Tải bản đầy đủ (.doc) (26 trang)

một số vấn đề cơ bản về tỷ giá và chính sách tỷ giá

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.76 MB, 26 trang )

1
2
3
4
mở đầu
Lịch sử tiền tệ quốc tế đã và đang tồn tại ba chế độ tỷ giá, đó là chế độ
tỷ giá cố định, chế độ tỷ giá thả nổi tự do và chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý.
Lùa chọn chế độ tỷ giá phù hợp sẽ phát huy những tác động tích cực và hạn
chế những ảnh hưởng tiêu cực do biến động tỷ giá gây nên. Với hai chế độ
tỷ giá đó, mỗi quốc gia có thể lùa chọn một cơ chế điều hành tỷ giá thông
qua hệ thống văn bản pháp qui để điều tiết tỷ giá với mức độ kết hợp khác
nhau của các chế độ tỷ giá trong từng giai đoạn cụ thể.
Trong những năm qua, cơ chế điều hành tỷ giá của Việt Nam đã được
điều chỉnh để tỷ giá ngày càng phản ánh đúng quan hệ cung cầu trên thị
trường ngoại tệ, đồng thời thể hiện vai trò quản lý của Nhà nước trong lĩnh
vực điều hành tỷ giá. Những đổi mới đó đã thu được những thành công nhất
định trong việc ổn định tỷ giá, ổn định giá cả trong nước, khuyến khích xuất
khẩu, kiểm soát nhập khẩu, góp phần tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả
chính sách tiền tệ.
Tuy nhiên, cơ chế điều hành tỷ giá hiện nay vẫn còn nhiều bất cập,
cần được hoàn thiện để phát huy tác dụng tích cực của tỷ giá. Vì vậy cần
nghiên cứu đầy đủ, sâu sắc cả lý luận và thực tiễn về sự tác động của cơ chế
điều hành tỷ giá đối với các hoạt động kinh tế từ đó đưa ra những giải pháp
nhằm hoàn thiện cơ chế điều hành tỷ giá trong thời gian tới.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, tiểu
luận gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về tỷ giá và chính sách tỷ giá.
Chương 2: Một số chính sách tỷ giá của Việt Nam trong thời gian qua
Chương 3: Một số đề xuất về chính sách tỷ giá ở Việt Nam trong thời gian
5
tới.


6
Chương 1
Một số vấn đề cơ bản về tỷ giá và
chính sách tỷ giá
1.1. Khái niệm tỷ giá.
Các quan hệ kinh tế, chính trị, ngoại giao, du lịch… giữa các nước đã
phát sinh quan hệ thanh toán quốc tế. Do hầu hết các quốc gia đều có đồng
tiền riêng, nên khi giao dịch Quốc tế phải chuyển đổi đồng tiền nước này
sang đồng tiền nước khác theo một tỷ lệ nhất định. Tỷ lệ này gọi là tỷ giá.
Ví dô: 1 USD = 15.000 VND. nghĩa là giá của USD được biểu thị
thông qua VND và 1 USD có giá là 15.000 VND.
Trong thực tế do hầu hết các quốc gia sử dụng phương pháp yết tỷ giá
trực tiếp, do đó tỷ giá còn được định nghĩa theo nghĩa hẹp như sau: Tỷ giá là
số đơn vị nội tệ trên một đơn vị ngoại tệ.
1.2. Tỷ giá và sức cạnh tranh thương mại Quốc tế.
1.2.1. Khái niệm sức cạnh tranh thương mại quốc tế.
Những nhà hoạch định chính sách và những nhà kinh tế rất quan tâm
phân tích những ảnh hưởng của thay đổi tỷ giá lên nền kinh tế nói chung và
cán cân thanh toán nói riêng. Tỷ giá danh nghĩa tự nó không phản ánh được
nhiều các thông tin, do đó để phân tích những ảnh hưởng và những nội dung
bao hàm trong thay đổi tỷ giá họ đã kết hợp phân tích tỷ giá danh nghĩa, tỷ
giá thực và tỷ giá trung bình.
Khái niệm “Sức cạnh tranh thương mại quốc tế” là rất rộng, bao gồm
tất cả các nhân tố liên quan và tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng
hoá và dịch vụ của một quốc gia thì khái niệm sức cạnh tranh thương mại
7
quốc tế được hiểu một cách hẹp hơn. Cụ thể:
- Tại một thời điểm đối với một quốc gia nếu khối lượng xuất khẩu
nhiều hơn và/hoặc khối lượng nhập khẩu Ýt hơn so với nước bạn hàng thì ta
nói rằng quốc gia có vị thế cạnh tranh thương mại quốc tế cao hơn.

- Tại một thời điểm đối với một quốc gia nếu khối lượng xuất khẩu Ýt
hơn và/hoặc khối lượng nhập khẩu nhiều hơn so với nước bạn hàng thì ta nói
rằng quốc gia có vị thế cạnh tranh thương mại quốc tế thấp hơn.
- Tại thời điểm này sang thời điểm khác đối với một quốc gia nếu khối
lượng xuất khẩu tăng và/hoặc khối lượng nhập khẩu giảm thì ta nói rằng sức
cạnh tranh thương mại quốc tế được cải thiện.
- Tại thời điểm này sang thời điểm khác đối với một quốc gia nếu khối
lượng xuất khẩu giảm và/hoặc khối lượng nhập khẩu tăng thì ta nói rằng sức
cạnh tranh thương mại quốc tế bị xói mòn.
Vậy ta thấy rằng sức cạnh tranh thương mại quốc tế ở đây chỉ liên
quan tới khối lượng xuất nhập khẩu mà không liên quan tới giá trị xuất nhập
khẩu là như thế nào.
1.2.2. Tỷ giá danh nghĩa:
Tỷ giá danh nghĩa là là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông
qua đồng tiền khác mà chưa đề cập tới tương quan sức mua hàng hoá và dịch
vụ giữa chóng.
- Khi tỷ giá danh nghĩa tăng làm cho đồng tiền yết giá lên giá, đồng
tiền định giá giảm.
- Khi tỷ giá danh nghĩa giảm, làm cho đồng tiền yết giá giảm giá,
đồng tiền định giá lên giá.
8
1.2.3. Tỷ giá thực:
Tỷ giá thực là tỷ giá được xác định trên cơ sở tỷ giá danh nghĩa đã
được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát giữa trong nước với nước ngoài, do đó nó
là chỉ số phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ và ngoại tệ. Như vậy xét
trên phương diện giá cả thì tỷ giá thực là thước đo đầy đủ sức cạnh tranh
thương mại quốc tế của một nước so với nước ngoài.
Tỷ giá thực tăng làm cho sức cạnh tranh thương mại quốc tế được cải
thiện; ngược lại tỷ giá thực giảm làm cho sức cạnh tranh thương mại quốc tế
bị xói mòn.

1.3. Chính sách tỷ giá hối đoái:
1.3.1. Khái niệm của chính sách tỷ giá:
Chính sách tỷ giá là những hoạt động của Chỉnh phủ (mà đại diện
thường là NHTW) thông qua một chế độ tỷ giá nhất định (hay cơ chế điều
hành tỷ giá) và hệ thống các công cụ can thiệp nhằm duy trì một mức tỷ giá
cố định hay tác động để tỷ giá biến động đến một mức cần thiết phù hợp với
mục tiêu chính sách tiền tện quốc gia.
1.3.2. Mục tiêu của chính sách tỷ giá:
Để duy trì một mức tỷ giá cố định hay tác động để tỷ giá biến động
đến một mức cần thiết thì cần phải có một chế độ tỷ giá và một hệ thống các
công cụ can thiệp thích hợp. Vì là một bộ phận của chính sách tiền tệ nên
mục tiêu của chính sách tỷ giá theo nghĩa rộng cũng phải phù hợp với mục
tiêu của chính sách tiền tệ. Tuỳ thuộc vào mỗi quốc gia mà mục tiêu của
chính sách tiền tệ có thể khác nhau nhưng nhìn chung nã bao gồm:
1.3.2.1. Mục tiêu ổn định giá cả:
9
Với các yếu tố khác không đổi khi phá giá nội tệ (tỷ giá tăng) làm cho
giá hàng hoá nhập khẩu (bao gồm hàng tiêu dùng và nguyên vật liệu, máy
móc thiết bị cho sản xuất trong nước) tính bằng nội tệ tăng. Giá hàng hoá
nhập khẩu tăng làm cho mặt bằng giá cả chung của nền kinh tế tăng, tức gây
lạm phát. Tỷ giá tăng càng mạnh và tỷ trọng hàng hoá nhập khẩu càng lớn
thì tỷ lệ lạm phát càng cao. Ngược lại khi nâng giá nội tệ (tỷ giá giảm) làm
cho hàng hoá nhập khẩu tính bằng nội tệ giảm, tạo áp lực giảm lạm phát.
Vậy chính sách tỷ giá có thể được sử dụng như một công cụ hữu hiệu
nhằm đạt được mục tiêu ổn định giá cả. Với các yếu tố khác không đổi muốn
kiềm chế lạm phát gia tăng, NHTW có thể sử dụng chính sách nâng giá nội
tệ (tác động làm cho tỷ giá giảm); Muốn kích thích lạm phát gia tăng ,
NHTW có thể sử dụng chính sách phá giá đồng nội tệ (tác động làm cho tỷu
giá tăng); Muố duy trì giá cả ổn định, NHTW phải sử dụng chính sách tỷ giá
ổn định và cân bằng.

1.3.2.2. Mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công ăn việc
làm:
Chính sách tỷ giá có thể được sử dụng như một công cụ nhằm đạt
được mục tiêu tăng trưởng kinh tế và tăng công ăn việc làm. Với các yếu tố
khác không đổi, muốn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cần áp dụng chính sách
phá giá đồng nội tệ; Ngược lại muốn kìm chế và giảm tốc độ tăng trưởng
kinh tế áp dụng chính sách nâng giá đồng nội tệ.
1.3.2.3. Mục tiêu cân bằng cán cân vãng lai:
Chính sách tỷ giá tác động trực tiếp đến hoạt động xuất nhập khẩu
hàng hoá và dịch vụ là hai bộ phận chủ yếu cấu thành cán cân vãng lai. Do
đó có thể nói chính sách tỷ giá ảnh hưởng trực tiếp đến cán cân vãng lai.
10
- Với chính sách tỷ giá đinh giá thấp nội tệ (underalued) sẽ có tác
dụng thúc đẩy xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, giúp cải thiện cán cân vãng
lai từ trạng thái thâm hụt trở về trạng thái cân bằng hay thặng dư.
- Với chính sách tỷ giá đinh giá cao nội tệ (overvalued) sẽ có tác dụng
kìm hãm xuất khẩu và kích thích nhập khẩu, giúp điều chỉnh cán cân vãng
lai từ trạng thái thặng dư về trạng thái cân bằng hay thâm hụt.
- Với chính sách tỷ giá cân bằng (equilibrium) sẽ có tác dụng làm cân
bằng xuất khẩu và nhập khẩu, giúp cán cân vãng lai tự động cân bằng.
Chính sách tỷ giá là những hoạt động của NHTW thông qua cơ chế
điều hành tỷ giá và hệ thống các công cụ can thiệp nhằm đạt được một tỷ giá
nhất định, để tỷ gía tác động tích cực đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng
hoá và dịch vụ của một quốc gia.
1.3.3. Các công cụ của chính sách tỷ giá:
Nội dung chính của chính sách tỷ giá bao gồm: hành vi phá giá đồng
nội tệ; Hành vi nâng giá đồng nội tệ; Hành vi duy trì tỷ giá ở một mức nhất
định hoặc không can thiệp để cho tỷ giá biến động tự do theo quan hệ cung –
cầu trên thị trường.
Để đồng nội tệ trở nên được định giá cao hơn, thấp hơn, không đổi thì

chính phủ phải sử dụng các công cụ nhất định để can thiệp nhằm ảnh hưởng
lên tỷ giá. Các công cụ này được gọi là các công cụ của chính sách tỷ giá,
tuỳ theo tính chất tác động lên tỷ giá là trực tiếp hay gián tiếp mà các công
cụ này được chia thành hai nhóm là nhóm công cụ trực tiếp và nhóm công
cụ gián tiếp.
1.3.3.1. Nhóm công cụ tác động trực tiếp lên tỷ giá:
Thông thường đó là hoạt động của NHTW trên thị trường ngoại hối
11
thông qua việc mua bán đồng nội tệ nhằm duy trì một tỷ giá cố định (trong
chế độ tỷ giá cố định) hay ảnh hưởng làm cho tỷ giá thay đổi đạt tới một
mức nhất định theo mục tiêu đã đề ra (trong chế độ tỷ giá thả nổi). Để tiến
hành can thiệp buộc NHTW phải có một lượng dự trữ ngoại tệ đủ mạnh, hơn
nữa các hoạt động can thiệp trực tiếp của NHTWtạo ra hiệu ứng thay đổi
cung ứng tiền trong lưu thông có thể tạo ra áp lực lạm phát hay thiểu phát
không mong muốn cho nền kinh tế, chính vì vậy đi kèm với hoạt động can
thiệp trực tiếp NHTW thường phải sử dụng thêm một nghiệp vụ thị trường
mở để hấp thụ lượng dư cung hay bổ sung phần thiếu hụt tiền tệ trong lưu
thông.
1.3.3.2. Nhóm công cụ tác động gián tiếp lên tỷ giá:
Bao gồm các công cụ như: lãi suất tái triết khấu, thuế quan, hạn
ngạch, giá cả .vv… Trong số các công cụ gián tiếp thì công cụ lãi suất tái
triết khấu thường được sử dụng nhiều nhấtvà tỏ ra hiệu quả nhất.
Ngoài các công cụ nêu trên trong từng thời kỳ chính phủ còn có thể áp
dụng một số biện pháp khác: Điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ
đối với các NHTM; Quy định mức lãi suất trần kém hấp dẫn đối với tiền gửi
bằng ngoại tệ; Quy định trạng thái ngoại tệ đối với các NHTM ngoài mục
đích chính là phòng ngõa rủi ro tỷ giá, còn có tác dụng hạn chế đầu cơ ngoại
tệ làm giảm áp lực lên tỷ giá khi cung cầu mất cân đối.
12
CHƯƠNG 2:

CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ CỦA VIỆT NAM
TRONG THỜI GIAN QUA
2.1. Diễn biến tỷ giá và các mốc cải cách tỷ gíaVND:
- Cuối năm 1998 khi Việt Nam công bố tỷ giá chính thức gần với tỷ
giá thị trường tự do, đồng thời chấm dứt chế độ đa tỷ giá chuyển sang chế độ
đơn tỷ giá.
- Cuối năm 1991, việc công bố tỷ giá chính thức dùa vào tỷ giá hình
thành tại hai trung tâm giao dịch ngoại tệ Hà Nội và TP Hồ Chí Minh đánh
dấu lần đầu tiên về việc tỷ giá của Việt Nam được hình thành có căn cứ
chính thức vào các yếu tố thị trường. Mặc dù tỷ giá hình thành tại hai trung
tâm chứa đựng yếu tố cung cầu ngoại tệ nhưng chưa phản ánh được cân đối
cung cầu ngoại tệ của nền kinh tế như một tổng thể, do đó tỷ giá vẫn mang
nặng yếu tố chỉ đạo. Tuy nhiên đây cũng được xem như bước cải cách có
tính đột phá theo hướng thị trường sâu sắc.
- Tháng 10 năm 1994, để chắp nối cung cầu ngoại tệ của cả nền kinh
tế như một tổng thể và tạo cơ sở xác định tỷ giá và tạo cơ sở xác định tỷ giá
theo thông lệ Quốc tế. Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Quyết định số
203/QĐ-NH ngày 20/10/1994 về việc thành lập thị trường ngoại tệ liên ngân
hàng đánh dấu bước ngoặt lịch sử trong cơ chế xác định tỷ giá và hình thành
thị trường ngoại hối có tổ chức ở Việt Nam.
- Tháng 2/1999 với sự ra đời của Quyết định số 64/QĐ/NHNN7 ngày
13
25/2/1999, cơ chế tỷ giá Việt Nam có bước cải cách triệt để hơn. Trước
tháng 2/1999 cơ chế điều hành tỷ giá VND là cơ chế can thiệp trực tiếp bằng
cách Ên định tỷ giá chính thức với biên độ dao động, nhưng bắt đầu từ tháng
2/1999 Ngân hàng Nhà nước đã bãi bỏ việc công bố tỷ giá chính thức và
thay vào đó chỉ thông báo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ
liên ngân hàng.
Ngoài việc Ên định tỷ giá chính thức Ngân hàng Nhà nước còn quy
định biên độ dành cho các Ngân hàng thương mại xác định tỷ kinh doanh

của mình đặc biệt là từ tháng 2/1997 biên độ dao động được nới rộng dần
cho đến tháng 8/1998 đã 3 lând biên độ được nới rộng với mức cao nhất là
+_ 10%.
2.2. Tác động của tỷ giá đến cán cân thương mại:
Cán cân thương mại là chênh lệch giữa doanh số xuất khẩu và doanh
số nhập khẩu trong một thời gian nhất định Cán cân thương mại thăng dư
phản ánh doanh sè xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu: và ngược lại, cán cân
thương mại thâm hụt phản ánh doanh số xuất khẩu nhá hơn nhập khẩu.
Nhìn chung, trạng thái cán cân thương mại tác động mạnh đến nhiều mặt của
nền kinh tế, ví dụ, nếu thặng dư sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,
tạo thêm công ăn việc làm mới, tăng tích luỹ quốc gia dưới dạng dự ngoại
hối, tạo uy tín vàtiền đề để đồng nội tệ được tự do chuyển đổi … chính vì
vậy trạng thái cán cân thương mại, mà thực chất là hoạt động xuất nhập
khẩu, luôn được các nhà kinh tế và những nhà quản lý quan tâm phân tích,
tìm ra những nguyên nhân tác động làm cho cán cân thương mại thặng dư
hay thâm hụt, từ đó đề ra giải pháp đưa cán cân thương mại về trạng thái có
lợi cho nền kinh tế. Trong số các nhân tố tác động lên cán cân thương mại,
thì tỷ giá hối đoái luôn được xem là một trong những nhân tố chính, có ảnh
14
hưởng nhanh, mạnh và trực tiếp đến hoạt động xuất nhập khẩu.
2.3. Chính sách tỷ giá với thị trường ngoại tệ ngầm:
Thị trường ngoại tệ ngầm (còn gọi là thị trường không chính thức, thị
trường tự do hay chợ đen) không được pháp luật công nhận, hoạt động của
nó là phi pháp, nhưng trên thực tế thì thị trường ngoại tệ ngầm vẫn tồn tại và
phát triển song song với thị trường có tổ chức.
Trong một thời gian dài chế độ tỷ giá của Việt Nam về cơ bản là chế
độ tỷ giá cố định, lại trải qua lạm phát cao đã làm cho tỷ giá chính thức luôn
thấp hơn tỷ giá thị trường cân bằng cung cầu, điều này đã khiến cho thị
trường ngoại tệ ngầm hình thành và phát triển. Gần đay cùng với công cuộc
đổi mới chuyển sang nền kinh tế thị trường, cơ chế điều hành tỷ giá đã có

những thay đổi mới căn bản theo hướng thị trường ngày càng tăng. Tuy
nhiên chế độ tỷ giá Việt Nam hiện nay chưa phải là chế độ tỷ giá thả nổi vẫn
chịu sự quản lý và điều tiết chặt chẽ của Ngân hàng Nhà nước do đó tỷ giá
giao dịch do Ngân hàng Nhà nước công bố vẫn chưa phản ánh đúng quan hệ
cung cầu về ngoại tệ. Do trên thị trường ngoại hối chính thức luôn chịu áp
lực cầu lớn hơn cung (tỷ giá của các Ngân hàng thương mại luôn kịch trần
cho phép) nên đã hình thành thị trường ngoại tệ ngầm để thoả mãn nhu cầu
ngoại tệ cho những ai chưa được thị trường ngoại tệ chíh thức đáp ứng.
Chính vì vậy tỷ giá giao dịch trên thị trường ngoại tệ ngầm luôn cao hơn tỷ
giá trên thị trường chính thức.
Thị trường ngoại hối chính thức đã hình thành nhưng còn kém phát
triển chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu về giao dịch kinh doanh của toàn bộ
nền kinh tế đặc biệt là đối với tầng líp dân cư, các doanh nghiệp tư nhân …
Theo quy chế quản lý ngoại hối hiện hành thì các thể nhân hầu như không
được tiếp cận với thị trường chính thức để thoả mãn nhu cầu về ngoại tệ
15
dùng vào mục đích các nhân như đi du học, chữa bệnh, du lịch nước ngoài
… chính vì vậy để có ngoại tệ tát yếu họ phải quay sang giao dịch tại thị
trường ngoại hối ngầm.
Thị trường ngoại tệ ngầm luôn gắn liền với tình trạng đô la hoá nền
kinh tế. Tình trạng đô la hoá nền kinh tế càng phát triển thì càng tạo điều
kiện và kích thích thị trường ngoại hối ngầm phát triển.
Lượng kiều hối chuyển về Việt Nam một năm khoảng 2 đến 3 tỷ
USD, theo quy định hiện hành người nhận kiều hối được nhận bằng ngoại tệ
mặt, gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ hoặc bán cho các NHTM. Tâm lý ưa chuộng
USD đã tạo ra một lượng ngoại tệ tiền mặt nằm trong dân cư là rất lớn, làm
cho giao dịch thanh toán bằng ngoại tệ trở nên khá phổ biến trong các hoạt
động đời sống kinh tế.
Chính vì vậy sự tồn tại và hoạt động của thị trường ngoại tệ ngầm là
tất yếu. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của thị trường ngoại tệ chính thức

nới lỏng cơ chế quản lý ngoại hối và sự đổi mới trong cơ chế điều hành tỷ
giá theo hướng tự do hoá sẽ làm triệt tiêu dần các đièu kiện tồn tại và phát
triển của thị trường ngoại tệ ngầm. Đến một thời điểm nhất định thị trường
ngoại tệ ngầm sẽ chấm dứt hoạt động nhường chỗ cho một thị trường thống
nhất và hợp pháp ở Việt Nam.
Thị trường ngoại tệ ngầm trong giai đoạn hiện nay nó cũng có những
mặt tác động tích cực đối với nền kinh tế và xã hội:
Thoả mãn nhu cầu mua bán giao dịch bằng ngoại tệ của các tầng líp
dân cư trong điều kiện thị trường ngoại hội chính thức chưa phát triển chưa
đáp ứng được nhu cầu ngoại tệ của nền kinh tế một cách tổng thể.
Đối với những doanh ghiệp có nhu cầu ngoại tệ (chủ yếu là các doanh
16
nghiệp, công ty hoạt động nhập khẩu) nhưng không thể tiếp cận hoặc không
được tiếp cận với thị trường ngoại hối chính thức có thể quay sang thị
trường ngoại tệ ngầm để được đáp ứng nhu cầu giao dịch về ngoại tệ để
phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Tỷ giá giao dịch trên thị trường ngoại tệ ngầm luôn là một chỉ tiêu
tham khảo quan trọng trong điều hành chính sách tỷ giá của NHTW.
Bên cạnh những mặt tích cực đó nó còn có một số tác động tiêu cực
đối với nền kinh tế xã hội sau:
Do hoạt động của thị trường ngoại tệ ngầm nằm ngoài sự quản lý của
Nhà nước nên đã gây ra khó khăn và làm giảm hiệu lực của việc thực thi và
việc điều hành chính sách tiền tệ.
Hoạt động của thị trường này tiếp tay cho các hoạt động phi pháp như
buôn lậu, tham những và rửa tiền …
Nó còn làm cho chảy máu ngoại tệ chuyển lậu ra nước ngoài để nhập
lậu một số hàng hoá như hàng điện tử, phụ tùng xe máy ….
Trong điều kiện Việt Nam hiện nay sự tồn tại của thị trường ngoại tệ
ngầm là không tránh khỏi tuy nó có một số tác động tích cực tới nền kinh tế
xã hội nhưng Nhà nước cần có các biện pháp hữu hiệu để quản lý thị trường

này về lâu dài thì nên xoá bỏ và xây dựng một thị trường ngoại hối thống
nhất.
2.4. Đánh giá chung về cơ chế điều hành tỷ giá của Việt Nam trong thời
gian qua.
2.4.1. Những kết quả của quá trình đổi mới cơ chế điều hành tỷ giá
Cơ chế điều hành tỷ giá ngày càng linh hoạt: Tính linh hoạt của cơ
17
chế điều hành tỷ giá thể hiện ở cách xác định tỷ giá và mức biên độ dao
động đã có sự điều chỉnh liên tục. Các yếu tố ảnh hưởng đến cung cầu ngoại
tệ đã được phản ánh trong tỷ giá như mức lạm phát, tình trạng CCTTQT,
mức tăng trưởng kinh tế, lãi suất nội tệ và ngoại tệ. Biến động của tỷ giá
chính thức tương đối sát với tỷ giá thị trường tự do
2.4.2. Tỷ giá đã có tác động tích cực đến các hoạt động kinh tế:
Góp phần ổn định tiền tệ, kìm chế lạm phát trong giai đoạn tỷ giá
được giữ ổn định, góp phần cải thiện cán cân thương mai và cán cân thanh
toán quốc tế khi tỷ giá được điều chỉnh tăng mạnh. Từ năm 1999 với cơ chế
điều hành tỷ giá mới, đặc biệt từ tháng 7/2002, tỷ giá lại ổn định hơn, tỷ lệ
lạm phát năm 2002 đạt mức gần như dự kiến (4%), tăng trưởng kinh tế đạt
mức tương đối cao (7,04%)
2.4.3. Ngân hàng Nhà nước bước đầu điều hành tỷ giá:
Kỳ hạn và hoán đổi của NHTM với khách hàng và sử dụng nghiệp vụ
hoán đổi ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước như một công cụ của chính sách
tiền tệ. Nghiệp vụ hoán đổi của Ngân hàng Nhà nước đã có những tác động
tích cực đến việc điều tiết lượng VND trên thị trường, góp phần thực hiện
chính sách tiền tệ.
2.5. Những tồn tại của cơ chế tỷ giá hiện hành.
2.5.1. Cơ chế tỷ giá hiện nay vẫn chưa thật linh hoạt.
Việt Nam đang áp dụng cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý không thông
báo trước tỷ giá từ tháng 2/1999. Bản chất của cơ chế này là tỷ giá được
hình thành trên thị trường ngoại hối, NHTW chỉ can thiệp vào thị trường để

điều tiết tỷ giá thông qua hoạt động mua bán ngoại tệ. Để cho hoạt động can
18
thiệp của NHTW đạt hiệu quả, thị trường ngoại hối phải phản ánh đúng quan
hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường, việc qui định biên độ dao động hẹp là
không cần thiết. Thực tế việc áp dụng cơ chế này ở Việt Nam còn hạn chế:
- Thị trường liên ngân hàng ở Việt Nam hiện nay còn nhỏ bé: Tỷ giá
mà Ngân hàng Nhà nước thông báo hàng ngày để làm căn cứ điều hành là tỷ
giá được hình thành từ thị trường liên ngân hàng nhưng hoạt động của thị
trường liên ngân hàng còn hạn chế. Số thành viên tham gia vào thị trường
hiện nay là 58, doanh sè giao dịch hằng ngày so với tổng giá trị xuất và nhập
khẩu mới chỉ ở mức 0,15 - 0,65%, trong khi ở các nước có thị trường ngoại
hối phát triển, tỷ lệ này dao động từ mức 8% đến 93%. Hơn nữa thị trường
ngoại tệ liên Ngân hàng lại do ngân hàng Vietcombank chi phối. Tỷ trọng
các giao dịch do ngân hàng Vietcombank thực hiện tới 90% và con số này
không thay đổi kể từ khi thành lập thị trường liên ngân hàng
- Biên độ dao động còn quá hẹp: Biên độ dao động hiện nay tuy đã
được điều chỉnh nhưng vẫn còn hẹp (±0,25%). Hơn nữa, tỷ giá được công bố
có giá trị trong suốt ngày làm việc. Do vậy, đã hạn chế tính chủ động của các
NHTM. Nếu trong ngày giao dịch có sự thay đổi lớn về cung cầu ngoại tệ thì
các NHTM không thể thay đổi tỷ giá cho phù hợp.
2.5.2. Các yếu tố thị trường phản ánh trong tỷ giá:
Do yếu tố tác động đến tỷ giá đôi khi chưa đầy đủ, đặc biệt trong
những giai đoạn tỷ giá bị kìm giữ và biên độ dao động hẹp.
2.5.3. Tác động của tỷ giá đến nền kinh tế:
Trong những giai đoạn đồng Việt Nam được đánh giá quá cao, tỷ giá
đã khuyến khích nhập khẩu, hạn chế xuất khẩu, làm xấu đi cán cân thương
mại và cán cân thanh toán quốc tế.
19
Cơ chế tỷ giá thiếu linh hoạt đã hạn chế tính chủ động của Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam trong điều hành chính sách tiền tệ, hiệu quả chính sách

tiền tệ không đạt như mong muốn.
2.5.4. Điều hành tỷ giá kỳ hạn và hoán đổi còn mang nặng tính
hành chính.
Thời hạn hợp đồng kỳ hạn và hoán đổi chưa phù hợp: Theo qui định
hiện hành, thời hạn hợp đồng tối đa chỉ là 6 tháng và tối thiểu là 7 ngày đã
gây những trở ngại cho nghiệp vụ kỳ hạn. Việc qui định thời hạn tối thiểu
làm cho thị trường kỳ hạn trở nên kém linh hoạt và kém hấp dẫn đối với hoạt
động ngoại thương. Thời hạn tối đa qui định đối với các hợp đồng kỳ hạn là
6 tháng tuy không gây những trở ngại đáng kể, bởi vì các L/C thường có thời
hạn 30 đến 60 ngày, nhưng cũng có hợp đồng ngoại thương lên đến trên 180
ngày, làm phát sinh nhu cầu sử dụng hợp đồng kỳ hạn có thời hạn trên 180
ngày.
Điểm kỳ hạn còn sơ cứng: Tỷ lệ % gia tăng của tỷ giá kỳ hạn theo
từng kỳ hạn là cố định, trong khi các biến số xác định nó lại biến động hàng
ngày theo diễn biến thị trường.
2.5.5. Qui định nghiệp vụ hoán đổi của Ngân hàng Nhà nước.
Ngân hàng Nhà nước mới chỉ qui định nghiệp vụ hoán đổi một chiều
(mua giao ngay, bán có kỳ hạn) nên chưa phát huy được tính linh hoạt của
hoạt động này. Việc qui định các kỳ hạn hoán đổi có thể là chưa linh hoạt,
chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng của các NHTM. Hơn nữa Ngân hàng
Nhà nước cũng không qui định cụ thể việc các NHTM có được tất toán hợp
đồng hoán đổi trước hạn hay không, do đó nghiệp vụ này chưa thực sự hấp
dẫn các NHTM. Do thủ tục giao dịch hoán đổi giữa NHTM với Ngân hàng
20
Nhà nước qua đường công văn, và NHTM phải chứng minh được tình hình
thiếu hụt vốn khả dụng bằng VND mới được xem xét quyết định. Như vậy,
có thể nói giao dịch hoán đổi giữa Ngân hàng Nhà nước với các NHTM hiện
nay chưa thực sự đáp ứng được các tình huống kinh doanh diễn ra hàng ngày
của các NHTM.
2.5.6. Nguyên nhân của những hạn chế trong cơ chế điều hành tỷ

giá hiện hành.
- Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển sang nền kinh tế
thị trường, chưa thể áp dụng ngay cơ chế tỷ giá hoàn toàn thả nổi mà phải
thực hiện những bước đi từ từ, vừa làm vừa rút kinh nghiệm.
- Cơ chế quản lý ngoại hối chưa hoàn thiện, việc qui định tỷ lệ kết hối
còn mang nặng tính chất hành chính, không phù hợp với nền kinh tế đang
chuyển mạnh sang nền kinh tế thị trường.
- Quan hệ xuất nhập khẩu của Việt Nam với thế giới mặc dù đã phát
triển mạnh cả về số lượng và chất lượng nhưng vẫn còn hạn chế nên tác
động của tỷ giá đến hoạt động ngoại thương còn ở mức thấp.
- Mức độ đôla hoá cao, các công cụ của chính sách tiền tệ đang trong
quá trình hoàn thiện, đặc biệt công cụ thị trường mở bao gồm cả Wsap ngoại
tệ của Ngân hàng Nhà nước mới được áp dụng khiến đã hạn chế hiệu quả
của chính sách tiền tệ.
- Nghiệp vụ kỳ hạn và hoán đổi là những nghiệp vụ mới, bước đầu đòi
hỏi Ngân hàng Nhà nước phải quản lý chặt chẽ.
Để tiếp tục điều hành tỷ giá trên cơ sở cung cầu về ngoại tệ trên thị
trường nhằm hướng tới chính sách tỷ giá linh hoạt trong ngắn hạn và ổn định
trong dài hạn, thực hiện mục tiêu khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát nhập
21
khẩu, tăng dự trữ ngoại hối và đảm bảo các cân bằng vĩ mô khác cần có
những giải pháp để hoàn thiện hơn nữa cơ chế điều hành tỷ giá hiện nay.

CHƯƠNG 3
MỘT SỐ ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ VỀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ
Ở VIỆT NAM
3.1. Tác động của tỷ giá đến cán cân thương mại:
3.1.1. Tỷ giá là một nhân tố quan trọng:
Ảnh hưởng nhanh và mạnh đến trạng thái cán cân thương mại, chính
vì vậy Việt Nam cần phải tính và công bố chính thức tỷ giá thực đa biên của

VND với các ngoại tệ càng sớm càng tốt.
3.1.2. Để xuất khẩu tăng trưởng mạnh:
Tỷ giá thực không thể quá thấp như ở Việt Nam trong suốt thời gian
qua, vấn đề điều chỉnh tỷ giá phải là điều chỉnh tỷ giá thực đạt mức hợp lý
để điều chỉnh tỷ giá thực đạt được theo mong muốn thì phải làm sao để duy
trì được lạm phát ở một mức thấp và ổn định trong thời gian dài.
3.1.3. Trong những năm gần đây:
Kinh tế Việt Nam phát triển khá ổn định, lạm phát tuy không thật ổn
định nhưng có tỷ lệ bình quân thấp đồng thời trạng thái tỷ giá thực đang ở
22
mức một đơn vị, đây là thời cơ tốt để Việt Nam thực thi chính sách tỷ giá
khuyến khích xuất khẩu thông qua một cuộc “phá giá tích cực VND” để tỷ
giá thực tăng đột biến đạt trị số trên 1,3 đơn vị giống như Trung Quốc đã
làm trong năm 1994.
3.2. Tỷ giá và thị trường ngoại tệ ngầm:
3.2.1. Việt Nam hiện nay:
Nên nhanh chóng hoàn thiện cơ chế tỷ giá theo hướng linh hoạt hơn,
tiến tới tỷ giá cân bằng cung cầu trên thị trường.
3.2.2. Hoàn thiện cơ chế:
Quản lý ngoại hối theo hướng tạo điều kiện cho mọi chủ thể trong nền
kinh tế có nhu cầu, đều có thể tiếp cận và giao dịch mua bán ngoại tệ trên thị
trường ngoại tệ có tổ chức, nghĩa là các nhu cầu hợp lý về ngoại tệ đều được
đáp ứng.
3.2.3. Khắc phục hiện tượng đôla hoá:
phấn đấu trên lãnh thổ Việt Nam chỉ tiêu tiền Việt Nam.
3.2.4. Cần có giải pháp đồng bộ:
Để ngăn chặn hiện tượng chảy máu ngoại tệ do nạn buôn lậu hàng hoá
và vàng hiện tượng đầu tư chui và chuyển lậu ngoại tệ ra nước ngoài.
3.3. Một số đề xuất về điều hành chính sách tỷ giá:
Về lâu dài Ngân hàng Nhà nước nên dỡ bỏ biên độ dao động và không

trực tiếp Ên định tỷ giá, mà chỉ tiến hành can thiệp trên thị trường ngoại hối
để tỷ giá biến động có lợi cho nền kinh tế, đồng thời chuyển hướng từ từ
sang sử dụng công cụ lãi suất để điều tiết thị trường ngoại hối.
Để có một thị trường ngoại tệ liên ngân hàng hoạt động hiệu quả ở
23
Việt Nam Ngân hàng Nhà nước cần tham gia và thực hiện các nghiệp vụ
kinh doanh ngoại tệ kỳ hạn, hoán đổi đúng như quy định trong quy chế
nhằm tạo điều kiện cho các NHTM tham gia tích cực hơn vào thị trường
ngoại hối.
Việc can thiệp của Ngân hàng Nhà nước cần phải diễn ra kịp thời với
quy mô thích hợp có như vậy thị trường mới hoạt động thông suốt và hiệu
quả.
Tiến hành thiết lập một thị trường ngoại tệ liên ngân hàng theo mô
hình tổ chức kép bao gồm thị trường ngoại tệ liên ngân hàng trực tiếp giữa
các ngân hàng và thị trường gián tiếp qua môi giới.
Việc hoàn thiện quy chế giao dịch, hiện đại hoá khâu thanh toán, trang
bị công nghệ thông tin tiên tiến, nâng cao trình độ và kỹ năng kinh doanh
cho cán bộ.
Tăng cường dự trữ ngoại tệ vào Ngân hàng Nhà nước đảm bảo mức
dự trữ cần thiết nhằm tạo đủ nguồn để ngân hàng Nhà nước can thiệp kịp
thời đủ liều lượng thông qua các biện pháp thị trường giúp cho thị trường
ngoại hối được ổn định và thông suốt.
Đa dạng hoá các ngoại tệ trong giao dịch quố tế đưa một số ngoại tệ
mạnh chiếm tỷ trọng nhất định trong thanh toán quốc tế của Việt Nam vào
cơ cấu đối tượng mua bán trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, hạn chế
các biện pháp can thiệp trực tiếp lên tỷ giá và ngoại hối, khơi thông và tiến
tới đưa thị trường ngoại hối quốc gia hội nhập vơí thị trường ngoại hối quốc
tê.
Tăng cường khả năng điều hành vốn của từng hệ thống NHTM để có
thể nhanh chóng thăng bằng cung cầu ngoại tệ trong từng hệ thống NHTM

24
từ cơ sở đến hội sở chính. Thông qua việc mua bán ngoại tệ trong từng hệ
thống, các NHTM thực hiện việc mua bán với nhau và cuối cùng là mua bán
với NHNN. Trên cơ sở điều hoà cung cầu ngoại tệ qua từng hệ thống
NHTM, NHNN mới nắm được tổng cung, tổng cầu trong ngày để có quyết
định về tỷ giá phù hợp.
KẾT LUẬN
Thực tế cho thấy việc quản lý ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước
trong thời gian qua cũng đã đạt được những kết quả khả quan. Tuy nhiên,
trong thời gian tới Ngân hàng Nhà nước cần phải có nhiều chính sách
mới phù hợp hơn với điều kiện hiện nay của nền kinh tế, để loại bỏ được
những hạn chế trước đây đã mắc phải. chính sách quản lý ngoại hối phải
làm sao để có tác dụng thóc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, làm thặng
dư cán cân thanh toán, cán cân thương mại, gia tăng dự trữ ngoại hối
quốc gia, thu hót đầu tư nước ngoài, kiểm soát sức mua của đồng tiền và
tận dụng nguồn vốn trong nước… Do đó vấn đề rất lớn hiện nay chính là
sự phối hợp đồng bộ giữa Chính Phủ và Ngân hàng Nhà nước để đưa ra
các chính sách có hiệu quả. Chúnh ta cũng nên vận dụng kinh nghiệm
của các nước phát triển để áp dụng vào thực tiễn Việt Nam.
25

×