Tên đề tài: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỈNH QUẢNG NGÃI THỜI KỲ ĐỔI
MỚI (1989-2010)
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
2. Mục đích nghiên cứu:
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài:
4.1Đối tượng nghiên cứu:
4.2Phạm vi nghiên cứu:
4.3Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu:
5.1Nguồn tư liệu:
5.2Phương pháp nghiên cứu:
6. Đóng góp của đề tài:
6.1Về mặt khoa học:
6.2Về mặt thực tiễn:
7. Cấu trúc luận văn:
Chương 1: Một vài điều về phong trào Cần Vương.
Chương 2: Nguyễn Duy Hiệu và nghĩa Hội Quảng Nam.
Chương 1: Một vài điều về phong trào Cần Vương.
Sau khi cuộc tấn công tại kinh thành Huế thất bại, Tôn Thất Thuyết - một
đại thần thuộc phe chủ chiến - đưa vua Hàm Nghi ra ngoài, phát hịch Cần Vương
chống Pháp. Người Pháp dựng vua Đồng Khánh lên ngôi tại Huế. Ngoài Khởi
nghĩa Cần Vương của vua Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn, các
cuộc khởi nghĩa hưởng ứng lời kêu gọi của vua Hàm Nghi gồm có:
• Nghĩa hội Quảng Nam của Nguyễn Duy Hiệu
• Khởi nghĩa Hương Khê (1885-1895) của Phan Đình Phùng, Cao Thắng ở
Hương Khê, Hà Tĩnh.
• Khởi nghĩa của Nguyễn Xuân Ôn ở Nghệ An
• Khởi nghĩa Ba Đình (1886-1887) của Đinh Công Tráng, Phạm Bành ở Nga
Sơn, Thanh Hóa.
• Khởi nghĩa của Mai Xuân Thưởng ở Bình Định.
• Khởi nghĩa Hùng Lĩnh (1886-1892) của Tống Duy Tân ở Bá Thước và
Quảng Xương, Thanh Hóa.
• Khởi nghĩa Bãi Sậy (1885-1889) của Nguyễn Thiện Thuật ở Hưng Yên
• Phong trào kháng chiến ở Thái Bình-Nam Định của Tạ Quang Hiện và
Phạm Huy Quang,
• Khởi nghĩa Hưng Hóa của Nguyễn Quang Bích ở Phú Thọ và Yên Bái.
• Khởi nghĩa Sông Đà (1885-1892) của Đốc Ngữ (Nguyễn Đức Ngữ) ở Hòa
Bình.
Năm 1888, vua Hàm Nghi bị người Pháp bắt và đem lưu đày ở châu Phi, các cuộc
khởi nghĩa chống Pháp vẫn tiếp tục. Tuy nhiên, phong trào Cần Vương suy yếu
dần; từng cuộc khởi nghĩa lần lượt bị tiêu diệt. Tới cuối năm 1895, khi khởi nghĩa
Hương Khê của Phan Đình Phùng thất bại, phong trào Cần Vương coi như chấm
dứt.
[sửa] Nguyên nhân thất bại
Tác giả Nguyễn Thế Anh trong sách Kinh tế & xã hội Việt Nam dưới các triều vua
nhà Nguyễn nêu các nguyên nhân thất bại của phong trào Cần Vương:
1.
Tính chất địa phương: sự thất bại của phong trào Cần Vương có nguyên
nhân từ sự kháng cự chỉ có tính chất địa phương. Các phong trào chưa quy
tụ, tập hợp thành một khối thống nhất đủ mạnh để chống Pháp. Các lãnh tụ
Cần Vương chỉ có uy tín tại nơi họ xuất thân, tinh thần địa phương mạnh
mẽ làm họ chống lại mọi sự thống nhất phong trào trên quy mô lớn hơn.
Khi các lãnh tụ bị bắt hay chết thì quân của họ hoặc giải tán hay đầu hàng.
[1]
2.
Quan hệ với dân chúng: các đạo quân này không được lòng dân quê nhiều
lắm bởi để có phương tiện sống và duy trì chiến đấu, họ phải đi cướp phá
dân chúng.
[2]
.
3.
Mâu thuẫn với tôn giáo: sự tàn sát vô cớ những người Công giáo của quân
Cần Vương khiến giáo dân phải tự vệ bằng cách thông báo tin tức cho phía
Pháp. Những thống kê của người Pháp cho biết có hơn 20.000 giáo dân đã
bị quân Cần Vương giết hại.
[3]
4.
Mâu thuẫn sắc tộc: Chính sách sa thải các quan chức Việt và cho các dân
tộc thiểu số được quyền tự trị rộng rãi cũng làm cho các sắc dân này đứng
về phía Pháp. Chính người Thượng đã bắt Hàm Nghi, các bộ lạc Thái, Mán,
Mèo, Nùng, Thổ đều đã cắt đường liên lạc của quân Cần Vương với Trung
Hoa làm cạn nguồn khí giới của họ. Quen thuộc rừng núi, họ cũng giúp
quân Pháp chiến tranh phản du kích đầy hiệu quả.
[4]
Theo Đào Duy Anh, ngoài việc thiếu liên kết và thống nhất về tổ chức (tương tự
như "tính chất địa phương" mà Nguyễn Thế Anh phản ánh), phong trào Cần
Vương còn có những nguyên nhân thất bại khác
[5]
:
1. Nền sản xuất lạc hậu, kém phát triển làm nền tảng, vì vậy vũ khí thô sơ
không thể chống lại vũ khí hiện đại của Pháp
2. Lực lượng và chiến thuật: các cuộc khởi nghĩa không đủ mạnh, chỉ có thể
tấn công vào những chỗ yếu, sơ hở của địch; không đủ khả năng thực hiện
chiến tranh trực diện với lực lượng chính quy của địch
3. Tinh thần chiến đấu: Ngoại trừ một số thủ lĩnh có tinh thần chiến đấu đến
cùng và chết vì nước, không ít thủ lĩnh quân khởi nghĩa nhanh chóng buông
vũ khí đầu hàng khi tương quan lực lượng bắt đầu bất lợi cho quân khởi
nghĩa, khiến phong trào nhanh chóng suy yếu và tan rã.
Nghĩa hội Quảng Nam là tổ chức của những người chống Pháp tại tỉnh Quảng
Nam theo chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi (ở ngôi 1884-1885). Nghĩa hội là
một bộ phận quan trọng của phong trào Cần vương (1885-1895), thu hút được
nhiên chí sĩ yêu nước ở đất Quảng như Trần Văn Dư, Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá
Phiến, Tiểu La Nhiều người đã hy sinh vì sự nghiệp Cần vương.
[sử a] Trần Văn Dư làm hội trưởng
Sau sự biến kinh thành ngày 5 tháng 7 năm 1885, kinh đô Huế thất thủ, Tôn Thất
Thuyết cùng với các viên quan chủ chiến trong triều đình nhà Nguyễn đưa vua
Hàm Nghi rút lên Tân Sở (Cam Lộ, Quảng Trị) xây dựng căn cứ kháng Pháp lâu
dài. Ngày 22 tháng 5, Hàm Nghi hạ chiếu Cần vương kêu gọi sĩ phu, văn thân và
nhân dân cả nước phò vua đánh Pháp. Lời hịch Cần vương nhanh chóng lan ra cả
nước, dấy lên một cao trào phò vua Hàm Nghi chống Pháp, "nghĩa hội mọc lên
như rừng rậm, hịch quân truyền khắp như gió bay" (Huỳnh Thúc Kháng)
[1]
.
Trước đó một năm, tháng 7 năm 1884, đốc tiểu sứ Trần Văn Dư từng xin Hàm
Nghi củng cố Nha sơn phòng Quảng Nam lúc này đặt tại Dương Hòa (phủ Thăng
Bình) để giữ tả kỳ, phên dậu phía nam của kinh đô Huế. Chỉ ít ngày sau khi chiếu
Cần Vương ban bố, ở Quảng Nam các nghĩa sĩ như Trần Văn Dư, Nguyễn Duy
Hiệu, Phan Bá Phiến đứng ra thành lập Nghĩa hội Quảng Nam ở Quế Sơn, cử Trần
Văn Dư làm hội trưởng. Doanh trại ban đầu đóng tại Trung Lộc (Tân Tỉnh, Quế
Sơn). Vua thân Pháp Đồng Khánh ra lệnh thuyên chuyển Trần Văn Dư nhưng ông
không tuân chỉ, còn kéo quân chiếm giữ sơn phòng và uy hiếp tỉnh thành La Qua
(Điện Bàn). Để đối phó, thực dân Pháp và quân đội của Đồng Khánh thẳng tay đàn
áp và mua chuộc. Khâm sứ Pháp ở Huế Deschampeaux điều quân Bắc Phi đánh
chiếm lại La Qua.
Quân nổi dậy tiến đánh nhiều căn cứ quan trọng của Pháp ở Quảng Nam như
thành La Qua, Đà Nẵng, An Hải, Hà Thân, Nam Chơn gây cho quân Pháp nhiều
tổn thất. Nghĩa hội nhờ đó mở rộng được uy tín và lực lượng ra khắp Quảng Nam
đến Quảng Ngãi, Bình Định và được người dân nhiệt tình ủng hộ. Nhưng sau đó
thực dân Pháp tập trung đàn áp, các thủ lĩnh của nghĩa hội quyết định dời căn cứ
về sơn phòng Dương Yên ở Trà My. Căn cứ này được xem như một Tân Sở thứ
hai ở các tỉnh phía nam kinh đô Huế
[2]
.
[sử a] Nguyễn Duy Hiệu làm hội trưởng
[sử a] Căn cứ Tân Tỉnh, Trung Lộc
Cuối năm 1885, tình hình bất lợi cho nghĩa hội khi quân Pháp tấn công dữ dội sơn
phòng Dương Yên. Ngày 13 tháng 12 năm 1885, Trần Văn Dư bị bắt và bị xử
trảm. Nguyễn Duy Hiệu lên làm hội chủ. Ông dời bản doanh về làng Thanh Lâm,
xã Tiên Thọ lập căn cứ mới. Qua nhiều trận chiến chiến, nhiều binh sĩ nổi dậy hy
sinh. Những người này được đưa về táng ở đồi Gò Cao, khu vực Chổm Bồ (Tiên
Mỹ, Tiên Phước). Mộ chí của họ khi chôn đều hướng đỉnh đầu về căn cứ chính là
sơn phòng Dương Yên.
Tân Tỉnh, Trung Lộc là một địa bàn thuận lợi về mọi mặt cho cuộc kháng chiến:
núi non hiểm trở, cây cối rậm rạp, hào sâu vực thẳm, giao thông thủy bộ đều dễ
dàng, có tỉnh lộ 611 chạy từ Hương An lên, có bến phà Tân An xuyên Phú Bình
đến đường 16, nối liền với đường chiến lược 14 và dãy Trường Sơn hùng vĩ,
đường thủy xuôi theo dòng sông Thu Bồn đến Hòn Kèm Đá Dừng qua Nông Sơn,
Duy Xuyên, Điện Bàn về Cửa Đại. Ngoài ra, đây còn là một vùng trung du, đất đai
màu mỡ, nằm bên dòng sông Thu Bồn, thuận lợi cho việc tự cung tự cấp lương
thực cho lực lượng nổi dậy.
Căn cứ Tân Tỉnh, Trung Lộc nằm trong một thung lũng có diện tích khoảng 15
km
2
, được xây dựng trên một cánh đồng rộng, chạy dài khắp hai xã Trung Lộc Tây
và Trung Lộc Đông (nay là xã Quế Lộc, huyện Quế Sơn). Toàn bộ khu căn cứ
được bao bọc bởi những hàng rào bằng tre, đầu vót nhọn, đan chéo vào nhau như
những bàn chông cắm xiên; chung quanh căn cứ được che chắn bởi những núi cao,
hào sâu nên thuận lợi cho việc chống lại sự càn quét của quân Pháp, vốn đưa quân
bằng đường sông từ Đà Nẵng và Hội An đánh lên, hay quân của Nguyễn Thân từ
Quảng Ngãi đánh ra.
Mặc dù chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn chưa đầy hai năm 1885-1887, Tân
Tỉnh, Trung Lộc là căn cứ quân sự quan trọng nhất của Nghĩa hội Quảng Nam, là
cơ quan hành chính, quân sự thu nhỏ của phong trào
[3]
.
[sử a] Trận Nam Chơn
Trong thời gian nghĩa hội hoạt động, người Pháp đang xây dựng con đường chiến
lược từ Huế qua đèo Hải Vân tới Đà Nẵng trong kế hoạch khai thác thuộc địa cũng
như để đàn áp các lực lượng nổi dậy. Đích thân Tổng tư lệnh lực lượng quân Pháp
ở Bắc và Trung Kỳ De Courcy đã ra lệnh cho tướng Prud'Homme điều động công
binh và buộc vua Đồng Khánh phải huy động phu dịch để làm đường. Gần 2.000
dân phu Quảng Nam và Thừa Thiên Huế được huy động thi công con đường này,
nhiều người bỏ trốn và thiệt mạng vì chế độ lao động quá khắc nghiệt.
Từ Tân Tỉnh, nghĩa quân của Nguyễn Duy Hiệu tổ chức cuộc tập kích vào đơn vị
của đại úy công binh chịu trách nhiệm thi công đường Huế-Đà Nẵng Besson vào
đêm ngày 28 tháng 2, rạng sáng ngày 1 tháng 3 năm 1886, tiêu diệt tại chỗ đại úy
Besson, một trung sĩ công binh và sáu lính thủy đánh bộ tại Nam Chơn
[4]
.
[sử a] Tan rã
Sau trận đánh nói trên, mà người Pháp coi là "một biến cố đau thương vừa xảy ra
ở Trung Kỳ" (điện của Prud'Homme ngày 8 tháng 3 năm 1886), chính quyền thực
dân càng quyết tâm tiêu diệt lực lượng nổi dậy. Trên đất Quảng Nam, 36 đồn bốt
mới được thành lập. Kết hợp sức mạnh quân sự và chính sách dụ dỗ, ly gián, quân
Pháp dần đẩy lực lượng nổi dậy vào thế cùng.
Tháng 10 năm 1887, sau khi Nguyễn Duy Hiệu bị Pháp bắt và xử chém, Phan Bá
Phiến uống thuốc độc tự tử để khỏi rơi vào tay kẻ thù, Nghĩa hội Quảng Nam tan
rã
[5]
.
[sử a] Căn cứ An Lâm và Bình Huề
Căn cứ An Lâm (nay là thôn An Lâm, xã Thăng Phước, cách thị trấn Tân An 15
km về phía đông và cách trung tâm xã Thăng Phước 3 km về phía đông) là một
trong những vị trí quan trọng thuận lợi về giao thông và phòng thủ nên được chọn
làm đại bản doanh của Nghĩa hội Quảng Nam.
Song song với xây dựng trụ sở căn cứ ở An Lâm, Nguyễn Duy Hiệu còn cho xây
dựng căn cứ Bình Huề (ở thôn 1 xã Quế Bình, cách Tân An 3,5 km về hướng tây).
Tại hai căn cứ này, Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiến, Tiểu La cho xây dựng
tuyến phòng thủ kiên cố cùng với Đèo Đá Bon tạo nên thế phòng thủ vững chắc.
Cuối năm 1887, các căn cứ này bị thất thủ trước sự tấn công của quân Pháp.
Hiện trong dân gian còn tương truyền nhiều giai thoại về lực lượng nổi dậy do
Nguyễn Duy Hiệu chỉ huy. Khi đóng quân ở đây, ông chủ trương tăng gia sản
xuất, khai mương, đắp đập, chăm lo đời sống cho người dân. Vì thế quân nổi dậy
nhận được sựủng hộ từ người dân. Ngày nay, các di tích này không còn nguyên
trạng như xưa
[6]
.
[sửa] Chú thích
1. ^ Báo Qu ả ng Nam ngày 9 tháng 1 năm 2009
2. ^ Báo Qu ả ng Nam ngày 9 tháng 1 năm 2009
3. ^ Trang web chính th ứ c c ủ a t ỉ nh Qu ả ng Nam
4. ^ Phong trào Nghĩa hội Quảng Nam (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1996)
5. ^ Phong trào Nghĩa hội Quảng Nam (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1996)
6. ^ Phong trào Nghĩa hội Quảng Nam (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1996)
Chương 2: Nguyễn Duy Hiệu và nghĩa hội Quảng Nam.
• Căn cứ quân sự quan trọng của phong trào Nghĩa
hội Quảng Nam dưới thời Phó bảng Nguyễn Duy
Hiệu
• Thứ sáu, 12 Tháng 10 2007 18:44
• Sau khi Tiến sĩ Trần Văn Dư bị bắt và bị xử chém (tháng 12-1885), căn cứ Sơn
phòng Dương Yên (Trà My) cũng chấm dứt vai trò lịch sử của nó. Được các sĩ phu
yêu nước và các nghĩa binh suy tôn, Phó bảng Nguyễn Duy Hiệu lên nắm quyền chỉ
huy Nghĩa hội. Việc đầu tiên mà lãnh đạo Nghĩa hội xác định là phải xây dựng lại
căn cứ vững chắc, nhằm phục vụ cho cuộc chiến đấu lâu dài; và, Tân Tỉnh - Trung
Lộc ở Quế Sơn là nơi được chọn làm căn cứ cho cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp trong giai đoạn tiếp theo.
• Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Thanh Hà, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh
Quảng Nam (nay là xã Cẩm Hà, thị xã Hội An), thuở nhỏ, Nguyễn Duy Hiệu rất
thông minh và được học với người thầy đức độ là Lê Tấn Toán, nên ông sớm tiếp
thu được cốt cách của một nhà nho yêu nước. Con đường công danh của Nguyễn
Duy Hiệu cũng rất đỗi vẻ vang: Năm 1863, ông đi thi hương và được xướng danh
"Đệ nhất Tú tài"; năm Bính Tý (l876) đỗ cử nhân; ba năm sau (l879) ông thi hội và
đỗ phó bảng. Tuy nhiên, gặp lúc nước nhà trong cơn nguy biến, thực dân Pháp xâm
lược nước ta, bọn vua quan triều Nguyễn lúc bấy giờ cam tâm làm tay sai cho giặc,
Nguyễn Duy Hiệu viện cớ mẹ già không người chăm sóc, nên đã từ quan.
• Về quê Quảng Nam trong thời điểm phong trào Cần Vương do vua Hàm Nghi khởi
xướng, ông cùng với các chí sĩ yêu nước trong tỉnh kết nhau làm Nghĩa hội, quyết
tâm chống thực dân Pháp xâm lược và tay sai Nam triều. Phó bảng Nguyễn Duy
Hiệu đã sát cánh cùng Tiến sĩ Trần Văn Dư và các sĩ phu yêu nước khác, lập ra
nhiều căn cứ lớn nhỏ ở các địa phương trong tỉnh và liên kết với các phong trào ở
các tỉnh lân cận như Quảng Ngãi, Bình Định (Nghĩa Bình), để lập thành một phòng
tuyến liên hoàn, lấy Sơn phòng Dương Yên (Trà My) làm đại bản doanh. Sau khi
Tiến sĩ Trần Văn Dư bị bọn tay sai Nam triều và thực dân Pháp giết hại, căn cứ này
bị Pháp tấn công chiếm giữ, Nguyễn Duy Hiệu thấy rằng sự liên hoàn trong chiến
đấu giữa Quảng Nam và Nghĩa Bình đã bị phá vỡ bởi sự phản bội của Nguyễn
Thân, nên ông nghĩ đến việc dời căn cứ về một nơi có vị trí chiến lược quân sự
quan trọng, nhằm đáp ứng cho một hậu phương vững mạnh, phục vụ công cuộc
kháng chiến chống Pháp lâu dài. Và Tân Tỉnh - Trung Lộc ở Quế Sơn đã được
Nguyễn Duy Hiệu chọn làm nơi xây dựng căn cứ.
• Tân Tỉnh - Trung Lộc là một địa bàn thuận lợi về mọi mặt, từ núi non hiểm trở, cây
cối rậm rạp, hào sâu vực thẳm; giao thông thủy bộ đều dễ dàng, có tỉnh lộ 611 chạy
từ Hương An lên, có bến phà Tân An xuyên Phú Bình đến đường 16, nối liền với
đường chiến lược 14 và dãy Trường Sơn hùng vĩ, đường thủy xuôi theo dòng Thu
Bồn đến Hòn Kèm Đá Dừng qua Nông Sơn, Duy Xuyên, Điện Bàn về Cửa Đại.
Ngoài ra, đây còn là một vùng trung du, đất đai màu mỡ, nằm bên dòng sông Thu
Bồn, thuận lợi trong việc tự cung tự cấp lương thực, thực phẩm cho nghĩa binh.
• Tân Tỉnh - Trung Lộc nằm trong một thung lũng có diện tích khoảng 15km2, được
xây dựng trên một cánh đồng rộng, chạy dài khắp hai xã Trung Lộc Tây và Trung
Lộc Đông (nay là xã Quế Lộc, huyện Quế Sơn). Toàn bộ khu căn cứ được bao bọc
bởi những hàng rào bằng tre, đầu vót nhọn, đan chéo vào nhau như những bàn
chông cắm xiên; chung quanh căn cứ được che chắn bởi những núi cao, hào sâu nên
thuận lợi cho việc chống lại sự càn quét của thực dân Pháp và bọn tay sai Nam triều
khi chúng đưa quân bằng đường sông từ Đà Nẵng và Hội An đánh lên, hay quân
của Nguyễn Thân từ Quảng Ngãi đánh ra.
• Trong giai đoạn 1885-1887, Tân Tỉnh - Trung Lộc là một trong những căn cứ quân
sự quan trọng của phong trào Nghĩa hội Quảng Nam; là cơ quan hành chính - quân
sự thu nhỏ của một phong trào tự phát của những sĩ phu yêu nước được đông đảo
nhân dân đồng tình hưởng ứng, nhằm chống lại thế lực ngoại xâm và bọn quan lại
thối nát của triều đình phong kiến lúc bấy giờ. Mặc dù căn cứ Tân Tỉnh - Trung Lộc
tồn tại chỉ trong một thời gian ngắn, chưa đầy hai năm, nhưng nó góp phần không
nhỏ cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của phong trào Nghĩa hội Quảng
Nam. Sau khi Nguyễn Duy Hiệu bị Pháp bắt và xử chém (tháng 10-1887), Phan Bá
Phiến uống thuốc độc tự vẫn để khỏi rơi vào tay giặc, các sĩ phu yêu nước khác lui
về ở ẩn, chờ thời cơ để ra tham gia các phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp
sau này và nghĩa binh giải giáp quy điền để khỏi bị bắt giết khi phong trào Nghĩa
hội đi vào giai đoạn tan rã, Tân Tỉnh - Trung Lộc cũng mất đi vai trò lịch sử của nó.
Thế nhưng, những dư âm của một thời chiến đấu oanh liệt của Nghĩa hội Quảng
Nam và dấu tích của căn cứ này vẫn còn mãi trong tâm thức của nhân dân đất
Quảng. Đây là di tích lịch sử ghi dấu một phong trào đấu tranh chống Pháp sôi nổi
nhất, rầm rộ nhất có tính chất quần chúng rộng rãi của nhân dân Quảng Nam trong
những năm 80 của thế kỷ XIX, đánh dấu sự khởi đầu cho các phong trào yêu nước,
đấu tranh chống thực dân Pháp ở các năm tiếp theo của thế kỷ XX và sau này.
Cứ mỗi độ thu về, vào ngày Rằm tháng Tám, chúng ta lại đốt nén
nhang để tưởng nhớ người Anh hùng dân tộc Nguyễn Duy Hiệu, một trong
những văn thân, sĩ phu yêu nước tiêu biểu trong phong trào Cần Vương cuối
thế kỉ XIX. Cuộc đời của ông, không những được ghi vào sử sách của dân
tộc ta với những chiến công vang dội : Nam Chơn, Bãi Chài, Bình Sơn,
Mà còn để lại cho đời sau những bài học vô cùng quý giá, mà chúng ta hôm
nay và mãi mãi mai sau, phải suy ngẫm và noi theo.
Hôm nay nhân kỉ niệm 123 năm ngày mất của Người (01/10/1887 –
01/10/2010), chúng ta hãy cùng nhau ôn lại và tưởng nhớ đến công ơn to lớn
của Người và các Nghĩa sỉ đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc ta.
Vào giữa thế kỉ XIX thực dân Pháp bắt đầu nổ súng xâm lược nước ta.
Đây là kẻ thù có tiềm lực kinh tế và quân sự lớn mạnh. Triều đình nhà
Nguyễn từng bước thỏa hiệp rồi đầu hàng và dâng nước ta cho thực dân
Pháp. Bất chấp thái độ nhu nhược và ươn hèn của triều đình Huế, các phong
trào đấu tranh chống Pháp của nhân dân ta đã liên tục nổ ra khắp nơi. Điều
này đã tác động đến tinh thần dân tộc của một số quan lại và văn thân sĩ phu
yêu nước trong triều đình. Phe chủ chiến đã hình thành ngay trong nội bộ
triều đình Huế do Tôn Thất Thuyết đứng đầu. Đêm ngaỳ 4 tháng 7 năm
1885 nhằm ngày 22 rạng sáng ngày 23 tháng 5 năm Ất Dậu, Tôn Thất
Thuyết đã tổ chức cuộc tấn công vaò quân Pháp ở Tòa Khâm sứ, đồn Mang
Cá, Cuộc phản công không thành, Vua Hàm Nghi phải xuất bôn. Ngày 13
tháng 7 năm 1885, Tôn Thất Thuyết đã lấy dang nghĩa Vua Hàm Nghi hạ
chiếu Cần Vương kêu gọi văn thân, sĩ phu yêu nước và toàn dân đứng lên
giúp Vua chống Pháp xâm lược.
Sinh ra vào lúc tàu chiến Pháp đến gây hấn ở cửa biển Đà Nẵng năm
1847, trong một gia đình thuần nông ở ấp Bến Trễ, làng Thanh Hà, huyện
Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, Nguyễn Duy Hiệu bước vào
con đường khoa cử và quan trường khá sớm: Năm 14 tuổi thi đỗ Tú Tài,
năm 29 tuổi thi đỗ Cử nhân, năm 32 tuổi thi đỗ Phó bảng, năm 35 tuôỈ giữ
chức Giảng tập dạy Hoàng Tử Ưng Đăng, được phong tước Hồng Lô Tự
Khanh. Khi súng giặc vang rền, các tỉnh thành lần lượt rơi vào tay giặc,
người yêu nước đánh Pháp lần lượt hy sinh, triều đình nhu nhược quan lại đa
số ươn hèn, Nguyễn Duy Hiệu đã lấy cớ phụng dưỡng mẹ già, cáo quan lui
về quê nhà, mong chờ cơ hội sẽ đứng lên chống Pháp cứu nước, cứu nhà.
Khi Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương, Nguyễn Duy Hiệu đã cùng với các
bằng hữu, các hào kiệt thành lập Nghĩa Hội Quảng Nam năm 1885 do Tiến
sĩ Trần Văn Dư làm thủ lĩnh. Cuối năm 1885, sau khi Chủ soái Trần Văn Dư
bị giặc giết, Nguyễn Duy Hiệu được nghĩa quân tôn làm Hội chủ phong traò
Nghĩa Hội Quảng Nam. Với tài tổ chức và lãnh đạo kiệt xuất, Nguyễn Duy
Hiệu đã xây dựng đại bản doanh ở Tân Tỉnh (Trung Lộc - Quế Sơn ), tổ
chức chính quyền kháng chiến rộng lớn, liên lạc với phong trào chống Pháp
ở Nghệ Tĩnh, tiến hành thống nhất Cần Vương 3 tỉnh Nam – Ngãi – Định.
Với chiến thuật du kích, với cách đánh linh hoạt, tài tình, nghĩa quân càng
đánh càng mạnh, lập được nhiều chiến công vang dội. Danh tiếng của
Nguyễn Duy Hiệu ngày càng vang xa, nhân dân càng tin tưởng vào sự
nghiệp cứư nước của ông. Thực dân Pháp và triều đình Đồng Khánh phải tập
trung lực lượng đánh phá quyết liệt. Mặc dù ở trong điều kiện bất lợi về mọi
mặt, nghĩa quân vẫn chiến đấu ngoan cường. Khi thế cùng lực kiệt, biết
không thể xoay chuyển được tình thế, Nguyễn Duy Hiệu đã nghĩ đến tương
lai đất nước, bảo toàn tổ chức, đồng chí để chờ cơ hội khác, Nguyễn Duy
Hiệu đã bàn với Phan Bá Phiến giải tán Nghiã Hội, Sau khi phân tán nghĩa
quân và vạch định kế hoạch cho tương lai, Nguyễn Duy Hiệu đã trở về quê
cư tang cho mẹ, rồi tự để cho giặc bắt . Trước kẻ thù ông đã tự nhận hết
trách nhiệm về mình để che giấu lực lượng mong chờ cơ hội về sau. Biết
không thể mua chuộc, khuất phục được ông, giặc đã đem ông hành hình tại
An Hòa Huế vào ngày 1 tháng 10 năm 1887 nhằm ngày rằm Trung thu năm
Đinh Hợi. Trên đường ra pháp trường anh hùng Nguyễn Duy Hiệu vẫn ung
dung làm hai bài thơ tuyệt mạng gởi lại cho đời sau.
Nguyễn Duy Hiệu là một trong những sĩ phu yêu nước tiêu biểu cuối
thế kỉ XIX, trước sau như một vẫn trung thành với sự nghiệp đấu tranh giải
phóng của dân tộc. Dẫu biết rằng sự nghiêp chống Pháp lúc bấy giờ là khó
có thể thành công, song ông không thể ngồi yên mà nhìn kẻ thù tàn phá quê
hương đất nước, giết hại đồng bào. Lòng yêu nước và chí khí chiến đấu kiên
cường buất khuất của ông và của các nghĩa sỉ đã được đời sau luôn luôn học
hỏi và noi theo.
Mặc dầu phong trào Nghĩa Hội Quảng Nam chưa giành được thắng
lợi cuối cùng, nhưng với những chiến công hiển hách và hy sinh to lớn của
các liệt sĩ Nghĩa Hội đã làm sáng ngời thêm trang sử đấu tranh chống ngoại
xâm của nhân dân Quảng Nam nói riêng và của nhân dân cả nước nói chung.
Tinh thần chiến đấu “Quyết tử cho Tổ quốc quyêt sinh” của anh hùng
Nguyễn Duy Hiệu và các nghĩa sĩ được dân tộc ta mãi mãi ghi ơn:
• “ Đá Non Nước ngàn năm còn ghi khắc,
• Sông Thu Bồn vạn thưở chẳng mờ phai”
Nhân kỉ niệm ngày mất của anh hùng dân tộc Nguyễn Duy Hiệu, với
lòng thành kính, chúng ta hãy trân trọng đốt nén hương lòng, để tưởng nhớ
đến Người và các nghĩa sĩ đã vì nước quên mình.
Nguyễn Duy Hiệu (chữ Hán: 阮維效; 1847–1887), có sách ghi là Nguyễn Hiệu,
tục gọi Hường Hiệu (vì ông có hàm Hồng lô tự khanh); là một chí sĩ và là một
lãnh tụ trong phong trào Cần Vương tại Quảng Nam trong lịch sử Việt Nam.
[sửa] Thân thế & sự nghiệp
Nguyễn Duy Hiệu sinh năm Đinh Mùi (1847) tại làng Thanh Hà, huyện Duyên
Phúc (nay là xã Cẩm Hà, thị xã Hội An) tỉnh Quảng Nam.
Năm Bính Tý (1876), ông thi đỗ cử nhân. Năm Kỷ Mão (1879), ông thi đỗ Phó
bảng lúc 32 tuổi, được triều đình Tự Đức bổ nhiệm làm quan phụ đạo tại kinh
thành Huế, được phong Hồng lô tự khanh nên người đời gọi là Hường Hiệu.
Tháng 5 năm Ất Dậu (tháng 7 năm 1885), cuộc phản công của phe chủ chiến ở
Kinh thành Huế thất bại, Phụ chính Tôn Thất Thuyết phải phò vua Hàm Nghi chạy
ra Quảng Trị, xuống dụ Cần vương (13 tháng 7 năm 1885).
Hưởng ứng lời kêu gọi cứu nước của vua, Nguyễn Duy Hiệu cùng Trần Văn Dư
(1839-1885), Phan Bá Phiến (tức Phan Thanh Phiến, 1839-1887), Nguyễn Tiểu La
(tức Nguyễn Hàm, 1863-1911), thành lập Nghĩa hội Quảng Nam (Trần Văn Dư
làm Thủ hội) rồi ra bản cáo thị kêu gọi toàn dân trong tỉnh cùng đứng lên đáp
nghĩa.
Ngày 4 tháng 9 năm 1885, nghĩa quân Quảng Nam bao vây chiếm tỉnh thành La
Qua (còn gọi là La Thành, tức thành tỉnh Quảng Nam), buộc Bố chánh Bùi Tiến
Tiên và Tuần phủ Nguyễn Ngoạn phải dẫn quân rút chạy.
Được tin khẩn, quân Pháp và quân Nam triều (triều vua Đồng Khánh thân Pháp)
dưới quyền chỉ huy của tướng Schants đã phản công chiếm lại thành, rồi còn xua
quân đi tấn công các căn cứ của nghĩa quân ở Đại Lộc, Quế Sơn, Tam Kỳ Trước
lực lượng đông đảo và vũ khí tối tân của đối phương, đến tháng 10 năm 1885, các
căn cứ ở Dương Yên, An Lâm, Đại Đồng cũng đều lần lượt bị bao vây rồi thất thủ.
Trước tình thế nguy ngập đó, bộ chỉ huy Nghĩa hội bàn nhau chọn kế "giải binh
quy điền" để bảo toàn lực lượng. Tháng 12 năm 1885, Trần Văn Dư giao quyền
Thủ hội cho Nguyễn Duy Hiệu để Huế gặp vua Đồng Khánh (từng là học trò của
ông), nhằm tìm ra một giải pháp. Dọc đường, ông bị quyền Tổng đốc Quảng Nam
Châu Đình Kế bắt giữ và báo với quân Pháp. Bất khuất, ông mắng chửi Tổng đốc
Kế. Căm tức, viên quan này đã mượn tay quân Pháp để giết chết ông
[1]
tại góc
thành La Qua ngày 13 tháng 12 năm 1885.
Đầu năm 1886, Nguyễn Duy Hiệu chính thức làm Hội chủ mới của Nghĩa hội, và
ông đã chọn thung lũng Trung Lộc thuộc Quế Sơn đặt tổng hành dinh với tên gọi
là Tân tỉnh Trung Lộc.
Từ nơi đó, Nguyễn Duy Hiệu đã tổ chức đi đánh nhiều trận, gây cho đối phương
nhiều thiệt hại, như trận tập kích đơn vị công binh Pháp đang mở con đường qua
đèo Hải Vân (tiêu diệt trọn đội công tác này), trận Bãi Chài (phá đội ca nô ở vàm
Vân Ly trên sông Thu Bồn), trận phục kích quân Pháp và quân triều đình ở Cẩm
Muồng.
Tháng 2 năm 1886, viên Khâm sứ Trung Kỳ là Hector đã điều động khoảng bốn
trăm lính Pháp cùng khoảng hai trăm quân triều do Nguyễn Thân chỉ huy đã rầm
rộ tiến vào căn cứ Tân tỉnh Trung Lộc. Tại trận kịch chiến ở Gò May, nghĩa quân
đại bại, bản doanh bị đốt cháy, san bằng. Thấy không thể cầm cự được nữa,
Nguyễn Duy Hiệu và Phan Bá Phiến liền ra lệnh đánh vượt vòng vây chạy về một
làng ở gần cửa biển An Hòa thuộc Tam Kỳ.
Nguyễn Thân liền xua quân theo càn quét rất ngặt. Lại thất trận ở căn cứ Phước
Sơn (thuộc Tiên Phước), tuy Nguyễn Duy Hiệu và Phan Bá Phiến chạy thoát được
nhưng thế và lực thật sự đã cùng. Không thể để nghĩa quân toàn ba tỉnh bị giết hại
hết, nghe lời thủ lĩnh Hiệu, Phan Bá Phiến uống thuốc độc tự sát để tránh bị bắt,
còn ông Hiệu thì tự trói mình nạp mạng cho đối phương để nhận lãnh hết trách
nhiệm về mình Hôm đó là ngày 5 tháng 8 năm Bính Tuất (21 tháng 9 năm 1887).
Kế tiếp, theo sử liệu thì:
Chứng kiến xong cái chết của người đồng sự tâm phúc, Nguyễn Duy Hiệu
trở về quê thăm viếng mẹ già. Xong, ông ra miếu thờ Quan Công ở giữa bãi
cát Thanh Hà, mặc áo dài đen, đầu vấn khăn cẩn thận, ngồi xếp bằng trước
bàn thờ, rồi sai người đi báo cho Nguyễn Thân đến bắt ông
[2]
Sau khi Nguyễn Duy Hiệu liền bị giải về Huế, triều đình Đồng Khánh bèn dùng
danh lợi để dụ hàng, nhưng không được ông nghe. Cuối cùng, Viện cơ mật của
Nam triều đã kết án tử hình ông vào ngày rằm tháng 8 năm Bính Tuất (15 thàng 10
năm 1887) tại Huế, hưởng dương 40 tuổi. Phần mộ Nguyễn Duy Hiệu hiện ở tại xã
Cẩm Hà, thị xã Hội An.
Đàn áp Nghĩa đảng Quảng Nam thành công, Nguyễn Thân được nhà cầm quyền
Pháp tặng thưởng Bắc đẩu bội tinh ngũ hạng, còn vua Đồng Khánh thì ban cho
Nguyễn Thân gia hàm Thượng thư nhưng sung Nghĩa Định Tiễu phủ sứ, lại
thưởng thêm một kim khánh hạng lớn.
[sửa] Thơ tuyệt mệnh
Trước khi bị chém chết, Nguyễn Duy Hiệu đã làm hai bài thơ tuyệt mệnh. Trích
giới thiệu một bài:
Phiên âm Hán-Việt:
Cần Vương thệ dữ Bắc Nam
đồng
Vô nại khuông tương lộ vị
thông.
Vạn cổ cương thường vô Ngụy
Tháo,
Bách niên tâm sự hữu Quan
công.
Thiên thư phận dĩ sơn hà định,
Địa thế sầu khan thảo mộc cùng.
Ký ngữ phù trầm tư thế giả,
Hưu tương thành bại luận anh
hùng.
Chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng dịch thơ:
Cần vương Nam Bắc kết tơ đồng,
Cứu giúp đường kia khổ chẳng
thông.
Muôn thuở cương thường ai Ngụy
Tháo?
Trăm năm tâm sựu có Quan Công.
Non sông phần tự thơ trời định,
Cây cỏ buồn trông thấy đất cùng.
Nhắn bảo nỗi chìm ai đó tá?
Chớ đem thành bại luận anh hùng.
[sửa] Ghi nhận công lao
Năm Ất Tỵ (1905), nhà chí sĩ Phan Bội Châu đã viết trong Việt Nam vong quốc sử
như sau:
Nguyễn Hiệu (và Phan Bá Phiến), người Quảng Nam, khởi nghĩa ba năm
huyết chiến, người Pháp chưa lúc nào đánh thua được. Gặp phải Nguyễn
Thân, người Quảng Ngãi, trước cũng dự tên Nghĩa hội, sau phản Nghĩa hội
theo Pháp, (đây) là tay đầu sỏ nhất trong bọn nộ lệ Pháp, (đồng) đảng nó là
Lê Khiết cũng là chó dữ của Pháp; (nên dù) Hiệu, Phiến ở đâu, tất nó hết
sức dò la cho ra Than ội! hai người ấy, nhà tan không nghĩ đến, chăm
chăm chỉ nghĩ đến bảo toàn đảng để mưu về sau, trong mắt họ, trong bụng
họ chỉ có Tồ quốc, có đồng bào mà thôi, can tràng như thế thật là trời đất
phải khâm phục, quỷ thần phải kính nể
[3]
[sửa] Chú thích
1. ^ Nhóm Nhân văn Trẻ chép ông bị xử bắn (tr. 261). Nguyễn Q. Thắng-
Nguyễn Bá Thế ghi ông bị xử chém (tr. 899).
2. ^ Nhóm Nhân văn Trẻ, Hỏi đáp lịch sử Việt Nam (tập 4, tr. 263). Tuy
nhiên, theo sử nhà Nguyễn thì Nguyễn Duy Hiệu bị truy lùng và bị bắt
sống: Tháng 7 (âm lịch) Nguyễn Thân tìm ra bọn Nguyễn Hiệu ở miền
thượng nguyên Phước Sơn, bắt sống được 8 người cừ mục và thân
quyến Nguyễn Thân sai người bắt được Nguyễn Hiệu, chạy cờ đỏ về báo
tịệp, bỏ Nguyễn Hiệu vào củi giải về kinh (Quốc triều sử toát yếu, tr. 524).
Rất có thể, do người báo tâng công.
3. ^ Việt Nam vong quốc sử, tr. 35.
[sửa] Tài liệu tham khảo
• Phan Bội Châu, Việt Nam vong quốc sử. Nhà xuất bản Khoa Học Xã hội,
Hà Nội, 1982.
• Cao Xuân Dục, Quốc triều sử toát yếu. Nhà xuất bản Văn học, 2002.
• Phạm Văn Sơn, Việt sử tân biên (1885-1914). Tác giả tự xuất bản, Sài Gòn,
1963.
• Nguyễn Q. Thắng-Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nhà
xuất bản Khoa Học Xã hội, Hà Nội, 1992.
• Nhóm nhân văn Trẻ. Hỏi đáp lịch sử Việt Nam (tập 4). Nhà xuất bản Trẻ,
2007
[sửa] Liên kết ngoài
• Danh nhân Quảng Nam
• Lịch sử Đất Quảng Nam