Trong nhận thức khoa học hiện nay, việc xác định rõ vai trò của tư duy
chính xác, tư duy biện chứng và mối quan hệ giữa chúng có ý nghĩa vô cùng
quan trọng. Mặc dù vậy, xung quanh vấn đề này còn nhiều quan điểm khác
nhau. Vấn để đặt ra vậy logic biện chứng là gì? Logic hình thức là gì? Mối quan
hệ của nó ra sao? Và vai trò của nó như thế nào đối với quá trình hình thành và
phát triển tư duy? Đó là những câu hỏi đặt ra và cần giải đáp.
Logic học là một khoa học đặc thù lấy tư duy là khách thể nghiên cứu.
Nó xem xét tư duy dưới góc độ chức năng và cấu trúc của nó, như là phương
tiện nhận thức nhằm đạt tới chân lý, vì thế, có thể định nghĩa logic học là
khoa học về các hình thức và các quy luật của tư duy đúng đắn dẫn đến chân
lý. Lênin khJng định: “Lôgic học là khoa học nghiên cứu về tư duy trong
tính tất yếu của nó”. Như vậy, logic là khoa học nghiên cứu về hình thức và
quy luật của tư duy đúng đắn.
Thứ nhất, Lôgic hình thức là gì?
Logic hình thức có lịch sử lâu đOi và phong phú gắn liền với lịch sử
phát triển xã hội nói chung. Những vấn đề logic đã lẻ tẻ xuất hiện trong suy
tư ngưOi cổ đại từ hơn hai nghìn năm trước đây đầu tiên ở Ấn Độ và Trung
Quốc. Sau đó chúng được vạch thảo đầy đủ hơn ở Hy lạp và La mã. Cùng
với sự phát triển của lao động sản xuất con ngưOi đã hoàn thiện và phát triển
dần các khả năng suy nghĩ, rồi biến tư duy cùng các hình thức và quy luật
của nó thành khách thể nghiên cứu.
NgưOi đặt nền móng cho Lôgic học là nhà bách khoa Arixtôt. Ông viết
nhiều công trình về logic học có tên gọi chung là “Bộ công cụ”, trong đó chủ
yếu trình bày về suy luận và chứng minh diễn dịch. Arixtôt còn phân loại các
phạm trù – những khái niệm chung nhất và khá gần với phân loại từ trước của
Đêmôcrit về phán đoán. Ông đã phát biểu ba quy luật cơ bản của tư duy, trừ luật
lý do đầy đủ. Học thuyết logic của Arixtôt đặc sắc ở chỗ, dưới dạng phôi thai nó
đã bao hàm tất cả những phần mục, trào lưu, các kiểu của logic học hiện đại như
xác suất, biểu tượng, biện chứng.
2
Từ thế kỷ XVII logic hình thức gắn với sự ra đOi của logic quy nạp mà đại
biểu tiêu biểu là Ph. Bêcơn (1561-1626). Ông là ngưOi khởi xướng logic quy
nạp. “ Lôgíc học đang có, là vô dụng trong việc đem lại tri thức mới”. Vì thế
Bê cơn đã viết “Bộ công cụ Mới” như là thứ đối nghịch với “Bộ công cụ” của
Arixtôt, trong đó tập trung vạch thảo các phương pháp quy nạp để xác định sự
phụ thuộc nhân quả giữa các hiện tượng. Đó chính là công lao to lớn của Bêcơn.
Logic quy nạp về sau này được nhà triết học ngưOi Anh Đz. Mill (1806- 1873)
hệ thống hoá và phát triển thêm trong tác phẩm hai tập “Hệ thống lôgíc học tam
đoạn luận và quy nạp”. Nó đã ảnh hưởng căn bản đến sự phát triển tiếp theo của
nhận thức, thúc đẩy khoa học vươn tới tầm cao mới.
Mặc dù vậy, nhu cầu nhận thức khoa học không dừng lại ở phương pháp
quy nạp từ đó phương pháp diễn dịch ra đOi gắn bó với tên tuổi của nhà triết học
ngưOi Pháp R.Đêcác (1596-1650). Trong tác phẩm “Luận về phương pháp ”,
dựa trên những dữ liệu toán học, ông đã nhấn mạnh ý nghĩa của diễn dịch như là
phương pháp nhận thức khoa học cơ bản nhất.
Tiếp đó, với sự phát triển mạnh mẽ của toán học vào nửa cuối thế kỷ XIX,
làm cơ sở ra đOi Logic toán học hay logic ký hiệu nghiên cứa các mối liên hệ và
các mối quan hệ logic trong kết luận của suy luận. Đồng thOi để làm sáng tỏ kết
cấu của kết luận logic toán đã xây dựng các phép toán khác nhau, trước hết là
phép toán mệnh đề và phép toán vị từ với rất nhiều dạng. Logic toán có ảnh
hưởng rất lớn đến sự phát triển của logic hình thức. Nhưng nó không bao hàm
hết các vấn đề của logic hình thức và là một hướng phát triển tương đối độc lập
trong sự phát triển của logic hình thức.
Logic hình thức nghiên cứu các hình thức cơ bản, quy luật và thao tác
logic của tư duy, không quan tâm đến nội dung cuả tư duy, nghĩa là nhằm phát
hiện và chỉ ra những quy luật về hình thức của tư duy đúng, chính xác với bất cứ
nội dung nào.
Cơ sở xuất phát nghiên cứu logic hình thức
3
Toàn bộ logic hình thức truyền thống xuất phát từ hai nguyên lí: 1)
Nguyên lí về tính cô lập tương đối của mọi sự vật, hiện tượng; 2) Nguyên lí về
tính bất biến tương đối của các bản chất. Về thực chất, nghiên cứu logic hình
thức là nghiên cứu trạng thái tĩnh, bất biến của sự vật, hiện tượng, ở đó, các chủ
thể nhận thức đã được cô lập hoá khỏi môi trưOng điều kiện xung quanh, hình
thức này gắn với tình trạng đứng im của sự vật hiện tượng.
Những hình thức và quy luật cơ bản của logic hình thức
Logic hình thức nghiên cứu những hình thức cơ bản của tư duy trừu
tượng với ba hình thức cơ bản trong đó: khái niệm là phạm trù dùng để chỉ
những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ bản chất của sự vật, hiện
tượng; phán đoán là sự sâu chuỗi những khái niệm để từ đó khJng định hay
phủ định một thuộc tính nào đó của sự vật hiện tượng; suy luận là quá trình
liên kết các phán đoán để ra đOi tri thức mới. Trong đó, các hình thức của tư
duy trừu tượng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, liên hệ với nhau theo
những thao tác tư duy, quy tắc nhất định.
Về những quy luật cơ bản: ngay từ khi sang lập Aritxtôt đã khái quát ba
quy luật cơ bản: quy luật cấm mâu thuẫn, quy luật bài chung, quy luật phi mâu
thuẫn. Đến thOi của Lép nit bổ sung thêm quy luật thứ tư đó là quy luật lý do
đầy đủ. Những quy luật có vai trò quan trọng, việc tuân thủ những quy luật này
là cơ sở cho tư duy chính xác. Chuẩn mực giá trị logic hình thức truyền thống có
hai đặc điểm chủ yếu: a) Tính lưỡng trị chân lí của mọi tư tưởng; chJng hạn,
mỗi phán đoán chỉ nhận một trong hai giá trị chân lí hoặc là đúng, hoặc là sai; b)
Tính hình thức của lập luận lôgic, theo nguyên tắc cứng rắn như sau: nếu xuất
phát từ những tiền đề chân thực, lại biết vận dụng đúng đắn các quy luật và quy
tắc logic, thì kết luận nhất định sẽ chân thực. Chuẩn mực giá trị logic hình thức
hiện đại có hai loại chính: logic hình thức cổ điển và logic hình thức phi cổ điển.
Từ xưa đến nay, logic hình thức là công cụ chung của tư duy và hành động đúng
đắn, chính xác.
4
Có thể nói, logic hình thức đã là công cụ đắc lực góp phần hình thành và
phát triển nhiều ngành khoa học khác nhau, nó cũng là công cụ tư duy hợp lý
trong mọi mặt đOi sống nhận thức của con ngưOi. Ngày nay, ở giai đoạn mà con
ngưOi đang có tham vọng dùng máy móc để tự động hóa từng bước các hoạt
động trí tuệ của chính mình, logic không chỉ là công cụ để nghiên cứu, mà bản
thần nó cũng trở thành đối tượng nghiên cứu. Và từ đó nhiêu vấn đề mới nẩy
sinh, mà việc nghiên cứu chúng chắc chắn sẽ đưa đến những hiểu biết phong
phú mới về hoạt động tư duy và nhận thức của con ngưOi.
Mặc dù vậy, hạn chế lớn nhất của Logic hình thức là không quan tâm đến
nội dung của các phán đoán, tách ròi, cô lập đôi tượng nhận thức mà chỉ quan
tâm đến các quan hệ chuyển đổi giá trị chân lý của các phán đoán mà thôi. Về
sau này, với việc sử dụng các phương pháp ký hiệu của toán học, các phán đoán
trong logic hình thức có thể được xem như các ký hiệu A, B, p, q… được gán
giá trị 1 (đúng) hoặc 0 (sai). Các quy luật cơ bản của logic hình thức là quy luật
đồng nhất (A là A), quy luật bài trung (A hoặc không A), quy luật phi mâu thuẫn
(không thể đúng cả A và không A). Luật suy lý cơ bản là tam đoạn luận, dưới
dạng thu gọn là modus ponens, nói rằng nếu A và A - B đều đúng, thì B đúng.
Các quy luật bài trung và phi mâu thuẫn khJng định rằng logic hình thức là logic
hai giá trị, và trong logic đó mỗi phán đoán chỉ có thể nhận một trong hai giá trị
đó (đúng hoặc sai). Khi xét cấu trúc chủ từ - tân từ của các phán đoán, ta được
logic tân từ và các quy luật về mối quan hệ giữa các loại phán đoán phổ biến,
đặc thù, đơn nhất.
Thứ hai, Lôgic biện chứng
Logic h)c biện chứng là logic xem xét tư duy trong các giai đoạn, quá trình
vận động phát triển của các sự vật hiện tượng, xem xét tư duy có quá trình phát
sinh, phát triển. Lôgíc học biện chứng cũng là nhánh quan trọng của logic học hiện
đại. Ngay Arixtôt đã đặt ra và có ý giải quyết nhiều vấn đề cơ bản của logic học
biện chứng – phản ánh các mâu thuẫn hiện thực vào các khái niệm, vấn đề tương
5
quan cái riêng và cái chung, sự vật và khái niệm về nó Những yếu tố của logic
biện chứng dần được tích luỹ trong các công trình của các nhà tư tưởng kế tiếp.
Logic biện chứng chỉ thực sự bắt đầu được định hình vào cuối thế kỷ
XVIII - đầu thế kỷ XIX. Những ngưOi đặt nền móng cho nó là các nhà triết học
cổ điển Đức mà trước tiên là Can tơ. Ông chủ trương đi nghiên cứu một thứ
logic học nội dung mà ông gọi là logic học siêu nghiệm. Nó phải nghiên cứu các
hình thức thực sự cơ bản của tư duy như phạm trù, tức là những khái niệm
chung nhất. Đặc biệt, Cantơ cũng là ngưOi đầu tiên phát hiện ra tính chất mâu
thuẫn khách quan, biện chứng sâu sắc của tư duy con ngưOi. Mặc dù đã đặt ra
những nguyên tắc của logic học mới với vấn đề trung tâm là vấn đề mâu thuẫn
biện chứng, song Cantơ lại chưa trình bày nó một cách hệ thống. Ông cũng
không vạch ra cả mối tương quan thực sự của nó với logic học hình thức, mà
hơn thế nữa còn định đặt đối lập logic học này với logic học kia.
Sau thOi kỳ Can tơ, đến một nhà triết học được Mác đánh giá là thiên tài -
Hêghen (1770-1831). Ông đã tiếp tục ý đồ vạch thảo hệ thống chỉnh thể logic
biện chứng mới. Trong công trình “Khoa học lôgíc” ông đã khám phá ra mâu
thuẫn giữa các lý thuyết logic hiện có với thực tiễn tư duy mà ở thOi điểm đó đã
rất gay gắt từ đó tìm ra phương tiện giải quyết mâu thuẫn này bằng việc xây
dựng hệ thống logic học mới dưới dạng đặc thù, tôn giáo thần bí. Tiêu điểm ở đó
là biện chứng của tư duy trong toàn bộ tính phức tạp và mâu thuẫn của nó.
Trong quá trình nghiên cứu của mình, Hêghen tiến hành nghiên cứu lại
bản chất của tư duy, các hình thức và quy luật của nó từ đó đi đến kết luận
“Phép biện chứng cấu thành lên bản chất của chính tư duy, các quy luật và hình
thức của nó, rằng với tư cách là lý tính nó cần phải phủ định chính mình, phải
rơi vào mâu thuẫn”. Ông thấy nhiệm vụ của mình là phải tìm ra phương thức
giải quyết các mâu thuẫn ấy. Mặc dù vậy, xét về bản chất logic biện chứng của
Hêghen là logic biện chứng duy tâm khách quan, biện chứng của ý niệm tuyệt
đối tha hoá ra tự nhiên, xã hội và tư duy.
6
Sau Hêghen Logic biện chứng tiếp tục được những nhà duy vật mác xít
nghiên cứu, bổ sung và phát triển. Sử dụng chất liệu tinh thần phong phú nhất
được tích luỹ bởi triết học, các khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, những nhà
sabfs lập chủ nghĩa Mác đã tạo lập nên hệ thống mới - duy vật biện
chứng,những nội dung của nó được thể hiện qua những tác phẩm như “Tư bản”,
“Chống Đuyrinh”, “Biện chứng của tự nhiên” Từ đó các ông trình bày quan
điểm của mình. Những nhà kinh điển mác xít không phủ nhận ý nghĩa của logic
học hình thức, nhưng nhấn mạnh tính lịch sử của nó. Ph. Ănghen đã ghi nhận
rằng tư duy lý luận ở mỗi một thOi đại là sản phẩm lịch sử, ở những thOi điểm
khác nhau có những hình thức và đồng thOi nội dung rất khác nhau. “Suy ra,
khoa học về tư duy, cũng như mọi khoa học khác, là khoa học lịch sử, khoa học
về sự phát triển lịch sử của tư duy con ngưOi”
Với thế giới quan khoa học, cách mạng vận dụng vào quá trình nghiên
cứu của mình C. Mác và Ph. Ănghen cũng chỉ ra sự khác biệt về chất sâu sắc
giữa học thuyết biện chứng của mình với của Hêghen: ở Hêghen nó là duy tâm,
còn phép biện chứng Mác-xít là duy vật, xem xét tư duy, các hình thức và quy
luật của nó như là sự phản ánh thế giới bên ngoài.
Đặc biệt trong tác phẩm “Tư bản” Mác đã vận dụng logic biện chứng vào
việc phân tích luận giải xã hội đương đại với ông. Tuy nhiên những công trình
chuyên về logic biện chứng đều chưa được C. Mác và Ph. Ănghen viết ra.
Sự hình thành logic biện chứng như là khoa học vẫn tiếp tục ở các
nước khác nhau vào cuối thế kỷ XIX và trong toàn bộ thế kỷ XX. Ở Nga
việc vạch thảo một số vấn đề của logic biện chứng, mối tương quan của nó
với logic hình thức được G. Plêkhanôv (1856-1918) và V. I. Lênin (1870-
1924) thực hiện. Trong tác phẩm “Lại bàn về công đoàn ” V. I. Lênin đã
chỉ ra sự khác nhau có tính nguyên tắc giữa logic hình thức và logic chứng.
Có rất nhiều chỉ dẫn phong phú về logic biện chứng (và hình thức) trong
“Bút ký triết học” của V. I. Lênin. Đến đây đã đánh dấu sự hoàn thiện của
một khoa học mới – khoa học logic biện chứng.
7
Mối quan hệ giữa logic hình thức và logic biện chứng
Xuất phát từ những lập trưOng, quan điểm khác nhau mà các nhà triết học
đã có những nhận thức khác nhau về nội dung, bản chất của logic hình thức và
logic biện chứng, cũng như mối quan hệ giữa chúng với nhau.
Có những quan niệm sai lầm cho rằng logic hình thức là trình độ thấp của
sự nhận thức thế giới, chỉ nên áp dụng vào những hiện tượng sơ đJng, hoặc đồng
nhất logic hình thức với phép siêu hình và chỉ dùng trong “sinh hoạt thông
thưOng”, trên cơ sở đó họ đối lập logic hình thức với logic biện chứng; bên cạnh
đó, xuất hiện quan niệm không đúng khi tuyệt đối hoá logic biện chứng, dẫn đến
phủ nhận vai trò của logic hình thức, hoặc ngược lại. Tất cả những quan niệm
sai trái trên đều không thấy được mối quan hệ biện chứng giữa logic hình thức
và logic biện chứng, không nhận tức được vai trò to lớn của mỗi khoa học đối
với sự hình thành và phát triển tư duy con ngưOi.
Kế thừa có phê phán thành tựu nghiên cứu của các nhà tư tưởng trong lịch
sử, các nhà triết học Mác-xít chân chính khJng định: Lôgic hình thức và lôgic
biện chứng tuy có đối tượng và phương pháp khác nhau, thậm chí đối lập nhau,
nhưng lôgic hình thức và lôgic biện chứng lại có mối quan hệ hữu cơ, gắn bó
chặt chẽ với nhau, gắn bó với nhau như 2 bộ phận, trình độ, hai cấp độ của khoa
học lôgic nghiên cứu về tư duy trong quá trình phản ánh thế giới khách quan.
Trong mối quan hệ đó lôgic hình thức là bộ phận sơ đJng, tính cơ sở nhưng tất
yếu của lôgic biện chứng tương tự mối quan hệ toán sơ cấp và toàn cao cấp, số
học và đại số.
Cơ sở của mối quan hệ giữa logic hình thức và logic biện chứng là do tính
khách quan của bản thân đối tượng nhận thức và hiện thực khách quan quy định.
Một mặt chúng ta thấy rằng sự vật chỉ tồn tại trong sự chuyển động về chất của
chúng, đó là biện chứng của sự vật, tính biện chứng được phản ánh vào trong tư
duy thành tư duy biện chứng, đối tượng nghiên cứu của lôgic biện chứng. Mặt
khác chúng ta thấy rằng mọi sự chuyển hóa trước hết phải xác định chính cái xác
định về chất là hình thức của sự vật, tính hình thức được phản ánh vào trong tư
8
duy thành tư duy hình thức - đối tượng nghiên cứu của lôgic hình thức. Sự vật
không có hình thức thì cũng không có biện chứng, hình thức là một bộ phận cấu
thành một mắt khâu của biện chứng.
Lôgic biện chứng cao hơn lôgic hình thức, nhưng không loại trừ lôgic
hình thức, những quy luật, quy tắc của lôgic hình thức là những quy tắc cơ bản
của mọi tư duy đúng đắn phải tuân theo, là điều kiện cần thiết để tư duy phản
ánh chân thực hiện thực khách quan như vốn có của nó. Trong quá trình nhận
thức không thể vi phạm những quy luật của lôgic hình thức, những vi phạm đó
làm cho mâu thuẫn trong nhận thức và tư duy rối loạn. Lôgic biện chứng và
lôgic hình thức thống nhất nhưng bao hàm trong nó những sự khác biệt.
Có thể nói, lo gic hình thức phản ánh thế giới khách quan nhưng những
mâu thuẫn lôgic (mâu thuẫn trong tư duy) không phải là sự phản ánh mâu thuẫn
của hiện thực khách quan, mà là do sai lầm chủ quan của con ngưOi trong quá
trình nhận thức, vi phạm những thao tác, quy tắc quy luật của quá trình tư duy
do vậy, để nhận thức được mâu thuẫn trong hiện thực khách quan trước hết cần
tuân theo quy luật của lôgic hình thức, loại bỏ mâu thuẫn lôgic, trên cơ sở đó mới
có thể vận dụng được phương pháp của tư duy biện chứng để nhận thức được cái
biện chứng khách quan, phát hiện mâu thuẫn trong hiện thực. Đó là quan hệ giữa
khoa học về hình thức với khoa học về nội dung.
Như vậy, logic hình thức và logic biện chứng có mối quan hệ thống nhất với
nhau, nhưng không đồng nhất, ở đây là thống nhất trong sự khác biệt. Nhưng sự
thống nhất ấy thể hiện như thế nào? Sự khác biệt thể hiện ra sao?
Trước hết, sự thống nhất giữa Logic hình thức và logic biện chứng
M.t là, sự thống nhất về đối tư1ng nghiên cứu:
Logic hình thức và logic biện chứng là hai khoa học nghiên cứu hai trạng
thái cơ bản đó của thế giới vật chất, chúng đều phản ánh thế giới khách quan
nhưng với những thứ bậc khác nhau và với những phương thức khác nhau, vì thế
logic hình thức và logic biện chứng là hai cấp độ trong logic học.
9
Mặt khác, với vai trò là hai khoa học cùng nghiên cứu về tư duy; trong đó,
logic hình thức là khoa học tập trung nghiên cứu về hình thức của tư duy, còn
logic biện chứng là khoa học nghiên cứu nội dung của tư duy; chính vì thế mà
quan hệ giữa logic biện chứng và logic hình thức cũng là quan hệ giữa nội dung
và hình thức.
Thứ hai là nghiên cứu tư duy tư duy như một chỉnh thể thống nhất. .Logic
hình thức và logic biện chứng bổ sung cho nhau những mặt hạn chế của mỗi
khoa học – những hạn chế đó xuất phát từ chính đối tượng nghiên cứu đặc thù
của chúng. Một khoa học không thấy được sự vận động biến đổi của sự vật, hiện
tượng và một khoa học đem đến sự chính xác, xác định cho quá trình tư duy về
sự vật hiện tượng. Vì thế, trong quá trình hoạt động thực tiễn, đòi hỏi chúng ta
phải tuân thủ nghiêm ngặt các hình thức, quy luật, quy tắc của cả logic hình thức
và logic biện chứng, thì mới đảm bảo được tính đúng đắn trong nhận thức.
Sự khác biệt giữa Logic hình thức và logic biện chứng
Thứ nhất, Lôgic hình thức có đối tượng nghiên cứu là tư duy chính xác,
tập trung nghiên cứu tư duy phản ánh thế giới trong trạng thái tĩnh (tương đối ổn
định, bền vững, được đặt trong mối quan hệ xác định); đồng thOi nó phản ánh
mối quan hệ cô lập của các sự vật, hiện tượng trong không gian, thOi gian cụ thể;
bằng việc nghiên cứu các hình thức, quy luật, quy tắc của tư duy để sao cho đảm
bảo được độ chính xác của tư duy.
Lôgic học hình thức có nhiệm vụ nghiên cứu tư duy về mặt hình thức
mà không chú ý đến nội dung cụ thể được phản ánh trong tư duy, không
nghiên cứu quá trình nảy sinh, hình thành và phát triển của tư duy mà chỉ
phân tích, nghiên cứu tư duy trong trạng thái vốn có thông qua việc sử dụng
các ngôn ngữ, khái niệm, phạm trù sẵn có. Vì thế, logic hình thức chỉ là sự
sắp xếp, chỉnh lý các khái niệm, phán đoán và suy lý về mặt hình thức mà
thôi. Logic hình thức cho ta các quy luật để hình thành các khái niệm, các
phán đoán và đặc biệt các phương pháp suy lý để tiến hành các lập luận trên
10
các phán đoán đó để từ các giá trị chân lý của một số phán đoán cho trước
suy ra giá trị chân lý của một phán đoán đang xét.
Trong khi đó, Lôgic biện chứng là khoa học nghiên cứu các hình thức, quy
luật, quy tắc của tư duy phản ánh thế giới trong trạng thái động (vận động, biến
đổi và phát triển không ngừng), nghiên cứu tư duy trong sự thống nhất giữa nội
dung và hình thức, khảo sát tư duy trong quá trình phát triển; đó là kết quả phản
ánh của tư duy luôn gắn với hiện thực, gắn với thực tiễn sinh động, trong mối liên
hệ phổ biến và phong phú; mục đích của nó là hướng tới xây dựng các khái niệm,
phạm trù mới, có ý nghĩa tích cực là góp phần mở rộng tri thức cho nhân loại.
Đây cũng chính là những điểm khác biệt căn bản của hai khoa học này.
Như vậy, Lôgíc hình thức và lôgíc biện chứng đều phản ánh thế giới khách quan
nhưng với nhưng thứ bậc khác nhau. Những lý luận và hình thức của lôgíc hình thức có
cơ sở thực tế khách quan là sự đứng im tương đối và danh giới xác định của các sự vật.
Khi con ngưOi nhận thức thức ở trạng thái ổn định, không quan tâm đến mối liên hệ
giữa các sự vật thì môn lôgíc hình thức với những phạm trù cố định là cần thiết và có
hiệu quả, nhưng nếu tuyệt đối hoá vai trò của lôgíc hình thức thì sẽ dẫn đến sai lầm.
Lôgíc hình thức và lôgíc biện chứng bổ sung cho nhau. Theo một nghĩa
nhất định, lôgíc biện chứng cao hơn lôgíc hình thức, nhưng không loại trừ lôgíc
hình thức, những quy luật và quy tắc của lôgíc hình thức là những quy tắc cơ
bản mà mọi tư duy đúng đắn kể cả tư duy biện chứng phải tuân theo, là điều
kiện cần thiết để nhận thức thực tế.
Nghiên cứu hình thức và các quy luật của sự tư duy chính xác có vị trí đặc
biệt quan trọng đối với các môn khoa học. Sự kết hợp giữa lôgic học hình thức và
lôgic học biện chứng tạo ra khả năng nghiên cứu tư duy một cách toàn diện, đầy
đủ- tư duy phản ánh toàn bộ các hoạt động “tĩnh và động” của đối tượng, sự ổn
định và sự vận động phát triển. Sự tuân thủ nghiêm ngặt các quy luật và quy tắc
của tư duy logic hình thức là điều kiện cần thiết của nhận thức khoa học. Nếu vi
phạm những quy luật, quy tắc của hình thức tư duy, chúng ta sẽ không tránh khỏi
mắc phải sai lầm cả trong nhận thức và trong hành động.
11
Logic hình thức cung cấp cơ sở lý luận cho nhận thức và hoạt động thực
tiễn, là tư duy logic chính xác, mạch lạc, rõ ràng nên nó trở thành phương pháp
nhận thức cần thiết và bắt buộc, là cơ sở để đạt được chân lý khách quan, là một
mắt khâu không thể thiếu của quá trình nhận thức. Bên cạnh đó, ngay cả logic
biện chứng cũng đòi hỏi sự tư duy logic cân đối và tuân thủ nghiêm ngặt các quy
luật, quy tắc của khoa học logic hình thức. Có như vậy, chúng ta mới tìm ra
được kết luận mới. KhJng định vai trò to lớn của khoa học logic hình thức,
Lênin cho rằng, phương pháp logic là một khâu cần thiết của nhận thức; không
một khoa học nào có thể bỏ qua. Không có khoa học logic hình thức thì không
thể phát hiện ra quy luật, không thể xây dựng lý luận, học thuyết.
Phản ánh tư duy đang nhận thức và các quy luật vận động, phát triển của
thế giới hiện thực khách quan chính là nhiệm vụ của logic biện chứng. Là khoa
học nghiên cứu các hình thức, quy luật, quy tắc cơ bản của tư duy, cùng sự vận
động, mối liên hệ và sự chuyển hoá của chúng như là những hình thức phản ánh
sự vật, hiện tượng của thế giới hiện thực trong quá trình biến đổi và phát triển
không ngừng của chúng, nên logic biện chứng đã khắc phục được “tầm chật
hẹp” của logic hình thức, qua đó vạch ra hình thức logic trong sự thống nhất với
nội dung cụ thể của suy nghĩ, của tư tưởng. Việc nhận thức các vấn đề của đOi
sống xã hội hiện nay không thể tách khỏi tư duy biện chứng bởi tư duy biện
chứng là công cụ khoa học cho việc nhận thức bản chất, sự vận động biến đổi
của sự vật, hiện tượng.
Từ những vấn đề nêu trên, chứng tỏ rằng logic biện chứng không hề “thủ
tiêu” logic hình thức mà chỉ tước bỏ ý nghĩa tuyệt đối của những quy luật của
logic hình thức mà thôi, đồng thOi nâng tư duy lên tầm cao hơn. Theo một nghĩa
nhất định thì logic biện chứng cao hơn logic hình thức và chỉ trong điều kiện
nhất định thì logic hình thức mới có thể bảo đảm được tính chính xác của tư
duy; song, trong quá trình phát triển rộng rãi hơn, muốn nhận thức một cách
khoa học còn cần phải tuân theo những quy luật của logic biện chứng. Vì thế,
logic biện chứng không chỉ “sống chung” với logic hình thức mà còn nhấn mạnh
12
sự cần thiết của logic hình thức và khJng định dứt khoát rằng, nếu không nghiên
cứu logic hình thức thì không thể nào lĩnh hội được phương pháp tư duy biện
chứng duy vật. Những quy luật và quy tắc của logic hình thức là những quy tắc
cơ bản mà mọi tư duy đúng đắn, kể cả tư duy biện chứng phải tuân theo, là điều
kiện cần thiết để nhận thức thực tiễn. Do vậy, quá trình học tập, rèn luyện tư duy
biện chứng, trước hết đòi hỏi chúng ta phải học cách suy nghĩ chính xác ở mức
độ sơ cấp, không được vi phạm những quy luật, quy tắc của logic hình thức.
Nghiên cứu mối quan hệ giữa logic hình thức và logic biện chứng có ý
nghĩa rất to lớn đối với việc rèn luyện và phát triển tư duy khoa học của mỗi học
viên đào tạo bậc sau đại học.
Việc nghiên cứu năm vững lôgic hình thức và lôgic biện chứng chính là
quá trình phát triển tư duy ngưOi học một cách có ý thức, đảm bảo quá trình tư
duy hình thành cân đối, liên tục bởi những quy tắc, quy luật và những yêu cầu
của lôgic hình thức và lôgic biện chứng. Để đảm bảo tính chân lý trong nghiên
cứu khoa học cần phải có những hoạt động thực tiễn, bám vào thực tại khách
quan điều kiện đất nước và quân đội ta, làm chủ tri thức khoa học bởi như Lênin
đã từng khJng định thực tiễn cao hơn lý luận không chỉ ở tính phong phú mà ở
cả tính hiện thực trực tiếp.
Nắm vững vị trí, vai trò của từng hình thức lôgic của lôgic hình thức
và lôgic biện chứng trong mối quan hệ đó giúp cho mỗi học viên xác định
phương pháp học tập, nghiên cứu đúng đắn, có phương pháp tiếp cận,
nghiên cứu đổi tượng phù hợp, đây cũng là cơ sở để mỗi học viên rèn luyện
tư duy khoa học và vận dụng có hiệu quả trong học tập nghiên cứu và hoạt
động thực tiễn.
Trong học tập, nghiên cứu khoa học từng học viên cần tự giác nghiên cứu
những quy luật lôgic của tư duy chính xác và tư duy biện chứng để vận dụng nó
một cách có ý thức sẽ bảo đảm cho bản than tránh được những sai lầm, qua đó
đảm bảo được trật tự của lý trí, từng bước hoàn thiện tư duy, tạo ra được hệ
thống tư duy lôgic trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học. Mỗi học viên
13
phải nỗ lực rèn luyện và phát triển tư duy khoa học, tích cực học tập, nghiên cứu
toàn diện các nội dung của môn logic học nói chung, nhận thức sâu sắc thực chất
và vai trò quan trọng của khoa học logic hình thức cũng như khoa học logic biện
chứng và mối quan hệ giữa chúng nói riêng.
Nắm vững mối quan hệ này giúp cho ngưOi học vận dụng có hiệu quả
những nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, từ đó hình thành quan điểm
khách quan, toàn diện, lịch sử cụ thể và phát triển trong quá trình học tập,
công tác và trong hoạt động thực tiễn. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay
dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại tác động
mạnh đến mọi mặt đOi sống xã hội, tình hình kinh tế xã hội có nhiều biến
động trên phạm thế giới, khu vực cũng như trong nước, đòi hỏi phải có sự
đổi mới trong tư duy để tiến kịp với thOi đại.
Việc nghiên cứu sâu mối quan hệ giữa lôgic hình thức và lôgic biện
chứng đối với học viên cao học, việc áp dụng tri thức lôgic học nhằm phát triển
tư duy độc lập, sáng tạo của ngưOi học. Muốn hình thành nên những khái niệm,
phạm trù, ngưOi học phải nắm chắc các quy luật, quy tắc, yêu cầu của lôgic hình
thức để khái quát hoá các thuộc tính, bản chất của sự vật, hiện tượng, nhưng chỉ
dừng lại ở hình thức lôgic chưa đủ, chưa phản ánh hết bản thân tính chân thực
của sự vật. Muốn phản ánh đúng tính chân thực của sự vật, ngưOi học phải phát
triển tư duy ở trình độ cao đó là tư duy lôgic biện chứng, các thông tin mang
tính trừu tượng hoá thông qua tư duy biện chứng.
Đây cũng là cơ sở cho học viên xem xét các sự vật hiện tượng cụ thể,
trong điều kiện cụ thể, đồng thOi phân tích, chứng minh, luận giải được xu thế
phát triển của mỗi sự vật, hiện tượng, sự kiện đó một cách chính xác. Thấy được
vai trò của lôgic hình thức tạo cho học viên phương pháp tư duy khoa học chính
xác không mâu thuẫn, đồng thOi với ý nghĩa to lớn của lôgic biện chứng, mỗi
học viên phải không ngừng tìm tòi, nghiên cứu, xem xét sự vật hiện tượng trong
trạng thái vận động, phát triển không ngừng. Chống lại hiện tượng rập khuôn,
máy móc trong tư duy và hoạt động thực tiễn.
14
Mặt khác, nghiên cứu mối quan hệ giữa logic hình thức và logic biện
chứng còn giúp cho mỗi học viên đào tạo sau đại học xây dựng và hoàn thiện
tính chủ động trong việc nắm bắt tri thức mới, tiếp thu những kinh nghiệm quý
báu của các thế hệ đi trước để vận dụng sáng tạo và có hiệu quả trong quá trình
thực hiện nhiệm vụ của mình tại nhà trưOng.
Nói tóm lại, trên cơ sở nhận thức được mối quan hệ giữa logic hình thức
và logic biện chứng, cũng như ý nghĩa to lớn của nó đối với việc rèn luyện và
phát triển tư duy khoa học của học viên đào tạo sau đại học. Thông qua hoạt
động thực tiễn mỗi học viên tiếp tục phấn đấu, rèn luyện và phát triển tư duy có
như vậy thì mỗi học viên đào tạo sau đại học mới đáp ứng được yêu cầu tiếp thu
kiến thức và nghiên cứu khoa học trong quá trình học tập cũng như việc lựa
chọn, xác định đề tài, hình thành đề cương và viết luận văn tốt nghiệp sau này
đúng tiến độ, có chất lượng Sau khi tốt nghiệp ra trưOng, đây cũng là những
căn cứ để mỗi học viên chúng ta đều có khả năng ứng dụng hiệu quả những kiến
thức và kinh nghiệm đã tiếp thu được vào thực tiễn công tác và cuộc sống, giải
quyết hài hoà các mối quan hệ, tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của mọi
ngưOi để luôn có điều kiện thực hiện tốt chức trách, hoàn thành xuất sắc mọi
nhiệm vụ được giao.