Tải bản đầy đủ (.pdf) (132 trang)

Giáo trình Cấu thành màu sắc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (5.08 MB, 132 trang )


1
Viện mỹ thuật trường đại học thanh hoa trung quốc












CẤU THÀNH MÀU SẮC

(giáo trình của chuyên ngành thiết kế mỹ thuật- arts and design)

















Nhà xuất bản mỹ thuật hồ bắc - 2004

2
Chương 1. Màu sắc và cấu thành màu sắc
Tiết 1. Màu sắc
1. Khái niệm về màu
Thế giới tự nhiên thật xinh đẹp, thế giới vật chất mà con người tạo ra thì càng
phong phú và đa dạng. Trời xanh, mây trắng, màu xanh của nước, màu đỏ của mặt trời,
màu vàng chanh, các đồ trang sức bằng vàng, các dụng cụ bằng bạc, các thiết bị điện màu
đen, những toà nhà màu xám,… Tất cả chúng muốn tạo ra cho chúng ta một cảm giác về
vẻ đẹp thì bắt buộc phải có những điều kiện sau:
 Ánh sáng
Chúng ta hãy thử nghĩ xem, bên trong một miếng sơn đen hoặc bên trong một căn
phòng tối, thì sẽ gần như mất đi khả năng nhận biết về màu sắc. Để cảm nhận được một
màu sắc đầu tiên cần phải có ánh sáng, tuy nhiên ánh sáng không phải ngang bằng với
màu sắc, mà chúng chỉ là khách thể để tạo ra cảm nhận về màu sắc.
 Thị giác bình thường
Một người mù hoặc một người bị mù màu thì không có khả năng cảm nhận về
màu sắc.
 Vật thể khách quan
Đối tượng của sự cảm nhận về màu sắc bắt buộc phải tồn tại.
 Sự khác biệt về màu sắc
Cho dù là vật thể lớn hay vật thể nhỏ, chỉ cần liếc nhìn là có thể thu được ấn tượng
ở trong mắt, bởi vì chúng có sự khác nhau về màu sắc, bao gồm cả sự khác nhau về mức
độ nông cạn của hình dáng vật thể. Do vậy, ta có thể nhận biết được các loại vật thể có
hình dáng khác nhau, bởi vì ta nhìn thấy được hình dạng của chúng, mà hình dạng khác
nhau thì màu sắc xuất hiện theo đó cũng khác nhau. Rất khó tưởng tượng nếu như xung

quanh chúng ta chỉ có một màu sắc, khi đó còn có gì để thị giác của chúng ta hoạt động?
Điều đó cũng giống như vẽ một hình vẽ có màu trắng ở trên một trang giấy trắng, vậy làm
thế nào để nhìn thấy hình vẽ đó. Do vậy, chỉ có màu sắc thì mới có thể nhìn thấy một cách
rõ ràng hình dáng của vật thể.
Từ đó có thể đưa ra định nghĩa về màu sắc như sau: Màu sắc chính là cảm giác của
mắt tạo ra khi có sự kích thích của ánh sáng. Loại ánh sáng này bao gồm cả ánh sáng tự
nhiên và ánh sáng nhân tạo.
2. Biểu hiện của màu sắc
Trên các bức tranh cổ, những bức vẽ trên tường cũng đã thể hiện được những màu
sắc đơn thuần và sinh động, màu sắc trên những bức tranh của thời Ai Cập và Hy Lạp cổ
đã thể hiện được những phong cách trang sức rất hoàn hảo, những tấm kính màu huyền bí

3
trong các giáo đường, những tổ hợp màu sắc hài hòa ấm cúng ở thời kỳ đế quốc La Mã,
đường tam sắc của Trung Quốc, màu sắc nạm khảm trên ghế bảo thạch Arập,…, đã thể
hiện được những đặc trưng văn hóa của các dân tộc khác nhau.
Trong thế giới màu sắc, từ rất sớm các nhà nghệ thuật gia nhạy cảm đã tiến hành
nghiên cứu sự vận dụng và biểu đạt của màu sắc. Trong nghệ thuật của thời kỳ chủ nghĩa
cổ điển phương tây, màu sắc chỉ giới hạn ở 3 loại, đó là màu đen, màu trắng và màu xám.
Để làm cho các bức vẽ xinh động hơn, người ta cũng đã điều chế thêm một số các màu
sắc khác, từ đó có được hiệu quả nghiêm trang theo chủ nghĩa hiện thực. Da vinci đã phản
đối mãnh liệt phương pháp so sánh màu, ông đã dùng những lớp màu rất nhỏ để vẽ. Còn
Rembrandt thì được coi là nhà họa gia kinh điển của phương pháp vẽ đối chiếu sáng tối,
trong các tác phẩm của ông, màu sắc đã biến thành quang năng mang tính vật chất hóa.
Các họa gia theo trường phái Ấn tượng cũng đã tiến hành rất nhiều các nghiên cứu
đối với thế giới tự nhiên, từ đó đã đạt được một giai đoạn hoàn toàn mới trong biểu hiện
màu sắc giữa vật thể và ánh sáng. Đặc biệt là Monet “ông không những đã mở rộng việc
vận dụng loại màu sắc đơn thuần, mà còn sử dụng những nét vẽ nhỏ và ngắn ở tất cả các
bộ phận, từng điểm một được vẽ ở trên chất liệu vải, từ đó đạt được sự sinh động giữa các
đường nét và ánh sáng”. Các họa gia sau này thì phản đối việc sử dụng hình thức “chủ

nghĩa khách quan” để miêu tả thế giới tự nhiên, đề sướng ra hình thức nghệ thuật từ cảm
nhận chủ quan và cảm nhận của bản thân, đồng thời từ đây sẽ cải tạo được các hiện tượng
khách quan, cường điệu trong việc vẽ ra các kết cấu nội tại của khách thể, biểu hiện được
tính ổn định và tính cụ thể của chúng, coi trọng về hình thức, các đường nét cấu thành
cũng như các khoanh màu (miếng màu), để tạo ra được hiệu quả trang sức và cảm giác về
không gian. Các họa gia có tính đại biểu như: Paul Cezanne, Van Gogh, P.Gauguin, họ đã
làm cho kết cấu màu sắc phát triển đạt đến giai đoạn có tính logic. Trên bề mặt các tác
phẩm của ông, đều thể hiện được sự dung hợp giữa hình dạng, tiết tấu và màu sắc. Theo
trường phái Ấn tượng mới, còn được gọi là “trường phái điểm màu”, họ đã đem các
miếng màu chuyển thành các điểm màu, họ cho rằng sự điều hòa của màu sắc có thể sẽ
làm phá hoại mất lực hấp dẫn của màu sắc. Những điểm màu thuần khiết ở đây chỉ khi ở
trong mắt của người quan sát thì mới phát huy được sự điều hòa.
Mục đích của sự kết hợp giữa trường phái biểu hiện và trường phái ấn tượng là sử
dụng các biện pháp về hình dạng và màu sắc để thể hiện được nội tâm và thể hiện tinh
thần. Trên phương diện tạo hình thì mong muốn có được sự so sánh, sự uốn lượn và thay
đổi; trên phương diện màu sắc thường dùng những màu sắc có độ màu cao, thậm chí
không cho thêm màu điều hòa.

4
Klee, Dail, Joan Miro là những người đại diện cho trường phái chủ nghĩa siêu hiện
thực, họ cho rằng, trong bức vẽ nên cường điệu sự kết hợp ngẫu nhiên, cũng như tái hiện
chân thực của ý tưởng. Klee đã nói, “nghệ thuật không phải là mô tả những thứ mà có thể
nhìn thấy, mà nó phải được kiến tạo từ những thứ không thể nhìn thấy”. Các tác phẩm của
ông là đem những nhân tố hội họa như điểm, đường, mặt và không gian, dựa vào tri giác
của bản thân cũng như phương pháp logic để tổ thành một thế giới phi hiện thực.
Chủ nghĩa miêu tả hình tượng thì có 2 loại hình: một là xuất phát từ các hình
tượng tự nhiên, từ sự miêu tả đơn giản của hình tượng cụ thể để thu được những nhân tố
mang đặc trưng biểu hiện phong phú, hình thành những hình tượng đơn giản và có sự khái
quát; hai là sự trừu tượng trong kết cấu hình học, phản ánh nghệ thuật biểu hiện theo xu
thế từ thế giới bên ngoài chuyển vào đến thế giới nội tâm, từ việc miêu tả hình dáng bên

ngoài của sự vật đến biểu hiện được tinh thần của con người. Quan niệm của trường phái
này còn chịu ảnh hưởng của ngành công nghiệp và kỹ thuật, như tốc độ chuyển động,
công suất của máy móc,…, những thứ này đều là những nhân tố mang tính trừu tượng đối
với thị giác của con người. Các họa gia theo chủ nghĩa trừu tượng có tính đại diện nhất là
nhà họa gia Piet Mondrian, ông cho rằng, hội họa cũng giống như âm nhạc, không nên vẽ
những hình tượng cụ thể, mà thông qua những nhân tố hình thức của mình — màu sắc,
đường, mặt, hình thể và sơ đồ để truyền đạt được những tình tiết có ảnh hưởng đến tâm
linh của con người, kích thích sự tưởng tượng của con người. Những tác phẩm đại diện có
“ Màu xanh thiên không”, hay “Những vòng tròn”,….
Trong hội họa của phương tây, ấn tượng về màu sắc tổng thể là đậm nét và phong
phú. Hội họa truyền thống của Trung Quốc cũng biểu hiện được các mặt như thể tích, chất
cảm, cảm nhận không gian,…, của vật thể. Màu sắc trên các bức tranh vẽ trên tường thì
tương đối thô, màu sắc truyền thống thường là màu của đá và màu của cỏ cây, cộng với
các công cụ đặc thù như bút, giấy, mực, nghiên,…, đã tạo thành một phong cách mang
đặc sắc về màu sắc trong hội họa truyền thống của Trung Quốc.

5
Tiết 2. Cấu thành màu sắc
1. Khái niệm cấu thành
Cấu thành mà chúng ta nói ở đây không phải là một loại trường phái trào lưu nghệ
thuật, cũng không được đem nó so sánh tương đồng với việc thiết kế, mà nó chỉ một loại
phương pháp tư duy của nhân loại.
Học về cấu thành, một mặt rèn luyện về năng lực tư duy logic của lý tính và trừu
tượng, đem những hiện tượng biểu hiện thị giác phức tạp chuyển thành những yếu tố cơ
bản nhất; mặt khác cần theo đuổi được mục đích “thực hiện được giá trị sáng tạo”, tiến
hành xử lý những yếu tố đã biết. Cấu thành không có yêu cầu về kinh tế hay yêu cầu về
công năng cụ thể, bản thân của cấu thành không phải là “mục đích”, mà nó chỉ là một biện
pháp để thực hiện mục đích, mục đích của nó chính là sự sáng tạo.
“Cấu thành” là một danh từ, nó cũng là một động từ. Cấu thành khi là một danh từ
thì ý nghĩa của nó là một hình thức của sự tập hợp; khi là một động từ thì ý nghĩa của nó

là chỉ hành vi tổ hợp, hình thành hay kiến tạo. Cấu thành cần thiết phải có các yếu tố của
sự cấu thành; cần phải có phương pháp cấu thành, tức là mối quan hệ tương hỗ giữa các
yếu tố với nhau.
Việc rèn luyện cấu thành cũng như một học giả phải đi học về từ vựng và ngữ
pháp, có khi thể hiện sự đơn thuần, nhàm chán, nhưng cũng như một ngôi sao thể thao
hay một diễn viên nổi tiếng thì không thể không coi trọng hay không có những công việc
rèn luyện cơ bản, chỉ có thông qua hàng nghìn, hàng vạn lần rèn luyện những động tác cơ
bản thì mới có thể phát huy được những trình độ siêu việt. Đối với một nhà thiết kế giỏi
mà nói, việc rèn luyện về cấu thành chỉ là một quá trình rèn luyện những quy luật cơ bản
nhất, trong quá trình thiết kế cụ thể, những vấn đề cơ bản này sẽ dựa theo những chủ đề
khác nhau mà phát sinh những biến đổi khác nhau.
2. Khái niệm về cấu thành màu sắc
Cấu thành màu sắc là một bộ phận tổ thành quan trọng trong quá trình rèn luyện
cơ sở của cấu thành, căn cứ vào nguyên lý cấu thành, đem màu sắc tổ hợp lại với nhau
theo những nguyên tắc quan hệ nhất định nào đó, tạo ra (điều phối được) những màu sắc
đẹp phù hợp với mục đích, quá trình điều phối này được gọi là quá trình cấu thành màu
sắc.
Những yếu tố cơ bản của cấu thành màu sắc là: sắc màu, độ sáng và độ màu.
Trong rèn luyện cơ bản, thường bắt đầu từ hình thành màu sắc và nguyên lý tri giác, từ
các phương diện như: tính chất vật lý của màu sắc, tâm lý màu sắc, sinh lý của cảm nhận
màu sắc, nguyên tắc phối màu, điều hòa màu sắc,…, để tiến hành nghiên cứu một cách hệ
thống. Màu sắc có ảnh hưởng lớn nhất đến chúng ta vẫn thuộc về phạm trù tâm lý học, ví

6
dụ như màu đỏ và màu xanh lam sẽ tạo cho tâm lý con người những kích thích khác nhau:
màu đỏ làm cho con người cảm thấy hưng phấn, ấm áp; màu xanh lam làm cho con người
cảm thấy yên tĩnh, lạnh lẽo. Đồng thời các yếu tố của đối tượng như tuổi, giới tính, nghề
nghiệp,…, cũng đều bao hàm cả những nhân tố tâm lý rất phức tạp.
Bản thân của ánh sáng là không có màu sắc, mà màu sắc chỉ được sinh ra trong
mắt và trong não của con người. Do đó, những nguyên lý tri giác của các bộ phận liên

quan đến mắt, cũng như hiệu ứng tâm lý của màu sắc đều là những nội dung quan trọng
trong cấu thành màu sắc mà cần phải nghiên cứu. Các nhà nghệ thuật và mỹ thuật đều rất
coi trọng sự biểu hiện của màu sắc, từ góc độ mỹ thuật tiến hành nghiên cứu những
phương pháp phối màu nhất định, từ đó tìm ra được những màu sắc lý tưởng.

7
Tiết 3. Dạy và học về màu sắc

1. Mục đích của việc dạy và học về màu sắc
Cấu thành màu sắc là lấy lý thuyết khoa học về màu sắc làm tiền đề cho một môn
học cơ sở trong giáo dục mỹ thuật, môn học này được thông qua các phương thức giảng
dạy logic để truyền đạt cho học sinh những kiến thức cơ bản về các tính chất vật lý, sinh
lý, tâm lý của màu sắc cũng như các phương diện mỹ thuật học về màu sắc, đồng thời
thông qua một hệ thống luyện tập các bài tập có khối lượng lớn, làm cho sinh viên có
được cảm giác về màu sắc, từ những sở thích cá nhân thăng hoa tới những cái đẹp về màu
sắc có ý nghĩa phổ biến hơn, rộng hơn và khoa học hơn, bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho
sinh viên, cuối cùng đạt được mục đích trong sự vận dụng và biểu hiện tự do đối với màu
sắc.
2. Yêu cầu dạy và học về màu sắc
2.1. Trên phương diện lý thuyết cần tìm hiểu rõ về quy luật cơ bản mang tính khoa học
của màu sắc, để tạo thuận lợi cho các phương pháp rèn luyện kỹ năng, đồng thời nắm
chắc được các yếu tố của màu sắc.
2.2. Thông qua các bài tập thực tiễn để ứng dụng các kiến thức đã học, các bài tập bắt
buộc phải phù hợp với yêu cầu của môn học. Trong phạm vi giới hạn nhất định tìm ra
được tính năng có thể biểu hiện ở mức độ lớn nhất.
2.3. Tất cả các bài tập đều được vẽ bằng tay. Máy tính chỉ được sử dụng để luyện tập kỹ
năng và vẽ ra các bản thảo.
3. Phương pháp học tập
3.1. Đọc giáo trình một cách nghiêm túc, dùng bút để vẽ ra các điểm quan trọng.
3.2. Mỗi bộ phận đều có các tác phẩm mô phạm tương ứng, dựa theo nội dung của môn

học tiến hành quan sát và nghiên cứu.
3.3. Căn cứ vào quy định của đề mục, tiến hành luyện tập theo hình thức phát triển dần
theo chiều sâu. Cấu thành màu sắc là một môn học có tính thực tiễn rất lớn, khi sử dụng
tài liệu này nhất định trên tay phải cầm theo bút vẽ, để thực hành việc điều hoà màu sắc
cụ thể,….
4. Công cụ dùng cho học tập
4.1. Màu nước (màu trắng được chuẩn bị nhiều hơn, 2 bài tập đầu tiên bắt buộc sử dụng
màu nước, còn những bài tập về sau thì có thể được phối hợp với một số loại màu khác).
4.2. Giấy vẽ màu nước, giấy vẽ phác thảo, đều có thể sử dụng được (khi thi thường sử
dụng giấy vẽ phác thảo).
4.3 Các loại bút lông dùng để vẽ.

8
4.4. Hộp và đĩa phối màu.
4.5. Các dụng cụ khác: bút chì, tẩy, thước, compa, băng dính hai mặt, hộp bút,….
5. Bố trí môn học và khối lượng bài tập
5.1. Bố trí môn học
Modul thứ nhất khoảng 32 tiết, Modul thứ hai khoảng 20 tiết, Modul thứ 3 khoảng
24 tiết, Modul thứ 4 khoảng 28 tiết, Modul thứ 5 khoảng 16 tiết. Tổng số là 120 tiết.
5.2. Khối lượng bài tập
Số lượng bài tập không nhỏ hơn 12-15 trang. Khoảng 20 loại bài tập theo trong
sách. Mỗi Modul tốt nhất nên có một bài thi, cũng có thể căn cứ vào những yếu điểm
trong quá trình thi để tiến hành luyện tập bồi dưỡng thêm. Cuối cùng phải bố trí phần
luyện tập tổng hợp, phần luyện tập này được bố trí ở trước quá trình thi hết môn, nó cũng
là phần chuẩn bị cho quá trình thi.

Câu hỏi:
1. Khái niệm màu sắc là gì?
2. Môn học cấu thành màu sắc và môn học tô màu có gì khác nhau?


9
Chương 2. Bản chất của màu sắc
Tiết 1. Nguồn sáng

Yếu tố quan trọng nhất làm cho chúng ta có thể cảm nhận được màu sắc chính là
ánh sáng. Ánh sáng là nguyên nhân tạo ra màu sắc, màu sắc là kết quả của cảm nhận từ
ánh sáng. Màu sắc và ánh sáng có mối quan hệ với nhau như mẹ và con, không thể phân
tách ra khỏi nhau được.
Chúng ta gọi những vật thể có khả năng tự phát sáng là nguồn sáng. Ánh sáng từ
nguồn sáng được phân ra thành 2 loại: một loại là ánh sáng tự nhiên, chủ yếu là ánh sáng
từ mặt trời; còn một loại là ánh sáng nhân tạo, như ánh sáng của đèn điện, ánh sáng của
đèn khí gas, ánh sáng của nến,… Ánh sáng mặt trời là đối tượng nghiên cứu chủ yếu nhất
về màu sắc.
1. Ánh sáng từ nguồn sáng
Ánh sáng từ nguồn sáng cũng được gọi là ánh sáng thẳng. Từ mặt trời hoặc từ đèn
điện phát ra những tia sáng thẳng chiếu lên vật thể, những tia sáng này đều có khả năng
trực tiếp đi vào trong mắt của chúng ta, nhưng những ánh sáng quá chói, như ánh sáng từ
mặt trời, ánh sáng từ đèn chiếu có độ sáng mạnh,…, do mức độ kích quang quá lớn, nếu
chiếu liên tục vào mắt trong một thời gian dài sẽ làm cho con người rất khó chịu, cũng có
thể là làm tổn hại cho mắt.
2. Ánh sáng phản xạ
Góc nhìn của con người thường theo chiều ngang hoặc chiều hướng xuống dưới,
do vậy phần nhiều các tia sáng khi đi vào mắt thường là những tia sáng đã gặp phải vật
thể và bị phản xạ lại hoặc dạng thấu xạ (ánh sáng xuyên suốt). Ánh sáng phản xạ là hình
thức tia sáng đi vào mắt người phổ biến nhất. Thông thường, màu sắc là màu của ánh sáng
phản xạ từ vật thể hoặc từ vật liệu màu.
3. Ánh sáng thấu xạ (ánh sáng xuyên suốt)
Ánh sáng từ nguồn sáng hoàn toàn xuyên qua vật thể, hoặc một nửa được xuyên
qua vật thể, sau đó tia sáng mới đi vào mắt người, đó được gọi là ánh sáng thấu xạ. Những
loại thủy tinh màu đều thuộc loại màu sắc của ánh sáng thấu xạ.


10
Tiết 2. Màu sắc và ánh sáng

Có ánh sáng thì mới có màu sắc. Ánh sáng đi vào thị giác có 3 phương thức: ánh
sáng từ nguồn sáng, ánh sáng phản xạ và ánh sáng thấu xạ. Trong đó, ánh sáng phản xạ là
nguồn gốc chủ yếu tạo ra sự kích thích của thị giác. Khi loại ánh sáng này kích thích đến
võng mạc của thị giác, thần kinh thị giác sẽ truyền sự kích thích này đến khu thần kinh
trung ương trên não bộ, từ đó tạo ra cảm giác về màu sắc, một khi cảm giác này được liên
hệ tới vật thể thì chúng ta sẽ nhận biết được màu sắc của vật thể đó. Ví dụ, quả lê có màu
vàng, lá cây có màu xanh. Từ đó có thể thấy, để tạo ra màu sắc cần phải trải qua quá trình
sau:
Nguồn sáng → Vật thể → Mắt (thần kinh thị giác) → Não bộ (thần kinh trung
ương) → Tạo ra phản ứng cảm giác về màu (tri giác).
1. Ánh sáng có thể nhìn thấy
Trên phương diện vật lý, ánh sáng thuộc loại sóng điện từ có bước sóng nhất định,
chúng tồn tại trong vũ trụ cùng với các tia bức xạ từ vũ trụ, tia r, tia X, tia tử ngoại, tia
hồng ngoại, sóng rada, sóng vô tuyến điện, sóng điện giao lưu…, ánh sáng thường được
dùng bước sóng để biểu thị. Phạm vi bước sóng của tia bức xạ điện từ rất rộng, bước sóng
ngắn nhất là tia bức xạ vũ trụ, dài nhất là sóng điện giao lưu. Trong bức xạ điện từ chỉ
những tia có bước sóng từ 380nm – 780nm thì mắt người mới có khả năng nhìn thấy,
phạm vi này được gọi là ánh sáng có thể nhìn thấy (hình 1).
Ánh sáng có bước sóng 780nm, tương ứng là màu đỏ, ánh sáng có bước sóng
380nm là màu tím, còn lại ở khoảng giữa thì: 580nm là màu vàng, 610nm – 590nm là
màu da cam, 570nm -500nm là màu lục, 500nm – 450nm là màu xanh lam. Khi bước
sóng lớn hơn 780nm là tia hồng ngoại, nó cũng bao gồm cả sóng điện do Radio thu được;
ngược lại, bước sóng nhỏ hơn 380nm là tia tử ngoại, nó cũng bao gồm cả tia X dùng trong
y học (tia X quang).
Tia vũ tr


Tia r

Tia X

Điện lưu

Tím 380nm
Vàng 580nm
Đỏ 780nm
Ánh sáng có thể nhìn thấy
Hình 1
Tia
tử ngo
ại
Tia
hồng ngo
ại
Sóng Rada

Sóng vô tuyến

11
2. Màu sắc quang phổ
Năm 1666, nhà vật lý người Anh Newton đã lợi dụng thí nghiệm về sự tán sắc ánh
sáng để xác định mối quan hệ giữa màu sắc và ánh sáng. Ông đã cho một chùm ánh sáng
trắng (ánh sáng mặt trời) đi qua một khe nhỏ, khi gặp phải lăng kính, ánh sáng sẽ bị khúc
xạ. Khi bị khúc xạ, ánh sáng gặp phải một tấm chắn có màng trắng, ở đó đã xuất hiện một
dải màu sắc rất đẹp giống như màu sắc của cầu vồng, đó được gọi là quang phổ của ánh
sáng (hình 2).
Màu sắc của quang phổ

được sắp xếp theo thứ tự: đỏ, da
cam, vàng, lục, lam, chàm, tím.
Từ đó có thể thấy, ánh sáng mặt
trời (ánh sáng trắng) là sự hỗn
hợp của một nhóm ánh sáng màu,
khi đi qua lăng kính, các ánh
sáng màu sẽ có mức độ khúc xạ
khác nhau, từ đó làm cho ánh
sáng trắng hình thành sự phân giải. Tỷ lệ khúc xạ của ánh sáng màu đối với một vật thể
như nhau thì có quan hệ tới bước sóng của chúng, như ánh sáng màu đỏ có bước sóng dài
nhất, nhưng tỷ lệ khúc xạ lại nhỏ nhất, đường truyền của chúng gần như một đường thẳng;
ánh sáng màu tím thì có tỷ lệ khúc xạ là lớn nhất.Ví dụ trực tiếp nhất trong thí nghiệm của
Newton chính là màu sắc của cầu vồng.
Những nguồn sáng khác so với ánh sáng mặt trời thì: ánh sáng chiếu từ đèn màu
trắng có chứa tương đối nhiều ánh sáng vàng, từ đèn bắt côn trùng thì có chứa tương đối
nhiều ánh sáng màu xanh lam. Do chúng có bước sóng dài ngắn khác nhau, mức độ mạnh
yếu khác nhau, từ đó biểu hiện được các nguồn sáng rất phong phú và đa dạng.
Ánh sáng
mặt trời
Lăng kính
Đỏ
Da cam
cam
vàng
Lục
Lam
chàm
Tím
Hình 2


12
Tiết 3. Hình thành màu sắc

1. Màu sắc của vật thể
Chúng ta đã hiểu được hiện tượng của ánh sáng, nhưng cụ thể đối với màu sắc của
từng vật thể hoặc màu sắc của các vật liệu màu thì chúng được hình thành như thế nào?
Màu sắc của một vật thể hoặc màu sắc của một loại vật liệu màu nào đó là do 2 nhân tố
quyết định, đó là nguồn sáng và bề mặt của chúng. Cũng có thể nói, ánh sáng phát ra từ
nguồn sáng nếu gặp phải vật thể không thấu sáng hoặc gặp phải vật liệu màu, thì ở đó một
bộ phận ánh sáng sẽ bị hấp thụ, một bộ phận ánh sáng còn lại sẽ bị phản xạ và đi vào mắt
chúng ta, từ đó chúng ta có thể nhận biết được màu sắc. Ví dụ: dưới điều kiện chiếu sáng
của mặt trời, bề mặt có màu trắng sẽ phản xạ toàn bộ các tia sáng, còn bề mặt có màu đen
sẽ hấp thụ hoàn toàn các tia sáng, từ đó vật thể sẽ hình thành màu trắng hay màu đen. Một
vật có màu xanh lam, bề mặt của nó sẽ hấp thụ toàn bộ những tia sáng không phải màu
xanh lam, chỉ phản xạ lại tia sáng có màu xanh lam (bề mặt không hấp thụ tia sáng màu
xanh lam); Vật thể có màu đỏ sẽ hấp thụ những tia sáng không phải màu đỏ, chỉ phản xạ
lại tia sáng có màu đỏ; màu vàng thì hấp thụ những tia sáng không hải màu vàng, còn
phản xạ lại tia sáng có màu vàng,….
Khi ánh sáng trắng biến thành ánh sáng đơn sắc, thì tình hình sẽ khác. Ví dụ, dưới
sự chiếu xạ của ánh sáng màu xanh lục, cùng với bề mặt màu trắng, khi đó chỉ có một loại
ánh sáng màu xanh lục là có thể phản xạ, nên bề mặt màu trắng đó sẽ chuyển thành màu
xanh lục; nhưng vẫn dưới tác dụng chiếu xạ của ánh sáng màu xanh lục, lúc này bề mặt lại
là màu đỏ, khi đó sẽ không có sự phản xạ của ánh sáng màu đỏ, tức là bề mặt sẽ là màu
đen (có thể làm thí nghiệm là đưa một miếng màu xanh lục vào bên trong một phòng kín
có ánh sáng màu đỏ để tiến hành quan sát); bề mặt màu đen có khả năng hấp thụ hoàn
toàn được ánh sáng màu xanh lục, nên bề mặt vẫn là màu đen. Do vậy, từ ý nghĩa đó có
thể thấy màu sắc của vật thể chỉ tồn tại một cách tương đối.
2. Màu cố hữu
Tại sao lại hình thành khái niệm màu cố hữu trong ý thức của con người? Từ góc
độ khoa học mà nói, bề mặt của bất kể vật thể nào đều có một đặc trưng vật lý nhất định,

tức là có khả năng lựa chọn để hấp thụ những nguồn sáng (hay có khả năng phản xạ một
loại ánh sáng nào đó). Ví dụ: lá cây chỉ phản xạ ánh sáng màu xanh lục, chỉ cần có ánh
sáng màu xanh lục chiếu đến là nó lập tức phản xạ lại, trong trường hợp ánh sáng chiếu là
màu đỏ thì do không có ánh sáng màu xanh phản xạ, nên bề mặt mới hình thành màu đen.
Có sự chiếu sáng của mặt trời hằng ngày, lá cây sẽ phản xạ lại những ánh sáng màu xanh
lục có trong ánh sáng mặt trời, làm cho chúng ta luôn cảm nhận được màu xanh của lá cây.

13
Màu sắc chỉ ổn định ở những điều kiện mang tính tương đối, như màu sắc của tóc, màu
sắc của những chất màu, màu sắc của các vật thể đã được sơn phủ,… Màu cố hữu là một
khái niệm mở rộng và tương đối trừu tượng đối với màu sắc hiện thực. Khái niệm này
hiện nay được sử dụng rất rộng rãi, đó là vì khi chúng ta cần biểu đạt đặc trưng màu sắc
của một vật thể nào đó thì thường vận dụng những ấn tượng màu sắc có tính kinh nghiệm,
những màu sắc mang tính kinh nghiệm này kết hợp với màu sắc ấn tượng sẽ biểu hiện
được tính sinh động, thân thiết, dễ dàng để lại những ấn tượng về màu sắc cho con người.
Tức là đối với những người không chuyên về màu sắc thì cũng không tạo thành những sai
sót lớn. Tên của những loại màu sắc lưu hành phần nhiều mang khái niệm của màu sắc
nguyên có, như màu xám tro, màu xám mai cua,…

Câu hỏi:
1. Màu sắc được hình thành như thế nào?
2. Ý nghĩa của màu cố hữu là gì?

14
Chương 3. Thuộc tính của màu sắc
Tiết 1. Phạm trù của màu sắc

Màu sắc có thể được phân ra thành 2 loại lớn là: loại có màu và loại không màu.
1. Loại không màu
Đen, trắng và xám đều thuộc loại không màu, từ góc độ vật lý mà nói, chúng

không nằm trong dãy màu quang phổ có thể nhìn thấy. Điều cần phải chỉ rõ là, trên
phương diện tâm lý học thì chúng lại có những tính chất của màu sắc tương đối hoàn thiện,
chúng có tác dụng tương đối quan trọng trong hệ màu, đồng thời chúng cũng có nhiệm vụ
hết sức quan trọng trong việc phối màu (điều hoà màu sắc). Khi đem màu trắng trộn vào
một chất màu nào đó, thì làm cho độ sáng của nó tăng lên rất rõ rệt; ngược lại, khi trộn
màu đen vào một chất màu nào đó thì sẽ độ sáng của nó giảm xuống; còn khi ta hỗn hợp
giữa màu đen và màu trắng với nhau thì sẽ thu được màu xám, khi đó nó sẽ mất đi độ màu
của màu nguyên. Do vậy, màu đen, màu trắng và màu xám không chỉ là trên phương diện
tâm lý học, mà ngay cả trên phương diện sinh lý học hay hóa học thì nó vẫn có thể được
gọi là “màu sắc”.
2. Loại có màu
Toàn bộ các màu sắc trong dãy quang phổ đều thuộc dạng có màu. Loại có màu thì
có rất nhiều, như: đỏ, da cam, vàng, lục, lam, tím, chúng đều là những màu cơ bản. Khi
hỗn hợp giữa các màu cơ bản với nhau, hay đem màu cơ bản hỗn hợp với màu đen, trắng,
hay xám thì sẽ thu được hàng nghìn, hàng vạn các loại màu sắc khác nhau.

Tiết 2. Ba thuộc tính của màu sắc

Màu sắc đều có 3 thuộc tính cơ bản là: độ sáng, độ màu và sắc màu. Chúng là 3
yếu tố quan trọng nhất trong màu sắc, nó cũng là những yếu tố có tính ổn định nhất. Ba
thuộc tính này mặc dù có những đặc điểm tương đối độc lập, nhưng chúng lại có những
mối quan hệ tương hỗ với nhau.
1. Độ sáng
Độ sáng là chỉ mức độ sáng tối của màu sắc, nó cũng được gọi là độ rõ hay độ
đậm nhạt của màu sắc.
Giả sử đem màu đen và màu trắng chia ra ở 2 đầu, thì ở giữa được căn cứ vào thứ
tự của độ sáng mà hình thành rất nhiều màu xám có độ sáng tối khác nhau, tức là hình
thành một dãy có liên quan đến độ sáng, hay còn gọi là dãy độ sáng. Phần tiếp giáp với

15

đầu có màu trắng thì độ sáng tương đối cao, còn phần tiếp giáp với màu đen thì có độ
sáng thấp, ở giữa thì có độ sáng trung bình.
Các sắc màu khác nhau sẽ có những vị trí không giống nhau trong dãy quang phổ,
do đó mức độ cảm nhận được của mắt cũng sẽ khác nhau. Màu vàng có vị trí trung tâm
trong dãy quang phổ có thể nhìn thấy, độ tri giác đối với mắt khá cao, nên độ sáng của nó
là cao nhất. Màu tím thuộc vị trí cạnh ngoài của dãy quang phổ có thể nhìn thấy, biên độ
mặc dù là rộng nhưng bước sóng lại ngắn, độ tri giác thấp, nên độ sáng của nó là thấp nhất.
Độ sáng của các màu da cam, xanh lục, đỏ, xanh lam là nằm ở giữa màu vàng và màu tím,
sự sắp xếp của các sắc màu này sẽ hiển thị một cách tự nhiên về thứ tự độ sáng của chúng.
Tức là trong một sắc màu thì bản thân nó cũng có sự thay đổi về độ sáng tối, như: màu
xanh đậm, màu xanh trung bình, màu xanh nhạt. Khi cho thêm màu trắng vào một màu
sắc nào đó thì sẽ làm cho độ sáng của nó tăng lên, còn khi cho thêm màu đen vào thì sẽ
làm cho độ sáng của nó giảm xuống, khi hỗn hợp nhiều màu sắc với nhau sẽ cấu thành
những sắc màu có độ sáng được sắp xếp theo thứ tự như trên hình vẽ số 2.
2. Sắc màu
Sắc màu là chỉ những diện mạo khác nhau của màu sắc. Ánh sáng có bước sóng
khác nhau sẽ tạo ra những cảm giác khác nhau cho con người, nếu đem những cảm nhận
này đặt cho nó một cái tên, thì sẽ hình thành những cái tên như màu đỏ, màu vàng,…., nó
cũng giống như mỗi con người đều có một cái tên riêng biệt. Những sắc màu cơ bản trong
ánh sáng quang phổ có: đỏ, da cam, vàng, lục, lam và tím, ngoài ra chúng lại có: màu đỏ
hoa hồng, màu đỏ ngọc, màu đỏ da cam,…, đó là đặc tính của sắc màu, sự khác nhau giữa
chúng là sự khác nhau về sắc màu; còn một màu sắc mà khi ta cho thêm vào đó màu trắng
hoặc màu đen để hình thành nên màu đỏ thẫm, màu đỏ nhạt,…, thì thuộc sự khác nhau về
độ sáng.
Các nhà khoa học đã đem các màu đỏ, da cam, vàng, lục, lam, tím,…, sắp xếp
thành một vòng tròn màu sắc, nếu thêm vào đó một màu đỏ tím mà trong dãy quang phổ
không có thì sẽ hình thành một vòng tròn khép kín, từ đó cấu thành vòng tròn màu sắc
(hay còn được gọi là vòng màu). Trong vòng màu cần cố gắng phân tách rõ các sắc màu
với nhau, thông thường được lập trên cơ sở là 5, 6 hay 8 màu chủ yếu, sau đó tìm ra các
màu trung gian giữa chúng, khi đó có thể tạo thành vòng màu có từ 10, 12, 16, 18 hay 24

màu (như hình vẽ màu 3 phần phụ lục).
3. Độ màu (Chroma)
Chỉ mức độ đơn thuần của bước sóng, đó cũng chính là độ thuần khiết của màu
sắc. Khi cho các thành phần khác vào một màu nào đó thì sẽ làm cho độ màu của nó giảm
xuống. Phương pháp phân chia độ màu như sau: lựa chọn ra một sắc màu có độ màu

16
tương đối cao, như màu đỏ thẫm, sau đó lấy một màu xám trung bình (màu xám được tạo
thành từ sự hỗn hợp giữa màu trắng và màu đen), sau đó cho màu đỏ thẫm và màu xám
hỗn hợp trực tiếp với nhau, hỗn hợp tạo thành sẽ có độ màu giảm dần từ độ màu của màu
đỏ đến độ màu của màu xám. Tức là ta sẽ thu được những màu sắc có độ màu cao, độ
màu trung bình và độ màu thấp (như hình vẽ màu 4 phần phụ lục). Trong màu sắc, độ
màu của các màu cơ bản: đỏ, da cam, vàng, lục, lam và tím là cao nhất. Còn loại không
màu (đen, trắng, xám) thì do không có sắc màu, nên độ màu của chúng bằng không.
Ngoài sự ảnh hưởng của bước sóng đến độ màu ra, độ mẫn cảm của mắt người đối
với sự bức xạ của các loại ánh sáng có bước sóng khác nhau cũng có ảnh hưởng đến độ
màu. Thị giác có độ mẫn cảm cao nhất đối với ánh sáng màu đỏ, do vậy độ màu của nó
cũng rất cao. Còn độ mẫn cảm đối với màu xanh là tương đối kém, nên độ màu của sắc
màu xanh là tương đối thấp. Ở đây cần nhấn mạnh là, độ màu cao cũng không phải là có
độ sáng cao, tức là độ màu và độ sáng không phải là tỷ lệ thuận. Điều đó nó phải do
những điều kiện về sinh lý của thị giác quyết định. Theo quy định về màu sắc lập thể
Munsel của Hoa Kỳ, thì mối quan hệ giữa độ sáng và độ màu của các sắc màu được trình
bày trong bảng 1 và hình vẽ màu 1 phần phụ lục.
Bảng 1
Sắc màu
Độ sáng
Độ màu
Đỏ
4
14

Vàng - da cam
6
12
Vàng
8
12
Vàng - lục
7
10
Lục
5
8
Lam - lục
5
6
Lam
4
8
Lam – tím
3
12
Tím
4
12
Tím - đỏ
4
12


17

Tiết 3. Màu sắc lập thể

Màu sắc dựa theo mối quan hệ giữa 3 thuộc tính của chúng mà được sắp xếp hay
tổ hợp với nhau theo một hệ thống nhất định, tức là có thể tạo thành một hệ màu lập thể
theo không gian 3 chiều, gọi tắt là màu sắc lập thể.
1. Khung giá cơ bản của màu sắc lập thể
Trên hình vẽ 3 là sơ đồ biểu thị tính lập thể của
màu sắc. Lấy trục trung tâm là màu đen và trắng, đầu phía
trên là màu trắng, còn đầu phía dưới là màu đen, ở giữa
được phân thành trục biến đổi giảm dần về độ sáng của
màu xám; vòng màu có dạng nằm ngang vây quanh trục
trung tâm, nó có dạng hình tròn; ở trên bề mặt được biểu
thị sự liên kết giữa các yếu tố có màu và không màu
(trắng và đen). Phần gần với yếu tố không màu sẽ có độ
màu thấp, cách càng xa yếu tố không màu thì độ màu sẽ
càng cao.
Nếu cắt sơ đồ màu sắc lập thể theo hướng
trục tung, thì các sắc màu trên mặt cắt sẽ biểu thị 2
sắc màu tương hỗ với nhau, phía cạnh ngoài là
màu sắc có độ màu cao, còn bên trong là màu sắc
có độ màu thấp. Phần phía trên của mặt cắt là màu
sắc có độ sáng cao, còn phần phía dưới là màu sắc
có độ sáng thấp (hình 4).
Hiện nay sử dụng tương đối nhiều là 3 loại màu
sắc lập thể: màu sắc lập thể Munsel của Hoa Kỳ, màu sắc lập thể Ostwald của Đức và
màu sắc lập thể do Nhật bản nghiên cứu. Dưới
đây sẽ trình bày cụ thể từng loại.
2. Màu sắc lập thể Munsel
Hệ thống màu Munsel là do Munsel của
Mỹ sáng lập ra vào năm 1905. Vòng tròn màu

của màu sắc lập thể Munsel được trình bày trên
hình 5. Nó được lấy 5 màu làm cơ sở đó là: đỏ
(R), vàng (Y), xanh lục (G), xanh lam (B), tím
(P), trên đó còn hình thành 5 sắc màu trung gian
như: vàng - đỏ (YR), vàng – xanh (YG), lam -
Đen
Hình 3
Trắng
Sắc màu
Độ màu
Hình 4
Độ màu
Màu
thuần
khiết
Trắng
Đen
Độ
sáng
Màu sáng
Màu trung bình
Màu tối

Hình 5
Tím P
Đỏ RP
Đỏ R
Vàng đỏ YR
Vàng Y
Vàng lục

YG
Lục G
Lam BG
Lam B
Lam BP

18
lục (BG), lam – tím (BP), đỏ - tím (RP). Mỗi sắc màu lại có thể được phân nhỏ ra thành
10 phần khác nhau, như vậy tất cả sẽ có 100 sắc màu. Thứ tự thứ 5 của các sắc màu như
5R, 5RY, 5Y,…, được gọi là sắc màu đại diện.
Trục trung tâm của màu sắc lập thể Munsel, từ trắng đến đen được phân thành 11
cấp độ sáng, lấy đỉnh của trục trung tâm quy định là trắng lý tưởng 10, còn đáy là màu
đen lý tưởng 0, từ 9 đến 1 là hệ màu xám. Độ sáng được dùng các ký hiệu 1/, 2/, 3/,…, để
biểu thị.
Độ màu của loại không màu là 0, chúng được dùng các ký hiệu /0, /1, /2,…., để
biểu thị, các con số càng tăng lên thì càng gần với màu sắc tinh khiết. Điều đó cũng nói
rằng, độ màu cao hay thấp được biểu thị thông qua khoảng cách tới trục N, khoảng cách
này càng dài thì độ màu càng cao, còn khoảng cách càng ngắn thì độ màu càng thấp.
Trong 10 sắc màu chủ yếu của Munsel, độ màu của màu đỏ (5R) là cao nhất, khoảng cách
đến trục N là dài nhất, bậc chia về độ màu
của nó có tới 14 cấp; còn bậc chia về độ
màu của màu lục- lam thì chỉ có 6 cấp,
khoảng cách đến trục N là ngắn nhất. Do
bậc chia của độ màu có mức độ dài ngắn
khác nhau, phần ngoại hình phức tạp của nó
lại làm cho con người liên tưởng tới một cái
cây, nên nó còn được gọi là cây màu (color
tree, như trên hình vẽ 6, 7 và hình vẽ màu
số 5 phần phụ lục).
Ký hiệu để biểu thị màu sắc lập thể Munsel là HV/C (sắc màu, độ sáng/ độ màu),

ví dụ “5R4/14”, nó biểu thị sắc màu đỏ có số hiệu thứ 5, độ sáng là 4, độ màu là 14. Ký
hiệu biểu thị màu tinh khiết của 10 sắc màu cơ bản trong màu sắc lập thể Munsel là:

Hình 6
Trắng
Đen

Trắng
Đen
Hình 7

19
R4/14 (đỏ); YR6/12 (vàng - đỏ); Y8/12 (vàng); YG7/10 (vàng - lục); G5/8 (lục); BG5/6
(lam - lục); B4/8 (lam); BP3/12 (lam – tím); P4/12 (tím); RP4/12 (đỏ - tím).
Màu lập thể Munsel là một hệ thống màu sắc được sử dụng rất rộng rãi trên thế
giới hiện nay, dựa theo hệ thống này đã có rất nhiều những thành quả nghiên cứu trên
phương diện phối màu. Năm 1915, Mỹ là quốc gia đầu tiên cho xuất bản “sơ đồ quang
phổ màu Munsel”, từ đó tới nay nó đã được thông qua cục tiêu chuẩn quốc gia Mỹ và hiệp
hội quang học Mỹ tiến hành chỉnh sửa nhiều lần, năm 1929 và năm 1943 đã được xuất
bản thành “sổ tay sơ đồ màu sắc Munsel”.
3. Màu sắc lập thể Ostwald
Màu sắc lập thể Ostwald là do nhà hóa học người Đức Ostwald kiến lập vào năm
1920. Ông cho rằng, tất cả các màu sắc đều được hỗn hợp từ những màu thuần khiết (C)
với các màu trắng (W) và đen (B) tạo thành, mối quan hệ giữa 3 thứ đó với nhau là: khối
lượng màu trắng + khối lượng màu đen + khối
lượng màu thuần khiết = 100 (tổng lượng màu).
Màu lập thể Ostwald lấy 8 màu chủ yếu làm cơ
sở, đó là: vàng, da cam, đỏ, tím, lam – tím, lam,
lục và vàng - lục, mỗi màu lại được phân tiếp ra
thành 3 phần khác nhau, từ đó hình thành vòng

tròn màu có 24 sắc màu. Mỗi sắc màu chủ yếu
lại được dùng các ký hiệu như 2Y, 2R,…., để
biểu thị. Các sắc màu được sử dụng các chữ số
từ 1 đến 24 biểu thị (hình 8).
Trục trung tâm của màu lập thể Ostwald
cũng được tạo thành từ yếu tố không màu (đen và trắng), từ trắng đến đen tổng cộng có 8
bậc chia về độ sáng, chúng được sử dụng 8 chữ cái tiếng Anh để biểu thị là: a, c, e, g, i, l,
n và p. Hàm lượng màu trắng và màu đen của những màu này được trình bày trong bảng 2.
Bảng 2
Ký hiệu
Lượng màu trắng
Lượng màu đen
A
89.0
11.0
C
56.0
44.0
E
35.0
65.0
G
22.0
78.0
I
14.0
86.0
L
8.9
91.1


Đỏ
Hình 8
Da cam
Vàng
Vàng- lục
Lục
Lam
Tím
Xám
Lam

20
N
5.6
94.4
P
3.5
96.5
Dùng phân đoạn của độ sáng này làm một trục thẳng góc, tạo một hình tam giác
cạnh dài để thể hiện hệ thống độ sáng, điểm ở phần đỉnh của nó là màu tinh khiết, hình
thành một hình tam giác của các sắc màu, sau đó chia chúng thành 28 hình nhỏ, tiến hành
đánh ký hiệu để biểu thị được hàm lượng của màu trắng và màu đen (hình 9). Ví dụ, nc, n
là hàm lượng màu trắng 5.6%, c là hàm lượng màu đen 44%m, trong đó hàm lượng của
màu tinh khiết là 100- 5.6 – 44 = 50.4%.
Màu sắc lập thể Ostwald là đem hình tam giác màu xoay tròn tạo thành một hình
chóp phức tạp (hình 10). Phương thức biểu thị của nó là lấy chữ số của các sắc màu cộng
thêm với ký hiệu về khối lượng của màu đen và màu trắng, ví dụ 16ga, nó biểu thị là màu
xanh lam của sắc màu 16, g đại diện cho hàm lượng màu trắng là 22%, a đại diện cho hàm
lượng màu đen là 11%, dựa theo công thức: 100- 22 – 11 = 67%, do vậy 16ga là màu

xanh (lam) nhạt.
4. Màu lập thể của Sở nghiên cứu màu sắc Nhật Bản
Năm 1951, Sở nghiên cứu màu sắc Nhật
Bản đã chế định ra một hệ màu tiêu chuẩn —
“tiêu chuẩn của màu sắc” — hệ màu khi sử dụng.
Nó lấy 6 sắc màu: đỏ, da cam, vàng, lục, lam và
tím làm cơ sở, đồng thời điều tiết thành một vòng
màu có 24 màu, phương pháp biểu thị là: 1. đỏ; 2.
vàng - đỏ; 3. đỏ - da cam; 4. da cam; 5. vàng – hơi
pha da cam; 6. vàng - da cam; 7. đỏ - hơi pha
vàng; 8. vàng; 9. lục – vàng; 10. vàng - lục; 11.
vàng – hơi pha lục; 12. lục; 13. lam – hơi pha lục;

Hình 9
Trắng
Hình 10
Đen
Màu thuần
khiết

21
14. lam - lục; 15. lục – hơi pha lam; 16. lam; 17. tím – hơi pha lam; 18. lam – tím; 19. lam
– hơi pha tím; 20. tím; 21. tím; 22. tím – hơi pha đỏ; 23. đỏ - tím; 24. tím – hơi pha đỏ
(hình 11).
Độ sáng chính là đem màu đen mặc định là 10, màu trắng là 20, ở giữa là hệ màu
xám có 9 bậc chia, như vậy tổng cộng có 11 bậc chia. Độ màu ở đây cũng tương tự như ở
phần màu sắc lập thể Munsel, khoảng cách đến trục không màu càng lớn thì độ màu sẽ
càng cao. Độ màu của màu đỏ tinh khiết 10 là cao nhất (hình 12).
Màu sắc lập thể cũng có thể được biểu thị ở dạng hình quả trứng nằm ngang, màu
đỏ tinh khiết nhất sẽ nằm ở phần đỉnh nhọn của hình quả trứng (hình 13). Phương pháp

biểu thị màu sắc là: sắc màu - độ sáng - độ màu, ví dụ 4 - 14- 4, 4 là sắc màu da cam, 14

Trắng
Hình 13
Hình 12
Đen
Lam lục
Đỏ
Đen
Trắng
Vàng
Lục
Lam
lục
Đỏ
Da cam

22
đại diện cho độ sáng nghiêng về phía dưới ở đường trung tâm, độ màu 4 biểu thị cho
khoảng giữa của trục không màu với độ màu cao nhất. Như vậy, màu này sẽ gần với màu
nâu.
5. Ứng dụng màu sắc lập thể
5.1. Sơ đồ của màu sắc lập thể
Sơ đồ của màu sắc lập thể là một cuốn “từ điển về màu sắc”, nó có bề mặt bằng
phẳng, có thể lật xem được từng trang, rồi được đóng thành quyển, nó được sử dụng để
xem hoặc tra cứu. Trong đó, thể hiện khoảng trên 1000 màu, chúng đều có những tọa độ
nhất định, mối quan hệ giữa màu sắc với màu sắc. Màu sắc giữa các bề mặt khác nhau,
giữa các phương hướng khác nhau đều rất dễ dàng tìm ra được những yếu tố quan hệ giữa
chúng, đây chính là một công cụ hỗ trợ rất tốt cho quá trình luyện tập và thực hiện phối
màu.

5.2. Màu sắc tiêu chuẩn
Đặc điểm lớn nhất của màu sắc lập thể là trên bề mặt mỗi màu đều có các ký hiệu
biểu thị riêng (các màu khác nhau sẽ có các ký hiệu cũng khác nhau). Ví dụ: khi thiết kế
một bề mặt kín, sau khi màu đen và trắng đã được vẽ thì chỉ cần điền các ký hiệu ở trên bề
mặt là được, ví dụ 5R4/14, tức là biểu thị bạn đã sử dụng dạng màu lập thể Munsel, màu
sắc là màu đỏ số 5, có độ màu là 14, độ sáng là 4, như vậy cho dù là bản thiết kế của bạn
có đem đến bất kể nhà in nào hoặc bất kỳ quốc gia nào đi chăng nữa thì màu sắc đó cũng
không thể bị thay đổi. Đương nhiên, những ký hiệu sử dụng phải là những ký hiệu của
màu sắc lập thể theo tiêu chuẩn quốc tế.

Bài tập:
1. Tạo sơ đồ màu
 Vòng tròn màu sắc (hình màu 3 phần phụ lục)
Mục đích: nhận biết được diện mạo của các màu sắc và vị trí của chúng trên vòng tròn
màu.
Yêu cầu:
a. Tạo ra vòng tròn 18 màu, sử dụng các màu sắc có độ màu cao.
b. Tiến hành bôi bột màu nước
c. Quá trình thao tác phải sạch sẽ và gọn gàng.
Phương pháp:
a. Trên bề mặt giấy vẽ tiến hành tạo ra 18 ô vuông có kích thước 4cm ×4cm, trên bề mặt
mỗi ô vuông tô các màu sắc tương ứng.

23
b. Đầu tiên tô 3 màu nguyên vào các ô vuông, 3 màu nguyên là: đỏ, màu vàng và màu
lam. Khoảng cách giữa mỗi ô màu là 5 ô trống; sau đó lại đem 3 màu đỏ, vàng và lam hỗn
hợp với nhau tạo thành 3 màu trung gian đó là màu da cam, màu lục và màu tím, rồi tô
các màu trung gian này vào các ô trống; đem màu nguyên và các màu trung gian này tiếp
bước nữa hỗn hợp với nhau, từ đó sẽ có được 18 màu trên vòng màu.
c. Từ bề mặt trước và sau của miếng màu, dùng compa vẽ một vòng tròn đường kính 3cm,

sau đó tiến hành cắt từ phía sau rồi dán sang một trang giấy khác. Giữa mỗi một màu sắc
đều được lưu một khoảng cách nhất định.
 Phân bậc về độ sáng của màu sắc (hình vẽ màu 1 và 2 phần phụ lục)
Mục đích: kiểm tra sự thay đổi dần về độ sáng của màu sẽ tạo ra những cảm giác về trình
tự và lý tính như thế nào.
Yêu cầu:
a. Phân thành 2 nhóm: một nhóm làm về phân bậc của yếu tố không màu (đen, trắng); một
nhóm làm về phân bậc của yếu tố có màu, sau đó đem chúng dán lên trên bề mặt của trang
giấy. Cấp bậc của độ sáng là 11, màu đen lấy là 0, màu trắng lấy là 10, từ 1 đến 9 là hệ
thống các màu xám.
b. Lựa chọn những chất màu có độ sáng tương đối thấp để làm (bởi vì khi cho thêm màu
trắng vào chất màu thì sẽ sạch và đẹp, còn khi cho thêm màu đen vào thì dễ làm cho bị
bẩn).
Phương pháp:
a. Trên bề mặt của trang giấy vẽ tiến hành tạo thành 15 ô có kích thước 3cm×9cm, bắt đầu
bôi màu từ màu trắng, sau đó cho thêm màu đen vào ở từng điểm một cho đến phía màu
đen thì thôi. Vượt quá 15 ô cũng được, cuối cùng lựa chọn ra 11 ô có bậc màu thích hợp
nhất.
b. Từ miếng màu cắt lấy một miếng chính thức có kích thước 2cm × 8cm, sau đó đem
miếng này dán lên một trang giấy khác (giữa các bậc màu cần để một khoảng cách nhất
định).
c. Phương pháp phân bậc về độ sáng của màu cũng tương tự như ở trên.
 Phân bậc về độ màu (hình vẽ màu 4 phần phụ lục)
Mục đích: làm rõ thế nào gọi là phân bậc độ màu, học được phương pháp điều phối các
màu xám cao cấp.
Yêu cầu:
a. Lựa chọn những màu sắc có độ màu tương đối cao, như đỏ, vàng, da cam, số cấp cần
phân là 9.

24

b. Khi chọn màu xám (phối hợp giữa đen và trắng) cần phải duy trì sự đồng nhất về độ
sáng so với các màu thuần khiết, ví dụ: khi sử dụng màu đỏ, giá trị độ sáng của màu đỏ là 4,
thì màu xám cần lựa chọn cũng sẽ là ở vị trí số 4 trong bậc màu (tham khảo hình màu 1 phần
phụ lục).
Phương pháp:
a. Trên bề mặt của giấy vẽ tiến hành vẽ 12 ô theo chiều ngang có kích thước 3cm×9cm,
đem màu thuần khiết và màu xám đã chọn đặt ở phía 2 đầu, dùng một nét vẽ theo hướng
từ màu thuần khiết đến phía màu xám, và một nét vẽ theo hướng từ màu xám đến phía
màu thuần khiết. Cuối cùng lựa chọn ra 9 bậc màu thích hợp ở trong đó.
b. Bước làm này tương tự như phân bậc trong độ sáng của màu sắc.
2. Luyện tập cấu thành sự dịch chuyển của độ sáng (hình vẽ màu 23-32 phần phụ lục)
 Dịch chuyển độ sáng của hệ không màu (đen, trắng, xám)
 Dịch chuyển độ sáng của hai sắc màu
 Dịch chuyển độ sáng của nhiều sắc màu
Mục đích:
Từ mức độ đậm hoặc nhạt của một màu sắc nào đó, hiểu được phạm vi biểu hiện
của một sắc màu riêng biệt; từ sự thay đổi đậm nhạt của các bậc màu tìm hiểu được tiết
tấu của sự biến đổi, từ đây nó sẽ biểu đạt được về cảm giác quang học, cảm giác về độ
đậm nhạt, hay cảm giác về không gian,…, của màu sắc; từ quá trình dịch chuyển của độ
sáng, nắm chắc được biện pháp điều hòa đối với màu sắc.
Yêu cầu:
a. Bậc màu là khoảng 10 lớp, thay đổi phải đồng đều.
b. Hình vẽ cố gắng đơn giản, đặc biệt là sự biến đổi về độ sáng của hệ không màu ở trang
thứ nhất, có thể sử dụng những hình lặp nhưng đơn giản, dễ có được hiệu quả.
c. Các bậc màu cần được điều hòa ở trong hộp điều tiết màu, chuẩn bị tốt cho việc sử
dụng lặp đi lặp lại đối với mỗi màu sắc.
Phương pháp:
a. Vẽ hình, cần căn cứ vào bề mặt cần vẽ để xác định được số lượng bậc màu; hoặc đầu
tiên là điều tiết tốt các bậc màu, sau đó mới căn cứ vào số lượng của bậc để tiến hành vẽ.
b. Phương pháp điều tiết: màu trắng và màu đen được bố trí ở phía hai đầu của hộp màu

(giả thiết có 11 bậc màu), màu trắng ở ô thứ nhất là 10 phần, ô thứ hai là 9 phần, ô thứ ba
là 8 phần, cứ như vậy giảm dần, màu trắng ở ô cuối cùng là 0; ngược lại, ở phía bên kia
thì màu đen ở ô thứ nhất là 10 phần, màu đen ở ô thứ hai là 9 phần, cứ như vậy giảm dần.
Màu sắc ở mỗi ô đều là 10 phần (dựa vào cảm giác để tính ra được lượng màu). Điều
chỉnh một màu sắc, vẽ thử màu đó lên trên bề mặt giấy, một bên điều chỉnh và một bên vẽ

25
thử. Khi vẽ thử màu cần chú ý: giữa các màu sắc với nhau không được để lại những khe
hẹp, như vậy mới có được độ chính xác.
c. Phương pháp điều phối phân bậc về độ sáng của các màu sắc cũng tương tự như ở trên.
Trong trường hợp cần cho thêm màu đen vào thì phải cẩn thận vì khi đó mức độ quá
lượng sẽ xảy ra rất nhanh.
d. Đem những bậc màu đã được điều tiết đưa vào trong hình vẽ trừu tượng cấu thành bề
mặt của bức vẽ.
3. Dịch chuyển của sắc màu (hình vẽ màu 33-36 phần phụ lục)
 Dịch chuyển của sắc màu bên trong một nửa vòng màu
 Dịch chuyển của sắc màu bên ngoài một nửa vòng màu
Mục đích: phần luyện tập này là đem sự cảm nhận của sắc màu tạo thành trực giác cho
con người.
Yêu cầu:
a. Dựa vào trình tự sắp xếp của vòng màu để lựa chọn ra những sắc màu, cũng như số
lượng các bậc màu.
b. Toàn bộ sắc màu đều được dùng màu sắc có độ màu cao, chú ý điều tiết các màu chính
trên bề mặt vẽ, đặc biệt là sự dịch chuyển bên ngoài của một nửa vòng màu, cần dựa theo
số lượng bậc màu cần thiết ở một giai đoạn nào đó, để hình thành bề mặt vẽ có sự dịch
chuyển của sắc màu.
Phương pháp:
Phương pháp điều tiết màu sắc cũng tương tự như ở trên. Đem những bậc màu đã
điều tiết đưa vào trong hình vẽ trừu tượng.
4. Dịch chuyển của độ màu (hình vẽ màu 37-38 phần phụ lục)

Mục đích:
Phần luyện tập này được tiến hành cũng giống như đối với độ sáng của màu sắc,
mục đích là hiểu được các đặc tính như độ mới mẻ của màu sắc, các phản ứng mạnh yếu
mà chúng có thể mang theo; trong phạm vi so sánh vô cùng nhỏ sẽ thể hiện được vị màu
rất phong phú nhưng không lộ liễu.
Yêu cầu:
a. Tạo sự thay đổi về độ màu của một sắc màu.
b. Cố gắng lựa chọn những màu sắc có độ màu cao để thực hiện.
Phương pháp:
Cần điều tiết tốt các bậc của độ màu bên trong hộp màu, sau đó đưa chúng vào
hình vẽ trừu tượng để tạo thành bản vẽ.
5. Sự dịch chuyển tổng hợp của 3 thuộc tính (hình vẽ màu 39-52 phần phụ lục)

×