PHẦN VII
SINH THÁI, TÀI NGUYÊN VÀ
MÔI TRƯỜNG
Phần VII: SINH THÁI, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯ ỜNG
573
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG PHỤC HỒI CỦA KHU HỆ ĐỘNG
VẬT NỔI VƯỜN QUỐC GIA U MINH THƯỢNG, TỈNH
KIÊN GIANG SAU TRẬN CHÁY RỪNG tháng 3/2002
Phạm Doãn Đang
Viện Sinh học Nhiệt đới
MỞ ĐẦU
Vườn Quốc gia U Minh Thượng (VQGUMT) là khu rừng ngập nước có hệ Động
Thực vật phong phú, là nơi giao lưu và chuyển tiếp giữa hai khu hệ sinh vật nước mặn
và nước ngọt, chứa đầy đủ các yếu tố sinh thái mặn, lợ, ngọt khiến khu hệ sinh vật ở
đây trở nên phức tạp. Song nhờ có tầng than bùn mà nước ngọt có được từ sông và
nước mưa đã được tích trữ, phèn được ém, mặn được ngăn, tạo nên hệ sinh thái ngọt
với thảm phủ cây tràm bạt ngàn. Vào những năm 1999-2000 Dự án Phát triển Cộng
đồng và Bảo vệ Khu Bảo tồn Thiên nhiên đã triển khai nghiên cứu một số yếu tố sinh
vật thuộc VQG U Minh Thượng như: Chim, Thú, Thực vật trên cạn,… riêng phần
Thủy sinh vật chưa được nghiên cứu sâu.
Tháng 3 năm 2002 xảy ra trận cháy rừng, khu hệ sinh vật biến đổi nhiều, thảm họa
về sinh thái khó có thể bù đắp ngay được. Ngay sau khi trận cháy rừng xảy ra, Ủy ban
nhân dân Tỉnh Kiên Giang và Phân viện Quy hoạch rừng đã tổ chức tạo điều kiện cho
tập thể nghiên cứu của Viện Sinh học Nhiệt đới “Điều tra, nghiên cứu, thu thập dữ liệu
về hiện trạng chất lượng môi trường nước và khu hệ Thủy sinh vật ở Vườn Quốc gia
UMT”. Những dữ liệu thu thập được đã cho biết trong suốt thời gian dài bơm nước mặn
chống cháy và giữ ẩm cho rừng đã chuyển toàn bộ hệ thống thủy vực nước ngọt của
Vườn Quốc gia U Minh Thượng sang hệ sinh thái lợ mặn (độ mặn 5-15‰). Khu hệ
Thủy sinh vật biến đổi nhiều, theo xu thế bất định h ình bởi sự pha trộn các khu hệ Ngọt
- Lợ - Mặn, nghiêng về mặn nhiều hơn.
Song tài nguyên Thủy sinh vật nói chung và khu hệ động vật nổi nói riêng luôn
luôn biến đổi dưới tác động của khí hậu, chế độ mưa nắng trong năm và tác động của
con người, khả năng phục hồi của khu hệ sinh vật, trong đó có Thủy sinh vật l à một
hiện hữu. Để biết được khả năng phục hồi của khu hệ Thủy sinh vật ở V ườn Quốc gia
U Minh Thượng trong thời gian qua (2002 - 2004), phòng Công nghệ và Quản lý Môi
trường - Viện Sinh học Nhiệt đới đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang và Vườn
Quốc gia UMT giúp đỡ tạo điều kiện thực hiện chuyên đề: “Khảo sát nghiên cứu sự
phục hồi của quần xã Thủy sinh vật và đánh giá chất lượng môi trường nước ở
Vườn Quốc gia U Minh Thượng”. Nhằm đánh giá được mức độ hồi phục của quần xã
Thủy sinh vật nói riêng và động vật nổi nói chung sau hơn hai năm kể từ sau trận cháy
rừng tháng 3 năm 2002.
Hội nghị KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 2007
574
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
1. Công tác thực địa:
2. Mẫu định tính sử dụng lưới vớt động vật phiêu sinh Juday có kích thước mắt lưới
40m để kéo. Lưới được kéo khoảng 50m chiều dài, tốc độ kéo trung bình khoảng
0,5m/s.
3. Mẫu định lượng được lọc 60 lít, sử dụng xô có thể tích 10 lít để múc và lọc qua lưới
Juday có kích thước mắt lưới 40m.
4. Các mẫu trên sau khi thu xong được cho vào thẩu nhựa có thể tích 300ml và cố
định ngay tại hiện trường bằng Formalin 5%.
5. Trong phòng thí nghiệm:
6. Định tính: Sử dụng kính hiển vi quang học độ phón g đại tối đa 400 lần để xác định
các loài có trong mẫu. Các mẫu định tính được xác định tới loài và ghi chép vào
biểu phân tích mẫu.
7. Định lượng: Đếm số lượng cá thể của các loài bằng buồng đếm Sedgewick Rafter
Cell có thể tích 1ml và quy ra số lượng có trong 1m
3
.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Cấu trúc thành phần loài
Qua hai đợt khảo sát tháng 8 và tháng 11 năm 2004 ở VQG U Minh Thượng, đã
xác định được 75 loài động vật nổi, thuộc 6 nhóm: Protozoa, Rotatoria, Cladocera,
Copepoda, Ostracoda và Larvae. Trong đó nhóm có số lượng loài cao nhất là Rotatoria:
29 loài chiếm 38,7%, tiếp đến là Cladocera với 21 loài chiếm tỷ lệ 28,0%. Các nhóm
còn lại như Protozoa, Copepoda, Ostracoda và Larvae có s ố lượng loài ít hơn, chỉ dao
động trong khoảng từ 2 - 10 loài, đạt tỷ lệ từ 2,7% -13,3%.
Cấu trúc thành phần loài động vật nổi VQG U Minh Th ượng
Năm 2002
Năm 2004
TT
Nhóm loài
Số loài
Tỷ lệ (%)
Số loài
Tỷ lệ (%)
1
Protozoa (Động vật nguyên sinh)
0
0.0
2
2.7
2
Rotatoria (Luân trùng)
5
14.3
29
38.7
3
Cladocera (giáp xác Râu ngành)
5
14.3
21
28.0
4
Copepoda (giáp xác Chân chèo)
18
51.4
10
13.3
5
Ostracoda (giáp xác có vỏ)
0
0.0
4
5.3
6
Larvae (Ấu trùng)
7
20.0
9
12.0
Tổng
35
100
75
100
Phần VII: SINH THÁI, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯ ỜNG
575
Khả năng phục hồi của khu hệ động vật nổi ở VQG U Minh Th ượng sau đợt
cháy rừng rất nhanh chóng, thể hiện ở cấu trúc thành phần loài động vật nổi: ở đợt
khảo sát năm 2002 có rất nhiều lo ài mang nguồn gốc biển như: Acartia clausi,
Acartia pacifica, Calanopia thompsoni (Copepoda), Siphonophora, Hydromedusae
(Larave), sang các đợt khảo sát năm 2004, các loài có nguồn gốc biển giảm dần,
thay vào đó là các loài sống trong môi trường nước ngọt điển hình, thích nghi cao
với tính chất nước chua phèn. Bên cạnh đó, số lượng loài cũng tăng lên đáng kể, kết
quả khảo sát năm 2002 chỉ ghi nhận đ ược 35 loài, nhưng tới năm 2004 đã ghi nhận
được 75 loài. Điểm đặc trưng của khu hệ động vật nổi ở VQG U Minh Th ượng với
phát triển mạnh của các loài trong 3 nhóm chính là Rotatoria, Cladocera và
Copepoda, các nhóm còn lại có số lượng loài rất ít.
2. Cấu trúc số lượng và loài ưu thế
Mật độ cá thể động vật nổi VQG U Minh Th ượng ở đợt khảo sát tháng 5 năm 2002
rất thấp, chỉ đạt từ 17 - 1.805 con/m
3
, nhưng qua hai đợt khảo sát năm 2004 thu được
mật độ cá thể cao hơn rất nhiều, dao động từ 101 -106400 con/m
3
.
Tháng 5 năm 2002: 17 - 1.805 con/m
3
Tháng 8 năm 2004: 4.800 - 10.6400 con/m
3
Tháng 11 năm 2004: 101 - 1.719 con/m
3
Xét về mức độ ưu thế của động vật nổi ở VQG U Minh Thượng cho thấy chúng
phát triển không ổn định, các loài chiếm ưu thế có sự thay đổi liên tục theo không gian
và thời gian. Các loài chiếm ưu thế chủ yếu trong hai đợt khảo sát năm 2004 đều thuộc
3 nhóm chính là: Rotatoria, Cladocera và Copepoda:
Rotatoria: Asplanchna priodonta, Trochosphaera solstialis, Brachionus
quadridentatus, Brachionus plicatilis.
Cladocera: Diaphanosoma excisum, Duhevedia crassa, Chydorus sphaesicus,
Moina dubia, Bosminopsis deitersi, Alona rectangula.
Copepoda: Mesocyclops leuckarti, Copepoda nauplius, Copepodite, Neodiaptomus
bortulifer, Tropocyclops chinei.
KẾT LUẬN
Khu hệ động vật nổi VQG U Minh Thượng đang có xu hướng phục hồi nhanh
chóng sau đợt cháy rừng năm 2002, từ những kết quả thu thập được về cấu trúc thành
phần loài, cấu trúc số lượng cho thấy: Trong tháng 5 năm 2002 chỉ có 35 lo ài, đến
tháng 8 và tháng 11 năm 2004 đã ghi nhận được 75 loài. Mức độ đa dạng và phong phú
về thành phần loài tăng dần theo thời gian nghiên cứu, những loài động vật nổi có
nguồn gốc biển giảm dần thay vào đó là các loài thích nghi với môi trường nước ngọt
điển hình. Từ đó cho thấy khu hệ động vật nổi đang tái lập về tính đa dạng v à thủy vực
đang có sự ổn định tương đối tốt.
Hội nghị KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 2007
576
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đặng Ngọc Thanh, Thái Trần Bái, Phạm Văn Mi ên (1980). Định loại động vật
không xương sống nước ngọt Bắc Việt Nam. NXB KH&KT
2. Động vật chí Việt Nam 5 (2001). Giáp xác nước ngọt. NXB KH&KT
3. Nguyễn Văn Khôi (1994). Lớp phụ chân mái ch èo (Copepoda) Vịnh Bắc Bộ. NXB
KH&KT
4. Boxshall. G. A. and Halsey. S. H. (2004). An introduction to Copepod diversity.
London
5. Dussart. B. H. and Defaye. D. (1995). Introduc tion to the Copepoda. SPB
Academic Publishing.
6. Ein Bestimmungswerk and Max Voigt (1956). Rotatoria. Berlin -Nikolassee.
7. Ranga Reddy. Y. (1994). Copoda, Calanoida, Diaptomidae. SPB Academic
Publishing.
8. Shirota. A. (1968). The Plankton of South VietNam (Over sea Techimical
Copperation Agency Japan).
9. W.T.Edmondson, Fresh-Water Biology: Rhizopoda, Actinopoda, Cladocera,
Copepoda, Rotifera, Ostracoda. University of Washington, Scattle.
SUMMARY
Restored assessment of zooplankton fauna of U Minh Thuong
national park after the forest fire in 2002
Pham Doan Dang
Institute of Tropical Biology
Zooplankton fauna of U Minh Thuong national park has quickly being restored
after the forest fire in 2002. According to the results of component and the quantity
structure: there were 35 species have been identified in May 2002 but there were 75
species have been identified in August and in November 2004. The diversity of
component has gradually increased in research time. Many species from fresh water
have gradually replaced the species that have marine origin. Therefore the diversity of
zooplankton fauna has restored, and the environment has well settled.
Phần VII: SINH THÁI, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯ ỜNG
577
ĐA DẠNG SINH HỌC KHU HỆ CÁ ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG
Hoàng Đức Đạt, Nguyễn Xuân Thư, Thái Ngọc Trí, Nguyễn Xuân Đồng
Viện Sinh học Nhiệt đới
MỞ ĐẦU
Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), một phần của châu thổ sông M êkông,
đỉnh ở Kratie (Cămpuchia) là phần hạ lưu cửa sông của sông Mêkông. Từ nửa cuối
thế kỷ XX đã có một số công trình nghiên cứu khu hệ cá ĐBSCL như: Kawamoto
N, Nguyễn Việt Trương, Trần Thị Tuý Hoa (1972) mô tả hình thái của 96 loài;
Trương Thủ Khoa, Trần Thị Thu Hương (1993) mô tả và định loại 173 loài; Mai
Đình Yên và ctv (1992) định loại 255 loài cá nước ngọt Nam Bộ; v.v. Như vậy, cho
đến nay chưa có công trình nghiên cứu đầy đủ thành phần loài khu hệ cá ĐBSCL.
Nghiên cứu này, thừa kế các nghiên cứu đã có, tiếp tục khảo sát thực địa, thu thập
mẫu định loại, bổ sung thêm thành phần loài khu hệ, đánh giá hiện trạng khai thác,
sử dụng tài nguyên đa dạng sinh học cá ở ĐBSCL và những biện pháp bảo tồn và
phát triển bền vững chúng.
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
Sông Mêkông là một trong những con sông lớn nhất ở Châu Á, đ ược xếp vào
loại lớn thứ 10 trên thế giới có chiều dài khoảng 4220km, phát nguyên từ Tây Tạng
(Trung Quốc) toả chiếm một lưu vực 795.000km
2
qua Trung Quốc, Myanma, Lào,
Thái Lan, Cămpuchia và Việt Nam. Sông Mêkông đi vào Việt Nam bằng 2 dòng
Tiền Giang và Hậu Giang, động lực chính tạo th ành ĐBSCL. ĐBSCL có diện tích
39.313km
2
, giới hạn từ sông Vàm Cỏ ở phía Đông; phía Tây giáp vịnh Thái Lan;
phía Đông và Đông Nam giáp bi ển Đông, phía Bắc là đường biên giới Việt Nam -
Cămpuchia.
Mạng lưới sông ngòi của ĐBSCL gồm sông Tiền và sông Hậu (có 9 dòng) sông
Vàm Cỏ và một số hệ thống sông rạch (vừa tự nhi ên, vừa nhân tạo) chằng chịt trong
châu thổ. Các sông nhỏ và kênh rạch hoặc nối với sông Tiền, sông Hậu đổ ra biển
Đông hoặc đổ thẳng ra biển Đông, biển Tây.
Toàn bộ ĐBSCL bị chi phối bởi hệ thống sông M êkông phần hạ lưu. Tổng
lượng dòng chảy sông Mêkông vào ĐBSCL tại Tân Châu (sông Tiền) và Châu Đốc
(sông Hậu) khoảng 486.109m
3
/năm và lượng dòng chảy do mưa sinh ra tại ĐBSCL
Hội nghị KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 2007
578
khoảng 19.109m
3
/năm. Nước lũ vào ĐBSCL không những qua sông Tiền và sông
Hậu mà còn tràn qua cả biên giới Việt Nam - Cămpuchia từ Hà Tiên đến Tây Ninh.
Diện tích ngập lũ ở ĐBSCL l ên đến 19.000km
2
với độ ngập từ 0,5-3,5m, tuỳ thuộc
độ cao từng khu vực. Mùa lũ nước ngọt tiến ra biển 60km cách cửa sông Hậu. Thời
gian ngập lũ từ 3-6 tháng hàng năm. Lượng dòng chảy mùa lũ (từ tháng 6 tới tháng
11) chiếm 70-80% lượng dòng chảy toàn năm. Trong mùa khô, lượng nước từ
thượng lưu đổ về nhỏ, độ dốc của lòng sông ở ĐBSCL không lớn nên triều xâm
nhập vào trong sông ngòi, kênh rạch và nội đồng. ĐBSCL chịu ảnh hưởng của 2
loại triều: triều biển Đông là bán nhật triều không đều có biên độ triều cao, với tốc
độ lan truyền khoảng 30km/h tr ên sông Tiền và 20-25km/h trên sông Hậu. Thuỷ
triều có thể lên đến gần Côngpôngchàm (cách cửa sông đến 350-480km). Triều biển
Tây là nhật triều với biên độ triều thấp, ảnh hưởng đồng bằng ven biển phía Tây:
Kiên Giang, Hậu Giang, Bạc Liêu, Cà Mau. Mùa khô đường đẳng muối 4‰xâm
nhập vào đất liền chảy qua thị xã Bến Tre, Mỹ Tho, Sóc Trăng, bán đảo C à Mau.
Nhiều huyện ven biển của tỉnh Sóc Trăng, Kiên Giang bị nhiễm mặn.
Những đặc điểm đó đã làm cho khu hệ cá ĐBSCL có đa dạng sinh học cao: có số
lượng loài nhiều với nhiều nhóm sinh thái khác nhau, có trữ l ượng lớn với nhiều loài có
giá trị kinh tế cao.
Tuy nhiên trong quá trình phát tri ển kinh tế-xã hội trong lưu vực sông Mêkông
nói chung, ở ĐBSCL nói riêng, những hoạt động của con người đã có tác động
nhiều mặt: khai thác các vùng hoang vu rộng lớn (Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long
Xuyên, vùng rừng ngập ven biển, v.v.) th ành đồng ruộng, làng xã, thị trấn, thành
phố; nhiều kênh rạch được đào, nhiều đê bao, cống, đập, đường giao thông bộ được
xây dựng, hoạt động sản xuất nông nghiệp, giao thông vận tải, công nghiệp, dịch
vụ, gia tăng, đa dạng sinh học cá ĐBSCL đang chịu tác động sâu sắc, báo động sự
suy thoái.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Các nghiên cứu khu hệ cá ĐBSCL được tiến hành từ năm 1995. Các đợt khảo
sát thực địa được tổ chức ở các vùng khác nhau ở ĐBSCL: Đồng Tháp Mười,
Tứ giác Long xuyên, U Minh, Tây Sông Hậu, các tỉnh ven biển, trên dòng sông
Tiền, sông Hậu. Mẫu vật được thu thập nghiên cứu thành phần loài và sinh học;
sử dụng hệ thống phân loại của Eschmeyer, 1998 v à FishBase 2000. Phân tích
hình thái sinh học theo các phương pháp nghiên cứu ngư loại thông thường.
2. Điều tra tình hình khai thác và sản lượng cá khai thác ở các vùng khác nhau; Sử
dụng phương pháp điều tra nông hộ để tính sản lượng. Số liệu được xử lý thống
kê sinh học, phần mềm Exel, Systate
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1. Thành phần loài khu hệ cá ĐBSCL.
Khu hệ cá ĐBSCL có 253 loài thuộc 132 giống 42 họ, 11 bộ (phụ lục 1)
Phần VII: SINH THÁI, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯ ỜNG
579
Bảng 1. Số lượng bộ, họ, giống, loài và tỷ lệ % của khu hệ cá ĐBSCL.
Số họ
Số giống
Số loài
Stt
Bộ: Tên Việt Nam, tên Khoa học
Số
lượng
%
Số
lượng
%
Số
lượng
%
1
Bộ cá Thát lát: Osteoglossiformes
1
2,56
2
1,52
2
0,79
2
Bộ cá Cháo: Elopiformes
1
2,56
1
0,76
1
0,40
3
Bộ cá Trích: Clupeiformes
3
7,69
10
7,56
14
5,53
4
Bộ cá Chép: Cypriniformes
3
7,69
37
28,03
80
32,14
5
Bộ cá Nheo: Siluriformes
7
18,42
17
12,88
48
18,97
6
Bộ cá Sóc: Cyprinodonsiformes
2
5,26
2
1,52
3
1,19
7
Bộ cá Nhái: Beloniformes
3
7,69
6
4,55
10
3,95
8
Bộ Mang liền: Synbranchiformes
2
2,52
5
3,79
9
3,56
9
Bộ cá Vược: Perciformes
14
36,84
40
30,30
62
24,51
10
Bộ cá Bơn: Pleuronectiformes
2
5,26
5
3,79
16
6,32
11
Bộ cá Nóc: Tetraodontiformes
1
2,56
7
5,30
9
3,56
Tổng
39
100
132
100
253
100
Bộ cá Chép (Cypriniformes), Bộ cá Nheo (Siluriformes), Bộ cá V ược
(Perciformes), là 3 bộ có số lượng loài nhiều nhất, trong đó bộ cá Chép có số lượng loài
nhiều nhất. Tính chất này cũng giống khu hệ cá các nước lân cận (Cămpuchia, Lào,
Thái Lan, Bắc Việt Nam, ).
Khu hệ cá của toàn bộ sông Mêkông có trên 1200 loài, như vậy phần ĐBSCL
chiếm 21,08% số loài của Mêkông. Khu hệ cá Cămpuchia có 478 loài (Fish Base,
2005), khu hệ cá ĐBSCL bằng 52,93% cá Cămpuchia. Là thành phần cá của khu vực
hạ lưu, cửa sông số loài cá có nguồn gốc lợ, mặn của ĐBSCL nhiều hơn khu hệ cá
Cămpuchia.
Khu hệ cá nước ngọt ĐBSCL được hình thành từ cuối kỷ Đệ Tam, thuộc vùng địa
lý cá nước ngọt Đông Phương, vùng phụ Đông Dương.
2. Sự đa dạng sinh thái của khu hệ cá ĐBSCL
ĐBSCL là một phần của sông Mêkông có lịch sử địa chất lâu đời ở vùng nhiệt đới
Đông Nam Á. ĐBSCL có nhiều loại hình đất ngập nước điển hình: rừng ngập mặn ven
biển, đầm lầy nội địa (rừng tràm), cửa sông rộng lớn, có 2 dòng chính với nhiều cửa đổ
ra biển, mạng lưới kênh rạch dày đặc, đồng bằng thấp về mùa lũ ngập với diện tích lớn
kéo dài 3-6 tháng hàng năm. Sự đa dạng về sinh thái của khu hệ cá ĐBSCL l à rất lớn.
Cá ở ĐBSCL có 2 nhóm cá đặc trưng: cá sông (cá trắng) sống ở các thuỷ vực nước
chảy lưu thông: sông, kênh, rạch lớn, về mùa lũ mở rộng phân bố ở các vùng ngập lũ:
nhiều loài trong bộ cá Chép (Cypriniformes), bộ cá Nheo (Siluriformes), một số lo ài
trong bộ cá Trích (Clupeiformes), một số trong bộ cá V ược (Perciformes). Cá đồng (cá
đen) sống trong các khu ao ruộng, lung ngập nước (rừng tràm), nhiều loài trong bộ cá
Hội nghị KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 2007
580
Vược (Perciformes), một số trong bộ cá Thát lát (Osteoglossiformes), một số trong bộ
cá Nheo (Siliriformes), nhóm cá này thích nghi s ống ở nước đứng, có khả năng chịu
ngưỡng oxy thấp, pH thấp, nhiệt độ cao trong mùa khô.
Sự đa dạng trong chu kỳ sống của các lo ài cá trong khu hệ cá ĐBSCL rất cao.
Các loài cá có kích thước nhỏ, có tuổi thọ thấp 1-2 năm chiếm tỷ lệ rất lớn. Nhóm
cá này thành thục sinh dục và sinh sản ngay trong năm đầu và năm thứ 2 của đời
sống, có sức sinh sản tương đối lớn, thường sinh sản trong mùa mưa lũ có vùng
ngập lớn sinh trưởng nhanh, tạo khả năng phục hồi quần thể cao. Nhóm cá n ày
thường ăn phù du sinh vật, mùn bã hữu cơ và động vật đáy nhỏ: nhiều loài trong bộ
cá Trích (Coilia, Conica, v.v.) bộ cá Chép (Esomus, Rasbora, Thynnichthys,
Osteochilus, Cirhinus, Labeobarbus, v.v.), b ộ cá Nheo (Leiocassis, Mystus,
Heterobagrus, v.v.), bộ cá Sóc (Aplocheilus, Lebistis, Dermogenus, v.v.), bộ cá
Vược (Channa, Betta, Trichogaster, Butis, v.v.). Nhóm cá này có sản lượng khai
thác lớn ở ĐBSCL.
Nhóm cá có kích thước trung bình chiếm số lượng lớn thứ 2, gồm nhiều loài cá
ăn tạp, ăn động vật (cá dữ điển hình), thiếu vắng những loài cá ăn thực vật điển
hình. Chúng sinh trưởng nhanh trong những năm đầu của đời sống và thành thục
sinh dục sinh sản vào năm thứ 2, 3, Thuộc nhóm này gồm nhiều loài trong bộ cá
Chép (Leptobarbus, Cyclocheilichthys, Cirhinus, v.v.), b ộ cá Nheo (Wallago,
Kryptopterus, Clarias, Plotosus, Pangasius, Mystus, v.v.), b ộ cá Vược (Lates,
Channa, Oxyeleotris, v.v.), bộ Mang liền (Monopterus, Mastacembelus, v.v.),.
Nhóm này gồm nhiều loài cá có giá trị kinh tế cao.
Khu hệ cá ĐBSCL có một số loài cá kích thước lớn, tuổi thọ lớn 5-10 năm,
gồm các loài trong bộ cá Chép (Catlocarpio, Probarbu s, Morulius, ). Loài cá Hô
Catlocarpio siamensis là loài cá có kích thư ớc lớn nhất trong bộ cá Chép (chiều d ài
có thể tới 300cm, trọng lượng trên 200kg); các loài trong bộ cá Nheo
(Pangasinodon, Wallagonia, Bagarius, v.v.). Loài cá Tra d ầu Pangasinodon gigas là
loài cá da trơn nước ngọt lớn nhất: chiều dài có thể đạt tới 300 cm, trọng lượng
300kg. Đây là những nguồn gen độc đáo có giá trị kinh tế v à khoa học cao. Tuy
nhiên sản lượng của chúng đang giảm sút nghi êm trọng, chúng đang ở tình trạng bị
đe dọa.
Sự di cư của các loài cá ở ĐBSCL diễn ra rất đa dạng. Các loài cá ở vùng nước lợ ven
biển cửa sông đi vào hạ lưu vào sâu trong các kênh rạch nội đồng trong mùa khô, một số
loài vượt qua khỏi ĐBSCL lên đến Cămpuchia: nhiều loài trong bộ cá Trích, bộ cá Nheo,
bộ cá Vược: di cư dinh dưỡng. Chúng trở lại cửa sông ven biển vào mùa lũ; Một số loài di
cư lên xa để sinh sản. Các loài cá nước ngọt bắt đầu phát dục di cư ngược dòng ra khỏi
ĐBSCL lên đến trung lưu trong phần lãnh thổ Cămpuchia để sinh sản. Sự di cư thụ động
theo dòng nước lũ của cá bột, cá con từ trung lưu hoặc ở Cămpuchia về ĐBSCL diễn ra
vào đầu, giữa mùa lũ của nhiều loài thuộc bộ cá Chép, bộ cá Nheo, bộ cá Vược, phần lớn
đi vào các kênh rạch, đồng ruộng ngập lũ để kiếm ăn và sinh trưởng trong suốt mùa lũ.
Những nghiên cứu gần đây cho thấy thành phần loài của cá bột, cá con di cư là rất đa dạng:
hàng trăm loài (Nguyễn Thanh Tùng, 2004). Các loài cá sống ở sông, kênh rạch trong
Phần VII: SINH THÁI, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯ ỜNG
581
phạm vi ĐBSCL đến mùa lũ cũng đi vào đồng ruộng ngập để sinh sản và kiếm ăn. Lũ là
nhân tố quan trọng bảo đảm sinh sản, sinh trưởng của phần lớn các loài cá ở ĐBSCL.
3. Hiện trạng khai thác sử dụng tài nguyên đa dạng sinh học cá ĐBSCL
Đánh bắt cá nước ngọt ở ĐBSCL là hoạt động kinh tế phổ biến của hầu hết c ư
dân trong vùng. Sản phẩm từ cá nước ngọt tự nhiên có giá trị quan trọng trong sản
xuất và đời sống của ĐBSCL. Tuy vậy cho đến nay sản l ượng cá khai thác chưa
được thống kê, đánh giá đầy đủ. Những kết quả điều tra sản l ượng cá khai thác
những năm gần đây ở một số khu vực là rất lớn. Sản lượng cá khai thác năm 1999
của tỉnh An Giang là 194.678 tấn, Trà Vinh 34.587 tấn (Nguyễn Thanh Lâm, 2003);
sản lượng cá khai thác của vùng Ô Môn-Xà No (Tây sông Hậu) năm 2001 là 18.500
tấn, năm 2003 là 10.500 tấn (Hoàng Đức Đạt, Nguyễn Xuân Thư, Nguyễn Xuân
Đồng, 2004). Sản lượng cá khai thác hàng năm ở ĐBSCL biến động theo cường độ
của lũ: lũ lớn, thời gian ngập kéo d ài sản lượng cao và ngược lại. Những năm lũ
lớn, thời gian ngập kéo dài sản lượng cá khai thác ở ĐBSCL có thể đạt 500.000
tấn/năm.
Tuy vậy cường độ khai thác cá ở ĐBSCL trong thập ni ên cuối đã gia tăng rất
cao: nhiều phương tiện khai thác mang tính chất huỷ diệt: l ưới có mắt lưới rất nhỏ,
kích điện, dùng chất độc. Gia tăng sản xuất nông nghiệp, khai hoang mở rộng diện
tích nuôi trồng thuỷ sản, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hoá học, v.v. Xây
dựng nhiều đê bao, cống đập, đường giao thông vận tải, phát triển công nghiệp, gia
tăng dân số cơ học, ô nhiễm nguồn nước, v.v. Những biến đổi đó đã tác động mạnh
đến đa dạng sinh học cá ở ĐBSCL: thu hẹp và ô nhiễm nơi sinh sống, bị đánh bắt
vượt quá sức tái sản xuất của quần thể cá, số l ượng nhiều loài cá kinh tế giảm sút
nghiêm trọng. Đa dạng sinh học cá ĐBSCL đang đứng tr ước nguy cơ suy thoái ở
cấp độ cao.
KẾT LUẬN
Khu hệ cá ĐBSCL rất đa dạng, phong phú gồm loài 253 loài, 132 giống, 42 họ,
11 bộ khác nhau. Trữ lượng cá của khu hệ rất lớn; những năm lũ lớn, thời gian ngập
kéo dài sản lượng cá khai thác cao, những năm lũ nhỏ, ngập ngắn sản l ượng thấp.
Đa dạng sinh học cá ĐBSCL đang đứng trước nguy cơ suy thoái cao do khai thác
quá mức, chịu tác động mạnh mẽ của quá tr ình phát triển kinh tế xã hội ở ĐBSCL.
Xây dựng và thực hiện một chương trình bảo vệ và khai thác hợp lý tài nguyên đa
dạng sinh học cá ĐBSCL giảm thiểu các tác động bất lợi tiến tới phát triển bền
vững là nhu cầu cấp bách.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hoàng Đức Đạt. Thái Ngọc Trí (2001). Khu hệ cá và nghề cá ở Đồng Tháp Mười.
Tuyển tập công trình nghiên cứu Khoa học Công nghệ. Viện Sinh học Nhiệt đới.
trang 390-395. Nxb Nông nghiệp.
Hội nghị KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 2007
582
2. Hoàng Đức Đạt, Nguyên Xuân Thư, Nguyễn Xuân Đồng (2004). Báo cáo Tư vấn
giám sát di cư cá ở các vùng Thuỷ lợi ĐBSCL. Hội thảo tư vấn giám sát di cư Cá.
Viện Sinh học Nhiệt đới.
3. Trương Thủ Khoa. Trần Thị Thu Hương (1993). Định loại cá nước ngọt vùng Đồng
bằng Sông Cửu Long. Khoa Thuỷ sản - Trường Đại học Cần Thơ.
4. Phan Thanh Lâm. Phạm Mai Phương (2002). Đánh giá nguồn lợi thuỷ sản nội
địa tỉnh An Giang thông qua phương pháp điều tra nông hộ. Tuyển tập nghề cá
Đồng bằng Sông Cửu Long 2002. Viện nghi ên cứu nuôi trồng thuỷ sản II. NXB
Nông nghiệp.
5. Phan Thanh Lâm. Phạm Mai Phương. Nguyễn Thanh Tùng (2003). Cách tiếp cận
và đánh giá nguồn lợi thuỷ sản nội địa ở Đồng bằng Sông Cửu Long. Tuyển tập
nghề cá sông cầu Long (số đặc biệt). Báo cáo Khoa học hội thảo Quốc gia
nghiên cứu Khoa học phục vụ nghề nuôi trồng thuỷ sản ở các tỉnh phía Nam
(ngày 20-21/12/2002. TP. Hồ Chí Minh) Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản II.
NXB Nông nghiệp.
6. Nguyễn Thanh Tùng (2005). Di cư của cá bột và cá con trên sông Tiền tại Tân Châu
và sông Hậu tại Châu Đốc. Tóm tắt luận án Tiến sĩ Ngư loại học. Viện Hải dương
học Nha Trang.
7. Mai Đình Yên, Nguyễn Văn Trọng. Nguyễn Văn Thiện (1992). Định loại các loài
cá nước ngọt Nam Bộ. NXB KH&KT
8. Eschemeyer (1998). Catalog Fish. Clifornia Academy of Scie nces.
9. Kawamoto. N, Nguyen Viet Truong & Tran Thi Tuy Hoa (1972). Illusstrations of
some freshwater fishes of the Mekong Delta, Vietnam.
10.Froese R, D. Pauly., (2000). Fish base. Concepts, design and data sources.
International Center for Living Aquatic Resou rces Management, Los Banos,
Laguna, Philippines.
11.Smith. H. M., (1945). The freshwater fish of Siam of Thailand.
12. Walter J. Rainboth. (1996). Fishes of the Cambodian Mekong. FAO, UN
Phần VII: SINH THÁI, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯ ỜNG
583
ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CÁ CHẠCH LÁ TRE
(Macrognathus siamensis Gunther)
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Hoàng Đức Đạt, Nguyễn Xuân Thư, Thái Ngọc Trí, Nguyễn Xuân Đồng
Viện Sinh học Nhiệt đới
MỞ ĐẦU
Đa dạng sinh học của khu hệ cá Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) được xem
là rất phong phú với hơn 250 loài cá, trong đó có khoảng 40 loài là cá có giá trị kinh tế.
Loài cá chạch lá tre (CLT) (Macrognathus siamensis Gunther, 1861) thuộc họ cá chạch
trấu (Mastacembelidae), bộ mang liền (Synbranchiformes), tuy có kích th ước nhỏ,
nhưng sản lượng khai thác tương đối lớn, thịt cá ngon, được ưa chuộng trong tiêu dùng
nội địa và cho xuất khẩu. Tuy vậy, cho đến nay cũng nh ư nhiều loài cá kinh tế khác ở
ĐBSCL, sinh học loài cá chạch lá tre chưa được nghiên cứu. Chúng tôi tiến hành
nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của loài chạch lá tre, góp phần xây dựng cơ sở
khoa học cho những giải pháp bảo tồn, khai thác hợp lý lo ài cá này ở ĐBSCL.
THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Từ năm 2001-2005 đã tiến hành 9 đợt khảo sát thực địa thu mẫu ở các khu vực khác
nhau của ĐBSCL thuộc các tỉnh Vĩnh Long, Tr à Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu,
Kiên Giang, An Giang và thành phố Cần Thơ. Các mẫu thu thập được xử lý, phân tích
sinh học theo phương pháp nghiên cứu ngư loại học của Pravdin, 1972 và FishBase,
2000. Số lượng mẫu đã thu thập và phân tích là 178 cá thể; một số mẫu được giải phẩu
tại nơi thực địa, một số định hình trong Formol 5-7% và được phân tích tại phòng thí
nghiệm. Số liệu thu thập, phân tích được xử lý bằng chương trình Excel và Systate.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1. Đặc điểm phân bố: Giống Macrognathus Lacépède, 1800 trên Thế giới có khoảng
12 loài (FishBase, 2000). Ở hạ lưu Sông Mêkông có 4 loài. Ở Việt Nam loài CLT
phân bố ở các tỉnh Nam Trung Bộ (Quảng Ngãi) đến Đông Nam Bộ và ĐBSCL
(Mai Đình Yên, 1992 và Nguyễn Hữu Dực, 1995).
2. Kích thước và trọng lượng
3. Trong 178 mẫu cá thu thập, phân tích có:
4. Chiều dài cá khai thác dao động từ 10,90-23,80cm; trung bình 17,84 ± 0,39cm;
Hội nghị KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 2007
584
5. Trọng lượng cá khai thác dao động từ 7-57,70g; trung bình 24,50 ± 1,43g
6. Nhìn chung kích thước và trọng lượng khai thác của CLT tương đối nhỏ.
7. Biểu đồ 1: Tương quan giữa chiều dài và trọng lượng cá CLT
8. Xác định tuổi của cá CLT: Cá CLT có vảy rất nhỏ, dạng hình bầu dục với chiều
dài từ chân vảy đến đỉnh vảy khoảng 1,5-2,0mm, chiều rộng khoảng 1,0-1,5mm,
các đường sinh trưởng khá đồng đều. Quan sát vảy của hơn 50 cá thể đều không
thấy vòng tuổi trên vảy cá. Như vậy, tuổi cá CLT chỉ có thể xác định bằng ph ương
pháp thực nghiệm.
9. Đặc điểm dinh dưỡng của cá CLT: Ống tiêu hoá của cá CLT ngắn, phần trước chỉ
hơi phình ra, dạ dày không rõ ràng, chiều dài ống tiêu hoá chỉ 60% chiều dài của cá.
10. Phân tích độ no của dạ dày ở các cá thường thấp, có 37% cá thể có độ no bậc 0; có
42,77% có độ no bậc 1; số cá thể có độ no bậc 2, 3, 4 chiếm tỷ lệ thấp. Cường độ
dinh dưỡng của cá ít thay đổi theo mùa. Phân tích thành phần thức ăn của cá CLT
thấy chủ yếu gồm: ấu trùng của Copepoda, Nematoda, Crustacea, ấu tr ùng Côn
trùng, mùn bã hữu cơ trong đó có lẫn vi tảo thuộc Cyanophyta, Bacillarioph yta,
Chlorophyta, có thể thấy cá CLT là loài cá ăn động vật thuỷ sinh nhỏ, và chủ yếu
kiếm ăn ở tầng đáy.
y = 0.0002x
2.2526
0
10
20
30
40
50
60
70
0 50 100 150 200 250
L (mm)
W (g)
Phần VII: SINH THÁI, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯ ỜNG
585
11. Qua biểu đồ 1 cho thấy nhóm cá khai thác chủ yếu có ch iều dài từ 15,00-
20,00cm và trọng lượng từ 15-35g. Giữa chiều dài và trọng lượng có mối tương
quan tỷ lệ thuận với phương trình y = 0,0002x2,2526. Ở thời kỳ cá con (chưa
trưởng thành sinh dục) cá sinh trưởng nhanh về chiều dài, về sau cá sinh trưởng
nhanh về trọng lượng.
5. Đặc điểm sinh sản của cá CLT: Cá CLT có kích thước tương đối nhỏ, tuổi thọ
thấp, phát dục sớm, có thể tham gia sinh sản lần đầu v ào năm thứ 2 của đời sống. Ở các
mẫu thu thập phân tích có tỷ lệ đực cái ( ♂/♀) là: 30:121 tương đương 1/4, có 22 cá thể
không thể xác định được đực cái bằng mắt thường. Như vậy, ở các cá thể trưởng thành
sinh dục cá cái có số lượng nhiều hơn cá đực (gấp 4 lần). Tuy nhiên vấn đề này cần
được tiếp tục khảo sát mới có thể biết đ ược chính xác.
Bảng 1: Các giai đoạn chín muồi sinh dục của cá CLT
1+2
3+4
5+6
7+8
9+10
11+12
Tháng
Giai đoạn
♂
♀
♂
♀
♂
♀
♂
♀
♂
♀
♂
♀
Juvenile
10
3
2
II
8
3
1
16
1
10
III
1
6
14
38
7
10
7
4
IV
23
1
3
V
3
VI
4
Tổng cộng
19
9
95
28
17
10
Qua bảng 1 nhận thấy rằng cá CLT ở ĐBSCL trong các tháng đầu v à giữa mùa
khô (từ tháng 11-12 đến tháng 3-4 độ chín muồi của tuyến sinh dục chỉ ở giai đoạn từ
không phân biệt được cho đến giai đoạn II; trong các tháng m ùa mưa (từ tháng 5-10)
độ chín muồi sinh dục ở giai đoạn từ II đến giai đoạn VI. Cũng qua bảng 1 cho thấy cá
CLT mùa sinh sản chủ yếu vào đầu và giữa mùa mưa.
Đường kính trứng ở các giai đoạn III, giai đoạn IV dao động khoảng 0,62mm đến
1,20mm, trung bình 1,10mm. Sức sinh sản tuyệt đối (số lượng trứng ở thời kỳ sinh
trưởng dinh dưỡng ở cá cái có giai đoạn IV chín muồi sinh dục) từ 1.650-8.837 trứng,
trung bình là 3.339 trứng. Sức sinh sản tương đối là 135 trứng/g thể trọng.
Đặc điểm sinh thái, tình trạng khai thác, sản lượng khai thác cá CLT cũng đ ã
được ghi nhận. Cá sống ở các k ênh rạch, phân bố rộng khắp ở ĐBSC L, vào mùa
mưa có thể di cư vào các vùng ruộng ngập lũ để kiếm ăn. Cá CLT sống ở tầng đáy,
bờ sông, kênh rạch có nước chảy nhẹ, hoặc nước đứng. Cá được đánh bắt bằng lưới
cào, đáy, đăng dớn, xĩa, ; cá được khai thác quanh năm; tuy nhi ên, sản lượng khai
thác cao vào các tháng VIII-XII. Ở ĐBSCL cá CLT có sản lượng khai thác cao nhất
Hội nghị KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 2007
586
trong các loài cá chạch trong bộ mang liền, ước tính lên đến hàng ngàn tấn. Để đảm
bảo khai thác bền vững loài cá này, đề nghị các cơ quan và chính quyền địa phương
trong khu vực ĐBSCL kiểm soát chặt chẽ hơn nữa trong việc sử dụng các ngư cụ
bằng điện như: xiệc điện, cào điện, lưới điện, cũng như hạn chế cường độ khai
thác trong mùa cá sinh sản.
Tuy kích thước không lớn nhưng thịt cá ngon, được ưa chuộng ở thị trường trong
và ngoài nước. Cá CLT có thể sử dụng tươi sống hay chế biến.
KẾT LUẬN
1. Cá CLT khai thác có kích thước trung bình là 17,84 ± 0,39cm và trọng lượng trung
bình là 24,50 ± 1,43g. Trong lúc chiều dài tối đa của cá có thể đến 30cm.
2. Cá CLT sống ở tầng đáy, phân bố rộng khắp các sông, kênh rạch và ruộng ngập lũ
ở ĐBSCL. Cá ăn chủ yếu động vật đáy nhỏ: ấu tr ùng Copepoda, Nematoda,
Crustacea, ấu trùng côn trùng, và mùn bã hữu cơ. Ống tiêu hoá ngắn khoảng 60%
chiều dài cá.
3. Cá thành thục sinh dục và sinh sản vào năm thứ 2 của của đời sống, mùa sinh sản
kéo dài trong mùa mưa (từ tháng V đến tháng X hàng năm). Sức sinh sản tuyệt đối
trung bình 3.339 trứng, sức sinh sản tương đối 136 trứng/g cá.
4. Cá CLT là loài cá kinh tế, có giá trị hàng hoá ở thị trường nội địa cũng như xuất
khẩu. Sản lượng khai thác ở ĐBSCL có thể hàng ngàn tấn/năm. Cần quan tâm bảo
vệ và khai thác hợp lý.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Thuỷ sản (1996). Nguồn lợi thuỷ sản Việt Nam. Nxb Nông nghiệp
2. Hoàng Đức Đạt. Thái Ngọc Trí (2001). Khu hệ cá và nghề cá ở Đồng Tháp Mười.
Tuyển tập công trình nghiên cứu Khoa học Công nghệ. Viện Sinh học Nhiệt đới.
trang 390-395. NXB Nông nghiệp.
3. Đặng Văn Giáp (1997). Phân tích dữ liệu khoa học bằng chương trình MS-
EXCEL. NXB Giáo dục
4. Pravdin IF. (1963). Hướng dẫn nghiên cứu cá. NXB KH&KT
5. Trương Thủ Khoa. Trần Thị Thu Hương (1993). Định loại cá nước ngọt vùng
Đồng Bằng Sông Cửu Long. Khoa Thuỷ sản - Trường Đại học Cần Thơ.
6. Mai Đình Yên, Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Văn Thiện (1992). Định loại các loài
cá nước ngọt Nam Bộ. NXB KH&KT
7. Eschmeyer, W. N., (1998). Catalog of fishes. California Academy of Sciences. San
Francisco, USA
8. Froese, R. and D. Pauly (2000). FishBase 2000: Concepts, design and data sources.
ICLARM, Philippines.
Phần VII: SINH THÁI, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯ ỜNG
587
9. GEC Global Environmental Consultants Ltd. (1998). Environmental Review of
Proposed Sources of Growth for Sustanable Agriculture and Biodiversity
Protection in The U Minh and Plain of Reeds Subregions of The Mekong Delta.
10. Hugh. M. Smith, 1945. The freshwater fishes of siam or Thailand. United states
national museum. Bulletin 188.
11. FAO. (1998). Topsoil characterization for sustainable land management. Land and
water development division. Soil resources, Management and conservation service,
Rome. 81pp.
12. Nguyen Xuan Quynh, Mai Dinh Yen, Clive Pinder & Steve Tilling, ( 2000).
Biological surveillance of freshwater, using macroinvertebrates. Hanoi, 2000
13. Tran Truong Luu (1997). Review and assessment of natural food chanins - Fish
fauna and capture fisheries of Bassac River. Reseach Institute for Aquaculture II.
14. Tran Truong Luu. Nguyen Van Hao. Nguyen Minh Nien. Nguyen Thanh Tung.
Truong Thanh Tuan. Nguyen Dinh Hung (1999). Fisheries baseline study (North
Vam nao water contrl project). Reseach Institute for Aquaculture II.
15. Walter J. Rainboth (1996). Fishes of the Cambodian Me kong. FAO-UN, Rome
Hội nghị KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 2007
588
BƯỚC ĐẦU KHẢO SÁT NGUỒN LỢI CÁ CH ÌNH GIỐNG
(Anguilla)
Ở MỘT SỐ TỈNH VEN BIỂN MIỀN TRUNG
Nguyễn Xuân Đồng, Hoàng Đức Đạt, Nguyễn Xuân Thư
Viện Sinh học Nhiệt đới
MỞ ĐẦU
Giống Anguilla, họ cá chình Anguillidae, bộ cá chình Anguilliformes có khoảng
20 loài phân bố rất rộng trên thế giới.
Ở nước ta có 3 loài cá chình: cá chình bông (Anguilla marmorata Quoy & Gaimard,
1824), cá chình mun (A. bicolor bicolor McClelland, 1844), cá chình nh ọn
(A.malgumora,Kaup,1856). Loài cá chình bông phân bố rộng và có số lượng nhiều hơn cả.
Các loài cá chình (Anguilla) có chu kỳ sống rất đặc biệt: sinh trưởng trong nước
ngọt, đến tuổi thành thục, trưởng thành sinh dục di cư ra biển, tuyến sinh dục phát triển,
chín muồi, sinh sản ở vùng biển sâu, trứng có kích thước nhỏ, số lượng nhiều, thụ tinh,
phôi phát triển nở thành ấu trùng biến thái thành dạng hình lá liễu sống phù du trong
nước biển, theo dòng hải lưu dần vào bờ, biến thành cá chình con trong suốt, dạng hình
ống vào các sông, đầm nước ngọt rồi thành cá chình con thực thụ tiếp tục đi sâu vào
các sông suối, sinh sống ở đây cho đến trưởng thành.
Hiện nay, nguồn cá chình giống cung cấp cho nghề nuôi cá chình chủ yếu vẫn sử
dụng nguồn giống tự nhiên. Do đó, điều tra nguồn cá chình giống là nhiệm vụ rất cần
thiết nhằm bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn lợi này: bảo vệ các quần thể cá chình trong
tự nhiên, cũng như phát triển nghề nuôi cá chình.
THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thời gian nghiên cứu: Thời gian khảo sát từ tháng VIII/2004 đến tháng II/2006
Địa điểm nghiên cứu: Các hệ thống sông suối, ao, đầm, các đập tr ên các sông của các
tỉnh miền Trung.
Phương pháp nghiên cứu:
Xác định các điểm khảo sát, điều tra và thu mẫu tại các thuỷ vực khác nhau (cửa
sông, hạ lưu, thượng nguồn, hồ chứa, ao hồ tự nhiên, ). Tiến hành điều tra cá
chình giống từ người đánh bắt, người thu mua và người nuôi.
Thiết kế ngư cụ chuyên dùng chỉ để khai thác cá chình con.
Phần VII: SINH THÁI, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯ ỜNG
589
Tự tổ chức khai thác và cùng ngư dân khai thác cá chình hương cá chình giống
trên một số sông và ở khu vực các đập.
KẾT QUẢ
1. Nguồn lợi cá chình giống
Theo các kết quả nghiên cứu về cá chình giống Anguilla trên thế giới cũng như ở Việt
Nam cho thấy các loài cá chình thuộc giống Anguilla phân bố ở nước ta đều là các loài cá
di cư. Chúng sinh sản ở vùng biển sâu, xa bờ. Phôi, ấu trùng biến thái phát triển ở biển, di
cư dần vào vùng ven bờ (theo các dòng Hải lưu) vào các đầm phá, cửa sông thành cá chình
dạng trong suốt (cá chình gương - glass-ell) rồi di cư vào hạ lưu lớn dần lên thành cá chình
hương, chình giống ngược dòng lên vùng trung, thượng lưu.
Các tỉnh ven biển miền Trung có hệ thống sông ngòi phong phú. Chúng bắt nguồn từ
sườn Đông của dãy Trường Sơn, chảy qua vùng đồng bằng hẹp đổ thẳng ra biển Đông
hoặc thông qua các đầm phá rồi mới ra biển. Các đặc điểm thủy văn của sôn g ngòi, ao đầm
miền Trung thuận lợi cho đời sống cá chình.
Chúng tôi đã tổ chức 10 đợt đánh khảo sát cá chình hương, cá chình giống ở các tỉnh
từ Hà Tĩnh tới Bình Thuận. Trên cơ sở khảo sát thưc địa và điều tra ngư dân, chúng tôi đã
chọn 7 khu vực và tổ chức khảo sát tại các tỉnh: Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng
Ngãi, Phú Yên và Ninh Thuận. Bằng các ngư cụ tự thiết kế gồm: 2 đăng nhỏ bằng lưới vải
dày mịn (mắt lưới 0,2mm), cánh đăng bằng lưới nilon dày (mắt lưới 0,7mm) và 4 vợt lưới
vải dày 0,2 mm, kết hợp với các ngư cụ khác của ngư dân trong khu vực như: te, lưới kéo,
bổi,… để khảo sát cá chình hương, chình giống. Cá chình con đánh bắt được có 3 cỡ khác
nhau: 1/. Cá chình gương (glass-ell) có thân hình trụ trong suốt chưa có sắc tố hoặc chỉ có
rải rác trên thân, có chiều dài toàn bộ (Lab) trung bình 5cm, trọng lượng (w) trung bình
0,18g ( khoảng 5500 - 6000con/kg ). 2/. Cá chình hương, có chiều dài toàn bộ (Lab) trên
7cm, trọng lượng (w) trên 0,3g/con, sắc tố phát triển, cá có màu đặc trưng. 3/. Cá chình
giống có trọng lượng (w) trên 5g/con. Kết quả khảo sát được trình bày ở bảng 1.
Bảng 1: Thời gian và địa điểm khảo sát cá chình cá chình giống
Kết quả khảo sát
Stt
Nơi đánh bắt
Thời gian đánh bắt
Chình
gương
Chình
hương
Cá
giống
1
Đập Trấm, sông Thạch Hãn, Quảng Trị:
18-19/10/2005 và 26-
29/II/2006
-
+
+
2
Phá Tam Giang, Thừa Thiên - Huế
9 và 10/2005
-
-
+
3
Sông Trà Khúc, Quảng Ngãi
21-22/11/2005
+
-
-
4
Sông Đà Rằng, Phú Hòa, Phú Yên
10-12/6/2005
+
+
+
5
Sông Đà Rằng, Phú Hòa, Phú Yên:
1-20/7/2005
+
+
+
6
Đập Đồng Cam, Sơn Hòa, Phú Yên:
19/10/2005
+
++
+
7
Sông Kỳ Lộ, Tuy An, Phú Yên
20-25/11/2005
++
++
++
8
Sông Kỳ lộ,Tuy An, Phú yên
2-6/1/2006
+++
++
+
9
Hạ lưu sông Cái, Ninh Thuận
15-16/11/2005
+
+
+
10
Hạ lưu sông Cái, Ninh Thuận
2-4/1/2006
++
+
+
Ghi chú: (-): không có (+): có ít (++): có nhiều (+++): rất nhiều
Hội nghị KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 2007
590
Từ ngày 1-20/VII/05, chúng tôi đã tổ chức đánh bắt 3 đợt ở hạ lưu Sông Đà
Rằng, mỗi đợt 7 ngày, thu được 250 con cá chình gương (có trọng lượng trung bình
0,18g/con và chiều dài khoảng 5cm) một số cá chình hương (có trọng lượng lớn hơn
0,3 g/con, chiều dài trên 7cm) và cá chình giống.
Các đợt khảo sát tháng XI-XII/2005 và tháng I/2006, chúng tôi đ ã tổ chức đánh
bắt cá chình gương bằng ngư cụ tự tạo ở đập Lâm Cấm (Ninh Thuận) kết quả đã bắt
được cá chình gương trong suốt tại đây (trên 1.000 con/đêm). Như vậy, ở sông Cái
(Ninh Thuận) cá chình con di cư từ biển vào nội địa khá nhiều.
Trong đợt khảo sát ở hạ lưu sông Đà Rằng vào tháng VI/2005, tuy là tháng mùa
khô nhưng chúng tôi đã bắt được 250 con cá chình gương và một số chình hương và
chình giống.
Tại các khu vực thuộc hạ lưu các sông Kỳ Lộ, sông Đà Rằng (Phú Yên) từ
tháng X/2005 đến tháng I/2006 cá chình gương đã xuất hiện với số lượng lớn. Đây
là thời kỳ cuối mùa mưa lũ của miền Trung. Cá chình gương từ cửa biển vào hạ lưu
và di cư tiếp lên thượng lưu. Trong thời kỳ này, một ngư dân dùng vợt mùng trong
một đêm có thể bắt được 1.000 - 5.000 con cá chình gương cỡ 45-55mm chiều dài,
5.500 - 6.000 con/kg.
Các đợt khảo sát ở sông Thạch Hãn (Quảng Trị), phá Tam Giang (Thừa Thi ên-
Huế) năm 2005 và 2006, tuy không thu được cá chình gương nhưng chúng tôi lại
thu được cá chình giống. Điều đó chứng tỏ tại đây có nguồn cá ch ình con.
Cá chình gương thường trong suốt, chưa có sắc tố đen, hoặc chỉ có rất ít, chiều
dài 45-60mm, trọng lượng 0,18-0,2g/con.
Trong các đợt khảo sát vào các tháng mùa khô (tháng 6 và 7/2005) t ại một số vị
trí ở Bình Định, Phú Yên, Thừa Thiên - Huế, chúng tôi đều phát hiện cá ch ình
hương và chình giống. Điều đó chứng tỏ trong mùa khô chình hương, chình giống
vẫn xuất hiện tại các tỉnh miền Trung.
Ngoài các vị trí khảo sát trực tiếp để thăm do nguồn lợ i cá chình con như đã
nêu trên, chúng tôi còn điều tra ngư dân trong khu vực để có thêm thông tin về cá
chình gương, chình giống. Kết quả khảo sát như sau:
Ông Thành, ngư dân sống gần đập Lâm Cấm (Ninh Thuận) cho biết, những
năm 2000 trở về trước, vào những lúc lũ lớn, nước chảy mạnh, mực nước trên và
dưới đập chênh lệch nhau không nhiều quan sát thấy cá ch ình gương và cá chình
hương di cư rất nhiều. Chúng tập trung thành đàn với số lượng rất lớn tựa vào bờ để
di cư ngược dòng nước. Từ sau năm 2000 tới 2006, các ch ình con di cư rất ít và
giảm dần. Đặc biệt, các năm 2004 -2005, tỉnh Ninh Thuận có lũ nhỏ, nước lũ không
cao, hiện tượng di cư của cá chình như trước đây rất hiếm thấy.
Ông Nguyễn Xuân Quang, một ngư dân sống ở vùng hồ chứa nước Sông Hinh
cho biết sau khi ngưng xả đập thấy xuất hiện cá chình con bằng tăm nhang cho đến
đầu đũa ở dưới đập, một số bám chết trên thành đập (kết quả điều tra vào tháng
VIII/2004).
Phần VII: SINH THÁI, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯ ỜNG
591
Theo ngư dân và cán bộ ban quản lý đập Trấm (Quảng Trị), cá chình con xuất
hiện rất nhiều dưới chân đập sau những đợt xả nước và thời kỳ cuối mùa lũ. Ngư
dân ở đây đã thu cá chình giống để nuôi lồng trên sông Thạch Hãn.
Trước năm 2000, người khai thác chưa chú ý đến cá chình có kích thước nhỏ.
Cá có kích thước nhỏ dưới 100g/con thường không được các chủ vựa thu mua. Từ
2000-2003 chúng được thu mua với giá rẻ (dưới 50.000 đồng/kg), nhưng đến năm
2004-2005 giá thu mua cá chình có kích thước nhỏ cũng cao gần như cá thịt (từ
200.000-240.000 đồng/kg (giá bán của các chủ vựa). Cá cỡ nhỏ từ 5g/con cũng
được thu gom cho các cơ sở nuôi. Một số chủ vựa cho biết, giống nhỏ th ường xuất
sang Trung Quốc.
Trong thời gian khảo sát thực địa, chúng tôi đã tổ chức điều tra, khảo sát
nguồn cá chình hương, cá chình giống ở các tỉnh miền Trung. Những năm tr ước,
cá chình hương, chình giống không ai quan tâm. Ngư dân ở một số vùng ở Quảng
Trị, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên có đánh bắt được, nhưng cũng chỉ sử dụng
làm thức ăn trong gia đình hoặc làm thức ăn cho gia súc. Họ cho biết có những
thời điểm số lượng khá nhiều, có thể thu vớt được 5-7kg trong một đêm kéo lưới
dày. Một số người biết đây là cá chình con, đem ương nuôi thử nhưng chỉ 1 tuần
là cá chết hết. Ngư dân đánh cá bằng lưới dày, te, vợt cũng bắt được cá chình
hương lẫn trong cá khác.
Cá chình gương ở các tỉnh miền Trung có thể gặp quanh năm, nh ưng nhiều nhất
là từ tháng VIII đến tháng II năm sau, t ùy khu vực. Chúng xuất hiện từ cửa sôn g
đến hạ lưu, trung lưu các con sông. (chúng tôi chưa có đi ều kiện để khảo sát ở vùng
bờ biển). Vào sông, cá tiếp tục di cư ngược dòng lên trung, thượng lưu sông, vào
các khe suối nhỏ. Tại các sông suối ở các v ùng núi cao ngư dân vẫn vớt được cá
chình hương.
Trong 5 năm trở lại đây, một số người nước ngoài đã chú ý đến nguồn cá chình
giống này của nước ta. Họ đã tiếp xúc với một số cơ quan quản lý ở địa phương,
cũng như đã sử dụng ngư cụ chuyên dùng như đáy dày cỡ nhỏ (kiểu đăng mé) đánh
khảo sát ở vùng cửa sông như:
Năm 2002, người Hàn Quốc đánh khảo sát ở Phú Hội huyện Tuy An tỉnh Phú Yên.
Năm 2005, người Trung Quốc đến Quảng Ngãi nhờ ngư dân đánh bắt khảo sát cá
chình gương, nhưng không có cơ quan quản lý Việt Nam giới thiệu nên người
dân địa phương không chấp nhận.
Năm 2005, người Trung Quốc gửi giao cho ngư dân ở Bình Định đăng với mắt
lưới dày của Trung Quốc (vừa bán, vừa cho) để đánh bắt cá ch ình nhỏ (chình
gương) bán cho họ (thường do những chủ vựa thu mua cá chình tổ chức).
Năm 2005 và 2006, người Nhật Bản cũng đang thăm dò nguồn giống này tại một
số điểm ở miền Trung.
Những kết quả khảo sát cá chình giống ở các tỉnh miền Trung cho thấy nguồn cá
chình con ở đây là tương đối lớn, mở ra khả năng ương nuôi thành cá chình giống để
Hội nghị KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 2007
592
cung cấp cho nghề nuôi cá chình, giảm áp lực đánh bắt “cá chình giống cỡ lớn” bằng
các “ngư cụ” mang tính hủy diệt tài nguyên và môi trường (chích điện, thuốc độc, chất
nổ,…).
2. Sự di cư của cá chình gương, chình hương, chình giống
Cá thường di chuyển về đêm, bơi ngược dòng, cặp theo bờ sông. Chúng thường
bơi thành đàn ở tầng giữa và gần tầng mặt.
Qua các đợt khảo sát và điều tra những ngư dân tại một số địa phương cho thấy sau
mùa lũ (vào tháng X-XII Âm lịch) cá chình con xuất hiện ở hạ lưu các sông ở các tỉnh
ven biển miền Trung, nhiều nhất là các sông, đầm: sông Thạch Hãn (Quảng Trị), sông
Trà Khúc (Quảng Ngãi), đầm Châu Trúc (Bình Định), sông Kỳ Lộ và sông Đà Rằng
(Phú Yên), sông Cái (Ninh Thuận),
Theo thông tin của các ngư dân sống gần các đập thủy lợi ở các tỉnh miền Tru ng
thì hầu như đập nào cũng phát hiện cá chình con di cư qua đập trong mùa lũ và sau mùa
lũ. Tuy nhiên, trong những tháng mùa khô, những lúc có mưa rào lớn kéo dài (tiểu
mãn), nước tràn qua các đập thủy lợi cũng quan sát thấy cá chình con di cư qua đập.
Sự di cư của cá chình con không chỉ phát hiện thấy ở hạ lưu của các con sông mà
còn phát hiện cả ở trung và thượng lưu. Như vậy, tốc độ di cư của cá chình con là khá
nhanh trên con đường ngược dòng từ cửa sông, hạ lưu lên trung, thượng lưu (từ cửa
sông đến đập xả tràn hồ Sông Hinh trên 50 km)
Sự di cư của cá chình con thường quan sát thấy nhiều vào thời gian cuối của các
cơn lũ, khi lượng nước lũ đã giảm, nước chảy qua đập tràn giảm nhẹ hơn (cũng có thể
cả lúc lũ lớn nhưng lúc đó ngư dân không quan sát đư ợc!). Cá chình gương thường mé
theo bờ của đập tràn nơi nước chảy nhẹ để vượt lên.
Cá chình con thường di cư nhiều vào ban đêm, khoảng 6 giờ tối đến 2-3 giờ sáng.
Đặc tính này cũng đã được kiểm chứng qua các lần đánh bắt khảo sát của chúng tôi tại
Phú Yên và Ninh Thuận
Khi di cư vào vùng cửa sông, hạ lưu, cá chình gương có trọng lượng trung bình là
0,18g/con (khoảng 5.500 con/kg), chiều dài trung bình 5cm.
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Cá chình gương di cư vào vùng cửa sông, hạ lưu với số lượng lớn vào mùa lũ và
đầu mùa khô. Tuy nhiên, phần lớn cá chình gương xuất hiện nhiều sau các cơn lũ
từ tháng X đến tháng II năm sau.
Các đập chắn thủy lợi, thủy điện trên các dòng sông ở các tỉnh ven biển miền
Trung là những chướng ngại cản trở sự di cư ngược dòng của cá chình gương,
chình hương, chình giống từ hạ lưu lên trung, thượng lưu để sinh sống. Xây dựng
các đường dẫn ở các đập chắn cho cá di cư qua đập là biện pháp hợp lý để bảo vệ
các loài cá di cư, trước hết là các loài cá chình.
Phần VII: SINH THÁI, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯ ỜNG
593
Nguồn giống (cá chình gương, cá chình hương, cá chình giống) ở vùng cửa sông,
hạ lưu các sông ở miền Trung tương đối lớn, đây là nguồn giống quan trọng cần
được bảo vệ và khai thác hợp lý để vừa bảo vệ các quần thể các chình trong tự
nhiên, vừa ương nuôi thành cá chình giống cung cấp cho nghề nuôi cá chình đang
phát triển ở nước ta, giảm áp lực đánh cá giống cỡ lớn bằng các ph ương tiện huỷ
diệt như hiện nay.
Đã thiết kế ngư cụ thích hợp (đăng có mắt lưới dày, đặt ngược dòng) để thu vớt cá
chình hương, và cá giống.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Hữu Dực, Mai Đình Yên (1994). Góp phần nghiên cứu họ cá chình
(Anguillidae). Tạp chí Khoa học Đại học Tổng hợp H à Nội (1)1994: 20-23.
2. Lê Bá Thảo (2001). Thiên nhiên Việt Nam. NXB Giáo Dục
3. Hoàng Đức Đạt, Nguyễn Xuân Thư, Nguyễn Xuân Đồng, Thái Ngọc Trí, Ngô Văn
Trí, Nguyễn Ngọc Sang (2006). Điều tra nguồn lợi cá chình (Anguilla) ở một số
tỉnh Miền Trung. Báo cáo đề tài khoa học cấp bộ, Bộ Thủy sản.
4. Arai Takaomi, Miho Marui, Michael J. Miller and Katsumi Tsukamoto (2002).
Growth history and inshore migration of the tropical eel, Anguilla marmorata, in
the Pacific. Marine Biology, 140, 309-316.
5. Arai Takaomi, Miho Marui, Tsuguo Otake and Katsumi Tsukamoto (2002).
Inshore migration of a tropical eel, Anguilla marmorata, from Taiwanese and
Japanese coasts. Fisheries Science, 68, 152-157, 2002.
6. Froese R., Pauly D. CD. FishBase (2000). ICLARM, Philippines.
7. Haryani G. S., (1998). Study on reproduction aspect of eel (Anguilla marmorata)
during migration period in Lake Poso, Central Sulawesi, v. 5(1) p. 51 -60,
Indonesia.
8. Miller M. J., K. Tsukamoto (2001). Evidence of a spawning area of Anguilla
marmorata in the North Equatorial Current of the Western North Pacific. Journal
of Taiwan Fisheries Research, 9, 191-198.
9. Miller, Michael J., Noritaka Mochioka, Tsuguo Otake and Kats umi Tsukamoto
(2002): Evidence of a spawning area of Anguilla marmorata in the western North
Pacific. Marine Biology, 140, 809-814.
Hội nghị KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 2007
594
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC THÀNH TỐ MƯA
axit LÊN TỶ LỆ NẨY MẦM, HÀM LƯỢNG clorophin,
CƯỜNG ĐỘ QUANG HỢP VÀ SINH KHỐI CỦA RAU CẢI
XANH (Brassia juncea L.)
Nguyễn Thị Kim Lan, Bùi Văn Lai
Viện Sinh học Nhiệt đới
MỞ ĐẦU
Bố trí thí nghiệm đa yếu tố với các mức tác động khác nhau dưới dạng ma trận
đã được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu sinh học và nông nghiệp [1]. Bài viết
này giới thiệu kết quả nghiên cứu ảnh hưởng các thành tố mưa axít (pH, lượng mưa
và tần suất mưa) lên tỷ lệ nảy mầm, hàm lượng clorophin và cường độ quang hợp
của rau cải xanh 15 và 30 ngày tuổi, qua đó xác định sinh khối v à năng suất hữu
dụng của rau cải xanh. Các số liệu thí nghiệm đ ã được xử lý và tính toán trên bảng
tính MS-Excel.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
a. Địa điểm, thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành tại Trại thực nghiệm Sinh học, Viện Sinh
học Nhiệt đới trong khoảng thời gian từ tháng 6 năm 2005 đến tháng 12 năm 2005.
b. Vật liệu nghiên cứu
Đối tượng thực nghiệm là rau cải xanh (Brassia juncea (L)), nước tưới cây là nước
mưa có pH = 6,2 được điều chỉnh pH ở các mức 4,0; 5,0 và 6,0 bằng H
2
SO
4
0,1N [3].
Lượng nước tưới cây tính cho 48giờ có các mức l à 10, 30 và 50mm/48giờ. Tần suất
nước tưới axít có các mức 36, 60 và 84%.
Đất thí nghiệm lấy tại Trại Thực nghiệm Sinh học, Viện Sinh học Nhiệt đới, l àm
tơi và trộn đều với 20% cát sông để đảm bảo tính đồng nhất cho các nghiệm thức. Các
nghiệm thức được đặt trong loại khay nhựa (20x50)cm
2
, chiều dày đất là 15cm. Trên
mỗi khay gieo đồng đều 250 hạt cải.
c. Bố trí thí nghiệm
* Các yếu tố phối hợp của mưa axít ảnh hưởng lên đối tượng nghiên cứu:
Phần VII: SINH THÁI, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯ ỜNG
595
Thí nghiệm phối hợp 3 yếu tố của mưa axít và 3 mức tác động lên tỷ lệ nảy mầm,
hàm lượng clorophin, cường độ quang hợp, sinh khối hữu dụng và năng suất hữu
dụng của rau cải xanh.
Các mức tác động của các “thành tố” mưa axít được chọn trong giới hạn tối thiểu
và tối đa của mưa axít: pH từ 4-6, tần suất 36-84% và lượng mưa 48 giờ từ 10-
50mm. Thí nghiệm bố trí theo ma trận 33.
Theo dõi, chăm sóc cây thí nghiệm: Cây thí nghiệm được phun tưới nước mỗi
ngày một lần vào lúc 9 giờ sáng trong thời gian 30 phút với lượng nước được tính
cho mỗi nghiệm thức trong 48 giờ. Khuôn vi ên thí nghiệm được che chắn ngăn
ngừa vật lạ và được kéo mái che khi trời mưa.
Các chỉ số quan trắc: Tỷ lệ nảy mầm (%), cường độ quang hợp (mol/m
2
/s), hàm
lượng clorophin (mg/g), sinh khối hữu dụng t ươi và khô (g), “năng suất” hữu dụng
tươi và khô (g).
Một vài chỉ số hóa học đất: pH (H
2
O), pH (KCl), Ca
2+
và Mg
2+
trao đổi, Al
3+
, Fe
3+
,
SO
4
2-
được đo đạc sau một tháng thí nghiệm rau cải xanh.
d. Thu thập, phân tích, xử lý số liệu
Số liệu được thu từ mỗi nghiệm thức (và đối chứng) với 3 lần lặp lại.
Áp dụng MS-Excel trong phân tích hồi qui tuyến tính đa tham số.
e. Thu thập thông tin và theo dõi hiện trường ảnh hưởng của mưa axít lên rau cải xanh
Thời gian, địa bàn theo dõi là mùa mưa năm 2005 (tháng 5-10) tại TP. Hồ
Chí Minh.
Các số liệu thống kê và theo dõi là diện tích, mùa vụ, mức độ ứng dụng kỹ
thuật trồng rau cải; sản lượng và năng suất của rau trồng.
Đánh giá khái quát ảnh hưởng của mưa axít lên nghề trồng rau cải: Ghi nhận mức
thiệt hại do mưa axít qua thực nghiệm và đánh giá thiệt hại “có thể” do mưa axít
theo hiện trạng sản xuất và kết quả thực nghiệm.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1. Ảnh hưởng phối hợp của các thành tố mưa axít lên rau cải xanh
Tỷ lệ nảy mầm, hàm lượng clorophin và cường độ quang hợp là 3 chỉ số quan
trọng bậc nhất quyết định sản lượng và năng suất cây trồng. Thí nghiệm trên 27 nghiệm
thức với 3 lần lặp lại cho kết quả như sau:
1.1. Tỷ lệ nảy mầm
Tỷ lệ nảy mầm của rau cải xanh đạt từ 36% ở nghiệm thức 16 (pH = 4,0, tần suất
tưới “nước axít” 84% và lượng nước tưới 30mm/48 giờ) đến 86% ở nghiệm thức 12
Hội nghị KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 2007
596
(pH=6,0, lượng nước tưới 30mm/48 giờ và không tưới “nước axít”). Các nghiệm thức
có tỷ lệ nảy mầm 45% là 1, 4, 7, 13, 19, 22 và 25, đó là nh ững nghiệm thức có nước
tưới pH = 4,0. Ngoài pH của nước tưới, lượng nước tưới/ngày và “nước tưới axít” có
tần suất cao là các yếu tố điều chỉnh tỷ lệ nảy mầm của rau cải xanh thí nghiệm.
Phương trình tương quan giữa tỷ lệ nảy mầm của rau cải xanh với tác động phối
hợp của pH, tần suất tưới “nước axít” và lượng nước tưới được xác định là:
M = - 7,23148 + 13,7222x
1
- 0,13888x
2
+ 0,13055x
3
(R
2
= 0,70) (1)
Trong đó: . M: tỷ lệ nảy mầm (%)
. x
1
: giá trị pH
. x
2
: tần suất tưới “nước axít” (%)
. x
3
: lượng nước tưới (mm/48giờ).
Từ hàm tương quan trên ta thấy trị số pH có vai trò điều chỉnh quan trọng nhất
(
1
= 13,7). Các yếu tố còn lại là lượng nước và tần suất “nước tưới axít” trong giới
hạn thí nghiệm chỉ có ý nghĩa điều tiết thứ cấp (
2
= 0,14 và
3
= 0,13).
1.2. Hàm lượng clorophin (mg/g)
Nhìn tổng thể, hàm lượng clorophin tổng cộng (CloT) của rau cải xanh 15 ng ày
tuổi cao hơn của rau cải xanh 30 ngày tuổi. Cả hai trường hợp đều có sự giảm hàm
lượng CloT khi pH giảm. Điều này liên quan đến phản ứng của lá khi bộ rễ bị ngộ độc
H+ [2], [4].
Theo đánh giá của Izuta (2004) [4], khi lá cây bị ngộ độc H+ (v à Al
3
+), thì “hàm
lượng tương đối” của clorophin b (Clob) trong lá giảm xuống. Kết quả thí nghiệm cho
thấy với rau cải xanh 15 ngày tuổi, tính quy luật về biến đổi hàm lượng tương đối của
Clob là khá rõ (ngoại trừ pH = 6,0), trong khi với rau cải xanh 30 ngày tuổi trong
khoảng pH từ 4,2 đến 5,7, tỷ lệ Clob/CloT hầu nh ư không thay đổi.
Mối quan hệ giữa hàm lượng CloT với các thành tố mưa axít (pH, tần suất mưa
axít và lượng mưa) được thể hiện bằng các phương trình tương quan sau:
* Đối với rau cải xanh 15 ngày tuổi:
y = 0,695 + 0,093x
1
- 0,0019x
2
- 0,0005x
3
(R
2
= 0,74)
Phương trình rút gọn là: y = 0,695 + 0,093x
1
- 0,0019x
2
(2)
* Đối với rau cải xanh 30 ngày tuổi:
y = 0,322 + 0,118x
1
- 0,0023x2 - 0,0003x
3
(R
2
= 0,80)
Phương trình rút gọn là: y = 0,322 + 0,118x
1
- 0,0023x
2
(3)
Trong đó: . y - hàm lượng clorophin tổng số (mg/g)
. x
1
- giá trị pH