Dự án quản lý PCB tại Việt Nam - Tài liệu tập huấn giảng viên về kỹ năng truyền thông PCB
=============================================================================
_________________________________________________________________________
Module 2 - Các tác động của POP/PCB (phiên bản 02) Trang 1
MODULE II: CÁC TÁC ĐỘNG CỦ A POP/PCB
I. ĐỘC TÍNH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA PCB/POP ĐẾN SỨC KHỎE CON
NGƯỜI VÀ MÔI TRƯỜNG
1.1. Con đường PCB xâm nhập vào môi trường và cơ thể con người
1.2. Ảnh hưởng của POP đến sức khỏe con người và môi trường
1.3. Ảnh hưởng của PCB đến sức khỏe con người và môi trường
II. PHÒNG CHỐNG RỦI RO LIÊN QUAN ĐẾN PCB
2.1. Biện pháp an toàn cho những người tiếp xúc trực tiếp với PCB
2.2. Phòng ngừa rủi ro liên quan đến POP/PCB
III. CÔNG NGHỆ XỬ LÝ POP/PCB
3.1. Công nghệ thiêu đốt ở nhiệt độ cao
3.2. Công nghệ khử hóa học
Dự án quản lý PCB tại Việt Nam - Tài liệu tập huấn giảng viên về kỹ năng truyền thông PCB
=============================================================================
_________________________________________________________________________
Module 2 - Các tác động của POP/PCB (phiên bản 02) Trang 2
I. ĐỘC TÍNH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA PCB/POP ĐẾN SỨC KHỎE CON
NGƯỜI VÀ MÔI TRƯỜNG
Độc tính là mộ t khái niệm về liều lượng; các hóa chất/hỗn hợp chất đều độc
ở một liều lượng nhất định và ở một khoảng thời gian tiếp xúc nhất định. Độc tính
có thể cấp thời (độc cấp tính), có thể lâu dài (độc mãn tính) và biến động khác nhau
giữa các cơ quan trong cơ thể, biến động theo lứa tuổ i, di truyền, giới tính và tình
trạng sức khỏe. Cách xác định độc tính của một chất đơn giản nhất là qua giá trị
LD
50
(Lethal Dose - nồ ng độ cần thiết để giết chết 50% một quần thể sinh vật trong
điều kiện nhất định. Ví dụ: giá trị LD
50
của PCB đối với chuột (qua đường miệng)
là 1 g/kg khối lượng cơ thể.
Ngày nay, các cơ chế gây độc đã được nghiên cứu nhằm mô tả các quá trình
từ khi giai đoạn phơi nhiễm đến tử vong.
- Độc học hóa sinh và phân tử (biochemical and molecular toxicology): nghiên
cứu quá trình gây độc ở khía cạ nh hóa sinh và phân tử, bao gồm: các enzyme
tổng hợp các ngoại độc tố sinh học, sự sinh ra các hoạt chất trung gian, phản
ứng của ngoại độc tố sinh học hoặc sản phẩm của chúng với các hợp chất cao
phân tử.
- Độc học hành vi (Behavioral toxicology): nghiên cứu ảnh hưởng của các chất
độc đối với hành vi của động vật và con người; đây là quá trình biểu hiện chức
năng của thần kinh, gồm hệ thống thần kinh ngoại biên và thần kinh trung
ương, cũng như tác động đến các cơ quan khác
- Độc học dinh dưỡng (Nutritional toxicology): nghiên cứu ảnh hưởng của khẩu
phần ăn đến sự nhiễm độc và các cơ chế ảnh hưởng.
- Ung thư (Carcinogenesis): nghiên cứu các quá trình hóa học, sinh hóa và phân
tử dẫ n đến sự tăng sinh tế bào mộ t cách bất thường có nguy cơ dẫn đến bệnh
ung thư.
- Đột biến (Mutagenesis): nghiên cứu ảnh hưởng của độc chất lên vật liệu di
truyền và sự di truyền những ảnh hưởng này.
- Độc tính cơ quan (Organ toxicity): xem xét các ảnh hưở ng ở mức độ chức
năng của từng cơ quan trong cơ thể.
1.1. Con đường PCB xâm nhập vào môi trường và cơ thể con người
PCB xâm nhập vào môi trường:
PCB phát thải vào môi trườ ng bằng nhiều con đường như: thải bỏ trực tiếp
hoặc sự cố tràn đổ và rò rỉ dầu chứa PCB từ các thiết bị điện như máy biến thế, tụ
điện hoặc dầu thủy lực; từ những bãi tập trung thiết bị chứa PCB không được quản
lý thích hợp; thông qua việc tiêu hủy chất thải PCB bất hợp pháp hoặc không đúng
Dự án quản lý PCB tại Việt Nam - Tài liệu tập huấn giảng viên về kỹ năng truyền thông PCB
=============================================================================
_________________________________________________________________________
Module 2 - Các tác động của POP/PCB (phiên bản 02) Trang 3
quy cách; các quá trình lưu giữ, xử lý không thích hợp; thải bỏ những sản phẩm có
chứa PCB như các chất thải nhựa, sơn ở khu dân cư hoặc bãi chôn lấp chất thải
thông thường; PCB cũng có thể hình thành và phát thải không chủ định từ việc đốt
rác thải sinh hoạt hoặc công nghiệp .
Khi được thải vào môi trường, PCB đi vào các thành phầ n môi trường như
đất, nước và bay hơi vào không khí. PCB thông qua chu trình tuần hoàn tự nhiên
của nước và không khí có thể di chuyển rất xa nơi phát thải. PCB ở dạng càng nhẹ
thì càng được di chuyển xa nguồn phát thải.
Trong môi trường, PCB có kích thước lớn và ít tan trong nước, do đó có
khuynh hướ ng tách khỏi pha nước phân cực và hấp thụ trên bề mặt đấ t, trầ m tích
hoặc các hạt keo lơ lửng. Trong môi trường nước, quá trình lắng đọng trầm tích có
chứa PCB diễn ra mạnh. Quá trình tích luỹ PCB trong trầm tích giúp cố định PCB
trong một khoảng thời gian dài trong môi trường nước, do vậy PCB thường tồn tại
với hàm lượng tương đối cao trong trầm tích. Khi nhiệt độ cao, PCB tái hòa tan từ
trầm tích vào nước và bay hơi vào không khí.
Trong không khí PCB được vận chuyển, lan truyền bởi các quá trình lắng
đọng khô và lắng đọng ướt và quay trở lại mặt đất và môi trường nước. PCB xâm
nhập vào đất khi trời mưa hoặc tuyết (lắng đọng ướt), hoặc khi chúng ở dạng hạ t,
như bụi hoặc bồ hóng, và ổn định trên mặt đ ấ t (lắng đọng khô). PCB cũng có thể
xâm nhập vào đất do côn trùng vận chuyển. PCB trong đất và nước có thể đi vào
chuỗi thức ăn.
Dưới đây là sơ đồ mô tả con đường PCB đi vào môi trường.
Dự án quản lý PCB tại Việt Nam - Tài liệu tập huấn giảng viên về kỹ năng truyền thông PCB
=============================================================================
_________________________________________________________________________
Module 2 - Các tác động của POP/PCB (phiên bản 02) Trang 4
Thiết bị kín
Chất lỏng cách điện
Biến áp
Tụ điện
Lò vi sóng
Điều hòa
Động cơ diện
Chấn lưu đèn huỳnh quang
Thiết bị điện từ
Thiết bị bán kín
Dầu thủy lực
Dầu truyền nhiệt
Bộ chuyển mạch
Bộ điều khiển điện áp
Ngắt mạch
Bơm chân không
Cáp điện
Thiết bị hở
Mực in
Dầu bôi trơn
Sáp
Chất cống cháy
Chất kết dính
Chất phủ bề mặt
Vật liệu phân cách
Thuốc trừ sâu
Thuốc nhuộm
Sơn
Nhựa đường
Chất lỏng ngưng tụ đường ống
Chất hóa dẻo
Chất thải
Bông cách điện, nhiệt thải
Từ sản phẩm phế phẩm
Cặn dầu tầu thủy
Sự cố rò rỉ
Thiết bị quá hạn làm việc
Phá dỡ công trình xây dựng
Tái chế
Dầu (Thị trường dầu khoáng)
Giấy copy không cacbon
Chất dẻo
Lưu chứa tạm thời/tiêu hủy vĩnh viễn
Thiết bị lưu chứa tạm thời
Thiêu đốt nhiệt độ cao
Kho chứa ngầm
Xử lý hóa học
Hydrohóa
Bãi thải
công
nghiệp
Bãi chôn lấp
Sản phẩm từ
vật liệu tái
chế
Đất
Khí
Nước
Thực phẩm
Đường di chuyển của PCB qua sản xuất, sử dụng và thải
Tái chế các sản phẩm phế phẩm và sản phẩm cũ
Hình 1: Con đường đi vào môi trường của PCBs
PCB xâm nhập vào cơ thể người:
PCB thâm nhập vào cơ thể chủ yếu qua 3 con đường sau: tiêu hóa, tiế p xúc
qua da và hô hấp Khả năng tích luỹ sinh học của PCBs tăng cùng với sự tăng hàm
lượng clo trong phân tử và sự giảm tính tan trong nư ớc. Mức độ tích luỹ sinh học
thay đổi tuỳ theo đặc điểm của từng loài động vật. Loài nào có lượng mỡ trong cơ
thể càng cao thì càng dễ bị nhiễm PCB và ngược lại loài nào có lượng mỡ trong cơ
thể thấp thì càng ít có nguy cơ nhiễm PCB.
PCB có thể tồn tại trong môi trường và mô mỡ động vật trong thời gian dài
và theo chuỗi thức ăn. PCB được tìm thấy trong các mô mỡ của động vật sống trong
nước hay trên mặ t đất, đặc biệ t là những động vật đứng đầ u chuỗi thức ăn. Do đó,
con người cũng có thể tích lũy PCB từ thức ăn. Cá, các loài chim ăn thịt, động vật
có vú và con ngườ i theo chuỗi thức ăn hấp thụ PCB/POP với nồng độ ngày càng
lớn. Khi các cá thể nhiễm PCB/POP di chuyển thì các chất ô nhiễm này sẽ di
chuyển theo.Vì thế, PCB/POP có thể được tìm thấy ở người và động vậ t sống ở Bắc
Cực, khu vực cách xa hàng ngàn cây số đối với các nguồ n phát thải.
Dự án quản lý PCB tại Việt Nam - Tài liệu tập huấn giảng viên về kỹ năng truyền thông PCB
=============================================================================
_________________________________________________________________________
Module 2 - Các tác động của POP/PCB (phiên bản 02) Trang 5
Hình 2: Sơ đồ mô tả sự tích lũy sinh học của PCB/POP
1.2. Ảnh hưởng của POP đế n sức khỏe con người và môi trường
Con người có thể nhiễm các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POP) qua
chế độ ăn uống, tai nạn lao động và môi trường ô nhiễm (kể cả môi trường trong
nhà). Tiếp xúc với các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy POP, dù cấp tính hay mãn
tính, liên quan trực tiếp hay gián tiếp, sức khỏe con người sẽ bị tác động theo chiều
hướng có hại gây ra bệnh tật.
Hiện nay chúng ta gặp khó khăn trong thiết lập mối quan hệ nguyên nhân -
hậu quả của việc tiếp xúc giữa con người và các chất hữu cơ ô nhiễm khó phân hủy,
hàng ngày con người tiếp xúc với rấ t nhiều yếu tố môi trường, trong đó có thể chứa
nhiều hỗn hợp các hóa chất và ở nhiều thời điểm khác nhau. Việc xác định mối liên
quan giữa việc tiếp xúc với các chất POP và những ảnh hưởng của nó là rất khó
khăn, do hàng ngày con người tiếp xúc với nhiều yếu tố môi trường, trong đó có
nhiều loại hóa chất và ở nhiều thời điểm khác nhau. Các nghiên cứ u về tác động các
chất POP đến sức khỏe con ngườ i vẫn đang được tiếp tục thực hiện để giảm thiểu
tác động của POP và tiến tới hạn chế và loại bỏ các chất POP .
Những biểu hiện trực tiếp cho thấy ảnh hưởng của POP tới sức khỏe con
người là những hiện tượng bất thường khi tiếp xúc với POP nồng độ thấp trong môi
trường và chuỗi thức ăn. Các thí nghiệm trên động vật và các nghiên cứu dịch tễ
học lâm sàng trên người và trên tế bào nuôi cấy đã chứng minh mối liên quan giữa
việc tiếp xúc quá nhiều một số chất POP và một loạt các hiệu ứng sinh học như: rối
loạn nội tiết, rối loạn chức năng sinh sản, hệ thống miễn dịch, hệ thống thần kinh và
ung thư (theo nhiều tác giả, một số chất POP được xem xét như mộ t nguyên nhân
Dự án quản lý PCB tại Việt Nam - Tài liệu tập huấn giảng viên về kỹ năng truyền thông PCB
=============================================================================
_________________________________________________________________________
Module 2 - Các tác động của POP/PCB (phiên bản 02) Trang 6
chính của bệnh ung thư gan, phổi và ung thư vú ở phụ nữ,…). Đối với trẻ sơ sinh,
một số chất POP gây ra sự suy giảm hệ thống miễn dịch, làm gia tăng khả năng
nhiễm trùng cùng với sự phát triển bất thường của hệ thống thần kinh, giảm phát
triển trí tuệ, sinh ra các khối u và ung thư. Các tác động có thể xảy ra trong phạm vi
hẹp ở địa phương cũng như quy mô khu vực do tính chất bền vững và lan truyền
rộng của các chất POP.
Hiện nay, các nước đang phát triển đang đối diện với nguy cơ liên quan đến
POP khi tập quán sử dụng các chất POP trong nông nghiệp vẫn còn phổ biến. Mộ t
con đường phơi nhiễm khác được coi như rủi ro nghề nghiệp khi công nhân tiếp xúc
với POP trong quá trình quản lý chất thải nguy hại dù tiếp xúc trong thời gian ngắn
các chất POP nhưng với nồng độ cao sẽ vẫn có thể gây ra bệ nh tật và tử vong. Một
nghiên cứu cho thấy, năm 1990 ở Philippines, Endosulfan trở thành một trong
những nguyên nhân gây ngộ độc cấp tính khi nông dân tiếp xúc với thuốc trừ sâu
trong quá trình phun thuốc.
Do thiếu trang thiết bị an toàn, điều kiện làm việc không đảm bả o và nhận
thức của cộng đồng nói chung và của những người thường xuyên tiếp xúc với các
chất POP còn thấp, vì vậy tác động của POP đến sức khỏe con người trở nên trầm
trọng hơn. Việc đánh giá tác động của POP đến những người xung quanh (không
tiếp xúc trực tiếp với các chất POP) cũng gặp nhiều khó khăn do sự bất cập trong
công tác quan trắc môi trường xung quanh và thiếu số liệu về dịch tễ.
Trong một báo cáo, tại khu vực phía Đ ông Nam Thổ Nhĩ Kỳ đã xảy ra vụ
ngộ độc thực phẩm liên quan đến HCB, hậu quả là 90% những người tiếp xúc trực
tiếp có các biểu hiện như: xơ gan, rối loạn chuyển hóa porphyrin, rối loạn tiết niệ u,
viêm khớp và các bệnh về thần kinh và tư vong. Một sự cố nghiêm trọng khác xảy
ra tại Italia vào năm 1976, khi một lượng lớn Dioxin 2,3,7,8-TCDD phát thải vào
môi trường, dẫn đến nhiễm độc clo. Đến nay, Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ EPA
vẫn đang tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của chất độc da cam liên quan đến sức
khỏe con người đặc biệt là những vấn đề liên quan đến rối loạn sinh sản, nhiễm độc
thần kinh và ung thư.
Các nghiên cứu về người lao động tiếp xúc với 2,3,7,8-TCDD, cũng như kết
quả trong phòng thí nghiệm cho thấy mứ c độ phơi nhiễm Dioxin/Furan liên quan
đến tỉ lệ các ca mắc bệnh ung thư. Một số tác giả đã chứng minh được mối liên
quan việc giữa tiếp xúc với một số chất POP và hiện tượng rối loạn chức năng sinh
sản và tỷ lệ sinh sản bất thường. Bà mẹ trong thời gian mang thai tiếp xúc với
TCDD mặc dù không có dấu hiệu nhiễm bệnh nhưng khi sinh tỉ lệ mắc bệnh ẩn tinh
hoàn ở trẻ sơ sinh nam tăng lên. Nhiều kết quả nghiên cứu cũng cho thấy tỉ lệ phụ
nữ mắc bệnh ung thư vú tỉ lệ với nồng độ DDE và PCB tiếp xúc.
Dự án quản lý PCB tại Việt Nam - Tài liệu tập huấn giảng viên về kỹ năng truyền thông PCB
=============================================================================
_________________________________________________________________________
Module 2 - Các tác động của POP/PCB (phiên bản 02) Trang 7
Các nhà khoa học Thụy Điển chỉ ra chế độ ăn uống nhiễm PCB, Dioxin và
Furan có liên quan đến sự suy giảm số lượng bạch cầu, đối với trẻ em tỉ lệ nhiễm
trùng cao hơn 10 - 15 lần. Thai nhi và trẻ sơ sinh đặc biệt dễ tổ n thương khi tiếp xúc
với các chất POP, các chất này có thể xâm nhập qua nhau thai và sữa mẹ . Cư dân
Bắc Cực thuộc Canada tiêu thụ số lượng lớn thủy sản nhiễm PCB, vượt quá mức độ
tiêu thụ cho phép, dẫn đến nguy cơ rối loạn sinh sản và sự phát triển. Trẻ em ở khu
vực Quebec, Canada tiếp xúc với PCB, Dioxin và Furan thông qua sữa mẹ dẫn đến
tỉ lệ mắc bệnh nhiễm trùng tai lớn hơn so với trẻ em ăn sữa ngoài.
1.3. Ảnh hưởng của PCB đến sức khỏe con người và môi trường
a) Mối liên hệ giữa hoạt tính sinh học và cấu trúc của PCB
Nhiều nghiên cứ u đã chỉ ra rằng độc tính của PCB phần nhiều là do sự có
mặt của các đồng phân dạng phẳng. Khả năng một cấu tử PCB có cấu trúc dạng
phẳng hay không là tuỳ thuộc vào vị trí thế của các nguyên tử clo trong phân tử
PCB. Đối với các đồng phân dạng phẳng, PCB không có hoặc chỉ có một nguyên tử
clo thế ở vị trí octo của vòng biphenyl. Lúc này, khả năng quay quanh trục liên kết
C - C của 2 vòng phenyl là rất lớn do các yếu tố cả n trở đã được hạn chế. Nói chung,
vị trí thế clo liên quan nhiều đến hoạt tính của PCB hơn so với số lượng các nguyên
tử clo thay thế hydro.
Trong số 209 cấu tử PCB, về mặt lý thuyết có khoảng 20 cấu tử có tính đồng
phẳng do clo không thế vào vị trí octo. Các PCB đồng phẳng này hầu như bị quy
hoàn toàn trách nhiệm với các tác động môi trường do sự đáp ứng độc tính sinh học
của các PCB đồng phẳng này là rất cao. Trong số này, ba PCB đồng phẳng không
chứa clo ở vị trí octo là: 3,3’,4,4’- tetraclobiphenyl (PCB 77), 3,3’,4,4’,5-
pentaclobiphenyl (PCB 126) và 3,3’,4,4’,5,5’- hexaclobiphenyl (PCB 169) được
xem là độc nhấ t và độ độc tương đương với dioxin (T
4
CDD) và furan (P
5
CDF).
Trong đó 3,3’,4,4’,5 - pentaclobiphenyl (CB 126) được xem là độc nhất.
Bảng 1: Giá trị hệ số độc tương đư ơng của các PCB đồng phẳng so với các
dioxin và furan (các hóa chất được coi là độc nhất hiện nay)
Dioxin
I-TEF
(b)
WHO TEF
(a)
2,3,7,8-TeCDD
1
1
1,2,3,7,8-PeCDD
1
1
1,2,3,4,7,8-HxCDD
0,1
0,1
1,2,3,6,7,8-HxCDD
0,1
0,1
1,2,3,7,8,9-HxCDD
0,1
0,1
1,2,3,4,6,7,8-HpCDD
0,01
0,01
OCDD
(c)
0,001
0,0001
Furan
Dự án quản lý PCB tại Việt Nam - Tài liệu tập huấn giảng viên về kỹ năng truyền thông PCB
=============================================================================
_________________________________________________________________________
Module 2 - Các tác động của POP/PCB (phiên bản 02) Trang 8
2,3,7,8-TeCDF
0,1
0,1
1,2,3,7,8-PeCDF
0,05
0,05
2,3,4,7,8-PeCDF
0,5
0,5
2,3,7,8-PeCDF
0,1
0,1
1,2,3,4,7,8-HxCDF
0,1
0,1
1,2,3,6,7,8-HxCDF
0,1
0,1
2,3,4,6,7,8-HxCDF
0,1
0,1
1,2,3,4,6,7,8-HpCDF
0,01
0,01
1,2,3,4,7,8,9-HpCDF
0,01
0,01
OCDF
(d)
0,001
0,0001
Coplana hay non-ortho PCB
PCB #77
(e)
-
0,0001
PCB #81
-
0,0001
PCB #126
-
0,1
PCB #169
-
0,01
mono-ortho PCB
PCB #105
-
0,0001
PCB #114
-
0,0005
PCB #118
-
0,0001
PCB #123
-
0,0001
PCB #156
-
0,0005
PCB #157
-
0,0005
PCB #167
-
0,00001
PCB #189
-
0,0001
(a)
giá trị TEF được qui định bởi WHO (1998);
(b)
Giá trị I-TEF theo quy định quốc tế;
(c)
viết tắt của
octachloro dibenzo-p-dioxin;
(d)
viết tắt của octachloro dibenzo furan;
(e)
số thứ tự quy định bởi
UIPAC cho các PCBs.
b) Ảnh hưởng của PCB đến sức khỏe con người và môi trường
PCB có thể gây ra các ảnh hưởng cấp tính và mãn tính đối với sức khỏe: (1)
Cấp tính: Cơ quan đầu tiên bị PCB tác động là gan, gây thương tổn, nổi mụn, cháy
da và mắt; (2) Mãn tính: gây ung thư, tác động đối với sinh sản (rối loạn nội tiết) và
phát triển của trẻ (ảnh hưởng hệ thần kinh, chỉ số IQ).
Dự án quản lý PCB tại Việt Nam - Tài liệu tập huấn giảng viên về kỹ năng truyền thông PCB
=============================================================================
_________________________________________________________________________
Module 2 - Các tác động của POP/PCB (phiên bản 02) Trang 9
Nổi mụn da ở người nhiễm PCB Dị tật ở trẻ sơ sinh do phơi nhiễm PCB
Con người bị phơi nhiễm PCB qua đường tiêu hóa và hô hấp, riêng trẻ sơ
sinh có thể bị phơi nhiễm PCB chứa trong sữa mẹ. Thông thường, con người bị
phơi nhiễm khi ăn những thực phẩm bị nhiễm độc đặc biệt là thịt, cá và gia cầm. Sự
hấp thụ PCB qua thức ăn đối với người lớn đã tăng tới mức cao cuối vào những
năm 1970 nhưng sau đó đã giảm vào những năm 1990.
Bình thường, con người bị phơi nhiễm với hàm lượng thấp PCB tồn tại trong
không khí khi hít thở, cả trong nhà và ngoài trời. Tuy nhiên, tại các nhà máy sử
dụng PCB, mật độ chất này có thể cao hơn rất nhiều và công nhân làm việc ở đó
thường có nguy cơ nhiễm độc cao hơn do thời gian và cường độ tiếp xúc lớn. Ngoài
ra, chúng ta cũng có thể bị phơi nhiễm với PCB hàm lượng thấp trong nước uống
mặc dù mức độ tập trung của PCB thường quá thấp để đo được.
Khi theo dõi các động vật thí nghiệm, các nhà khoa học cho biết ở động vật,
phơi nhiễm PCB với một liều lượng lớn có thể gây ra bệnh tiêu chảy, những khó
khăn về hô hấp, tình trạng bị mất nước, phản ứng với cảm giác đau bị suy giảm và
hôn mê. PCB được phát hiện là phá huỷ phổi, dạ dày và tuyến tuỵ. Phơi nhiễm với
liều lượng thấp PCB trong một thời gian ngắn có thể gây hại đến chức năng của
gan và tuyến giáp, phơi nhiễm trong thời gian dài có thể dẫn đến ung thư gan.
Những ảnh hưởng về khả năng sinh sản, cơ quan sinh sản và hoạt động của
hoócmon nữ cũng đã đượ c phát hiện thấy ở các động vật thí nghiệm bị phơi nhiễm
với các liều lượ ng cao PCB qua thức ăn trong một thời gian dài. Những cá thể cái
được cho ăn thức ăn có chứa PCB trong suốt thời kỳ mang thai và cho con bú, kết
quả là người ta phát hiện thấy nhiều con non gặp khó khăn về việc học hỏi và ứng
xử (các phản xạ vô điều kiện, có điều kiện trong tập tính sinh hoạt, kiếm sống …
của chúng). Ở nhữ ng con non này, sự phát triển của hệ thống miễn dịch và một số
các cơ quan như gan, tuyến giáp và thận cũng bị ảnh hưởng bởi sự phơi nhiễm PCB.
Những động vật trưởng thành dường như ít nhạy cảm với ảnh hưởng của PCB hơn
thai nhi.
Dự án quản lý PCB tại Việt Nam - Tài liệu tập huấn giảng viên về kỹ năng truyền thông PCB
=============================================================================
_________________________________________________________________________
Module 2 - Các tác động của POP/PCB (phiên bản 02) Trang 10
Con người có thể hấ p thụ PCB bằng việc ăn hay uống những thực phẩm bị
nhiễm độc mặc dù mức độ và liều lượng ít hơn so với việc hít thở không khí bị
nhiễm độc hoặc qua da. Một khi cơ thể đã hấp thụ thì PCB đi vào các màng tế bào,
mạch máu và hệ bạch huyết. Mức độ tập trung PCB cao nhất thường tìm thấ y trong
gan, mô tế bào, não, da và máu. Đối với các bà mẹ, người ta phát hiện thấy PCB đi
vào máu ở cuống rốn, nhau thai và sữa mẹ. Nhiều nghiên cứu cho thấy PCB gây ảnh
hưởng xấu đến thai nhi. Ví dụ, nghiên cứu 242 cặp mẹ con, những người sử dụ ng
cá nhiễm PCB từ hồ Michigan và 71 cặp mẹ con đối chứng cho thấy việc tiêu thụ
quá mức lượng cá trên và mức độ nhiễm PCB trong huyết thanh có ảnh hưởng đến
thai nhi: cân nặng khi sinh nhỏ hơn, chu vi đầu nhỏ hơn, thờ i gian mang thai ngắn
hơn. Đánh giá ảnh hưởng của PCB đối với trẻ lên 4 thông qua hai bài test đặc
trưng,cho thấy không có dấu hiệu suy giảm hay thay đổi khả năng nhận thức.
Nghiên cứu tiếp theo ở độ tuổi 11 cho thấ y PCB có ảnh hưởng đến chỉ số IQ. Ảnh
hưởng lớn nhất của PCB là ảnh hưởng lên trí nhớ và khả năng tập trung. Phần lớn
những đứa trẻ này có chỉ số IQ trung bình và khả năng nhận thức kém.
Đối với trẻ em, sau khi theo dõi gần 500 em trai tại LB Nga trong thờ i gian 3
năm, một nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế đã nhận thấy rằng những em trong máu
có hàm lượng (PCB) PCB cao đều thấp hơn so với những em có hàm lượng PCB
thấp, trung bình là 3 cm dù sống trong cùng một khu vự c địa lý. Không những chỉ
chiều cao mà cả chỉ số khối lư ợng cơ thể (viết tắt BMI - xác định mối tương quan
giữa cân nặng và chiều cao) cũng bị ảnh hưởng. Chỉ số này ở những em bị phơi
nhiễm trong môi trường có PCB cũng thấp hơn bạn bè 2 đơn vị.
Ngoài ra trẻ em bị nhiễm PCB có nguy cơ mắc các bệnh về gan, hệ hô hấp,
hệ thần kinh, hệ miễn dịch cao hơn so vớ i người lớn. Khả năng nhận thức và học
tập của các em cũng thấp hơn so với những trẻ không bị nhiễm PCB.
Các nhà khoa học Hà Lan cũng đã nghiên cứ u những hiệu ứng miễn dịch của
những đứa trẻ từ khi sinh đến 18 tháng tuổi. Sự miễn dịch được sinh ra được xác
định bởi sự tạo thành các kháng thể bệnh Quai bị, Sởi và Thổ tả. Số những lần bị
viêm mũi, phế quản và Abidan Amidan trong 18 tháng đầu được ghi nhận để đánh
giá tình trạng sức khỏe. Nghiên cứ u này không tìm thấy tương quan giữa việc tiếp
xúc PCB sau khi sinh đến khi 18 tháng tuổi với các bệnh như: viêm phế quản, viêm
mũi, Amidan. Cũng những đứa trẻ này ở 42 tháng tuổi người ta xác định rằng khả
năng miễn dịch thấp hơn những đứa trẻ khác không tiếp xúc với PCB.
Rất khó xác định được việc phơi nhiễm PCB tới mức độ nào thì ảnh hưởng
đến sức khoẻ của con người. Những người khác nhau sẽ phơi nhiễm với lượng và
hỗn hợp các chất PCB khác nhau, cũng có thể họ có thể bị phơi nhiễm cùng lúc với
các chất độc khác.
Dự án quản lý PCB tại Việt Nam - Tài liệu tập huấn giảng viên về kỹ năng truyền thông PCB
=============================================================================
_________________________________________________________________________
Module 2 - Các tác động của POP/PCB (phiên bản 02) Trang 11
Nhiều nghiên cứu cho thấy có sự liên quan giữa phơi nhiễm PCB và sự gia
tăng nguy cơ ung thư hệ tiêu hoá, gan và da . Hơn nữa, hàm lượng PCB trong máu
cao có thể liên quan tới ung thư hệ bạch huyế t.
Phơi nhiễm PCB cũng có thể ảnh hưởng đế n quá trình sinh sản, làm giảm
khả năng sinh sản ở nữ giới đồng thời làm giảm số lượng tinh trùng của nam giới.
Nếu sự phơi nhiễm PCB trong thời kỳ mang thai và cho con bú có thể liên quan tới
sự chậm tăng trưởng và phát triển chậm của trẻ sơ sinh và giảm khả năng miễn dịch.
Sự phơi nhiễm PCB cũng có thể liên quan tới những ảnh hưởng đến thần
kinh (như tình trạng tê liệt và đau đầu), khả năng nhiễm bệnh thường xuyên hơn, sự
thay đổi của da, đặc biệt là các chứng phát ban và ngứa.
Như vậy, POP và PCB hiện diện rất nhiều trong cuộc số ng và tác hại do ô
nhiễm các chất này có thể rất lâu dài. Do đó, Công ước Stockholm yêu cầu phải loạ i
bỏ việc sử dụng PCB dưới dạng hóa chất công nghiệp vào năm 2025; tiêu hủy dầu
và chất thải chứa PCB (với nồng độ cao hơn 50 ppm) trước năm 2028. Là thành
viên thứ 14 của Công ước từ năm 2002, Việt Nam đã và đang thực hiện nhiều dự án
liên quan đến quản lý POP. Song việc quản lý, xử lý an toàn PCB vẫn còn nhiều
khó khăn do chính sách chưa hợp lý, chế tài chưa đủ mạnh; việc kiểm kê đánh giá
hiện trạng về PCB chưa đầy đủ, thường xuyên và hiệu quả; năng lực quản lý còn bất
cập; nhận thức của doanh nghiệp, cộng đồng về tính nguy hại của PCB, POP còn
hạn chế,
II. PHÒNG CHỐNG RỦI RO LIÊN QUAN ĐẾN PCB
2.1. Biện pháp an toàn cho những người tiếp xúc trực tiếp với PCB
Những người làm việc trong môi trường có chứa PCB hoặc có khả năng tiếp xúc
với PCB cần được trang bị các thiết bị bảo hộ thích hợp.
Nhiệm vụ
Thiết bị bảo hộ cá nhân
Lấy mẫu chất lỏng hoặc đất có
chứa PCB
• Găng tay (nhựa dẻo hay Nitrile, không
dùng loại nhựa mủ)
• Mặt nạ hô hấp loại nhẹ (Filter A2P2; cho
hạt và hơi hữu cơ, tùy ý)
Lấy mẫu tụ điện
• Găng tay (nhựa dẻo hay Nitrile, không
dùng loại nhựa mủ)
• Kính bảo hộ, chỉ dùng khi mở hoặc khoan
• Mặt nạ hô hấp loại nhẹ (Filter A2P2; cho
hạt và hơi hữu cơ)
Lấy mẫu bê tông hoặc tường
• Găng tay da
Dự án quản lý PCB tại Việt Nam - Tài liệu tập huấn giảng viên về kỹ năng truyền thông PCB
=============================================================================
_________________________________________________________________________
Module 2 - Các tác động của POP/PCB (phiên bản 02) Trang 12
Nhiệm vụ
Thiết bị bảo hộ cá nhân
gạch bị nhiễm PCB (ví dụ bằng
cách khoan)
• Kính bảo hộ khi khoan
• Mặt nạ hô hấp loại nhẹ (Filter A2P2; cho
hạt và hơi hữu cơ)
• Bảo vệ tai (khi khoan)
Tháo dỡ tụ điện (không rò rỉ)
• Quần yếm
• Mũ bảo hiểm (tuỳ theo nội quy an toàn của
từng công ty)
• Ủng có mũ thép (cao su)
• Găng tay da
• Mặt nạ hô hấp loại nhẹ dùng khi rò rỉ (Filter
A2P2; cho hạt và hơi hữu cơ)
Tháo dỡ tụ điện (rò rỉ)
• Bộ bảo hộ áo liền quần (Tyvek)
• Ủng có mũ thép (cao su)
• Găng tay Neoprene
• Mặt nạ hô hấp loại nhẹ (Filter A2P2; cho
hạt và hơi hữu cơ)
Các hoạt động làm sạch khu vực
nhiễm PCB
(lựa chọn PPE tùy theo loại
nhiễm bẩn và mức độ công
việc)
Bộ bảo hộ áo liền quần (Tyvek)
• Ủng có mũ thép (cao su)
• Găng tay bảo hộ (các nhiệm vụ nặng nề)
• Mặt nạ hô hấp (loại nhẹ hoặc kín toàn mặt,
Filter A2P2; cho hạt và hơi hữu cơ)
• Mũ bảo hiểm (nếu cần)
• Bảo vệ tai (nếu cần)
Găng tay dùng trong lấy mẫu các chất lỏng nên làm bằng nitril hoặc nhựa dẻo,
không nên dùng găng cao su hoặc butila vì PCB có thể thẩm thấu qua găng.
2.2. Phòng ngừa rủi ro liên quan đến POP/PCB
Để phòng ngừ a các rủi ro liên quan đến PCB tới sức khỏe con người, cần
tuân thủ các quy định sau:
• Không bảo quản thức ăn hoặc ăn uống gần những thiết bị và vật liệu chứa
hoặc nhiễm PCB. Sau khi tiếp xúc với các thiết bị và vật liệu chứa hoặc nhiễm
PCB, cần phải rửa tay bằng nước ấm và xà phòng
Dự án quản lý PCB tại Việt Nam - Tài liệu tập huấn giảng viên về kỹ năng truyền thông PCB
=============================================================================
_________________________________________________________________________
Module 2 - Các tác động của POP/PCB (phiên bản 02) Trang 13
• Tránh ăn thực phẩm nghi ngờ nhiễm PCB: Tránh ăn các động vật như: cá, vịt,
động vật hoang dã ở các khu vực nghi nhiễm PCB, bởi chúng có thể bị nhiễm PCB
và nếu con người ăn vào dẫn đến tích lũy PCB trong cơ thể. Tránh ăn các sản phẩm
động vật có chứa hàm lượng chất béo cao vì PCB có thể tích tụ nhiều trong mỡ. .
• Tránh tiếp xúc qua da: Để bảo vệ da khỏi sự tiếp xúc trực tiếp với PCB, cần
sử dụng các trang thiết bị bảo hộ cá nhân thích hợp như găng tay , tránh hoạt đ ộ ng
ở những khu vực nghi nhiễm PCB. Hạn chế tiếp xúc trực tiếp với bùn đáy, trầm tích,
đất hoặc nước ở các vùng bị nghi nhiễm PCB vì PCB có thể bị hấp thụ rất nhanh
qua da.
• Kiểm tra vật liệu, đồ gia dụng có khả năng chứa PCB: Các lớp sơn, vữa, nhựa
đường, giấy bịt kín sản xuấ t trong thời gian PCB đang được sử dụng phổ biến có
khả năng chứ a PCB hàm lượng cao. Nên tránh tiếp xúc với những vật liệu này và
thông gió trong khu vực. Nếu sản phẩ m chứa PCB được nấu chảy hoặc bị đốt cháy,
khói có thể lan truyền ô nhiễm PCB, và cũng có thể tạo ra các hợp chấ t Dioxin và
Furan. Nên thay thế đồ gia dụng cũ, ví dụ ti vi và tủ lạnh sản xuất trước năm 1979.
Chúng có thể rò rỉ một lượng nhỏ PCB vào không khí khi bị nóng lên trong quá
trình hoạt động. Kiểm tra máy bơm nước nếu đang sử dụng máy bơm cũ, nên
kiểm tra xem nó có chứa dầu PCB không, vì PCB có thể bị rò rỉ.
• Hạn chế hoạt động ở các khu vực nghi nhiễm PCB: Tìm hiểu lịch sử của nơi
làm việc, nhà ở và sân bãi cũ. Tránh, hạn chế hoạt động ở các khu vực đã từ ng chứa
các thiết bị điện cũ, tụ điện và máy biến áp… hoặc nếu bắt buộc phải làm việc ở đó
cần phân tích PCB để xác định độ an toàn. PCB có thể bị hấp phụ vào bề mặt gạch
lát, bề mặt bê tông…và sẽ tiếp tụ c bay hơi vào trong không khí trong nhiều năm sau
đó.
• Tránh/ hạn chế tiếp xúc với biến thế và tụ điện cũ: Biến áp và tụ điện cũ có
thể có dầu chứa PCB. Nên tránh tiếp xúc với các thiết bị này cho đến khi chắc chắn
chúng không chứa PCB. Nếu các thiết bị này có chứa PCB và khi xảy ra sự cố cháy
nổ có thể dẫn tới ô nhiễm PCB .
• Khí thải từ các bãi rác: Quá trình đốt rác có thể tạo ra dioxin, furans và các
sản phẩm phụ độc hại khác. Cần phải kiểm soát việc đốt rác để tránh tạo ra các chất
ô nhiễm. Cẩn thận khi sinh sống gần khu vực ô nhiễm PCB: Nếu vườn nhà mà mặt
đất là trầ m tích, đất đáy của một dòng sông, hoặc khu vườn ở gần sông thì nên cẩn
thận. Cần đeo găng tay, quần áo bảo hộ khi làm vườn để hạn chế tiếp xúc trực tiếp.
Nếu nghi ngờ ô nhiễm cần yêu cầu các cơ quan chức năng tiến hành đo đạc để xác
định hàm lượng PCB. Nhiều loại củ quả như cà rốt, khoai tây có thể tích lũy PCB ở
phần vỏ, nếu sử dụng nên bỏ toàn bỏ lớp vỏ này. Làm sạch môi trườ ng sống: Giữ
nhà cửa sạch sẽ, giảm bụi sẽ giảm sự tiếp xúc với PCB.
Dự án quản lý PCB tại Việt Nam - Tài liệu tập huấn giảng viên về kỹ năng truyền thông PCB
=============================================================================
_________________________________________________________________________
Module 2 - Các tác động của POP/PCB (phiên bản 02) Trang 14
III. CÔNG NGHỆ XỬ LÝ PCB
Hiện nay Việt Nam không sản xuất PCB nhưng đã nhập khẩu các thiết bị
công nghiệp có chứa PCB từ các nước phát triển để sử dụng (máy biến áp, tụ điện,
dầu chịu nhiệt, phụ gia trong sơn, giấy than, nhựa, ). Nhìn chung, PCB tồn tại ở
nhiều dạng khác nhau (có trong đất, dầu, nền xi măng, nướ c, trầm tích, hoặc trong
các thiết bị điện, vật liệu nhiễm bẩn v.v ) và phân bố rải rác, không tập trung. Về
thống kê PCB chưa tiến hành triển khai thống kê toàn diện và đầy đủ lượng PCB
nên rất khó để ước tính khối lượng PCB trong khu vực. Tuy nhiên, về mặt công
nghệ xử lý PCB, khác với các nước phát triển ở Tây Âu và Bắ c Mỹ, Việt Nam hiện
có ít công nghệ và cơ sở xử lý như công nghệ Natri, các lò đốt chuyên dụng. Về
pháp lý, chưa có một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đồng bộ, phù hợp cho
quản lý và xử lý PCB một cách an toàn, làm cơ sở để lựa chọn các công nghệ xử lý
chung phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội và đặc trưng chất thải PCB.
Có hai phương án xử lý PCB: (i) lựa chọn xuất khẩu PCB sang các nước có
công nghệ tiên tiến, và (ii) đ ầu tư xây dựng các nhà máy xử lý tập trung để xử lý
PCB trong khu vực.
Trong số các công nghệ trên thế giới hiện nay, công nghệ thiêu đốt ở nhiệt độ
cao và công nghệ khử hóa học là hai công nghệ có rất nhiều ưu điểm và có tiềm
năng áp dụng tại khu vực Đông Nam Á. UNEP cũng nhận định đây là hai công
nghệ tiêu hủy PCB/POP đã được kiểm chứng.
3.1. Công nghệ thiêu đốt ở nhiệt độ cao
Trong số các quy trình thiêu đ ố t có thể tiêu hủy PCB, hai công nghệ có tiềm
năng áp dụng là: (i) thiêu đốt trong các lò đố t chất thải nguy hại chuyên dụng và (ii)
đồng xử lý trong lò xi măng.
a) Lò đốt chất thải nguy hại
Nguyên lý hoạt động: Lò đốt chất thải nguy hại phân hủy các chất ô nhiễm
hữu cơ ở nhiệt độ cao, chủ yếu trong các lò quay qua các phản ứng cracking và oxi
hóa ở nhiệt đ ộ cao (thông thường từ 850 - 1550
O
C) với thời gian lưu cháy trên 2
giây.
Hạn chế: Công nghệ này đòi hỏi chi phí đầu tư xây dựng và vận hành lớn. Là
một trong các công nghệ tiêu hủy POP ra đời sớm nhất nhưng các lò đốt trước đây
thiết kế chưa đảm bảo an toàn và môi trường, các thiết kế trước kia chưa đả m bảo
về mặt an toàn và môi trường. Tuy nhiên, các lò đốt hiện đại ngày nay được trang bị
hệ thống xử lý khí thải đáp ứng được các tiêu chuẩn môi trường và được công đồng
chấp nhận.
Ưu điểm: Công nghệ này rất linh hoạt, có khả năng xử lý nhiều loại chất thải
POP ở các dạng khác nhau (đất, nước, trầm tích, bùn, hồ, dầu, thiết bị) ở bất kỳ
Dự án quản lý PCB tại Việt Nam - Tài liệu tập huấn giảng viên về kỹ năng truyền thông PCB
=============================================================================
_________________________________________________________________________
Module 2 - Các tác động của POP/PCB (phiên bản 02) Trang 15
nồng độ ô nhiễm nào và đạt hiệu suất tiêu hủy (DRE) cao, có thể trên 99,9999% khi
xử lý các chất POP. Bên cạnh đó, các lò đốt chất thải hiện đại có thể thiết kế lưu
động để nhưng có tính lưu động, tăng phạm vi và hiệu quả sử dụng.
b) Lò nung xi măng
Nguyên lý hoạt động: Các nhà máy xi măng tạo clinke bằng hai phương pháp
chính là “khô” hoặc “ướt”, tùy theo phương pháp chuẩn bị nguyên liệu đầu vào.
Trong quy trình ướt, các nguyên liệu đầu vào là vữa xi măng nhão được đưa trự c
tiếp vào trong lò. Trong quy trình khô, các khí thải của lò được dùng để làm khô
nguyên liệu thô trong khi đang nghiền các nguyên liệu này. Nhiệt độ rất cao trong lò
nung xi măng (1450
O
C) và vớ i thời gian lưu cháy dài (5-6 giây hoặ c lâu hơn) làm
tiêu hủy hầu hết các chất POP.
Tiềm năng áp dụng: Phương pháp đồng xử lý các chất POP trong lò nung xi
măng cũng có các ưu điểm tương tự như thiêu đốt trong các lò đốt chất thải nguy
hại nhưng tính linh hoạt thấp hơn và không thể sử dụng để tiêu hủy các thiết bị điện.
Việc kiểm soát khí thải cũng gặp khó khăn hơn so với công nghệ lò đốt chất thải
tiên tiến. Ngược lại, công nghệ này đòi hỏi chi phí đầu tư xây dựng và vận hành
thấp hơn do tận dụng được lò nung của các nhà máy xi măng sẵn có. Phương pháp
này cũng rất kinh tế vì có thể tận dụng dầu chứa PCB làm nhiên liệu thay thế cho lò
nung xi măng. Một ưu điểm khác của phương pháp này là phát sinh rất ít chất thải
rắn.
3.2. Công nghệ khử hóa học
Hiện nay thế giới có rất nhiều công nghệ khử hóa học khác nhau. Có thể liệt
kê một vài công nghệ như: khử bằng kim loại kiềm, khử clo xúc tác bazơ (BCD),
khử hóa học pha khí, khử clo xúc tác hydro
a) Công nghệ khử kim loại kiềm
Nguyên lý hoạt động: Kim loại kiềm phản ứng với clo trong chất thải
halogen để tạo ra muối và chất thải không chứa halogen. Thông thư ờng, phản ứ ng
xảy ra tại áp suất và nhiệt độ từ 60°C - 180°C. Quá trình xử lý có thể diễn ra tại chỗ,
ngay trong máy biến áp ô nhiễm PCB (in situ) hoặc trong bình phản ứng (ex situ).
Hạn chế: Từ clorophenol có thể tạo ra PCDD/PCDF ngay khi nhiệt độ phản
ứng khoảng 150
0
C. Ngoài ra, quy trình này cũng sinh ra cặn hoặc polime hóa rắn là
các chất cần được tiếp tục tiêu hủy trong quy trình khác. Bên cạnh đó, cũng cần lưu
ý các vấn đề về an toàn và sức khỏe vì rủi ro cháy nổ khi sử dụng công nghệ này.
Ưu điểm: Công nghệ khử kim loại kiề m tương đối đơn giản và yêu cầu vốn
đầu tư thấp. Công nghệ này cũng rất linh hoạt do (i) có thể thiết kế cố định và lưu
động, và (ii) có khả năng xử lý chất thải ở nhiều dạng khác nhau và đạt hiệu suất
tiêu hủy DRE cao (99.9999% đối với PCB, aldrin, chlordane). Khu vực Đông Nam
Dự án quản lý PCB tại Việt Nam - Tài liệu tập huấn giảng viên về kỹ năng truyền thông PCB
=============================================================================
_________________________________________________________________________
Module 2 - Các tác động của POP/PCB (phiên bản 02) Trang 16
Á đã thử nghiệm quy trình khử Natri đối với dầu chứa PCB (lên đến 10.000 ppm).
Một số nhà sản xuấ t trên thế giới khẳng định công nghệ này có khả năng xử lý toàn
bộ tụ điện và máy biến áp. Đặc biệt, quy trình này rất kinh tế vì nó cho phép tái sử
dụng dầu đã làm sạch và Natri Clorua.
b) Công nghệ khử clo xúc tác bazơ (BCD)
Nguyên lý hoạt động: Công nghệ BCD xử lý chất thải (rắn và lỏng) với sự có
mặt của chất phản ứng có chứa dầu và là chất cho hydro, hydroxit kim loại kiềm và
một chất xúc tác chuyên dụng. Khi nung nóng hỗn hợp trên 300°C, chất phản ứng
sẽ tạo ra nguyên tử hydro có tính phản ứng mạnh, là chất sẽ phản ứng với các hợp
chất cơ clo và các chất thải khác Sau phản ứ ng, các cặn rắ n được tách khỏi dầu cặ n
bằng tỉ trọng hoặc ly tâm, và có thể tái sử dụng dầu và chất xúc tác đó.
Hạn chế: Công nghệ BCD yêu cầu người vận hành có năng lực, khi áp dụng
cần có quy trình quản lý và kiểm tra an toàn chặt chẽ, và có chương trình bảo trì bả o
dưỡng tốt.
Ưu điểm: Công nghệ này có khả năng xử lý hầu hết các chất POP trong các
môi trường khác nhau (rắn, lỏng) đạ t hiệu suất tiêu hủy DE lớn (99.9999% đối với
PCB, DDT, dioxin và furan). Do có thể vận hành liên tục hoặc theo từng mẻ, công
nghệ này có khả năng xử lý chất thải theo khối lượng khác nhau (từ 100kg đến hàng
chục tấn), nồng độ ô nhiễm càng cao đòi hỏi thời gian phản ứng càng lâu. Ngoài ra,
các rủi ro về sức khỏe và an toàn liên quan đến công nghệ này tương đối thấp. Công
nghệ này cũng rất kinh tế vì sau khi xử lý có thể tái sử dụng dầu và tái chế cặn dầu.
Công nghệ BCD có các thiết kế cố định, lưu động, hoặc thiết kế theo từng mô đun.