Luận văn tiến sĩ sinh học
1
Bộ giáo dục và đào tạo
đại học quốc gia hà nội
trờng đại học khoa học tự nhiên
bùi quang tề
ký sinh trùng của một số loi cá nớc
ngọt đồng bằng sông cửu long v
các giải pháp phòng trị chúng
luận văn tiến sỹ sinh học
h nội 2001
Bùi Quang Tề
2
Bộ giáo dục và đào tạo
đại học quốc gia hà nội
trờng đại học khoa học tự nhiên
bùi quang tề
ký sinh trùng của một số loi cá
nớc ngọt đồng bằng sông cửu long
v các giải pháp phòng trị chúng
Chuyên ngành: Thủy sinh học
Mã số: 1.05.11
luận văn tiến sỹ sinh học
Ngời hớng dẫn khoa học
PGS TS Vũ Trung Tạng
TS Hà Ký
h nội - 2001
Luận văn tiến sĩ sinh học
3
Lời cảm ơn
Luận án ny đã đợc thực hiện nhờ sự giúp đỡ v cổ vũ của nhiều cơ quan
ban ngnh, của cơ sở đo tạo, của thy hớng dẫn v bạn bè, nhân đây tôi
xin trân trọng cảm ơn:
Bộ Giáo dục đo tạo, Bộ Thuỷ sản
Ban giám hiệu, Phòng đo tạo sau đại học, Khoa Sinh học, Bộ môn
động vật không xơng sống của trờng Đại học khoa học tự nhiên, Đại
học Quốc gia H Nội.
Viện Nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 2.
Khoa thuỷ sản trờng đại học Cần Thơ
Các cơ sở nuôi cá ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long
Ban lãnh đạo Viện Nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 1
Các cán bộ của bộ môn bệnh động vật thuỷ sản, Viện NCNTTS 1
Thầy TS H Ký.
Thầy PGS TS Vũ Trung Tạng.
Xin gửi lời cảm ơn chân thnh tới các bạn bè đồng nghiệp đã động viên
giúp đỡ tôi hon thnh luận án ny.
Xin cảm ơn vợ v các con đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ v cổ vũ chồng, bố
hon thnh đợc luận án ny.
Cuối cùng cùng con xin cảm ơn các vị Anh linh Tiên tổ v ông b Cha Mẹ
đã gi
nh tình thơng u ái đến con.
Nghiên cứu sinh
Bùi Quang Tề
4
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong
luận án là trung thực và cha từng đợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận án
Bùi Quang Tề
LuËn v¨n tiÕn sÜ sinh häc
5
Bïi Quang TÒ
6
Luận văn tiến sĩ sinh học
7
Bảng chữ viết tắt
T: cá thịt
G: cá giống
H: cá hơng
B: cá bột
CĐN: Cờng độ nhiễm
CĐNTB: Cờng độ nhiễm trung bình
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
KST: Ký sinh trùng
KQVCTG: Không qua vật chủ trung gian
Max. (Maximum): số lợng trùng đếm đợc nhiều nhất,
Min. (Minimum): số lợng trùng đếm đợc ít nhất,
NKS: Nội ký sinh
NGKS: Ngoại ký sinh
QVCTG: Qua vật chủ trung gian
TLN: Tỷ lệ nhiễm
TTKHV: Thị trờng kính kiển vi
VCCC: Vật chủ cuối cùng
VCTG: Vật chủ trung gian
Bùi Quang Tề
8
Mục lục
Trang
Lời cám ơn 3
Lời cam đoan 4
Bằng Tiến sỹ 5
Bảng chữ viết tắt 7
Mục lục 8
Lời nói đầu 10
Chơng 1: Tổng quan ti liệu 12
1.1. Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng cá trên thế giới 12
1.2. Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng cá ở Việt Nam 16
1.3. Nghiên cứu bệnh ký sinh trùng và biện pháp phòng trị bệnh ở cá 17
Chơng 2: Vật liệu v phơng pháp nghiên cứu 23
2. 1. Thời gian, địa điểm và đối tợng nghiên cứu 23
2. 2. Phơng pháp nghiên cứu 27
2. 2.1. Phơng pháp nghiên cứu ký sinh trùng cá 27
2. 2.2. Phơng pháp thí nghiệm phòng trị bệnh KST cho cá 37
2. 3. Tài liệu dùng cho viết luận án 40
Chơng 3: nghiên cứu Thnh phần loi v tình hình nhiễm kST
của cá nớc ngọt đồng bằng sông Cửu Long 41
3.1. Danh sách loài KST và tỷ lệ nhiễm ở cá nớc ngọt ĐBSCL 41
3.2. Phân loại KST của cá nớc ngọt ĐBSCL 58
1. Ngành trùng roi- Mastigophora 58
2. Ngành trùng bào tử sợi- Cnidosporidia 59
3. Ngành trùng lông- Ciliophora 66
4. Ngành giun dẹp- Plathelminthes 75
5. Ngành giun tròn- Nemathelminthes 147
6. Ngành giun đầu gai- Acanthocephales 159
7. Ngành giun đốt- Annelida 163
8. Ngành chân khớp- Arthropoda 164
Luận văn tiến sĩ sinh học
9
Chơng 4: nghiên cứu Đặc điểm khu hệ KST cá nớc ngọt ĐBSCL.169
4.1. Mức độ nhiễm KST giữa các mùa khác nhau ở cá nớc ngọt ĐBSCL. 169
4.2. Mức độ nhiễm KST của cá nớc ngọt ĐBSCL phụ thuộc theo giai đoạn
phát triển của cá (lứa tuổi) 171
4.3. Đặc điểm KST của cá nớc ngọt ĐBSCL phụ thuộc vào thức ăn và tập
tính sinh học của vật chủ 174
4.4. KST của cá nhập nội . 179
4.5. Thành phần loài KST của cá nớc ngọt ở ĐBSCL có nhiều điểm tơng
đồng với KST cá ở các nớc trong khu vực 183
Chơng 5: Ký sinh trùng gây bệnh nguy hiểm cho cá nuôi v kết
quả thí nghiệm biện pháp phòng trị 187
5.1. Những KST thờng gây bệnh nguy hiểm cho cá nuôi ở ĐBSCL 187
5.2. Kết quả thí nghiệm biện pháp phòng trị bệnh một số bệnh KST 192
5.2.1. Cải tạo và vệ sinh môi trờng nuôi cá 192
5.2.2. Dùng thuốc và hoá chất tiêu diệt ký sinh trùng 194
5.2.3. Quản lý và chăm sóc 202
Kết luận v đề xuất 204
Danh mục công trình của tác giả 207
Ti liệu tham khảo 209
Phụ lục 224
Bùi Quang Tề
10
Lời nói đầu
Sản lợng thuỷ sản bao gồm cả khai thác và nuôi trồng của thế giới năm 1975 đạt
87,9 triệu tấn, năm 1995 đạt 112 triệu tấn. Sản lợng nuôi trồng liên tục tăng từ 9
triệu tấn (10% tổng sản lợng) năm 1975 lên 27,8 triệu tấn năm 1995 (chiếm 25%).
Châu á là khu vực nuôi trồng thuỷ sản chủ yếu, năm 1995 sản xuất 90,1% sản lợng
nuôi trồng thuỷ sản thế giới. Thập kỷ qua sản lợng tăng 243,8%. Mức tiêu thụ cá
bình quân/ ngời ở các nớc châu á đang phát triển trong ba thập kỷ qua đã tăng gấp
đôi, từ 5kg đến 10kg/ngời, chủ yếu nhờ vào nuôi trồng thuỷ sản. Trong nuôi trồng
thuỷ sản, năm 1995 cá nớc ngọt chiếm 46%.
Việt Nam sản lợng nuôi trồng thuỷ sản đứng hàng thứ 13 trên thế giới, xếp hàng thứ
10 ở châu á. Sản lợng nuôi trồng thuỷ sản trong 10 năm qua của nớc ta đã tăng
172,1% (năm 1989 đạt 312.530 tấn, năm 1998 đạt 537.870 tấn), trong đó sản lợng
nuôi nớc ngọt chiếm 86,9% năm 1995.
Khi nghề nuôi cá phát triển thì hàng loạt vấn đề kỹ thuật phải đợc nghiên cứu nh:
giống, thức ăn, kỹ thuật nuôi và phòng trị bệnh. Trong các thuỷ vực nớc ngọt cá
thờng gặp các bệnh trong đó có các bệnh ký sinh trùng (KST) làm chậm tăng
trởng của cá, ảnh hởng đến chất lợng sản phẩm cá hoặc gây tử vong làm thiệt hại
lớn cho nghề nuôi cá. Nghiên cứu KST không chỉ có ý nghĩa thực tiễn mà còn có ý
nghĩa về mặt lý luận. Nghiên cứu một cách hệ thống sẽ cho phép chúng ta biết đợc
tình hình nhiễm KST, quy luật phát triển và gây bệnh của chúng ở cá nuôi, từ đó
nghiên cứu các biện pháp phòng trị bệnh cho cá có cơ sở khoa học và hiệu quả.
ở Việt Nam một số tác giả nghiên cứu ký sinh trùng có hệ thống trên một số loài cá
nớc ngọt ở miền Bắc nh: Hà Ký năm 1968 [118], [119], [120], [121], [122], [123],
Nguyễn Thị Muội (1976) [7], F. Moravec và O. Sey (1988- 1989) [66],[67], [70],
O.Sey và F. Moravec (1986) [83], O.Sey (1988) [84].
Luận văn tiến sĩ sinh học
11
ở miền Nam trong các nguồn tài liệu về ký sinh trùng có thể gặp một số tác giả nh
Lê Văn Hoà, Phạm Ngọc Khuê (1967) [100], Lê Văn Hoà và Bùi Thị Liên Hơng
(1969) [101]; Nguyễn Thị Muội (1985) [8]. Tuy nhiên, những nghiên cứu về lĩnh vực
này còn quá ít ỏi và cha có hệ thống. Để bổ sung và hoàn thiện khu hệ ký sinh
trùng cá nớc ngọt Việt Nam, thì việc nghiên cứu ký sinh trùng bệnh cá khu vực phía
Nam là rất cần thiết và bức xúc.
Đợc sự đồng ý của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Thuỷ sản, Trờng Đại học khoa học
tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. Hội đồng xét duyệt đề cơng nghiên cứu sinh
của trờng Đại học khoa học tự nhiên và các thầy hớng dẫn, chúng tôi thực hiện
luận án:
Ký sinh trùng của một số loài cá nớc ngọt đồng bằng sông Cửu Long và các giải
pháp phòng trị chúng.
Luận án nhằm giải quyết các mục tiêu sau:
1- Xác định thành phần loài ký sinh trùng ở cá nớc ngọt đồng bằng sông Cửu
Long.
2- Nghiên cứu một số đặc điểm của ký sinh trùng ở cá nớc ngọt đồng bằng sông
Cửu Long.
3- Thí nghiệm một số biện pháp phòng trị bệnh ký sinh trùng thờng gặp gây
nguy hiểm cho cá nuôi ở đồng bằng sông Cửu Long.
Bùi Quang Tề
12
Chơng 1: Tổng quan ti liệu
1.1. Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng cá trên thế giới.
Ký sinh trùng cá đã đợc nghiên cứu từ thời Linnae (1707-1778). ở Liên Xô cũ Viện
sỹ V. A. Dogiel (1882-1956) đã đặt nền móng cho nghiên cứu ký sinh trùng cá
[105]. Viện sỹ Bychowsky và các cộng sự, năm 1962 đã xuất bản cuốn sách: Bảng
phân loại ký sinh trùng của cá nớc ngọt Liên Xô [112], mô tả 1211 loài ký sinh
trùng của khu hệ cá nớc ngọt Liên Xô. Tiếp tục năm 1984, 1985, 1987 công trình
nghiên cứu khu hệ ký sinh trùng cá nớc ngọt Liên Xô đã xuất bản thành hai phần
gồm ba tập, do O.N. Bauer là chủ biên chính, S. S. Schulman chủ biên tập 1 [113],
A.V. Gussev chủ biên tập 2 [114], O.N. Bauer chủ biên tập 3 [115], ngoài ra còn
nhiều tác giả nghiên cứu ký sinh trùng lâu năm của Liên Xô cũ. Công trình đã mô tả
hơn 2.000 loài ký sinh trùng của 233 loài cá thuộc 25 họ cá nớc ngọt Liên Xô. Có
thể nói Liên Xô cũ là nớc có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu ký sinh trùng ở cá
sớm nhất, toàn diện và đồ sộ nhất.
Các nớc châu Âu khác cũng có nhiều nhà khoa học nghiên cứu ký sinh trùng trên
cá. Jií Lom (1958-1997) ngời Tiệp Khắc đã nghiên cứu ký sinh trùng Ciliophora,
Myxozoa, Microspora, Spotozoa và Mastigophora trên động vật trong đó có cá. Jií
Lom và G. Grupcheva (1976), nghiên cứu ký sinh đơn bào của cá chép ở Tiệp Khắc
và Bungari, các tác giả đã so sánh sự xuất hiện bệnh và mô tả loài mới [61]. Năm
1992 Jií Lom và Iva Dyková đã xuất bản cuốn Ký sinh trùng đơn bào (Protozoa)
của cá. Họ cho biết hiện nay có xấp xỉ 2.420 loài ký sinh trùng đơn bào (Protozoa)
ở cá đã đợc công bố. Nhiều loài gây nguy hiểm cho cá nuôi nớc ngọt và nuôi nớc
biển. Cuốn sách đã giới thiệu phơng pháp nghiên cứu và hệ thống phân loại của 7
ngành ký sinh đơn bào ở cá, gồm: ngành trùng Roi (Mastigophora), ngành
Opalinata, ngành Amip (Amoebae), ngành trùng Bào tử (Apicomplexa), ngành vi
bào tử (Microspora), ngành bào tử (Myxozoa), ngành trùng Lông (Ciliophora). [62]
ở Trung Quốc từ giữa thế kỷ 20 đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu ký sinh trùng
cá: Chen Chih-leu (1955, 1956, 1960) [125], [126], [127]; Nie Dashu (1960) [132];
Yin Wen-ying (1960, 1962, 1963) [134], [135], [136]; Wu H.S. (1956) [133]. Năm
Luận văn tiến sĩ sinh học
13
1973 Chen Chih-leu là chủ biên cuốn sách ký sinh trùng cá nớc ngọt tỉnh Hồ Bắc
[128], điều tra 50 loài cá nớc ngọt và phân loại đợc 375 loài ký sinh trùng, trong
đó: động vật đơn bào (Protozoa) có 159 loài, sán lá đơn chủ (Monogenea) có 116
loài, sán dây (Cestoda) 10 loài, sán lá song chủ (Trematoda) 33 loài, giun tròn
(Nematoda) 21 loài, giun đầu gai (Acanthocephala) 7 loài, đỉa (Hirudinea) 2 loài,
nhuyễn thể (Mollusca) 1 loài, giáp xác (Crustacea) 26 loài. Yu Yi và Wu Huisheng
(1989) đã nghiên cứu khu hệ giun đầu gai của 72 loài cá thuộc trung lu sông
Trờng Giang- Trung Quốc, đã phân loại đợc 10 loài, trong đó có 2 loài mới [137].
ở Nhật Bản công trình đồ sộ nhất của nhà ký sinh trùng học Yamaguti S. (1958,
1960, 1963, 1971) đã tổng kết kết quả nghiên cứu giun sán ký sinh ở động vật và
ngời trên toàn thế giới, xuất bản thành nhiều tập [92], [93], [94], [95], [96], [97],
[98]. Nagasawa K.; Awakura T. và Urawa S. (1989) [72] đã tổng kết nghiên cứu ký
sinh trùng trên cá nớc ngọt ở Hokkaido- Nhật Bản và xác định đợc 96 loài ký sinh
trùng, bao gồm: Protozoa- 21; Monogenea- 11; Trematoda- 22; Cestoda- 10;
Nematoda- 15; Acanthocephala- 7; Mollusca- 2; Copepoda- 6; Branchiura- 1 và
Isopoda- 1 và 38 loài cha xác định đến tên loài.
ấn Độ cũng là nớc có nhiều nhà khoa học nghiên cứu ký sinh trùng trên cá: G.D.
Bhalerao (1937) [24]; B.L. Kaw (1950) [46]; J.N. Karve (1951) [45]; S. Khera
(1955) [47]; S.L. Jain (1961) [42]; Y.R. Tripathi (1953, 1954, 1955) [88], [89], [90];
S.P. Gupta (1967) [36], đã nghiên cứu ký sinh trùng đơn bào và giun sán ký sinh trên
cá. A.V. Gussev (1976) đã nghiên cứu khu hệ sán lá đơn chủ ở 37 loài cá nớc ngọt
ấ
n Độ, phân loại đợc 57 loài sán lá đơn chủ trong đó có 40 loài mới [39].
ở Banglades, A.T.A. Ahmed và M.T. Ezaz, 1997 [19] đã nghiên cứu ký sinh trùng
của 17 loài cá trơn (không vẩy) kinh tế nớc ngọt, đã xác định đợc 69 loài giun sán
ký sinh (Monogenea- 1, Trematoda- 24, Cestoda- 10, Nematoda- 28,
Acanthocephala- 6). Cá trê trắng (Clarias batrachus) đã phát hiện số lợng giun sán
ký sinh nhiều nhất là 24 loài giun sán (Monogenea- 1, Trematoda- 5, Cestoda- 9,
Nematoda- 7, Acanthocephala- 2); thứ hai là cá trèn bầu (Ompok bimaculatus) phát
hiện 15 loài giun sán (Trematoda- 5, Cestoda- 1, Nematoda- 8, Acanthocephala- 1).
Bùi Quang Tề
14
Châu Phi và Trung Cận Đông đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu ký sinh trùng ở
cá, trong đó có Paperna I. (1961, 1964, 1965, 1996) [77], [78], [79], [80], [81]; D.C.
Kritsky (1960) [48]. Năm 1964 Paperna đã nghiên cứu ký sinh trùng đa bào của 29
loài cá nội địa Israel và phát hiện đợc 116 loài KST, gồm: Monogenea- 29,
Trematoda- 13, ấu trùng Trematoda- 43, Cestoda- 7, Nematoda- 15,
Acanthocephala- 1, Hirudinea- 1, Mollusca- 1, Crustacea- 6 [79]. Năm 1996
Paperna cho xuất bản cuốn sách Ký sinh trùng và bệnh truyền nhiễm ở cá châu
Phi, ông đã mô tả các bệnh ký sinh trùng ở các trại nuôi cá và khoá phân loại ký
sinh trùng quan trọng của cá [81].
Hoffman G.L. (1998) [41] đã tổng kết nghiên cứu ký sinh trùng của cá nớc ngọt ở
Bắc Mỹ (Mỹ và Canada) gồm 416 loài cá thuộc 36 họ của cá nội địa và cá nhập nội;
ngoài ra còn 114 loài cá nớc lợ, cá nhiệt đới và cá biển. Ký sinh trùng của cá nớc
ngọt Bắc Mỹ trong 19 ngành (Phylum) thuộc 4 giới (Kingdom): Kingdom
Prokaryotae- sinh vật nhân nguyên thuỷ; Kingdom Protista- động vật nguyên sinh;
Kingdom Fungi- nấm; Kingdom Animalia- động vật đa bào.
Một số nớc khu vực Đông Nam á đã có các nghiên cứu ký sinh trùng cá từ đầu thế
kỷ 20, nhng cha nghiên cứu toàn diện các nhóm KST, mà thờng chỉ nghiên cứu
theo từng nhóm KST nh: sán lá song chủ (Philippines) hoặc sán lá đơn chủ
(Malaysia) hoặc ở một vài loài cá. [20]
ở Philippines các tác giả nghiên cứu KST cá sớm nhất là Tubangui M.A. (1928-
1946); Vasquez-Colet (1938-1943); Africa C.M. (1936-1938); Carmen C. Velasquez
(1951-1988) [26]. Albaladejo J.D. (1989); Boromthanarat S. (1982); Bamdad-
Reantaso M.G. (1989) [22]; Yambot A.V. (1996) [99]. Năm 1975 Carmen C.
Velasquez [26] đã xuất bản cuốn sách Sán lá song chủ Trematoda ở cá Philippines
trong đó đã mô tả 73 loài thuộc 50 giống 21 họ sán lá song chủ ký sinh trên 27 họ cá
của Philippines. Các tác giả Arthur, J.R.; Lumanlan-May, S. (1997) [21] khi tổng kết
nghiên cứu KST của cá ở Philippines đã điều tra và xác định đợc 201 loài KST ở
172 loài cá, gồm: Apicomplexa- 1, Ciliophora- 16, Mastigophora- 2, Microspora- 1,
Luận văn tiến sĩ sinh học
15
Myxozoa- 9, Trematoda- 90, Monogenea- 22, Cestoda- 6, Nematoda- 20,
Acanthocephala- 5, Mollusca-1, Branchiura- 2, Copepoda- 21 và Isopoda- 5.
ở Thái Lan nhà khoa học ngời Mỹ Charles Branch Wilson (1926, 1927, 1928), đã
mô tả hai loài của Argulus và Caligus từ cá nớc ngọt Thái Lan [20]. Paiboon-
Yutisri; Apirum- Thuhanruksa (1985) [75], khi điều tra khu hệ KST của một số cá
sống tự nhiên ở một số vùng của Thái Lan đã phát hiện 16 loài ký sinh trùng, trong
đó gồm 3 loài ngoại ký sinh và 13 loài nội ký sinh ở cá bống tợng (Oxyeleotris
marmoratus) với tỷ lệ nhiễm 69,0% và giun sán ở cá sặc rằn (Trichogaster
pectoralis). Komonporn Tonguthai (1992) [43], [87] đã nghiên cứu Isopod và
Myxosporidia ký sinh trên cá. Chinabut Supranee (1991, 1993, 1994) [27], [28], [29]
đã nghiên cứu sán lá đơn chủ trên một số cá nớc ngọt. Theerawoot Lerssuthichawal
(1997) [86] nghiên cứu sán lá đơn chủ ký sinh trên cá trê ở Thái Lan.
ở Indonesia, khi nghiên cứu sán dây, sán lá song chủ và giun đầu gai trên cá nớc
ngọt ở Java, Louis Bovien (1926, 1927, 1933) đã mô tả một giống mới và loài mới
Djombangia penetrans tìm thấy ở cá trê trắng (Clarias batrachus); Isoparorchis
eurytremum ở cá Wallago attu. Tiếp theo nhà khoa học ngời Đức Alfred L.
Buschkiel (1932, 1935) đã nghiên cứu ký sinh trùng đơn bào (Ichthyophthyrius
multifiliis) ở một số loài cá nớc ngọt của Indonesia. Một số tác giả của Viện nghiên
cứu cá nớc ngọt Bogor đã nghiên cứu ký sinh trùng ở cá nuôi, Dr Darnas Dana
(1978), một trong số họ đã nghiên cứu Myxosporidia ở cá nớc ngọt [20].
Malaysia là nớc nghiên cứu ký sinh trùng của cá muộn hơn. Leong Tak-Seng
(1978, 1992) nghiên cứu KST đa bào của cá n
ớc mặn. Mohamed Shariff (1980,
1985, 1992) nghiên cứu KST của cá rô phi và một số cá nuôi trong bể kính. Susan
Lim Lee-Hong (1983,1985,1986,1987,1990, 1997) đã nghiên cứu hệ thống phân loại
của sán lá đơn chủ ở cá nớc ngọt Malaysia [49], [50] [60].
Bùi Quang Tề
16
ở Lào, Moravec và Scholz, 1988 đã xác định đợc 11 loài giun tròn (Nematoda) ký
sinh ở 10 loài cá nớc ngọt. Scholz, 1991 khi điều tra ấu trùng (metacercaria) của
Trematoda ở 61 loài cá nớc ngọt, đã xác định đợc 14 loài ký sinh trùng [82].
1.2. Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng cá ở Việt Nam
Ngời đầu tiên nghiên cứu ký sinh trùng ở cá Việt Nam là nhà ký sinh trùng học
ngời Pháp, bác sỹ Albert Billet (1856-1915). ông đã mô tả một loài mới sán lá song
chủ Distomum hypselobagri (1898) ký sinh trong bóng hơi cá nheo ở Việt Nam. P.
Chevey và J. Lemasson (1936) đã nghiên cứu sự ký sinh của trùng mỏ neo Lernaea
carassii Tidd, 1933 (syn. của L. cyprinacea Linne, 1758) ở cá chép nuôi [20].
Từ năm 1961- 1976 một số nhà khoa học của Liên Xô cũ Oschmarin P.G., Mamaev
U.L., Paruchin A.M., Lebedev B.I. khi điều tra ký sinh trùng ở hơn 60 loài cá của
vịnh Bắc Bộ, đã công bố hơn 20 bài báo trong các tạp chí và sách tham khảo [108],
[109], [110], [116], [117]. Các tác giả đã xác định 190 loài giun sán ký sinh, gồm:
Monogenea- 46, Cestoda- 10, Trematoda- 95, Nematoda- 31, Acanthocephala- 8,
trong đó đã mô tả đợc 9 giống và 37 loài mới đối với khoa học.
Các công trình nghiên cứu KST ở cá toàn diện và đầy đủ nhất của Tiến sỹ Hà Ký
(1968, 1971) [118], [119], [120], [121], [122], [123] khi điều tra ký sinh trùng ở 16
loài cá kinh tế ở Bắc Bộ Việt Nam, ông đã xác định đợc 120 loài ký sinh trùng
thuộc 48 giống, 37 họ, 26 bộ và 10 lớp, trong đó trùng Roi (Mastigophora)- 2 loài,
trùng Bào tử (Myxozoa)- 18, trùng Lông (Ciliophora)- 17, Monogenea- 42, Cestoda-
4, Trematoda- 8, Nematoda- 12, Acanthocephala- 2, Crustacea- 15; Ông cũng đã
mô tả 1 họ, 1 giống và 42 loài mới với khoa học.
Lê Văn Hòa và Phạm Ngọc Khuê (1967) [100] Lê Văn Hoa và Bùi Thị Liên Hơng
(1969) [101], đã nghiên cứu phân loại giun tròn trên cá ở Nam Bộ. Các tác giả đã mô
tả 1 giống và 2 loài mới: Pseudoproleptus lamyi, Campanarougetia
campanarougetae.
Luận văn tiến sĩ sinh học
17
Năm 1976 Nguyễn Thị Muội và cộng sự đã nghiên cứu giun đầu gai trên cá thuộc
vùng đồng bằng Bắc Bộ, bớc đầu phân loại đợc 9 loài ký sinh trên 12 loài cá [7].
Năm 1981-1985, Nguyễn Thị Muội và cộng sự [8] khi điều tra ký sinh trùng của 20
loài cá nớc ngọt Tây Nguyên, sơ bộ phân loại đợc 57 taxon, trong đó lớp sán lá
đơn chủ (Monogenea)- 15 taxon, ký sinh đơn bào (Protozoa)- 13, Trematoda- 11,
Crustacea- 7, Cestoda- 5, Nematoda- 3, Acanthocephala- 3.
Hai nhà giun sán học F. Moravec và O. Sey (1986-1991) đã phân loại giun sán ký
sinh ở một số mẫu cá của trờng đại học tổng hợp Hà Nội thu trên cá thuộc hệ thống
sông Hồng. Các tác giả đã phân loại đợc 16 loài sán lá song chủ (Trematoda), 21
loài giun tròn (Nematoda), 7 loài giun đầu gai (Acanthocephala), trong đó đã mô tả
16 loài, 2 giống mới đối với khoa học [66], [67], [68], [69], [70], [71], [83], [84].
Lê Văn Châu và cộng sự (1997) nghiên cứu vật chủ trung gian sán lá gan nhỏ đã xác
định đợc 10 loài cá nhiễm metacercaria của Clonorchis và Opisthorchis ở một số
tỉnh của miền Bắc và miền Trung Việt Nam [2].
1.3. Nghiên cứu bệnh ký sinh trùng và biện pháp phòng trị bệnh ở
cá.
Nhiều loài ký sinh trùng là nguyên nhân gây bệnh nguy hiểm cho cá ở giai đoạn sớm
(cá hơng, cá giống). Nguyên nhân gây bệnh cho cá do KST đã đợc nhiều tác giả
trên thế giới thông báo. Nhiều loài ký sinh trùng đã gây thiệt hại cho nghề nuôi cá,
nh nhóm đơn bào ngoại ký sinh, sán lá đơn chủ (Monogenea) giun sán và giáp xác
(Crustacea).
O. N. Bauer (1969, 1977) cho biết 1 con cá mè 2 tuổi có 10.647 cá thể Dactylogyrus,
ở cá chép cỡ 3,0-4,5cm- cờng độ nhiễm 20-30 cá thể/1 con cá và đã làm cho cá chết
[102].
Bệnh Argulosis là bệnh phổ biến của cá ở nhiều nớc trên thế giới. Theo O.N.Bauer
(1977) Argulus ký sinh làm cho cá hồi cỡ 0,7-1,0kg chết khi cờng độ nhiễm 100-
Bùi Quang Tề
18
200 cá thể/1 con cá [102]. Tỉnh Triết Giang-Trung Quốc, 1955 cá mè trắng 2-3 tuổi
nuôi ở mặt nớc lớn đã bị chết nhiều do nhiễm Argulus [129]. ở Ucraina, 1960 bệnh
rận cá làm chết gần 2 triệu cá chép con, 3 triệu con khác bị thơng và chết dần [102].
Theo Hà Ký (1961) Lernaeosis và Dactylogyrosis ở cá mè hoa giai đoạn cá hơng
trong một số ao nhiễm bệnh 100%, khi cờng độ nhiễm 210-325 cá thể/1 con cá, cá
bị chết 75%. Bệnh đã làm chết 3 vạn cá hơng mè hoa và trắm cỏ của Trung Quốc
mới nhập vào nớc ta nuôi ở trại cá Nhật Tân [4].
Tháng 5/1969 hàng loạt mè trắng cỡ 12-15 cm ở hợp tác xã Tứ Hiệp-Hà Nội đã bị
chết do Lernaea ký sinh [4]. Năm 1982, trong 100 ao nuôi cá của tỉnh Đắc Lắc, Bình
Định cá mè, cá trắm cỏ bị nhiễm Lernaea với tỷ lệ từ 70-80% và cờng độ 5-20 cá
thể/ 1 con cá, thậm chí 80 cá thể/1 con cá [8]. ở miền Trung, Dactylogyrus ký sinh
làm chết hàng loạt cá vàng, gây tổn thơng cho một số cơ sở nuôi cá cảnh [8].
Năm 1979, cá chép của một số hồ nuôi cá ở Hà Nội đã nhiễm Gyrodactylus với tỷ lệ
nhiễm ở da và mang 100%, cờng độ nhiễm 20-30 cá thể/10x9 trên thị trờng kính
hiển vi (TTKHV), có lamen đếm đợc 1125 cá thể, bệnh đã gây chết hàng loạt cá
chép các cỡ khác nhau [5].
Từ năm 1975- 1984, Myxobolosis, Thelohanellosis thờng xuyên gây bệnh cho cá
chép Hungari nhập nội nuôi ở Viện nghiên cứu nuôi
trồng thuỷ sản 1, Trại cá Lạng
Giang- Bắc Giang, Trại cá Tiền Phong- Quảng Ninh. Bệnh đã làm kênh nắp mang
của cá chép giống và gây chết cá hàng loạt [10].
Cuối năm 1996 đầu năm 1997 đầm nớc lợ ở Yên Hng, Quảng Ninh rộng 324ha đã
bị đỉa (Piscicola) ký sinh làm chết khoảng 20-25 tấn cá rô phi [11].
Tháng 6/1998 hơn hai tạ cá trắm cỏ hơng đa từ trạm thuỷ sản hồ Núi Cốc ra nuôi
lồng ở ngoài hồ, sau 3 ngày cá chết hầu hết, nguyên nhân chính là do cá bị nhiễm ấu
trùng Centrocestus formosanus ở mang với TLN 100%, bào nang ký sinh dầy đặc
trên tơ mang cá .
Luận văn tiến sĩ sinh học
19
Các nhà nghiên cứu ký sinh trùng học bệnh cá đều thống nhất chung một quan điểm
cho rằng việc dùng thuốc để chữa bệnh cho cá là rất khó khăn, tốn kém nên phòng
bệnh là rất quan trọng, tuỳ bệnh và từng điều kiện ngoại cảnh mà chúng ta có thể sử
dụng các biện pháp xử lý khác nhau.
Phơng pháp tốt nhất là tạo điều kiện môi trờng thuận lợi cho cá nuôi đồng thời diệt
đợc ký sinh trùng. Ao nuôi phải đợc cải tạo khử trùng trớc khi thả cá, cá vận
chuyển nên đợc kiểm tra ký sinh trùng và xử lý nếu cá nhiễm bệnh [44], [102],
[129].
Một số bệnh KST rất nguy hiểm khó chữa trị, nên khi nhập nội cá cần phải nuôi cách
ly, nh trùng quả da Ichthyophthyrius phải cách ly không dới một tuần tuỳ thuộc
vào nhiệt độ, nhiệt độ nớc 26
0
C cần 2-8 tuần cách ly. Theo một số tác giả Indonesia
thời gian cách ly là 3 tuần. Để chắc chắn trong ao không nhiễm trùng quả da thì
phải tháo cạn nớc ao, phơi đáy ao 4 ngày, khử trùng bằng vôi nung CaO, liều lợng
1.000- 3.000kg/ha [44]. Các tác giả của Liên Xô và Trung Quốc cũng đa ra ý kiến
tơng tự [102], [129]. Trị bệnh trùng quả da phải chú ý vào hai giai đoạn khác nhau
trong vòng đời của chúng. Diệt chúng trong giai đoạn ấu trùng bơi tự do dễ dàng hơn
giai đoạn chúng sống ký sinh trong ký chủ rất nhiều [44]. Trong việc tạo điều kiện
môi trờng không phù hợp với trùng quả da, Hoffman và Mayer (1974) [40], đã thí
nghiệm nuôi cá trong bể kính bằng cách điều chỉnh nhiệt độ. Nhiệt độ đợc tăng lên
tới 35
0
C và duy trì trong năm ngày, rồi hạ thấp từ từ xuống nhiệt độ ban đầu của
nớc đã thành công trị đợc bệnh trùng quả da.
Chu kỳ sống của Myxosporidia đã tạo cho chúng có khả năng tự vệ chống lại các
biện pháp phòng trị chúng. Các giai đoạn sống diễn ra bên trong các tổ chức cơ thể
của ký chủ, gây khó khăn cho việc phòng trị bệnh. Ngoài ra do cấu tạo của bào tử có
lớp vỏ rất chắc chắn, nên dùng hoá chất diệt đợc bào tử là hết sức khó khăn. Vài
trờng hợp đã ghi nhận bào tử tồn tại trong thời gian 15 năm ở điều kiện khô hạn
[124], do đó cách tốt nhất để phòng Myxosporidiosis là phải kiểm soát đợc nguồn
nớc. ở Trung Quốc việc gây mầu cho ao ơng bằng phân xanh để ơng cá con sẽ
hạn chế đợc bệnh hơn khi dùng phân chuồng [129]. Những ao đã có cá nhiễm
Bùi Quang Tề
20
Myxosporidia cần phải xử lý bằng cách tháo cạn nớc ao, khử trùng bằng vôi nung
(CaO) rồi phơi đáy ao hàng tuần. ở Liên Xô có những trại nuôi cá chép khi bị bệnh
họ có thể ngừng nuôi
cá một vài năm để diệt các bào tử trong đáy ao [102]. Việc
tăng cờng đầy đủ thức ăn cho cá sẽ làm giảm tỷ lệ chết và tăng khả năng hồi phục.
Thí nghiệm này đã thực hiện ở Indonesia để phòng bệnh Myxobolus koi ở cá chép
cho thấy rằng, khi đủ thức ăn cho cá sẽ bị nhiễm bệnh nhẹ và có khả năng hồi phục
nhanh hơn ao không cung cấp đủ thức ăn [44].
Hoá chất dùng để diệt ký sinh đơn bào hiện nay có hàng trăm loại, đã đợc sử dụng
trên khắp thế giới [96]. Muối ăn (NaCl) là hoá chất đợc dùng phổ biến nhất để
phòng trị bệnh ký sinh đơn bào ngoại ký sinh ở cá nớc ngọt, tắm với nồng độ
25.000ppm trong 10-15 phút. Formalin 15-40ppm tắm trong thời gian 12-24 giờ
hoặc tắm với nồng độ 150- 250ppm trong thời gian 1-2 giờ. Trung Quốc dùng
sulphat đồng (CuSO
4
.5H
2
O) hoặc sulphat đồng với sulphat sắt (tỷ lệ 5:2) với nồng độ
0,7ppm, phun trực tiếp xuống ao hoặc tắm với nồng độ 2,0- 8,0ppm trong thời gian
20-30 phút, chú ý khi sử dụng cần quan tâm đến độ cứng của nớc [129]. Xanh
malachite phun xuống ao với nồng độ 0,1-0,3ppm hoặc tắm với nồng độ 1-4ppm
trong thời gian 30-60 phút [44], [102].
Phòng bệnh sán lá đơn chủ (Monogenea) cũng tơng tự nh sán lá song chủ và sán
dây. Cũng cần phải tiến hành tẩy dọn đáy ao, khử trùng bằng vôi nung (CaO) với liều
lợng 2.500kg/ha. Có nhiều phơng pháp phòng trị bệnh sán lá đơn chủ đã thực
hành ở nhiều nơi trên thế giới. Danh mục các loại thuốc sử dụng cũng chỉ là định
hớng lựa chọn cho các địa điểm sử dụng và tuỳ thuộc vào điều kiện của địa điểm
đó. Muối ăn (NaCl) rẻ tiền dùng chữa bệnh rất thông dụng cho cá nớc ngọt. Ngời
ta sử dụng NaCl với nồng độ 3-5% để tắm cho cá trong thời gian 5-10 phút [44],
[102], [129]. Các chuyên gia Liên Xô đã chứng minh rằng formalin sử dụng phòng
trị bệnh tốt hơn 1,5 lần muối ăn [81], tắm trong thời gian không hạn chế với nồng độ
10-25 ppm. Thái Lan cũng dùng formalin tắm cho cá trê với nồng độ 150ppm trong
thời gian 30-60 phút. Một số thuốc diệt côn trùng có hiệu quả và thông dụng là
Dipterex dùng nồng độ 25ppm tắm thời gian 3 phút hoặc phun xuống ao với nồng
độ 0,4ppm [44], [102], [129].
Luận văn tiến sĩ sinh học
21
Phòng và trị bệnh sán lá song chủ Trematoda rất khó cho nên giữ cho cá nuôi không
bị nhiễm bệnh ngay từ đầu là cách phòng bệnh tốt nhất và việc loại trừ vật chủ trung
gian nh ốc cũng nh vật chủ cuối cùng nh động vật có vú, chim [44]. Dùng vôi
(CaO) diệt nhuyễn thể trong ao nuôi có độ sâu 1m với liều lợng 125-150kg/acre
(0,405ha) [44, tr.129]. Trung Quốc dùng bánh lá chè với liều lợng 50kg/acre, ngâm
trong 24 giờ [129].
Trị bệnh sán dây Cestoda cũng khó khăn nh trị bệnh nội ký sinh khác. Ngời ta
thờng sử dụng phơng pháp cắt đứt vòng đời của chúng bằng cách loại trừ vật chủ
trung gian của chúng tơng tự nh sán lá song chủ. Phenasal có hiệu quả khi thêm
vào thức ăn với lợng 0,5g/kg trọng lợng cá, cho ăn 6 ngày, kết quả là đã diệt đợc
sán lá, nhng sau một tháng cá có thể tái nhiễm sán dây. Phenothiazine
(thiephenilamine) đợc dùng cho cá ăn với liều lợng 4,5g/kg trọng lợng cá và cho
ăn 3 ngày liên tục cũng cho kết quả trị đợc bệnh sán dây [44].
Giun tròn Nematoda và giun đầu gai Acanthocephala không có phơng pháp phòng
trị đặc hiệu. Biện pháp tổng hợp là sử dụng ba hớng: tẩy dọn sạch ao hồ nuôi cá, cắt
đứt vòng đời của giun và dùng thuốc tẩy giun (anthelminthic) bằng cách trộn vào
thức ăn cho cá ăn để loại bỏ giun trong hệ tiêu hoá [44].
Phòng trị bệnh giáp xác (Crustacea) phải chú ý khi dùng hoá chất không làm mất
cân bằng sinh thái môi trờng. Đối với trùng mỏ neo (Lernaea) biện pháp phòng chủ
yếu ngăn cản không cho ấu trùng Lernaea xâm nhập vào ao nuôi hoặc loại trừ chúng
trớc khi gây bệnh cho cá. Các bớc đợc tiến hành nh: kiểm tra nguồn nớc nhiễm
ký sinh trùng sống tự do; tẩy trùng cho cá khi chuyển đến nơi nuôi mới và cách ly
chúng khi chuyển đến; khử trùng ao khi thả cá mới; ngăn chặn các sinh vật mang
mầm bệnh nh ếch, nhái, nòng nọc và cá tạp. Các hoá chất sử dụng diệt giáp xác có
rất nhiều loại (có tới 25 loại), thông thờng dùng muối ăn (NaCl), formalin để diệt
ấu trùng sống tự do, dipterex phun trực tiếp xuống ao với nồng độ 0,25-0,50ppm, tuỳ
theo nhiệt độ có thể tăng đến 1ppm [44], [129].
Bùi Quang Tề
22
Cho đến nay, ở Việt Nam đã nghiên cứu và tổng kết đợc một số bệnh ký sinh trùng
thờng gặp ở cá giống: bệnh trùng bào tử sợi; bệnh tà quản trùng; bệnh trùng bánh
xe, bệnh trùng quả da; bệnh sán lá đơn chủ; bệnh giun tròn; bệnh ấu trùng sán ở
mang cá; bệnh trùng mỏ neo và bệnh rận cá [4], [5]. Các tác giả Hà Ký (1966-1992),
Nguyễn Thị Muội (1985), Nguyễn Văn Thành (1992) và Bùi Quang Tề (1990-1999)
đều thống nhất ý kiến, bệnh trùng bánh xe là nguy hiểm nhất ở các giai đoạn cá con.
Các tác giả đã thí nghiệm sử dụng một số hoá chất và cây thuốc Nam phòng trị bệnh
cho cá nuôi nh sulphat đồng, formalin, xanh malachite, muối ăn, dipterex, lá xoan,
hạt cau, hạt keo dậu. Các tác giả đã đa ra biện pháp phòng bệnh tổng hợp cho cá
nuôi: cải tạo và cải thiện môi trờng nuôi; sử dụng thuốc phòng trị bệnh cho cá; tăng
cờng sức khoẻ cho cá nuôi.
Luận văn tiến sĩ sinh học
23
Chơng 2: Vật liệu v phơng pháp nghiên cứu
2.1. Thời gian, địa điểm và đối tợng nghiên cứu
2.1.1. Thời gian nghiên cứu
Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài từ năm 1984 đến 1996 .
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu
Đồng bằng sông Cửu Long: diện tích 3.900.000 ha trên lãnh thổ Việt Nam.
Khí hậu nhiệt đới gió mùa: Mùa khô: gió mùa Đông Bắc, từ tháng 12-4 năm sau.
Mùa ma: gió mùa Tây Nam, từ tháng 5-11. Lợng ma trung bình năm: 1.500 mm
(vùng trung tâm và Tây Bắc), 2.300 mm (phía Nam). 70-80% lợng ma tập trung
vào mùa ma. Nhiệt độ không khí trung bình năm: 26,5-27,0
0
C.
Chế độ thuỷ văn: Sông Tiền lợng dòng chảy chiếm 75-80%, sông Hậu lợng dòng
chảy 15-20%. Lợng dòng chảy mùa lũ chiếm 70-80%, từ tháng 6 - 10,11.
Nguồn lợi thuỷ sản ĐBSCL mang tính nhiệt đới: có 236 loài cá đợc tìm thấy ở hạ
lu sông Mê Kông thuộc Việt Nam, nhiều nhất là họ cá chép có 74 loài; bộ cá trơn
có 51 loài; có khoảng 50 loài có giá trị kinh tế và 10 loài cá nuôi. Ngoài ra có các
loại tôm nớc lợ, tôm càng xanh và một số nhuyễn thể nớc lợ có giá trị kinh tế cao.
Sản lợng cá nội địa từ năm 1981- 1988, biến thiên từ 112.650- 176.156 tấn (trung
bình 146.991 tấn)
Đồng bằng sông Cửu Long có 5 vùng chính: Vùng đồng bằng ngập lũ của sông Tiền
và sông Hậu; Vùng Đồng Tháp Mời ngập lũ khép kín; Vùng Hà Tiên ngập lũ không
khép kín; Vùng rừng tràm U Minh; Vùng bãi triều. Vì điều kiện chúng tôi chỉ thu
mẫu đựợc ba vùng: Vùng đồng bằng ngập lũ của sông Tiền và sông Hậu, Vùng Đồng
Tháp Mời ngập lũ khép kín, Vùng rừng tràm U Minh.
Các điểm thu mẫu gồm 15 điểm thuộc các tỉnh: Đồng Tháp (1- Hồng Ngự, 2- Tháp
Mời, 3- Sa Đéc); Tiền Giang (4- Cái Bè, 5- ấp Bắc- Châu Thành, 6- Mỹ Tho);
Long An (7- Mộc Hoá, 8- Tân An); Sóc Trăng (9- Thị xã Sóc Trăng); Cần Thơ
Bùi Quang Tề
24
(10- Thành phố Cần Thơ); An Giang (11- Long Xuyên,; 12- Châu Đốc); Bạc Liêu
(13- Thị xã Bạc Liêu); Cà Mau (14- Thị xã Cà Mau); Tp Hồ Chí Minh (15- Thủ
Đức); khu vực nuôi cá bè Châu Đốc- An Giang; khu vực ơng cá tra giống huyện
Hồng Ngự- Đồng Tháp; Trại cá Cái Bè- Tiền Giang; trại cá Đại học Cần Thơ; trại cá
Bạc Liêu; trại cá Thủ Đức- thành phố Hồ Chí Minh (xem hình 2.1).
Hình 2.1: Các địa điểm thu mẫu KST của cá nớc ngọt ở đồng bằng sông Cửu long:
1- Hồng Ngự; 2- Tháp Mời; 3- Sa Đéc; 4- Cái Bè; 5- ấp Bắc- Châu Thành;
6- Mỹ Tho; 7- Mộc Hoá; 8- Tân An; 9- Sóc Trăng; 10- Cần Thơ; 11- Long Xuyên;
12- Châu Đốc; 13- Bạc Liêu; 14- Cà Mau; 15- Tp Hồ Chí Minh.
106
0
106
0
10
0
1
0
0
Biên Hoà
11
Tp Hồ Chí
Tân An
Mỹ Tho
Bến Tre
Cao Lãnh
Long Xuyên
Đồng Thành
Mộc Hoá
ấ
p Bắc
Đồng Tháp Mời
Hồng Ng
ự
Châu Đốc
Tân Châu
Gò Côn
g
Sa Đéc
Cần Th
ơ
Vĩnh Long
Trà Vinh
Sóc Trăng
Bạc Liêu
Hà Tiên
Rạch Giá
Cái Bè
Cà Mau
Cái Nớc
Năm Căn
ử
ử
15
8
6
7
5
4
3
2
1
12
11
10
9
13
14
80
1
A
1
A
1
A
1
A
1
A
Luận văn tiến sĩ sinh học
25
2.1.3. Đối tợng nghiên cứu
Cá nớc ngọt ĐBSCL có tới 236 loài, trong đó có khoảng trên 50 loài cá kinh tế [1,
tr.269]. Chúng tôi đã tiến hành điều tra KST chủ yếu ở nhóm cá kinh tế và một số
loài cá nhập nội. Đã mổ khám 3.217 cá thể của 41 loài và dòng cá nớc ngọt đồng
bằng sông Cửu Long (xem bảng 2.1), trong đó có 1.832 cá giống của 6 loài cá tra, cá
trê vàng, rôhu, mrigal, catla, rô phi vằn và 5 loài cá nhập nội: rôhu, mrigal, catla, rô
phi, cá mùi.
Bảng 2.1: Các loài cá ở đồng bằng sông Cửu Long đã đợc thu mẫu ký
sinh trùng
STT
(1)
Tên khoa học
(2)
Tên địa phơng
(3)
Số cá thể
thu mẫu
(4)
1. Notopteridae Họ thát lát
1
Notopterus notopterus (Pallas)
Cá thát lát 58 - T
2. Cyprinidae Họ cá chép
2
Barbodes (Puntius) gonionotus (Bleeker)
Cá mè Vinh 62 - T
3
Puntius altus (Gỹnther)
Cá he vàng 54 - T
4
Puntius binotatus (Cuvier & Valen.)
Cá trắng 15 - T
5
Puntiorplites proitozysron (Bleeker)
Cá dảnh 11 - T
6
Leptobarbus hoevenii (Bleeker)
Cá chài 59 - T
7
Cirrhinus microlepis Sauvage
Cá duồng 15 - T
8
Cirrhinus jullieni Sauvage
Cá linh ống 25 - T
9
Cirrhinus mrigala (Hamilton)
Cá mrigal 29 - G
10
Catla catla (Hamilton)
Cá catla 35 - G
11
Labeo rohita (Hamilton)
Cá rô hu 118 - G
12
Labiobarbus linaetus Sauvage
Cá linh rìa 10 - T
13
Osteochilus melampleura (Bleeker)
Cá mè hôi 15 - T
14
Hampla macrolepidota (Val. & Ham.)
Cá ngựa 43 - T
3. Siluridae Họ cá nheo
15
Ompok bimaculatus (Bleeker)
Cá trèn bầu 51 -T
16
Wallagonia attu (Bloch)
Cá leo 30 -T
17
Wallago dinema Bleeker
Cá trèn răng 15 - T
4. Clariidae Họ cá trê
18
Clarias macrocephalus (Gỹnther)
Cá trê vàng 68 - T
Clarias macrocephalus (Gỹnther)
Cá trê vàng 46 - G
19
Clarias batrachhus (Linnaeus)
Cá trê trắng 46 - T
5. Plotosidae Họ cá ngát
20
Plotosus cunius (Hamilton)
Cá ngát 12 - T