vào thị trường châu Âu. Năm 1989, đại diện của Uỷ ban châu Âu
được cử sang làm đại sứ ở Mexico. Hiệp định khung năm 1975 đã được thay thế
bằng một hiệp định khung mới về hợp tác năm 1991. Vào thời điểm này, nó
được coi là một trong các hiệp định tiên tiến nhất. Tuy nhiên quan hệ thương
mại hai bên trong giai đoạn những năm 1990 này đã bắt đầu có sự suy giảm đột
ngột. Sự tham gia của EU trong thượng mại của Mexico đã giảm từ 11% vào
năm 1991 xuống 6% vào năm 1999
12
. Trước tình hình này, hai bên đã tăng
cường hợp tác và đi tới ký kết các hiệp định thương mại.
Năm 1995, Hiệp định khung được ký giữa Mexico và Ngân hàng đầu tư
châu Âu và một Tuyên bố chung được ký giữa Mexico và EU đã bày tỏ sự sẵn
sàng và thiện ý của hai bên trong việc bắt đầu các cuộc hội đàm, bàn bạc và tiến
hành các thủ tục tiến tới ký kết một hiệp định mới về hợp tác kinh tế, thương
mại và chính trị. Ngày 13 tháng 5 năm 1996, Hội đồng Châu Âu phê chuẩn
quyết định đàm phán thương mại với Mexico. Đàm phán bắt đầu vào tháng 10
năm 1996.
Trong quá trình đàm phán tiến tới một hiệp định hợp tác thương mại
chung, Mexico và EU đã ký kết bốn hiệp định: Hiệp định tạm thời về thương
5
12
/>mại và các vấn đề liên quan đến thương mai có hiệu lực vào năm 1998,
Hiệp định liên kết kinh tế, bàn bạc chính trị và hợp tác, Hiệp định cộng nhận và
bảo vệ tên gốc của các loại rượu và Hiệp định hợp tác điều chỉnh thương mại về
sản xuất hoá chất và thuốc men. Trong bốn hiệp định đó, Hiệp định tạm thời về
thương mại và các vấn đề liên quan đến thương mại là hiệp định quan trọng
nhất, tạo tiền đề cho Hiệp định thương mại tự do FTA sau này. Hiệp định tạm
thời này được phê chuẩn bởi Thượng viện Mexico vào 23/4/1994, được Quốc
hội châu Âu thông qua vào 13/5/1998. Hai bên trao đổi các văn kiển phê chuẩn
vào 30/6/1998 cho phép hiệp định bắt đầu có hiệu lực vào 1/7/1998
13
.
Ngày 8 tháng 12 năm 1997, Hiệp định hợp tác và đối tác kinh tế, hợp tác
chính trị ( Hiệp định toàn cầu) giữa hai bên được ký kết tại Brussels. Hiệp định
toàn cầu đưa ra các mục tiêu và cơ chế tự do hoá thương mại hàng hoá và dịch
vụ. Từ 11/1998 đến 11/1999, 9 vòng đàm phán tiến tới xây dựng một hiệp định
thương mại tự do trong khuôn khổ hiệp định toàn cầu đã được tổ chức và kết
thúc vào ngày 24/11/1999. Đến ngày 20/3/2000, Hiệp định toàn cầu được
Thượng viện Mexico phê chuẩn, Quốc hội Châu Âu phê chuẩn vào 6/5/1999 và
được Uỷ ban Châu Âu thông qua vào 28/12/2000. Hiệp định bắt đầu có hiệu lực
từ 1/10/2000
14
.
Để giám sát quá trình thực hiện hiệp định, khoản 45 mục VII của Hiệp
định toàn cầu đã thành lập Hội đồng chung (gặp nhau định kỳ) và khoản 48 mục
VII thành lập Uỷ ban chung (gặp nhau mỗi năm một lần) để hỗ trợ cho Hội đồng
chung.
Lĩnh vực thương mại trong hiệp định toàn cầu được phể chuẩn trong
quyết định 2/2000 và 2/2001 của Hội đồng chung giữa Mexico và EU. Quyết
định 2/2000 thiết lập khu vực thương mại tự do về hàng hoá. Quyết định được
thông qua 23/3/2000 và có hiệu lực vào 1/7/2000. Quyết định 2/2001 thiết lập
khu vực thương mại tự do về dịch vụ, được thông qua 27/2/2001 và có hiệu lực
vào 1/3/2001
15
.
Năm 2002, cuộc gặp thượng đỉnh giữa hai bên được tổ chức ở Madrid.
Một hiệp định khung được ký kết về trợ cấp kỹ thuật và tài chính. Các cuộc đàm
6
13,14
/>15
/>phán về khoa học kỹ thuật được tiến hành. Diễn đàn xã hội Mexico-EU được tổ
chức. Cuộc gặp lần thứ hai diễn ra ở Guadalajara vào năm 2004. Hiệp định hợp
tác khoa học kỹ thuật (S&T) được ký kết cùng năm đó. EU và Mexico cùng nhất
trí các chương trình hợp tác tài chính đề ủng hộ và tạo điều kiện thuận lợi cho
việc thi hành Hiệp định thương mại tự do. Như vào tháng 11/2004, EU đã nhất
trí đóng góp 8 triệu Euro
16
.
Năm 2006, hội nghị giữa các quan chức cấp cao lần thứ 6 đã diễn ra ở
Mexico. Các bên nhấn mạnh cam kết củng cố đối thoại chính trị, hợp tác song
phương về kinh tế, thương mại. Năm 2007, hội nghị bộ trưởng lần thứ 5 và hội
nghị giữa các quan chức cấp cao lần thứ 7 diến ra ở Brussels. Các bên bày tỏ
mong muốn củng cố hơn nữa và thắt chặt các quan hệ hợp tác trên cơ sở lợi ích
chung, tăng cường hợp tác thương mại và khoa học kỹ thuật…Cũng vào năm
2006, một chương trình mang tên “Programa de Facilitación del Tratado de
Libre Comercio" (PROTLCUEM)
17
được tiến hành đã tạo điều kiện thuận lợi
cho quá trình thực hiện Hiệp định thương mại tự do cũng như củng cố quan hệ
kinh tế thương mai giữa Mexico và EU.
2. Quan hệ thương mại giữa Mexico và Liên minh châu Âu EU xoay
quanh Hiệp định thương mai tự do
2.1. Giới thiệu về Hiệp định thương mại tự do giữa Mexico và Liên
minh châu Âu EU (MEUFTA)
Nằm trong khuôn khổ Hiệp định toàn cầu, Hiệp định thương mại tự do
giữa Mexico và Liên minh châu Âu EU không chỉ đa dạng hoá quan hệ thương
mại mà còn củng cố đối thoại chính trị và tăng cường hợp tác giữa hai bên. Khi
hiệp định có hiệu lực vào năm 2000, Pascal Lamy, khi đó là cố vấn thương maị
của EU đã đánh giá cao tầm quan trọng của Hiệp định đối với triển vọng thương
mại của cả EU lẫn Mexico. Pascal cho rằng đây là Hiệp định đầu tiên, nhanh
nhất và tốt nhất
18
. Đầu tiên vì nó là hiệp định thương mại tự do đầu tiên xuyên
Đại Tây Dương được ký kết bởi EU. Nhanh nhất vì nó được đàm phán chỉ trong
vòng một năm và tốt nhất vì nó là hiệp định toàn diện bao gồm tất cả các lĩnh
7
16
/>17
/>vực: không chỉ bao gồm hàng hoá, dịch vụ mà còn bao gồm việc mở cửa thị
trường thu mua, phê chuẩn các quy tắc về cạnh tranh, đầu tư và sở hữu trí tuệ
cũng như thiết lập cơ chế giải quyết xung đột.
Mexico và Liên minh châu Âu EU đã nhất trí thành lập khu vực thương
mại tự do trong khoảng thời gian 10 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực. Hiệp
định này sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong thương mại hàng hoá và dịch vụ giữa
hai bên, thiết lập khung pháp lý cho quá trình tự do hoá thị trường, củng cố
nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Cả Mexico và EU đều hy vọng rằng
Hiệp định thương mại tự do sẽ mang lại tỷ lệ tăng trưởng cao về thương mại
hàng hoá và dịch vụ giữa hai bên.
- Lĩnh vực hàng hoá: Hiệp định thương mại tự do sẽ tự do hoá 96%
thương mại hàng hoá giữa Mexico và EU vào năm 2007.
+ Hàng hoá công nghiệp: ước tính chiếm 95% thương mại song phương
về hàng hoá giữa Mexico và EU
19
. EU sẽ dỡ bỏ hầu hết các loại thuế đánh vào
sản phẩm nhập khẩu từ Mexico. 82% hàng xuất khẩu từ Mexico đến EU sẽ được
bỏ thuế ngay lập tức và 18% vào 1/1/2003
20
. Đối với hàng xuất khẩu EU đến
Mexico vốn phải chịu mức thuế trung bình 16% và một số chịu mức cao nhất là
35% cũng sẽ được dỡ bỏ dần thuế quan. 47% hàng hoá sẽ được miễn thuế vào
1/7/2000, 4,5% vào 1/1/2003, 5,5% vào 1/1/2005 và 43% còn lại sẽ đuợc bỏ vào
1/1/2007. Tất cả thuế đánh vào sản phẩm của EU sẽ không cao hơn 5 % vào
1/1/2003
21
. Ví dụ như đối với sản phẩm xe ôtô- một hàng hoá quan trọng trong
thương mại song phương, Mexico đã giảm dần việc sản xuất ôtô từ 1/1/2004 và
đảm bảo sự tiếp cận thị trường của ôtô từ EU. Thuế nhập khẩu ôtô từ EU được
cắt giảm từ 20% xuống còn 3,3% và khi hiệp định có hiệu lực sẽ giảm còn 2,2%
vào 2001
22
. Vào 2003, thuế đối với ôtô nhập khẩu sẽ bị dỡ bỏ hoàn toàn.
+ Hàng hoá nông nghiệp và thuỷ sản: chiếm 5% trong thương mại song
phương hàng hoá giữa hai bên
23
. Thuế sẽ được dỡ bỏ qua từng thời kỳ, đến năm
2010 sẽ được tự do hoá hoàn toàn. EU duy trì tự do hoá các sản phẩm rượu, dầu
8
18
/>
19,20
/>21
/> ôliu, đồ uống có cồn… Mexico dỡ bỏ thuế các sản phẩm như hoa quả nhiệt đới,
rau… EU sẽ ưu đãi cho các sản phẩm của Mexico như cam, mật ong, lê và
hoa…Đàm phán thuế đối với các sản phẩm như thịt, sản phẩm bơ sữa, ngũ cốc
và chuối được hoãn lại.
- Lĩnh vực dịch vụ: Các bên cũng sẽ tiến hành tự do hoá thị trường dịch
vụ, loại bỏ sự phân biệt đối xử, loại bỏ các hạn chế, cho phép các nhà cung cấp
dịch vụ hoạt động tự do trên lãnh thổ của nhau. Hiệp định bao gồm các ngành
dịch vụ nhu tài chính, thông tin liên lạc, năng lượng, du lịch, môi trường…ngoại
trừ ngành dịch vụ hàng không, hàng hải và dịch vụ nghe nhìn.
- Hàng rào phi thúê quan: Các hạn chế về thương mại bao gồm hạn ngạch,
giấy phép xuất nhập khẩu sẽ được dỡ bỏ ngay lập tức.
- Đầu tư: Các bên củng cố môi trường đầu tư , giảm các hạn chế, rào cản
để trở thành điểm thu hút đầu tư hấp dẫn và ổn định.
- Thị trường thu mua: EU sẽ tiếp cận thị trường thu mua của Mexico cũng
như Mỹ và Canada và ngược lại Mexico cũng được phép tiếp cận thị trường EU
trong khuôn khổ thoả thuận năm 1994
- Cơ chế giải quyết xung đột: Hai bên nhất trí thiết lập cơ chế giải quyết
xung đột. Mỗi bên có quyền yêu cầu có trọng tài phân xử trong các vụ tranh
chấp thương mại.
2.2. Lợi ích mà Mexico và Liên minh châu Âu EU đạt được từ Hiệp
định thương mại tự do
Vào những năm 1990, kinh tế cuả Mexico không ngừng được cải thiện.
Xuất khẩu hàng hoá của Mexico tăng từ 1,1% vào 1990 đến 3,1% vào 1999
24
.
Thành công của NAFTA đã khiến cho Mexico tiếp tục tăng cường quan hệ kinh
tế thương mại với đối tác lớn thứ hai của mình – Liên minh châu Âu EU. Hệ
thống chính trị Mexico vào thời gian này có sự thay đổi sâu sắc đã ảnh hưởng
phần nào đến chính sách ngoại giao. Mexico theo đuổi mục tiêu hội nhập kinh tế
khu vưc và thế giới để có tầm quan trọng hơn trên trường quốc tế. Hiệp định
9
22
/>
23
/>
24
- 137k
thương mại tự do sẽ giúp cho Mexico đa dạng hoá thị trường hàng hoá và dịch
vụ, tăng tính cạnh tranh, thu hút vốn đầu tư nước ngoại, tạo thêm nhiều việc làm
và tạo đối trọng chống lại ảnh hưởng của Mỹ trong nền kinh tế. Đây được coi là
hiệp định quan trọng thứ hai của Mexico sau NAFTA. Đối với EU, hợp tác kinh
tế thương mại luôn là một phần quan trọng trong chính sách ngoại giao. Tháng
10/2006, EU đưa ra kế hoạch: cạnh trạnh trên thế giới
25
, xác định mục tiêu mới
trong chính sách thương mại của mình. Đó là ký kết các hiệp định thương mại tự
do với các nước và khu vực có thị trường năng động, phát triển quan hệ thương
mại với các nước thuộc thế giới thứ 3, củng cố sự hiện diện của EU trên toàn thế
giới. Vì vậy EU đã phát triển các quan hệ hợp tác và tìm kiếm đối tác xuyên khu
vực. Mexico đóng một vai trò quan trọng, là cầu nối trong quá trình hội nhập
của EU vào khu vực Mỹ Latinh và Caribbean. Hợp tác với Mexico giúp EU thúc
đẩy tự do hoá thương mại và đầu tư ở thị trường Mỹ Latinh đồng thời ngăn cản
ảnh hưởng của Mỹ ở Mỹ Latinh, đảm bảo chỗ đững vững chắc của EU tại thị
trường này- một thị trường lớn nhất Mỹ Latinh. Như vậy Hiệp định thương mại
tự do đã củng cố quan hệ hợp tác thương mại và mang lại những lợi ích nhất
định cho cả hai bên.
Trước khi ký Hiệp định, EU mất dần chỗ đứng tại thị trường Mexico.
Quan hệ thương mại hai bên giảm sút đột ngột. Năm 1996 chỉ đạt 6,1%. Kể từ
khi có hiệu lực, thương mại hai bên đã tăng 25,5%. Trong 3 năm đầu, xuất khẩu
từ Mexico đến EU tăng 19% trong khi xuất khẩu từ EU đến Mexico tăng
28,1%
26
. Trong 9 tháng đầu năm 2001, trong khi nền kinh tế thế giới suy giảm
và thương mại trì trệ ở nhiều nơi thì thương mại giữa Mexico và EU vẫn tăng.
Mexico là đối tác quan trọng nhất của EU ở Mỹ Latinh và là thị trường
chiến lược quan trọng cho xuất khẩu hàng hoá của EU với tiềm năng tăng
trưởng cao. EU là đối tác thương mại lớn thứ hai của Mexico sau Mỹ. Theo
EUROSTAT, quan hệ thương mại hai bên năm 2005 đạt 25,8 tỷ Euro với hàng
xuất khẩu của EU ước tính đạt 16,8 tỷ Euro và hàng xuất khẩu của Mexico đạt 9
10
25
/>26
/>tỷ Euro, tăng 20 % so với năm 2004
27
. Từ năm 1999, năm trước khi thực hiện
Hiệp định đến năm 2006, thương mại song phương đã tăng trưởng tới 132,6%
đạt 42,3 tỷ $ . Thương mại giữa EU và phần còn lại của thế giới chỉ tăng 93,3%
cùng thời kỳ
28
.
Bảng 1: Tổng thương mại giữa EU-MEXICO
- Giá trị hàng hoá nhập khẩu của EU từ Mexico năm 2006 đạt 13,3 tỷ $
(chiếm 5,4% hàng xuất khẩu của Mexico). Hàng hoá xuất khẩu của Mexico đến
EU tăng gấp đôi so với những khu vực còn lại của thế giới: 165,5% so với
80,9% thời kỳ từ 1999 đến 2006
29
. Các mặt hàng chủ yếu bảo gồm máy móc
(29,3%), dầu (21,1%), phương tiện vận tải (18,9%), hoá chất (8,2%), sản phẩm
nông nghiệp (6,7%) (số liệu năm 2001)
30
. Thị trường EU đã trở thành một thị
trường hứa hẹn cho hàng hoá xuất khẩu của Mexico. Những nước EU nhập khẩu
chủ yếu hàng hoá của Mexico vào năm 2001: Tây Ban Nha (21,6%), Đức
(19,8%), Anh (18,6%), Hà Lan (10%), Pháp (8,7%). Bỉ và Lucxembua (8,2%),
Ý (4,4%)
31
. Hầu hết các nước EU đều tăng nhập khẩu hàng hoá từ Mexico.
11
27
/>28,29
/>30.
/>Bảng1: />Bảng 2: Hàng hoá nhập khẩu của EU từ Mexico
- Giá trị hàng hoá xuất khẩu của EU đến Mexico: Năm 2006, EU là nguồn
cung cấp hàng lớn thứ hai vào thị trường Mexico, đạt 29 tỷ $. Cũng vào năm
2006, hàng xuất khẩu của EU trong tổng hàng nhập khẩu của Mexico là 11,3%.
Từ khi Hiệp định thương mại tự do có hiệu lực, hàng hoá nhập khẩu của Mexico
từ EU tăng lên 120,1% tương phản với 76,1% ở các nơi khác
32
. Hàng hoá xuất
khẩu của EU đến Mexico chủ yếu bao gồm máy móc (36,1%), phương tiện vận
tải (20,1%), hoá chất (16,6%) ( số liệu 2001)
33
. Các nước chính trong EU xuất
khẩu hàng hoá đến Mexico trong 2001 là Đức (35,8%), Tây Ban Nha (13,4%).
Ý (13,3%), Pháp (10,2%), Anh (7,2%), Bỉ và Lucxembua (4,3%)
34
…Vì hầu hết
các hàng hoá nhập khẩu của Mexico từ EU là máy móc để sản xuất hàng hoá do
đó góp phần giảm chi phí sản xuất ( do được miễn thuế nhập khẩu) và tăng tính
cạnh tranh của các công ty ở Mexico. Đối với các hàng hoá khác, Mexico cũng
được hưởng lợi từ giá thấp do không phải chịu gánh nặng thuế quan. Các công
ty EU cũng có lợi ích thông qua việc đầu tư sản xuất ở Mexico.
12
31
/>32
/>33,34
/>Bảng 2: />Bảng 3: Hàng hoá xuất khẩu của EU đến Mexico
- Thương mại dịch vụ: Quan hệ thương mại song phương về dịch vụ cũng
tăng trong những năm gần đây. Xuất khẩu dịch vụ của EU đến Mexico tăng
17,2% từ 1995 đến 2003, đạt 3,2 tỷ Euro vào 2003. Các mặt hàng chính là dịch
vụ du lịch (27,7%), vận tải (25,5%), xây dựng (8,2%) và các lĩnh vực khác
(19,8%). Nhập khẩu của EU từ Mexico tăng từ 0,6 tỷ Euro lên 2,7 tỷ Euro từ
1995 đến 2003 trong đó dịch vụ du lịch (46,8%), vận tải (16,3%), xây dựng
(10,8%) và các ngành dịch vụ khác (20,7%).
35
- Đầu tư: Việc dỡ bỏ các hàng rào thương mại và đầu tư đã tăng lượng
vốn giữa EU và Mexico. Mexico nhận được 52,5 tỷ $ vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài FDI từ EU trong giai đoạn 1994-2006. Vốn đầu tư của EU vào Mexico
tăng vào năm 2006, đạt 26% tổng FDI của Mexico. Tháng 12/2001, 5364 công
ty Mexico nhận vốn đầu tư từ EU chiếm 23,2% tổng số các công ty có vốn đầu
tư nước ngoài ở Mexico (23110 công ty)
36
. Trong 2006, có 7738 công ty EU
hoạt động ở Mexico. Mexico nhận được gần như gấp đôi FDI trong 6 năm
(2000-2006) so với 14 năm trước (1980-1993)
37
. FDI từ năm 2000-2006 tăng
gấp ba so với 1994-1999. Đây là một tác động tích cực mà Hiệp định thương
mại tự do mang lại. Ba nước EU đầu tư chủ yếu vào Mexico từ 2000 đến 2006
là Tây Ban Nha
13
35
/>
36
/>37
/>Bảng 3: />(38,2%), Hà lan (36,5%) và Anh (11,8%)
38
. Những nước này là nước đầu
tư lớn thứ 2, thứ 3, và thứ 4 ở Mexico sau Mỹ. FDI từ EU tập trung chủ yếu
trong lĩnh vực sản xuất (40,3%) đặc biệt trong sản xuất thực phẩm, hoá chất và
ôtô. Bên cạnh đó 29,3% FDI tập trụng vào dịch vụ tài chính. EU đứng thứ hai
trong các nhà đầu tư vào Mexico. Các công ty Mexico cũng đầu tư 4,6 tỷ Euro
vào EU từ 1995-2005
39
.
Bảng 4: FDI ở Mexico
Country 1996 1997 1998 1999 2000 2001 Jan-
Jun
2002
Acum'd
94-02
Share
(%)
Germany 201.4 480.3 136.9 741.6 225.8 -190.3 176.2 2,628.1 13.2
Austria 0.4 0.6 5.9 1.8 1.1 2.0 -0.9 12.9 0.1
Belgium 1.5 46.2 30.7 33.6 17.0 59.6 18.1 253.8 1.3
Denmark 17.6 18.9 68.1 173.6 140.5 178.5 85.8 716.5 3.6
Spain 73.5 326.8 307.8 955.2 1,740.9 363.8 80.4 4,042.4 20.4
Finland -0.1 1.0 1.8 28.2 216.2 83.4 10.1 344.9 1.7
France 124.0 59.6 127.8 166.5 -2,583.5* 332.1 68 -1,494.5 -7.5
Greece 0.0 0.0 0.0 0.2 0.0 0.0 0.0 0.2 0.0
Netherlands 487.4 343.7 1,051.4 917.4 2,387.9 2,578.3 119.6 9,386.1 47.3
Ireland 19.6 15.0 -3.9 1.1 4.9 1.1 0.3 43.0 0.2
Italy 18.3 29.1 16.5 35.7 31.0 15.1 4.9 163.9 0.8
Luxemburg 14.8 -6.5 7.8 13.6 34.7 120.5 12.0 214.6 1.1
Portugal 0.1 0.6 3.4 4.2 -0.2 0.2 0.1 8.4 0.0
United
Kingdom
82.5 1,829.8 185.2 -189.5 234.1 87.7 63.5 3,100.5 15.6
Sweden 96.6 7.2 59.7 690.5 -347.9 -139.0 -16.7 420.8 20.1
Total EU 1,137.8 3,152.2 1,998.9 3,573.8 2,102.5 3,493.0 621.2 19,841.5 100.0
Bảng 5: FDI của các nước EU ở Mexico
Nếu như trước Hiệp định thương mại tư do, các chương trình hợp tác giữa
EU với Mexico chỉ xấp xỉ trung bình 13 triệu Euro bao gồm các lĩnh vực như
14
rừng nhiệt đới, NGOs, ECIP, ECHO, hợp tác kinh tế, chính sách cho người tị
nạn, những cá nhân bị trục xuất ra nước ngoài hay một số chương trình quan
trọng hơn như Al-Invest, ALFA hay URB-AL thì kể từ sau khi hiệp định có hiệu
lực, quan hệ thương mại song phương đã không ngừng được đẩy mạnh, tăng
cường trên mọi lĩnh vực hợp tác. Hai bên đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao,
củng cố luật pháp, cải thiện hệ thống tư pháp và phát triển xã hội. Hợp tác khoa
học kỹ thuật cũng được củng cố. Hai bên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, dỡ bỏ
thuế quan, loại bỏ các hàng rào, hạn chế để Hiệp định thương mại tự do phát huy
tác dụng tích cực. Bên cạnh những lợi ích về thương mại hàng hoá, dịch vụ và
đầu tư, Hiệp định thương mại tự do đã cung cấp cho EU và Mexico những cơ
hội khổng lồ mà hợp tác song phương đem lại. Nó đảm bảo hàng xuất khẩu của
EU được hưởng ưu đãi ở Mexico và ngược lại. FTA đã cung cấp cơ hội cho các
nhà đầu tư hai bên, cho phép các công ty ở hai bên bờ Đại Tây Dương hưởng lợi
ích từ việc sản xuất chung. FTA đã củng cố vị trí chiến lược của Mexico trong
thương mại toàn cầu, nâng cao vị thế của Mexico trên trường quốc tế. Mexico
trở thành một điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư vào thế kỷ 21, góp phần vào
sự phát triển, tăng trưởng và thịnh vượng của Mexico. FTA tăng tính cạnh tranh
của các công ty ở Mexico, tăng nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Và hơn thế nữa
FTA đã đem lại thặng dư thương mại cho EU trong buôn bán với Mexico. Chính
bởi những lợi ích to lớn mà EU cũng như Mexico nhận được, thúc đẩy quan hệ
thương mại song phương đặc biệt trong khuôn khổ Hiệp định thương mại tư do
sẽ là một trong những mục tiêu hàng đầu trong chính sách thương mại của hai
bên trong những năm sắp tới.
2.3. Những hạn chế trong quan hệ thương mại giữa Mexico và EU
xoay quanh Hiệp định thương mại tự do
15
38,39
/>Bảng 4,5: />Mặc dù Hiệp định thương mại tư do mang lại nhiều lợi ích cho cả Mexico
lẫn Liên minh châu Âu EU nhưng những lợi ích đó lại không tương xứng. FTA
có lợi nhiều hơn cho EU. Cân bằng thương mại vẫn có lợi hơn cho EU với 7,61
tỷ Euro thặng dư vào năm 2001. Thặng dư này tăng từ 6,89 tỷ Euro vào 2000
đến 7,61 tỷ Euro vào 2001
40
. Đến năm 2004, thăng dư tăng đến 7,839 tỷ Euro
41
.
Trong khi EU được hưởng thặng dư thương mại thì Mexico lại phải chịu sự
thâm hụt trong quan hệ thương mại. Vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
của Mexico suy giảm. Kể từ khi FTA có hiệu lực cho đến năm 2006, sự thâm
hụt trong thương mại của Mexico với EU tăng 9,4 tỷ $ lên tới 16,9 tỷ $
(79,6%)
42.
Việc ký FTA tạo điều kiện cho EU tiếp cận thị trường năng động
Mexico với nguồn tài nguyên dồi dào, cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn lao động
rẻ mạt. Giá sản xuất rẻ đã thúc đẩy các công ty EU tăng cường đầu tư vốn ở
Mexico để sản xuất hàng hoá xuất khẩu đi các nước như Mỹ và xuất khẩu về
chính các nước EU đồng thời tận dụng thị trường có sức mua lớn tại Mexico để
tối đa hoá lợi nhuận của họ. Đầu tư đã không thực sự tạo ra nhiều việc làm cho
Mexico. Mặc dù thương mại giữa hai bên tăng cao nhưng tăng trưởng GDP ở
Mexico trong 3 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực chỉ ở mức 1%
43
. Xuất khẩu
hàng hoá từ Mexico đến EU chủ yếu là hoạt động giao dịch buôn bán giữa các
công ty mẹ ở các nước EU và các công ty con ở Mexico và sản phẩm chính là
dầu. Sự hiện diện của các công ty có vốn đầu tư của EU không làm nâng cao
chất lượng và giảm giá thành hàng hoá và dịch vụ như đối với điện, nước, ngân
hàng mà ngược lại còn độc quyền thị trường với giá cao.
Như vậy có thể thấy quan hệ thương mại giữa Mexico và EU hiện vẫn còn
tồn tại nhiều hạn chế, những mặt tiêu cực cần khắc phục trong thời gian tới. Có
như vậy mới có thể phát huy tối đa những lợi ích cho cả hai bên
KẾT LUẬN
16
40
/>41
/>42
/>Kể từ khi Hiệp định thương mại tự do giữa Mexico và EU có hiệu lực,
quan hệ thương mại giữa hai bên đã từng bước được củng cố và phát triển. Là
một hiệp định đầu tiên, nhanh nhất và tốt nhất giữa Mexico – 1 quốc gia Mỹ
Latinh, thành viên của NAFTA và Liên minh Châu Âu EU- một tổ chức kinh tế
hùng mạnh nhất thế giới với 27 nước thành viên, Hiệp định thương mại tự do
MEUFTA đã và đang phát huy những mặt tích cực trong thương mại toàn cầu,
đem lại lợi ích to lớn cho cả hai bên ký kết. Thương mại giữa Mexico và EU
tăng lên đáng kể. Giá trị xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ đều tăng cao. Đầu
từ trực tiếp nước ngoài giữa hai bên được tăng cường. Thị trường Mexico được
tự do hoá, trở thành một thị trường năng động nhất khu vực Mỹ Latinh. Với việc
tiến tới dỡ bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan, các rào càn, hạn chế
trong thương mại đầu tư, quan hệ hợp tác giữa Mexico và EU càng ngày càng
trở nên khăng khít. Mexico là đối tác quan trọng nhất của EU ở Mỹ Latinh và là
thị trường chiến lược quan trọng cho xuất khẩu hàng hoá của EU. Còn EU là đối
tác thương mại lớn thứ hai của Mexico sau Mỹ. Hai bên đang tích cực đẩy mạnh
hợp tác trên tất cả các lĩnh vực, khắc phục những mặt còn hạn chế để tiến tới
một mối quan hệ song phương bền chặt.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
17
1)Kim.Ngọc, Kinh tế thế giới 2000-2001,2001-2002 đặc điểm và triển
vọng, NXB Chính trị quốc gia.
2)Lê Văn Sang, Chiến lược kinh tế và quan hệ kinh tế Mỹ-eu-nhật Bản
thế kỷ XXI, NXB Khoa học xã hội Hà Nội-2002
3) />924232045 - 50k –
4) />5)
/>6) />7) />8) />9)
/>10) />11) http:// intl.econ.cuhk.edu.hk/rta/index.php?did=30 - 137k
12) />13) />m
14)nomia-
snci.gob.mx/sic_php/pages/bruselas/trade_links/ing/juning2007.pdf
15) />_relations.htm
16) />17) />18)http//euroinitiative.free.fr/eco-com.ttm
18
MỤC LỤC
19