Tải bản đầy đủ (.doc) (3 trang)

FORMOL TRONG THỦY SẢN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (81.86 KB, 3 trang )

II.FORMOL TRONG NTTS
1. Khái niệm
- Formaldehyde là hợp chất hữu cơ có rất nhiều tên gọi khác nhau như formol,
methyl aldehyde, methylene oxide, metanal, là andehyde đơn giản nhất… Công
thức hóa học là HCHO, là hợp chất hữu cơ dễ bay hơi và có khả năng chuyển
sang thể khí ở điều kiện bình thường, không màu, mùi cay xốc, khó ngửi, tan
nhiều trong nước (nếu dung dịch này có khoảng 40% theo thể tích hoặc 37%
theo khối lượng gọi là formon hay formalin). Fomanđêhít lần đầu tiên được
nhà hóa học người Nga Aleksandr Butlerov tổng hợp năm 1859 nhưng chỉ
được Hoffman xác định chắc chắn vào năm 1867.
- Trong tự nhiên, formaldehyde có sẵn trong gỗ, táo, cà chua, khói động cơ,
khói thuốc lá, khói đốt gỗ, dầu và khí hóa lỏng (gaz) Ngoài ra, formaldehyde
còn hiện diện trong các sản phẩm đã qua chế biến như sơn và dầu bóng, gỗ ép,
keo, vải, chất chống cháy, các chất bảo quản và chất cách ly…
-Là hóa chất khử trùng trong trại giống và ao nuôi.
Liều lượng dùng
- Lượng dùng từ 10-25ppm khi bệnh bùng nổ. Sau khi sử dụng formol phải
thay nước để tăng cường oxy trong ao. nhằm loại bỏ chất hữu cơ và nó cũng là
nguyên nhân làm giảm hàm lượng Oxygen trong ao nuôi
- Sử dụng trong ao nuôi phải ngưng cho tôm cá ăn và sau 24h phải thay nước.
- Trong trại giống có thể dùng từ 200-300ppm từ 30 giây -1p để phòng bệnh
MBV trên ấu trùng tôm sú
- Focmol cũng dc dùng để test tôm giống để chọn tôm khỏe.
Tổng hợp
Formaldehyde thường được điều chế từ metanol với chất xúc tác là bạc được
đun ở nhiệt độ khoảng 650°C.
Có hai công nghệ sản xuất công nghiệp formaldehyde hiện nay là:
1. Oxy hóa - dehyđro hóa hỗn hợp metanol - không khí, sử dụng xúc tác Ag,
(quá trình BASF).
2. Oxy hóa hỗn hợp metanol - không khí, sử dụng xúc tác oxit kim loại Fe/Mo,
(quá trình Formox).


Sở dĩ có hai công nghệ sản xuất formaldehyt cùng dựa trên phản ứng oxi hóa
metanol là vì tính chất nổ của hỗn hợp metanol - không khí nằm trong khoảng
nồng độ 6,7 - 36,4% thể tích metanol. Để tránh rơi vào vùng hỗn hợp nổ, quá
trình BASF chọn điều kiện dư metanol (nồng độ metanol > 38%), còn quá trình
FORMOX chọn điều kiện dư oxy (nồng độ MaOH < 6,7%). Hiện nay
formaldehyt được sản xuất theo cả hai công nghệ trên. Mỗi công nghệ được
đặc trưng bởi các ưu điểm và nhược điểm riêng của mình.
Trong công nghiệp, formandehyde được sản xuất bằng cách ôxi hóa metanol có
xúc tác. Các chất xúc tác được sử dụng nhiều nhất là bạc kim loại hay hỗn hợp
của sắt ôxít vớimolypden và vanadi. Trong hệ thống sử dụng sắt ôxít (công
nghệ Formox) phổ dụng hơn, metanol và ôxy phản ứng ở 250 °C để tạo ra
formandehyde theo phương trình sau:
CH
3
OH + ½ O
2
→ H
2
CO + H
2
O
Xúc tác gốc bạc thông thường hoạt động ở nhiệt độ cao hơn, khoảng 650 °C. Ở
đây có hai phản ứng hóa học tạo formandehyde diễn ra đồng thời: phản ứng
đầu giống như phương trình trên, còn phản ứng sau là phản ứng khử hydro
CH
3
OH → H
2
CO + H
2

Sự ôxi hóa tiếp theo của sản phẩm formandehyde trong quá trình sản xuất nó
thông thường tạo ra axít formic, được tìm thấy trong các dung dịch fomanđêhít,
được tính theo giá trị ppm.
Ở mức độ sản xuất ít, foormalin có thể được sản xuất bằng nhiều phương pháp
khác bao gồm sự chuyển hóa từ êtanol thay vì nguồn nguyên liệu mêtanol
thông thường. Tuy nhiên, các phương pháp này không có giá trị thương mại
lớn.
Hiện nay Viện Hóa học Công nghiệp Việt Nam đã lắp thành công dây chuyền
chuyển hóa metanol thành formaldehyde dựa trên xúc tác Ag. Dây chuyền này
hiện đã đi vào hoạt động ổn đinh với công suất 10.000-20.000 tấn/năm.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×