Tải bản đầy đủ (.pdf) (25 trang)

Tổng quan RAU MÁ NGỌ Vị thuốc quý cho người bệnh trĩ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.07 MB, 25 trang )

Đinh Như Chiến

1
TỔNG QUAN RAU MÁ NGỌ
1.1. Vài nét về họ Rau răm (Polygonaceae)
[4]
Họ Rau răm hay còn gọi là họ Nghể, họ Kiều mạch có danh pháp khoa học là
Polygonaceae, là nhóm thực vật hai lá mầm, chứa khoảng 50 chi và 1.120 loài cây
thân thảo, cây bụi và cây thân gỗ với các cơ quan sinh sản đơn tính xuất hiện trên
cùng một cây hay trên hai cây khác nhau. Một số thành viên trong họ này được biết
đến như kiều mạch, chút chit, đại hoàng, nghể, rau răm, hà thủ ô đỏ, hoa ti gôn, rau
má ngọ Họ này được đặt tên theo hình dạng hạt; chẳng hạn hạt của cây đại hoàng
có tiết diện ngang là một hình tam giác. Trong hệ thống Cronquist, họ Polygonaceae
được đặt trong bộ của chính nó, nhưng các hệ thống phân loại mới hơn lại coi họ
này như là một phần của bộ Caryophyllales. Họ này có mặt rộng khắp nơi trên thế
giới trong các khu vực ôn đới, và trong khu vực nhiệt đới thì có ít số lượng loài hơn.

(1) Hoa Ti-gôn -Antigonon leptopus

(2)Kiều mạch- Fagopyrumesculentum Moench

(3) Nghể hoa đầu - Polygonum capitatum

(4) Nghể Trung quốc - Polygonum chinense
Hình 1: Hoa của một số loài thuộc họ Rau răm

Đinh Như Chiến

2
Ở Việt Nam có gần 60 loài, hầu hết là cỏ mọc hoang dại, vài loài làm rau ăn
(rau Răm), cây lương thực (Tam giác mạch), hoa kiểng (Ti-gôn), cây thuốc (Hà thủ


ô đỏ), chỉ có 1 loài cây đại mộc là cây Nho biển.
Họ này được chia thành hai họ chính:
Phân họ Polygonoideae được đặc trưng bởi sự thiếu vằng của tổng bao và sự
có mặt của bè chìa (các bao (vỏ, màng bọc) phát triển từ các lá kèm ở các gốc lá
đính kèm). Một số bẹ chìa có các tua có lông. Phân họ này bao gồm khoảng 21 chi
và 800 loài.
Phân họ Erigonoideae với khoảng 330 loài, chỉ thấy tại khu vực Tân Thế gới
Trong danh sách dưới đây, ba cột đầu tiên là 43 chi mô tả bởi Brandbyge
trong “The Families and Genera of Vascular Plants”. Cột thứ tư là một danh sách
không đầy đủ các chi đã được công nhận trong các công trình gần đây.
Antigonon
Aristocapsa
Atraphaxis
Brunnichia
Calligonum
Centrostegia
Chorizanthe
Coccoloba
Dedeckera
Dodecahema
Emex
Eriogonum
Fagopyrum
Fallopia
Gilmania
Goodmania
Gymnopodium
Harfordia
Hollisteria
Koenigia

Lastarriaea
Leptogonum
Mucronea
Muehlenbeckia
Nemacaulis
Neomillspaughia
Oxygonum
Oxyria
Oxytheca
Persicaria
Podopterus
Polygonella
Polygonum
Pteropyrum
Pterostegia
Reynoutria
Rheum
Rumex
Ruprechtia
Stenogonum
Symmeria
Systenotheca
Triplaris
Acanthoscyphus
Aconogonon
Afrobrunnichia
Bistorta
Homalocladium
Johanneshowellia
Knorringia

Parapteropyrum
Pteroxygonum
Rubrivena
Sidotheca
Bảng 1: Danh sách các chi thuộc họ Rau răm (Polygonaceae)
Đinh Như Chiến

3

1.2 Rau má ngọ (Plygonum perfoliatum L)
1.2.1 Đặc điểm thực vật
[1][20] [21]

Rau má ngọ hay còn gọi là
rau sông chua dây, thồm lồm gai, giang
bản quy. Tên khoa học Plygonum
perfoliatum L, thuộc họ rau răm
Polygonaceae, phân họ Polygonoidea,
bộ Polygoneae, phân bộ Polygoninae ,
chi Polygonum (Steward 1930), và phân
chi Echinocaulon.
Hình 2: Cây rau má ngọ
Rau má ngọ là một loại cỏ thân bò hay leo mọc thành các bụi rậm, khi sống
lâu năm có thể lên đến độ cao 6 m. Rễ xơ và nông. Thân thon dài, phân nhánh, và
có màu xanh, theo thời gian nó trở thành gỗ và có màu đỏ. Gai quặp xuống, dài 1-2
mm và được tìm thấy trên thân cây, cuống lá, và gân lá cấp 1 và cấp 2. Chân gai nở
rộng ra. Lá cây mọc xen kẽ nhau, có hình kiêng (tam giác) với cuống lá dài, phiến lá
mỏng, có lớp màng, có phấn, màu lục nhạt, dài và rộng 2,5cm đến 7,5cm . Bẹ chìa
hình lá bao quanh thân trông như thân chui qua lá, do đó có tên perfloliatum. Cuống
lá nhìn chung có chiều dài giống như phiến lá.


Hoa mọc thành cụm dài 2 cm với
cụm có 10 đến 15 bông hoa nhỏ. Qủa có
hình cầu, có 3 rãnh dọc. Hạt là quả bế đen
bóng (quả bế là dạng "đơn lá noãn" tạo
thành từ một lá noãn và không nứt nghĩa là
không mở ra khi chín.
Hình 3: Hoa của rau má ngọ
Các quả bế chứa một hạt và nó gần như lấp đầy vỏ quả, nhưng không bám
chặt vào nó) có đường kính khoảng 3 mm và được bao bọc bởi bao hoa màu trắng
Đinh Như Chiến

4
hoặc màu hồng (chiều dài 3-4mm). Đến độ chín, bao hoa dày hơn và trở thành màu
xanh và nhiều thịt.
Rau má ngọ có thể nhầm lẫn với loài P. arifolium L., P. sagittatum L., P.
convolvulus L.

(a)

(b)

(c)
Hình 4: Lá của P. arifolium L. (a), P. sagittatum L. (b), P. convolvulus L.(c)

1.2.2 Phân bố, thu hái và chế biến
[20]
Rau má ngọ là loài bản địa Châu Á và xuất hiện ở nhiều nơi như Nhật Bản,
Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh, Bhutan, Nepal,
Siberia, Philippines, Malaysia, Thái Lan, và Việt Nam. Nó cũng báo cáo tìm thấy ở

Thổ Nhĩ Kỳ (Guener 1984). Tại Hoa Kỳ, rau má ngọ được tìm thấy ở Pennsylvania,
Maryland, Delaware, West Virginia, Virginia, Oregon, New York, New Jersey,
Ohio, và Washington, DC, và gần đây nhất Connecticut đã được thêm vào danh
sách.
Rau má ngọ mọc hoang dại thường thấy ở ven đường, cạnh khu rừng rậm,
đường sắt, vườn ươm, ven rừng, đồng cỏ và ven bờ sông, suối, đầm lầy. Loài thực
vật này phát triển tốt nhất tại các địa điểm nhiều nắng như cạnh rừng và những nơi
ẩm thấp có thể thoát nước tốt. Tuy nhiên, nó cũng có thể chụi được điều kiện ánh
sáng yếu và cực kỳ khô hoặc đất ẩm ướt. Ở Việt Nam nó được tìm thấy ở những khu
vực ẩm thấp như Ba Vì, Hà Nội, vùng đồng bằng cũng như vùng núi.
Rau má ngọ là một loài tự thụ phấn thỉnh thoảng thụ phấn chéo. Qủa chín
vào khoảng giữa tháng 9 đến tháng 11 ở hầu hết các khu vực ở phía đông Bắc Mỹ
(Hill et al 1981; Lehtonen 1994), nhưng theo Okay (1997), quả loài này chín từ
cuối tháng sáu đến đầu tháng mười một ở Virginia. Hạt giống của loài vật này được
phân tán phần lớn là nhờ sự di cư của các loài chim và động vật có vú (chipmunks,
Đinh Như Chiến

5
sóc, và nai) , cũng như các hoạt động của con người (Mountain năm 1989; Okey
1997,1999).
Người ta dùng toàn cây hay có khi chỉ dùng lá và rễ, dùng tươi hoặc phơi
khô.

1.2.3 Tác dụng dược lý
Theo Đông y, rau má ngọ có vị đắng, chua, tính bình. Vào các kinh Can,
thận. Có tác dụng thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết tiêu thũng, tức phong chỉ khái
(trừ phong, chống ho). Thường dùng chữa ho gà, hoàng đản (vàng da), sốt rét,
kiết lỵ, tiểu tiện buốt, tiểu tiện lẫn máu, trĩ, khí hư Ngoài công dụng làm thuốc
chữa bệnh, rau má ngọ còn dùng để làm mềm ngà voi và xương (để uốn nắn và
nhuộm màu); Trong nông nghiệp còn có thể dùng để diệt trừ sâu bọ.

[1]

Theo Y học cổ truyền Trung Quốc, rau má ngọ đã được sử dụng rộng rãi để
ngăn ngừa và chữa bệnh cho người trong hơn một thiên niên kỷ ở các nước phương
Đông. Bởi vì, rau má ngọ có độc tính thấp và hiệu quả chữa bệnh tốt. Polygonum
perfoliatum L. thường được sử dụng như một thuốc giải độc, hạ sốt, thuốc lợi tiểu,
giảm sưng tấy và thuốc chống ho, và cũng được sử dụng để điều trị viêm thận, ho gà
và eczema.
[12]

Một số bài thuốc có sử dụng rau má ngọ:
[2]
Chữa ho gà: Dùng rau má ngọ 30 g, sao với rượu, thêm chút đường phèn, sắc
lấy nước, chia ra 2 lần uống trong ngày. có thêm ngư tinh thảo (rau diếp cá) 20 g,
cùng sắc uống.
Chữa xơ gan cổ trướng: Dùng rau má ngọ 20 g, nhân trần 15 g, kim tiền thảo
10 g, phượng vĩ thảo (cỏ seo gà) 10 g, mộc hương 10 g, đại phúc bì 10 g, hoàng liên
6 g, thổ phục linh 12 g; sắc lấy nước, chia 3 lần uống trong ngày.
Chữa phù do viêm thận mạn: (1) Dùng rau má ngọ 20 g, đông qua tử (hạt bí
đao) 15 g, đông qua bì (vỏ bí đao) 20 g, xa tiền tử (hạt mã đề) 15 g, bạch mao căn
(rễ cỏ tranh) 20 g, hải kim sa (bòn bong) 10 g; sắc lấy nước, chia ra 3 lần uống trong
ngày.
Đinh Như Chiến

6
Chữa trĩ, hậu môn lở loét: Dùng rau má ngọ 20 - 30 g, lòng lợn một lượng
thích hợp, hầm lên ăn trong bữa cơm.
Chữa viêm da dị ứng: Dùng rau má ngọ 30 g, dã cúc hoa 30 g, phượng vĩ
thảo (cỏ seo gà) 20 g. Sắc nước uống mỗi ngày một thang. Sắc 3 nước; 2 nước đầu
hợp lại chia ra 2 -3 lần uống trong ngày; nước thứ 3 dùng để rửa chỗ da bị bệnh.

Chữa viêm nang lông: Dùng rau má ngọ 20 g, bồ công anh 15 g, sắc nước
uống trong ngày. Thuốc bôi ngoài: Dùng rau má ngọ 2 phần, ô tặc cốt (mai mực) 1
phần, hai thứ tán thành bột mịn, trộn với dầu vừng, dùng bông chắm thuốc bôi lên
chỗ bị bệnh 3 - 4 lần trong ngày.
Chữa viêm da đầu do tăng tiết bã nhờn: Dùng rau má ngọ 100 g, lá thông
đuôi ngựa 30 g. Tất cả rửa sạch thái nhỏ, sắc lấy nước để gội đầu hàng ngày hoặc
cách ngày.

1.2.4 Thành phần hóa học và hoạt tính sinh học
1.2.4.1 Flavonoids
Flavonoids là sắc tố thực vật tan trong nước có chất chống oxy hóa và các
đặc tính kháng viêm. Zhang cho biết chất flavonoid có thể bảo vệ chống lại ung thư
phổi bằng cách ngăn chặn sự hình thành các mạch máu của các khối u phát triển và
lây lan.
Phân lập từ Polygonum perfoliatum L, người ta thu được các chất flavonoid
sau:
Bảng 2: Một số Flavoide phân lập từ Polygonum perfoliatum L
STT
Tên hợp chất
Công thức
cấu tạo
Tài liệu
tham khảo
1
Kaempferol
(1)
[5]
2
Quercetin
(2)

[5]
3
Rutin
(3)
[5]
4
Avicularin
(4)
[5]
5
Quercetin 3- O- β -D -glucuronic
(5)
[5]
Đinh Như Chiến

7
Methyl
6
Quercetin-3-O-β-D-glucuronide butyl
(6)
[5]
7
Quercetin-3-O-β-D- glucoside
(7)
[6]
8
Kaempferol-3-O-rutinoside
(8)
[5]
9

3,4-dihydro-4-(4'-hydroxyphen-yl)-
5,7-dihydroxycoumarin
(9)
[9]
10
3,4-dihydro-5-hydroxy-7-me-
thoxy-4-(4'-methoxyphenyl)coumarin
(10)
[9]
11
3,4-dihydro-5-hy-droxy-4-(4'-
hydroxyphenyl)-7-methoxycoumarin
(11)
[9]
12
3,4-di-hydro-5,7-dihydroxy-
4(4'-methoxyphenyl)coumarin
(12)
[9]
13
3',5-dihydroxy-3,4', 5 ',7 tetramethoxy-
flavone
(13)
[10]
14
Isorhamnetin
(14)
[11]
15
Hyperoside

(15)
[11]
16
Quercitrin
(16)
[11]
17
Catechin
(17)
[10]


(1)

(2)
Đinh Như Chiến

8

(3)

(4)


(5)

(6)

(7)
(8)



(9)

(10)
Đinh Như Chiến

9



Hình 5: Công thức hóa học các flavonoide có trong
Polygonum perfoliatum L.


(11)

(12)

(13)

(14)

(15)

(16)

(17)
Đinh Như Chiến


10
Kaempferol: Một số nghiên cứu dịch tễ học đã tìm thấy một mối liên hệ giữa
việc tiêu thụ các thực phẩm có chứa kaempferol và nguy cơ giảm phát triển một số
bệnh như ung thư và các bệnh tim mạch. Rất nhiều nghiên cứu tiền lâm sàng đã cho
thấy kaempferol và một số glycosides của kaempferol có một loạt các tác dụng dược
lý, bao gồm cả các hoạt động chống oxy hóa, chống viêm, kháng khuẩn, chống ung
thư, bảo vệ tim mạch, vệ thần kinh, đái tháo đường, antiosteoporotic, estrogen /
antiestrogenic, giải lo âu, giảm đau, chống dị ứng.
[8]
Quercetin: là một flavonoid chiết xuất từ thực vật được tìm thấy trong trái
cây, rau quả, lá và các loại ngũ cốc. Quercetin hoạt động như một chất kháng
histamine và một chất chống viêm, và có thể giúp bảo vệ chống lại bệnh tim và ung
thư. Quercetin có thể giúp ổn định các tế bào giải phóng ra histamine trong cơ thể
và do đó có tác dụng chống viêm. Trong ống nghiệm, quercetin ngăn chặn các tế
bào miễn dịch giải phóng histamin, hóa chất gây ra phản ứng dị ứng. Trên cơ sở đó,
các nhà nghiên cứu nghĩ rằng quercetin có thể giúp giảm các triệu chứng dị ứng,
bao gồm chảy nước mũi, chảy nước mắt, nổi mề đay, và sưng mặt và môi. Tuy
nhiên, không có bằng chứng rằng nó hoạt động ở người. [link]
Quercetin-3-O- β -D-glucuronide, cô lập từ Polygonum perfoliatum L., đã
được đánh giá hiệu quả chống virus chống lại virus cúm A và hoạt động chống viêm
trong cơ thể ở chuột, và nó đã được sử dụng để đánh giá chất lượng
của P. perfoliatum L Nghiên cứu in vivo, uống quercetin-3-O- β -D-glucuronide
ức chế đáng kể phù nề tai gây ra bởi benzen dimethyl và tính thấm phúc mạc gây ra
bởi acid acetic ở chuột, và quercetin-3-O- β -D-glucuronide cũng cho thấy có hoạt
tính ức chế chống lại vi rút cúm A (FLUAV). Hàm lượng của quercetin-3-O- β -D-
glucuronide trong 28 mẫu từ các vùng khác nhau của Trung Quốc là từ 0,06% đến
2,09%. Phương pháp đơn giản và nhạy để phân tích định lượng quercetin-3-O- β -
D-glucuronide đã được phát triển bằng cách sử dụng sắc ký lỏng cao hiệu suất
(HPLC) cùng với phát hiện mảng photodiode.
[7]

Rutin: Ở người, nó gắn với ion sắt Fe
2+
ngăn không cho nó liên kết
với hydrogen peroxide, nếu không sẽ tạo ra gốc tự do có hoạt tính cao có thể gây hại
cho các tế bào. Đây cũng là một chất chống oxy hóa .Hơn nữa, nó đã được chứng
minh để ức chế in vitro các yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu trong nồng độ
subtoxic, do đó nó hoạt động như một chất ức chế sự hình thành mạch . Phát hiện
này cho thấy khả năng kiểm soát một số bệnh ung thư có liên quan. Rutin ức
chế tiểu cầu kết tập, cũng như làm giảm tính thấm của mao mạch, làm cho máu lưu
Đinh Như Chiến

11
thông dễ dàng. Rutin cho thấy hoạt động chống viêm trong một số động vật và trong
ống nghiệm mô hình. Rutin ức chế hoạt động của aldose reductase. Aldose
reductase là một loại enzyme thường hiện diện trong mắt và các nơi khác trong cơ
thể. Nó giúp biến đổi glucose thành rượu đường sorbitol . Các nghiên cứu gần đây
cho thấy rutin có thể giúp ngăn ngừa cục máu đông , do đó, có thể được sử dụng để
điều trị những bệnh nhân có nguy cơ cơn đau tim và đột quỵ. Một số bằng chứng
cũng cho thấy rutin có thể được sử dụng để điều trị bệnh trĩ , varicosis , và mao
mạch .
Isorhamnetin là không có nhiều nghiên cứu như quercetin. Tuy nhiên, một
số ít nghiên cứu cho rằng isorhamnetin có lợi ích sức khỏe do nó có thể làm giảm
nguy cơ ung thư, cải thiện sức khỏe tim mạch và giảm bớt các biến chứng bệnh tiểu
đường. Hiệu quả chống ung thư của isorhamnetin đã được chứng minh trong cơ thể
và thử nghiệm trong ống nghiệm. Thử nghiệm trong ống nghiệm với các tế bào ung
thư phổi, các tế bào ung thư gan và các tế bào ung thư thực quản cho thấy
isorhamnetin gây ra quá trình apoptosis của các tế bào này. Một thí nghiệm trong cơ
thể sống với những con chuột được tiêm với isorhamnetin cho thấy trọng lượng khối
u giảm. Giúp cải thiện chức năng nội mô thông qua tác động chống oxy hóa và làm
giảm quá trình oxy hóa của HDL, kết quả là làm giảm nguy cơ xơ cứng động mạch.

Một số nghiên cứu đã tập trung vào khả năng của isorhamnetin để làm giảm bớt
các biến chứng bệnh tiểu đường , chẳng hạn như đục thủy tinh thể bệnh tiểu đường,
peroxy lipid và lượng đường trong máu cao.
Hyperoside đã được chứng tỏ là có đặc tính cytoprotective (là quá trình mà
các hợp chất hóa học bảo vệ các tế bào chống lại các tác nhân có hại), chống lại
oxidative-stress bằng cách loại bỏ các gốc hydroxyl được tạo ra bởi các phản ứng
Fenton (FeSO4) + H2O2) trong tế bào và tăng cường hoạt động của enzym chống
oxy hóa.
[22]
Theo nhiều công trình nghiên cứu, ngoài chức năng chống lại quá trình oxy
hóa, catechin còn đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp cơ thể phòng ngừa
được các căn bệnh mãn tính như tiểu đường, loãng xương. Chất catechin chứa thành
phần giúp làm tăng sự tiêu hao năng lượng và đốt cháy mỡ. Nhiều nghiên cứu khoa
học đã chỉ ra rằng chất catechin có tác dụng chống lại hội chứng chuyển hóa bằng
việc làm tăng độ nhạy của insulin và giảm béo bụng nhờ vào việc phân bố hợp lí các
chất béo. Theo một nghiên cứu của Nhật được tiến hành bởi Tomonori Nagao công
bố năm 2005 trên tờ Dinh Dưỡng của Mĩ thì việc tiêu thụ chất catechin từ trà xanh ở
Đinh Như Chiến

12
những người bị bệnh tiểu đường loại 2 đem đến nhiều kết quả khả quan: giảm kích
cỡ vòng bụng, làm tăng nồng độ dẫn xuất của chất adiponectine (loại hoocmon được
sản sinh bởi mô mỡ), làm tăng độ nhạy của insulin và kiểm soát đường huyết. Chất
catechin đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn bệnh loãng xương. Ứng suất
oxy hóa và tình trạng viêm âm ỉ trong quá trình lão hóa là yếu tố quyết định gây nên
những bất ổn của hệ xương. Nhờ vào các thành phần chống viêm và chống oxy hóa
mà chất catechin có khả năng ức chế được quá trình lão hóa.

1.2.4.2 Acid phenolic
Phân lập từ Polygonum perfoliatum, thu được một số acid phenolic sau.

TT
Tên hợp chất
Công thức
cấu tạo
Tài liệu
tham khảo
1
Acid protocatechuic
(1)
[11]
2
Acid gallic
(2)
[11]
3
Acid ellagic
(3)
[11]
4
Acid 3,3-di-O-methyl ellagic
(4)
[11]
5
Acid ferulic
(5)
[12]
6
Acid vanillic
(6)
[12]

7
Acid caffeic
(7)
[12]
8
Acid trans-p-hydroxycinnamic
(8)
[6]
9
Acid chlorogenic
(9)
[16]

Bảng 3: Các acid phenolic có trong Polygonum perfoliatum L.



Đinh Như Chiến

13
(1)
(2)


(3)

(4)


(5)


(6)

(7)

(8)



(9)
Hình 6: Công thức hóa học các acide phenoic có trong Polygonum
perfoliatum L.

Acid cafferic là một chất chống oxi hóa mạnh. Nhiều nghiên cứu đã được
tiến hành để phát triển các loại thuốc dựa trên acid caffeic và được sử dụng trong
Đinh Như Chiến

14
điều trị bệnh hen suyễn và dị ứng (Koshihara et al, 1984; Murota & Koshihara,
1985). Các hiệu lực kháng khuẩn của axit caffeic và các sản phẩm oxy hóa của nó
đã được nghiên cứu trên bốn loại vi khuẩn, Staphylococcus aureus, Streptococcus
faecalis, Salmonella typhimurium và Escherichia coli. Khả năng diệt khuẩn xuất
hiện chỉ sau khi quá trình oxy hóa acid caffeic dưới điều kiện kiềm (Cuq & Jaussan,
1991). Acid Caffeic có hiệu quả ức chế lipoxygenase và do đó ức chế sự sinh tổng
hợp leukotrienes, tham gia vào hòa miễn dịch và nhiều loại bệnh như hen suyễn,
viêm và dị ứng . Nó chặn sự kết tụ tiểu cầu bằng cách ức chế sản xuất thromboxane
A2, có thể gây co thắt phế quản (Koshiharaet al, 1984.; Murota & Koshihara, 1985).
Axit caffeic đã được sử dụng rộng rãi như là một thuốc ức chế trên nhiều cơ quan và
các hệ tế bào.
Axit galic có đặc tính kháng nấm và chống virus. Axit galic hoạt động như

một chất chống oxy hóa và giúp bảo vệ các tế bào chống lại sự ảnh hưởng của oxy
hóa. Axit galic chống lại các tế bào ung thư, mà không làm hại các tế bào khỏe
mạnh. Axit galic được sử dụng một chất làm se từ xa trong trường hợp xuất huyết
nội bộ. Axit galic cũng được sử dụng để điều trị albumin và tiểu đường. Một số
thuốc mỡ để điều trị bệnh vẩy nến và bệnh trĩ bên ngoài có chứa axit galic. Axit
galic cũng được sử dụng để làm thuốc nhuộm và mực. Axit galic không liên kết với
protein và do đó không có hương vị làm se.
Acid ellagic đã được nghiên cứu trong những năm 1960, chủ yếu là cho các
hiệu ứng của nó trên đông máu. Một số nghiên cứu trên động vật đã tìm thấy rằng
axit ellagic có thể ức chế sự tăng trưởng của khối u của da, thực quản và phổi, cũng
như các khối u khác gây ra bởi các chất gây ung thư. Một nghiên cứu gần đây trong
nuôi cấy tế bào phát hiện ra rằng axit ellagic có thể tác động chống lại các chất giúp
các khối u hình thành trên các mạch máu mới. Các nhà nghiên cứu Italy nhận thấy
rằng axit ellagic có thể làm giảm tác dụng phụ của hóa trị ở nam giới bị ung thư
tiền liệt tuyến, mặc dù nó không làm chậm tiến triển của bệnh hoặc cải thiện sự
sống còn.
Acid protocatechuic là một hợp chất polyphenolic chiết xuất từ Hibiscus
sabdariffa L. có khả năng loại bỏ các gốc tự do, bảo vệ chống lại sự thiệt hại của
quá trình oxy hóa gây ra bởi tert-butylhydroperoxide trong tế bào gan chuột. Acid
protocatechuic được đánh giá có khả năng ức chế hoạt động enzyme xanthine
oxidase và lipoxygenase trong ống nghiệm và có hoạt tính chống oxy hóa và chống
viêm trong cơ thể.
23]
Đinh Như Chiến

15
Ferulic acid là một chất chống oxy hóa trung hòa các gốc tự do (superoxide,
nitric oxide và hydroxyl triệt để) mà có thể gây thiệt hại oxy hóa của màng tế bào và
DNA. Ferulic acid giúp ngăn ngừa tác hại cho các tế bào gây ra bởi ánh sáng cực
tím. Tiếp xúc với tia cực tím thực sự làm tăng hiệu lực chống oxy hóa của axit

ferulic. Axit ferulic thường được thêm vào như một thành phần chống lão hóa bổ
sung. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng ferulic acid có thể làm giảm lượng đường trong
máu và có thể giúp đỡ các bệnh nhân tiểu đường. Ferulic acid dường như để bảo vệ
chống lại ung thư, thoái hóa xương, các triệu chứng mãn kinh (nóng bừng). Giống
như nhiều chất chống oxy hóa, ferulic acid làm giảm mức độ cholesterol và chất béo
trung tính, do đó làm giảm nguy cơ của bệnh lò tim mạch. Ferulic acid cỏ thể giảm
nguy cơ của nhiều loại ung thư, bao gồm ung thư dạ dày, đại tràng, vú, tuyến tiền
liệt, gan, phổi và lưỡi.
Acid chlorogenic là một chất trung gian quan trọng trong quá trình sinh tổng
hợp lignin . Hợp chất này, từ lâu được biết đến như là một chất chống oxy hóa ,
đồng thời làm chậm sự giải phóng glucose vào máu sau bữa ăn. Nó là một chất phụ
gia thực phẩm được sử dụng trong cà phê, kẹo cao su, kẹo bạc hà.

1.2.4. 3 Anthranoid
Các anthraquinone là một nhóm các sản phẩm tự nhiên quan trọng có ở vi
khuẩn, nấm, địa y và thực vật bậc cao có các hoạt tính sinh học như: kháng
khuẩn, kháng nấm, giảm huyết áp, giảm đau, chống sốt rét, chống oxy hóa,
kháng bệnh bạch cầu…
Anthraquinone còn có tác dụng phòng ngừa sỏi niệu vì nó có thể kết hợp các
ion canxi trong nước tiểu thành hợp chất tan và được thải ra ngoài.
Anthraquinone glycosides được sử dụng làm thuốc nhuận tràng do chất này
được các vi khuẩn đường ruột chuyển thành aglycones.
Từ cây rau má ngọ đã phân lập được hợp chất emodine và physcion
[11]
.

Đinh Như Chiến

16


Emodin

Physcion
Hình 7: Công thức hóa học của Emodin và Physcion
Emodin được chứng minh có nhiều hoạt động sinh học, bao gồm antitumour,
kháng khuẩn ( Wang và Chung, năm 1997 ), chống viêm ( Chang et al , 1996. ) và
tác dụng ức chế miễn dịch ( Huang et al , 1992. ). Những nghiên cứu gần đây đã chỉ
ra rằng emodin có thể là một loại thuốc tiềm năng cho việc điều trị một số bệnh tăng
sinh, chẳng hạn như xơ gan ( Woo et al , 2002 ), bệnh thận tiểu đường ( Wanget al ,
2006 ), xơ vữa động mạch ( Heo et al ., 2008 ) và các khối u ( Huang et al ,
2007 .Các nghiên cứu cho thấy lần rằng emodin là một chất ức chế mạnh 11β-HSD1
chọn lọc và có thể cải thiện tình trạng rối loạn chuyển hóa ở chuột DIO.
[17]

Physcion có tác dụng chống lại một loại nấm mốc Blumeria graminis gây
bệnh trên lúa mì.
[18]

1.2.4.4 Phenylpropanoid
Este sucrose Phenylpropanoid tự nhiên hợp chất được phân lập từ các loài
thực vật khác nhau và có cấu trúc đặc trưng bởi một sucrose nối với một hoặc nhiều
Ph-CH = CH-CO-moieties thông qua một liên kết este. Những hợp chất này được sử
dụng rộng rãi trong y học dân gian và được tìm thấy có nhiều hoạt động sinh học
như chống ung thư, ức chế hoạt động kháng khuẩn, chống oxy hóa, kháng virus,
chống viêm, bảo vệ thần kinh và ngăn cản hoạt động glycosidaza.

Năm diferuloyl esters của sucroza, 6’-acetyl-3,6-diferuloulsucrose
(helonioside B) (1); 2’,4’,6’-triacetyl-3,6-diferuloylsoucrose (2) ; 1,2’,4’,6’-
Đinh Như Chiến


17
tetraacetyl-3,6-diferuloycylsucrose (3); 1,2’,6’-triacetyl-3,6-diferuloysucrose (4) và
2’,6’-diacetyl-3,6-diferuloylsucrose (5), được phân lập.
[14]



Công
thức
R
1

R
2

R
3

R
4

R
5

R
6

1
H
H

H
H
H
COCH
3

2
H
H
COCH
3

H
COCH
3

COCH
3

3
COCH
3

H
COCH
3

H
COCH
3


COCH
3

4
COCH
3

H
COCH
3

H
H
COCH
3

5
H
H
COCH
3

H
H
COCH
3

Hình 8: Công thức hóa học của Phenylpropanoid


1.2.4.5 Saponin
Saponin là một nhóm glycoside lớn, gặp rộng rãi trong thực vật. Saponin có
tác dụng làm giảm sức căng bề mặt, tạo bọt nhiều khi lắc, có tác dụng nhũ hóa và
tấy sạch.
Đinh Như Chiến

18
Saponin có khả năng làm vỡ hồng cầu ngay ở những nồng độ rất loãng. Nó
độc với cá vì làm tăng tính thấm của biểu mô đường hô hấp nên làm mất các chất
điện giải cần thiết, ngoài ra có tác dụng diệt các loài thân mềm như giun, sán, ốc
sên.
Saponin kích ứng niêm mạc gây hắt hơi, đỏ mắt, có tác dụng long đờm, lợi
tiểu, liều cao gây nôn mửa, đi lỏng.
[3]


STT
Tên hơp chất
Công thức
cấu tạo
Tài liệu
tham khảo
1
(24 S )-24-ethylcholesta-3β ,5 α ,6 α –triol
(1)
[11]
2
Cucurbitacin IIa
(2)
[11]

3
Cucurbitacin U
(3)
[11]
4
Asteryunnanoside F
(4)
[11]
5
Saikosaponin M
(5)
[11]
6
β-sitosterol
(6)
[13]
Bảng 5: Các saponin phân lập từ Polygonum perfoliatum L.


(1)



(2)

Đinh Như Chiến

19



(3)


(4)
(5)


(6)

Hình 9: Công thức hóa học các Saponin có trong Polygonum perfoliatum L.
Beta-sitosterol là một chất được tìm thấy trong thực vật. Nhà khoa học gọi
đó là một "ester sterol thực vật." Nó được tìm thấy trong trái cây, rau, các loại hạt,
và hạt. Nó được sử dụng để làm thuốc. Beta-sitosterol được sử dụng cho bệnh
tim và cholesterol cao. Nó cũng được sử dụng để thúc đẩy hệ thống miễn dịch và
ngăn ngừa ung thư ruột kết, cũng như sỏi mật, phổ biến là cảm lạnh và
cúm (influenza), HIV/ AIDS, viêm khớp dạng thấp, bệnh lao, bệnh vẩy nến, dị
ứng, ung thư cổ tử cung, đau xơ cơ, hệ thống lupus ban đỏ, hen suyễn , rụng
tóc, viêm phế quản, và hội chứng mệt mỏi mãn tính. Một số đàn ông sử dụng beta-
sitosterol cho tuyến tiền liệt mở rộng. Một số phụ nữ sử dụng nó cho các triệu
chứng của thời kỳ mãn kinh. Nó cũng được dùng để tăng cường hoạt động tình
dục. Chạy Marathon đôi khi sử dụng beta-sitosterol để giảm đau và sưng sau khi
chạy. Một số người áp dụng beta-sitosterol da để điều trị vết thương và vết
bỏng. Trong thực phẩm, beta-sitosterol được thêm vào một số bơ được thiết kế để
sử dụng như là một phần của một chế độ ăn uống làm giảm cholesterol và ngăn
Đinh Như Chiến

20
ngừa bệnh tim. Cục Quản lý thực phẩm và dược phẩm liên bang cho phép các nhà
sản xuất khẳng định rằng thực phẩm có chứa este sterol thực vật như beta-sitosterol
là để giảm nguy cơ bệnh tim mạch vành.

β-sitosterol còn hứa hẹn khả năng trị đái tháo đường cũng như hiệu qủa
chống oxy hóa và có thể được xem xét trong các nghiên cứu lâm sàng cho phát triển
thuốc.
[19]

1.2.4.6 Các hợp chất khác


Indican là tên gọi thông
thường của một hợp chất hữu cơ dạng
bột kết tinh từ không màu tới màu
trắng hay trắng Nó là tiền chất để sản
xuất thuốc nhuộm màu chàm. Indican
là một glicozit. Nó bị thủy phân để
sinh ra β-D-glucoza và indoxyl.
Hình 10: CTHH của Indican

Phản ứng của indoxyl dưới tác động của các chất ôxi hóa vừa phải,
như ôxy trong khí quyển, sinh ra thuốc nhuộm màu chàm. Phản ứng tương tự như
vậy cũng có ở những trẻ em bị hội chứng tã chàm (trẻ em bị khuyết tật trong trao
đổi chất tryptophan). Tryptophan đầu tiên bị chuyển hóa thành indol, sau đó thành
indican bởi vi khuẩn trong ruột. Sau đó, indican được bài tiết theo đường nước tiểu
và vì thế thấm vào tã lót của trẻ, sau khi bị phơi nhiễm với không khí, nó chuyển
hóa thành chất có màu chàm.
[1]

Dịch chiết methanol từ củ
của Polygonum perfoliatum L. cho
một lignan mới: 8-oxo-pinoresinol,
no cho thấy khả năng gây độc

chống lại ung thư vú của con người
(Bcap-37), ung thư ruột kết (RKO),
ung thư biểu mô tế bào gan của con
người (SMMC-7721), ung thư biểu
mô tuyến tiền liệt của con người
(PC3) và erythroleukaemia (K562)
Đinh Như Chiến

21
trên tế bào người.
[10]
Hình 11: CTCT 8-oxo-pinoresinol


Theo báo cáo của ZhangRongLin, acid pentadecanoic - một acid béo hiếm
thấy trong tự nhiên cũng được phân lập từ Ponygonum perfoliatum L.
[13]



Hình 12: Công thức hóa học Acide pentadecanoic


















Đinh Như Chiến

22
Tài liệu tham khảo:
Tài liệu tiếng Việt:
1. Giáo sư Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam.
2. Lương y Hư Đan, Tác dụng chữa bệnh của rau má ngọ, báo Tiền Phong,
16/1/2015.
3. Bài giảng dược liệu, tập I và II
4. Lê Văn Tám, Họ Rau răm, Jan 24, 2011

Tài liệu tiếng Anh:
5 . Zhang RL , Sun XC, Li WX , WU LJ, Huang J, Sun BH; Isolation and
idebtifi cation of chemical constituents of Polygonum perfoliatum; J Shenyang
Pharm Univ 2008
6. WANG Ding-yong, LU Jiang-Hong ;Chemical constituents in roots of
Polygonum perfoliatum[J]; Subtropical Plant Science;2004-02.
7. Dongsheng Fan, Xin Zhou, Chao Zhao, Huaguo Chen, Yang Zhao,
Xiaojian Gong:
Anti-inflammatory, antiviral and quantitative study of quercetin-3-O-β-D-
glucuronide in Polygonum perfoliatum L.
8. J.M. Calderón-Montaño, E. Burgos-Morón, C. Pérez-Guerrero and M.

López-Lázaro
Department of Pharmacology, Faculty of Pharmacy, University of Seville,
Spain; A Review on the Dietary Flavonoid Kaempferol; Mini-Reviews in
Medicinal Chemistry, 2011, 11, 298-344.
9. Xingzhong Sun, and Albert 1. Sneden; Department of Chemistry, Virginia
Commonwealth University, Richmond, Virginia, USA ; Neoflavonoids from
Polygon urn perfoliatum; January 12, 1999; Accepted May 16, 1999.
10. Kui-Wu Wang , Jun-Ru Zhu and Lian-Qing Shen School of Food Science
and Biotechnology, Zhejiang Gongshang University, Hangzhou 310035, P.R.
China; A new lignan with anti-tumour activity from Polygonum perfoliatum L 13
June 2011.
Đinh Như Chiến

23
11.WANG Qiong,CHEN Li,TIAN Ying,LI Bin,SUN Qi-Hong,DONG Jun-
Xing (Institute of Radiation Medicine,Academy of Military Medical
Sciences,Beijing 100850,China) Chemical constituents of Polygonum perfoliatum
L, Bulletin of the Academy of Military Medical Sciencesl; 2009-03
12. Shuping JIN, Xifeng GUO, Yinyan ZHANG, Ping LI, Pingang HE,
Qingjiang WANG, Yuzhi FANG; Determination of Bioactive Components
in Polygonum perfoliatum L. by Capillary Electrophoresis with Electrochemical
Detection; Chinese Journal of Chemistry Volume 27, Issue 4, pages 773–776, April,
2009.
13. ZhangRongLin, Shenyang Pharmaceutical University Master's thesis
Chemical constituents of Polygonum perfoliatum, 2007
14. Sun Xingzhong, Zinmmermannml, Camoagne J,et al; Newsucrose
Phenypropanoid esters fromPolygonum perfoliatum; Journal of Natural Product
2000,63(8) :1094- 1097.
15. ZOU Deng-feng et al(School of Pharmacy,Guilin Medical
University,Guilin,Guangxi 541004); Extraction and Determination of Emodin in

Polygonum perfoliatum[J]; Journal of Anhui Agricultural Sciences;2011-24.
16. MAO Xiangjun,BAO Jiake,XU Qianli,ZUO Ding,WANG Defu(Guizhou
Provincial Institute for Drug Control,Guiyang 550004,Guizhou,China);
Determination of Chlorogenic Acid in Polygonum perfoliatum L. with High
Performance Liquid Chromatography[J];Journal of Guiyang Medical
College;2010-06.
17. Feng, Y.; Huang, S. L.; Dou, W.; Zhang, S.; Chen, J. H.; Shen, Y.; Shen,
J. H.; Leng, Y. (2010). "Emodin, a Natural Product, Selectively Inhibits 11β-
Hydroxysteroid Dehydrogenase Type 1 and Ameliorates Metabolic Disorder in
Diet-Induced Obese Mice". British Journal of Pharmacology 161 (1): 113–126.
18. Ma X, Yang X, Zeng F, Yang L, Yu D, Physcion, a natural
anthraquinone derivative, enhances the gene expression of leaf-specific thionin of
barley against Blumeria graminis. Ni HPest Manag Sci. 2010 Jul;66(7):718-24.
19. Gupta R, Sharma AK, Dobhal MP, Sharma MC, Gupta RS. Antidiabetic
and antioxidant potential of β-sitosterol in streptozotocin-induced experimental
hyperglycemia. J Diabetes. 2011 Mar;3(1):29-37.
Đinh Như Chiến

24
20. J. Douglas Oliver and Nancy C. Coile: Polygonum perfoliatum L.
(POLYGONACEAE), the Mile-a-minute; Botany Circular No.29, 1994.
21. Stone, Katharine R. 2010. Polygonum perfoliatum; U.S. Department
of Agriculture, Forest Service, Rocky Mountain Research Station, Fire Sciences.
22. Piao MJ, Kang KA, Zhang R, Ko DO, Wang ZH, You HJ, Kim HS, Kim
JS, Kang SS, Hyun JW. Hyperoside prevents oxidative damage induced by
hydrogen peroxide in lung fibroblast cells via an antioxidant effect. Department of
Biochemistry, School of Medicine, Institute of Medical Science, Cheju National
University, Jeju-si 690-756, Korea.
23. Liu CL, Wang JM, Chu CY, Cheng MT, Tseng TH. In vivo protective
effect of protocatechuic acid on tert-butyl hydroperoxide-induced rat

hepatotoxicity. Department of Anatomy, College of Medicine, Chung Shan Medical
University, No. 110, Sec. 1, Chien Kuo N. Rd., Taichung, 402 Taiwan.





Link:

o/phytochemicals/isorhamnetin.php
o/phytochemicals/gallic-acid.php
/>dalternativemedicine/dietandnutrition/ellagic-acid
/>SITOSTEROL.aspx?activeIngredientId=939&activeIngredientName=BETA-
SITOSTEROL


Đinh Như Chiến

25



×