Tải bản đầy đủ (.pdf) (268 trang)

thú rừng - mammalia việt nam hình thái và sinh học sinh thái một số loài. t.2

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (8.39 MB, 268 trang )

i

Mục lục
Tran
g
i Mục lục……………………………………………………
Lời nói đầu……………………………………………… iii
Chương I. Bộ linh trưởng – PRIMATES LINNAEUS, 1758 11
1. Khái quát về bộ linh trưởng…………………………… 11
1.1. Hệ thống phân loại bộ linh trưởng………………………. 11
1.2. Tình hình phân loại thú linh trưởng ở Việt Nam…………. 12
2. Tổng quan về thú linh trưởng……………………………. 16
2.1. Tình hình nghiên cứu thú linh trưởng……………………. 16
2.2. Đặc điểm hình thái phân loại…………………………… 18
2.3. Đặc trưng phân bố của thú linh trưởng ở Việt Nam…… 20
2.4. Giá trị nguồn lợi thú linh trưởng………………………… 22
3. Đặc điểm một số loài thú linh trưởng……………………. 23


Chương II. Bộ ăn thịt – CARNIVORA BOWDICH, 1821 83
1. Khái quát về bộ thú ăn thịt……………………………… 83
1.1. Đặc trưng hình thái phân loại……………………………. 83
1.2. Những số đo cơ bản……………………………………… 84
1.3. Giá trị nguồn lợi………………………………………… 85
1.4. Hệ thống phân loại……………………………………… 86
2. Đặc điểm của một số loài thú ăn thịt…………………… 91





ii
Chương III. Bộ có vòi - PROBOSCIDEA 155
1. Khái quát về bộ có vòi…………………………………… 155
1.1. Một số đặc điểm cơ bản………………………………… 155
1.2. Đặc điểm phân loại và Phân bố………………………… 155
2. Voi châu Á…………………………………………………. 156


Chương IV. Bộ móng guốc ngón lẻ - PERISSDACTYLA 161
1. Khái quát về bộ móng guốc ngón lẻ……………………… 161
1.1. Đặc điểm hình thái……………………………………… 161
1.2. Đặc điểm sinh học sinh thái……………………………… 162
1.3. Đặc điểm khu hệ và phân bố…………………………… 162
2. Đặc điểm một số loài thú móng guốc ngón lẻ……………. 165


Chương V. Bộ móng guốc ngón chẵn - ARTIODACTYLA 175
1. Khái quát về bộ thú móng guốc ngón chẵn……………… 175
2. Một số đặc điểm cơ bản của thú móng guốc ngón chẵn 177
2.1. Một số Đặc điểm hình thái……………………………… 177
2.2. Một số đặc điểm sinh học sinh thái………………………. 178
2.3. Đặc điểm phân bố ở Việt Nam…………………………… 179
3. Đặc điểm của một số loài thú móng guốc ngón chẵn…… 183
4. Giá trị của thú móng guốc ngón chẵn……………………
.
235
4.1. Giá trị nguồn gen quý hiếm dự trữ trong thiên nhiên……. 235
4.2. Giá trị kinh tế…………………………………………… 236
4.3. Giá trị dược liệu………………………………………… 237
4.4. Các giá trị khác………………………………………… 237

Tài liệu tham khảo tiếng việt……………………………… 239
Tài liệu tham khảo tiếng Anh……………………………… 243


iii

Mở đầu

Lãnh thổ Việt Nam trải dài trên nhiều vĩ tuyến theo hướng
Bắc - Nam từ 8
0
đến 23
0
vĩ Bắc; có hàng nghìn kilômét biên giới
với nhiều quốc gia láng giềng, có bờ biển dài 3260km. Địa hình đa
dạng từ 0m lên đến độ cao lớn nhất là đỉnh núi Fangxipăng cao
3140m so với mặt nước biển, 3/4 lãnh thổ là đồi núi và hai đồng
bằng rộng lớn: đồng bằng sông Hồng ở phía Bắc, đồng bằng sông
Cửu Long ở phía Nam. Tuy nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió
mùa, nhưng do địa hình đa dạng nên khí hậu thay đổi từ điều kiện
nhiệt đới ở phía Nam đến điều kiện ôn đới núi cao ở phía Bắc tạo
nên sự đa dạng các hệ sinh thái. Làm nền tảng sự hình thành đa
dạng sinh học, trong đó có các loài động vật hoang dã. Động vật
hoang dã ở Việt Nam rất phong phú trong đó có thành phần các loài
thú thuộc bộ linh trưởng (Primates), bộ ăn thịt (Carnivora), bộ thú
guốc chẵn (Artiodaetyla), bộ guốc lẻ (Perissodaetyla) và bộ có vòi
(Proboscidea). Đây là những loài thú có giá trị kinh tế đồng thời có
ý nghĩa bảo tồn cao ở Việt Nam và trên thế giới, nhất là trong thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng như trong tình hình
biến đổi khí hậu hiện nay.

Thực vậy Việt Nam cũng giống như hầu hết các dân tộc trên
hành tinh này, khi nói đến các nguồn tài nguyên động vật, là bao
gồm các loài động vật đã được con người thuần hóa trở thành những
con vật nuôi hiền hậu luôn luôn sống gắn bó với con người như:
trâu, bò, dê, cừu, ngựa, lợn, thỏ, gà, vịt, ngỗng đã mang lại nhiều
lợi ích thiết thực cho con người và các loài động vật hoang dã đang
sống, phân bố trên khắp các hệ sinh thái chưa được sự ấp ủ, chăm
sóc của con người. Nhưng chính các giống, loài hoang dã này cũng
đ
ã từng mang lại cho loài người nhiều lợi ích vô cùng to lớn. Thực
ra cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào
lượng giá được hết các ý nghĩa về chức năng sinh thái và giá trị
kinh tế cụ thể của các loài động vật sống hoang dã trong từng vùng
lãnh thổ, từng hệ sinh thái trên cạn cũng như các vùng đất ngập
nước. Nhưng tất cả đều ý thức được rằng động vật nói chung và tài
nguyên động vật hoang dã trong đó có các loài thú linh trưởng
(vượn, khỉ), thú ăn thịt (hổ, báo ), thú có guốc (tê giác, bò rừng,


iv
nai ) và voi nói riêng, là một tài sản vô giá của nhân loại. Đây là
quỹ gen tự nhiên có tiềm năng chịu đựng tốt với các yếu tố khí hậu
khắc nghiệt của thiên nhiên tạo nên tính thích nghi cao, sản sinh ra
nhiều sản phẩm có chất lượng cao, có mùi vị thơm, ngon, lượng mỡ
thấp, hàm lượng đạm có hoạt tính sinh học cao Đó là nguyên liệu
di truyền làm nền tảng để lai tạo làm phong phú cho các giống, loài
đã được thuần hóa, nuôi dưỡng qua nhiều thế hệ.
Với giá trị đa mục đích của các loài động vật hoang dã nói
chung, các loài thú linh trưởng, thú ăn thịt, thú có guốc nói riêng
nên ngay từ thế kỷ XIII trong sách "Nam dược thần hiệu". Danh y

Tuệ Tĩnh đã thống kê 480 vị thuốc nam trong đó có 36 loài thú, 32
loài côn trùng, 8 loài có vẩy, 35 loài cá, 6 loài rùa, 39 loài chim và
chính Hải Thượng Lãn Ông cũng ghi nhận trong Lĩnh Nam bản
thảo; trong công trình của Đỗ Tất Lợi (1991) có mô tả nhiều loài
động vật làm thuốc; Võ Văn Chi (1998) đã ghi nhận mô tả 454 loài
động vật có xương sống và không xương sống có giá trị làm thuốc
Với giá trị to lớn của các loài thú thuộc bộ linh trưởng, bộ ăn thịt,
bộ có guốc, bộ có vòi ở Việt Nam, chúng tôi đã tiến hành điều tra
nghiên cứu ngoài thực địa trên hầu hết các vùng địa lý khác nhau
trong 7 vùng sinh thái của Việt Nam, và kế thừa tham khảo thu thập,
phân tích các tư liệu của các nhà khoa học trong và nước ngoài từ
trước đến nay đã thống kê được 85 loài thú thuộc 17 họ nằm trong 5
bộ (linh trưởng, ăn thịt, có guốc ngón lẻ, ngón chẵn, có vòi) trong
đó có 63 loài, chiếm 70,0% tổng số loài thú đang có nguy cơ bị
tuyệt chủng, bị giảm sút số lượng đã được ghi trong Sách Đỏ Việt
Nam (2007). Trong số này có 11 loài nguy cấp và 5 loài cho đến
nay vẫn không còn xuất hiện trong thiên nhiên; 53/63 loài có tên
trong phụ lục IB, IIB Nghị định 32-2006/NĐ-CP. Qua đó cho thấy
tình hình suy giảm về số lượng các loài thú thuộc 5 bộ thú nói trên
là đáng báo động. Nhằm góp phần làm cơ sở cho chiến lược quản
lý, bảo tồn và phát triển bền vững các loài thú có giá trị kinh tế và
bảo tồn cao ở Việt Nam. Với sự đầu tư kinh phí của Viện Khoa học
và Công nghệ Việt Nam, tập thể các cán bộ nghiên cứu về thú của
Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật tập hợp xử lý phân tích các
tài liệu có liên quan để biên soạn tập II v
ề Thú rừng (Mammalia)
Việt Nam. (Hình thái sinh học sinh thái) của các loài thú thuộc bộ
linh trưởng (Primates), bộ thú ăn thịt (Carnivora), bộ thú guốc lẻ
(Perissodactyla), bộ guốc chẵn (Artiodactyla) và bộ có vòi



v


(Proboscidea) nhằm cung cấp thêm những tư liệu về hình thái sinh
học sinh thái của các loài thú ở Việt Nam, góp phần làm cơ sở khoa
học trong việc triển khai các chương trình nghiên cứu, kế hoạch bảo
tồn nguyên vị (Insitu) và chuyển vị (Exsitu) các loài động vật hoang
dã ở Việt Nam.
Tập I đã được Nhà xuất bản Khoa học tự nhiên và công nghệ
xuất bản năm 2007; tiếp theo tập I, tập II được biên soạn bởi tập thể
tác giả: GS. TSKH. Đặng Huy Huỳnh chủ biên, PGS. TS. Lê Xuân
Cảnh biên soạn bộ linh trưởng; PGS. TS. Nguyễn Xuân Đặng, TS.
Phạm Trọng Ảnh biên soạn bộ ăn thịt. TS. Hoàng Minh Khiên, ThS.
Đặng Huy Phương biên soạn bộ có vòi, bộ móng guốc ngón lẻ, bộ
móng guốc ngón chẵn.
Tập thể các tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn các nhà khoa học,
bạn đồng nghiệp ở các Viện nghiên cứu, các trường Đại học, các
Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên đã cho tham khảo tài liệu
quý báu. Đặc biệt tập thể tác giả chân thành cảm ơn Hội đồng biên
tập, Ban Giám đốc Nhà xuất bản Khoa học tự nhiên và Công nghệ
đã tạo điều kiện giúp đỡ để biên soạn bộ sách này. Chuyên khảo
được soạn thảo với thời gian và điều kiện vật chất có hạn, chắc chắn
còn thiếu sót. Các tác giả mong nhận được sự đóng góp ý kiến quý
báu của các bạn đồng nghiệp và bạn đọc để bổ sung hoàn chỉnh
trong thời gian tới.

TM. Tập thể các tác giả
Chủ biên
GS. TSKH Đặng Huy Huỳnh







vi
FOREST MAMMALS (MAMMALIA) OF VIETNAM
MORPHOLOGY, BIOLOGY AND ECOLOGY OF KEY SPECIES.
(VOLUME II)


Dang Huy Huynh (Chief editor),
Pham Trong Anh, Le Xuan Canh, Nguyen Xuan Dang,
Hoang Minh Khien, Dang Huy Phuong.


Monography “Forest Mammals (Mammalia) of Vietnam:
Morphology, Biology and Ecology of Key species” was prepared by
oustanding scientists from Institute of Ecology and Bilogical
Resource (IEBR), Vietnam’s Academy of Science and Technology.
The monograph consists of 2 volumes. Volume I which was
published by Publishing House of Natural Science and Technology
in 2007 consists of 4 chapters:
- Chapter 1. Overview of history of mammal study in Vietnam
- Chapter 2. Main characteristics of Mammal fauna of Vietnam
- Chapter 3. Characteristics of Insectivora, Scandetia and
Dermoptera
- Chapter 4. Order Chiroptera
Volume II consists of 5 chapters:

- Chapter 1. Order Primates (Primates)
- Chapter 2. Order Carvivore (Carvivora)
- Chapter 3. Order Elephants and Tapirs (Proboscidea)
- Chapter 4. Order Odd-toed Ungulates (Perissodactyla)
- Chapter 5. Order Even-toed Ungulates (Artiodactyla)
Each chapter provides updated information on general
characteristics of the described order (typical morphological
taxonomic features, taxonomic review, distribution and importance)
and detailed information on key species. For each key species
information on following characteristics are provided:
- Vietnamese names


vii


- Scientific nam, including main synonyms
- Morphological features: Description of external morphological
features
- Biological and Ecological features: Habitat requirement, food
and feeding ecology, activity pattern, bahaviour, population size
and structures, breeding, etc.
- Distribution: Global and national distribution
- Significance: Economical, scientific, etc.
- Conservation status: Enlisting IUCN Red List, Vietnam Rad
Data Book, Decree 32/2006/NDCP, est.
Totally, 74 mammal species are described in Volume II, ac
following:

Order Primates Primates

1. Slow Loris
Nycticebus bengalensis
2. Lesser Slow Loris
Nycticebus pygmaeus
3. Stump-Tailed Macaque
Macaca arctoides
4. Rhesus Macaque
Macaca mulatta
5. Assamese Macaque
Macaca assamensis
6. Crab-Eating Macaque
Macaca fascicularis
7. Pig-Tailed Macaque
Macaca leonia
8. Grey Langur
Trachypithecus barbei
9. Francoi’s Langur
Trachypithecus francoisi
10. Golden-headed Langur
Trachypithecus
poliocephalus
11. Delacour’s Langur
Trachypithecus delacouri
12. Hatinh’s Langur
Trachypithecus hatinhensis
13. Indochinese Silvered Langur
Trachypithecus germaini
14. Black Langur
Trachypithecus ebenus



viii
15. Tonkin Snuc-Nosed Monkey
Rhinopithecus avunculus
16. Black-Shaned Douc Langur
Pygathrix nigripes
17. Red-Shaned Douc Langur
Pygathrix nemaeus
18. Grey-Shaned Douc Langur
Pygathrix cinerea
19. Western Black Crested Gibbon
Nomascus concolor
20. Eastern Black Crested Gibbon
Nomascus nasutus
21. Purple-Cheeked Crested
Gibbon
Nomascus siki
22. Yellow-Cheeked Crested
Gibbon
Nomascus gabriellae
23. White-Cheeked Crested
Gibbon
Nomascus leucogenys
Order Carnivores Canivora
24. Raccoon Dog
Nyctereutes procyonoides
25. Red Dog
Cuon alpinus
26. Asiatic Black Bear
Ursus thibetanus

27. Malayan Sun Bear
Ursus malayanus
28. Hog Badger
Arctonyx collaris
29. Small-Clawed Otter
Aonyx cinerea
30. Hairy-Nosed Otter
Lutra sumatrana
31. Common Otter
Lutra lutra
32. Smooth-Coated Otter
Lutrogale perspicillata
33. Yellow-Throated Marten
Martes flavigula
34. Small-Toothed Marten
Melogale moschata
35. Yellow-Bellied Weasel
Mustela moschata
36. Binturong
Arctictis binturong
37. Three-Striped Palm Civet
Arctogalidia trivirgata
38. Owston’s Banded Civet
Hemigalus owstoni


ix


39. Masked Palm Civet

Paguma larvata
40. Common Palm Civet
Paradoxurus
hermaphroditus
41. Spotted Linsang
Prionodon pardicolor
42. Large - Spotted Civet
Viverra megaspila
43. Large Indian Civet
Viverra zibetha
44. Small Indian Civet
Viverricula indica
45. Small Asian Mongoose
Herpestes javanicus
46. Crab - Eating Mongoose
Herpestes urva
47. Jungle Cat
Felis chaus
48. Spotted Leopard
Panthera pardus
49. Tiger
Panthera tigris
50. Marbled Cat
Pardofelis marmorata
51. Clouded Leopard
Pardofelis nebulosa
52. Leopard Cat
Prionailurus bengalensis
53. Fishing Cat
Prionailurus viverrinus

54. Golden Cat
Catopuma temminckii
Order Elephants Proboscidea
55. Asian Elephant
Elephas maximus
Order Odd - toed Ungulates Perissodactyla
56. Malayan Tapir
Tapirus indicus
57. Sumatran Rhinoceros
Dicerorhinus sumatrensis
58. Vietnamese Rhinoceros
Rhinoceros sondaicus
Order Even - toed Ungulates Artiodactyla
59. Wild Boar
Sus scrofa
60. Lesser Malay Mouse Deer
Tragulus javanicus
61. Hog Deer
Axis porcinus


x
62. Brown - Antlered Deer
Cervus eldii
63. Sika Deer
Cervus nippon
64. Sambar
Cervus unicolor
65. Common Barking Deer
Muntiacus muntjak

66. Truongson’s Muntjac
Muntiacus truongsonensis
67. Giant muntjac
Megamuntiacus
vuquangensis
68. Chinese Forest Musk Deer
Moschus berezovskii
69. Gaur
Bos gaurus
70. Banteng
Bos javanicus
71. Kouprey
Bos sauveli
72. Wild Water Buffalo
Bubalus arnee
73. Southern Serow
Naemorhedus sumatraensis
74. Sao la
Pseudoryx nghetinhensis



Chương I
BỘ LINH TRƯỞNG - PRIMATES LINNAEUS, 1758

1. Khái quát về bộ linh trưởng
1.1. Hệ thống phân loại thú linh trưởng
Hệ thống phân loại thú nói chung và linh trưởng nói riêng còn nhiều
điều cần phải bàn. Trong 10 năm trở lại đây (từ 1992) và đặc biệt từ
năm 1995 có nhiều công trình bổ sung cho vấn đề phân loại thú linh

trưởng trên thế giới trong đó có Việt Nam như: (Cobert G. B., 1992;
Phạm Nhật 1993; Groves C. P., 1993, 2001; Đặng Huy Huỳnh, Đào
Văn Tiến và cs, 1994; Thomas Geissman, 1994; Lippold & Vũ
Ngọc Thành, 1995; Jack Fooden, 1995, 1997; Nadler. T., 1995,
1997, 2000, G. V. Kuznetsov, 2006, Đặng Huy Huỳnh, Cao Văn
Sung, Lê Xuân Cảnh & cs, 2008, Đặng Ngọc Cần, Hideki Endo &
cs, 2008).
Theo hệ thống phân loại của Colin Groves (2001) hiện nay bộ
thú linh trưởng thế giới có 14 họ 65 giống và 351 loài. Cụ thể như
sau:
Bảng 1. Thành phần các loài thú linh trưởng trên thế giới
TT Họ Số giống Số loài
1. Họ Cheirogaleidae 5 17
2. Họ Lemuridae 5 18
3. Họ Melagadapidae 1 7
4. Họ Indridae 3 8
5. Họ Daubentoniidae 1 1
6. Họ Loridae 5 9
Đặng Huy Huỳnh và các cộng sự
12
7. Họ Galagolidae 3 15
8. Họ Tarsiidae 1 8
9. Họ Cebidae 6 52
10. Họ Pitheciidae 4 25
11. Họ Atelidae 5 24
12. Họ Cercopithecidae 20 120
13. Họ Hylobatidae 1 14
14. Họ Hominidae 5 7
1.2. Tình hình phân loại thú linh trưởng ở Việt Nam
Tất cả các nhà phân loại hầu hết đã nhất trí với hệ thống phân loại

tới cấp độ họ và khẳng định rằng ở Việt Nam hiện nay có 3 họ đang
phân bố là: họ cu li (Loridae), họ khỉ (Cercopithecidae) và họ vượn
(Hylobatidae).
Đối với cấp độ giống hiện nay các tác giả về cơ bản cũng đã
thống nhất, tuy nhiên cũng còn một số vấn đề cần được nghiên cứu
thêm, đặc biệt trong họ khỉ (Cercopithecidae) và họ vượn
(Hylobatidae).
Ở cấp độ loài của nhóm thú linh trưởng hiện nay ở Việt Nam còn
rất nhiều vấn đề cần giải quyết. Phương pháp phân loại dựa trên các
đặc điểm hình thái hiện nay ở cấp độ loài và phân loài gặp rất nhiều
khó khăn. Nhiều trường hợp đã phải nhờ tới kỹ thuật phân tích phân
tử ADN và phân tích di truyền.
Họ cu li trên thế giới có 5 giống và 9 loài, trong đó ở Châu Á có
2 giống và 3 loài. Giống Loris có 2 loài L. lydekkerianus
lydekkerianus (Cabrera, 1908) và L. tardigradus (Linnaeus, 1758),
phân bố ở các nước Ấn Độ, Sri Lanka, Malaixia và Inđônêxia.
Giống Nycticebus có 3 loài phân bố rộng rãi ở các nước Đông Nam
Châu Á, trong đó 2 loài cu li lớn (N. bengalensis) và cu li nhỏ (N.
pygmaeus) phân bố ở Việt Nam. Tuy nhiên từ trước tới nay các nhà
linh trưở
ng học vẫn sử dụng tên loài cu li lớn ở Việt Nam là N.
coucang phân bố ở Việt Nam. Riêng cu li nhỡ (Nycticebus
intermedius) được Ông Đào Văn Tiến mô tả vào năm 1960 như một
loài và sau đó nhiều nhà nghiên cứu đã coi đây là đồng loài với cu li
nhỏ. Hiện nay tác giả chưa có đủ thông tin và số liệu để coi cu li
nhỡ là một loài riêng biệt.
Chương I: BỘ LINH TRƯỞNG - PRIMATES LINNAEUS, 1758

13
Họ khỉ hiện nay được phân ra làm hai họ phụ là họ phụ khỉ

(Cercopithecinae) và họ phụ voọc (Colobinae). Họ phụ khỉ ở châu
Á hiện có 1 giống với 18 loài, trong đó ở Việt Nam có 5 loài. Trong
số 5 loài có 2 loài phân bố rộng rãi từ Bắc tới Nam (Macaca
artoides và M. leonina (nemestrina), 2 loài phân bố ở phía Bắc và
Miền Trung là khỉ vàng (Macaca mulatta) và khỉ mốc (Macaca
assamensis), 1 loài phân bố ở phía Nam là khỉ đuôi dài (Macaca
fascicularis). Ở mức độ phân loài ở Việt Nam có phân loài khỉ mốc
asam (M. assamensis assamensis McClelland, 1840), khỉ đuôi dài
đất liền (M. fascicularis fascicularis (Rafler, 1821)), khỉ đuôi dài
côn đảo (M. f. condorensis Kloss, 1926) và khỉ vàng siam (M.
mulatta siamica, Kloss, 1917).
Việc đổi tên loài M. nemestrina thành M. leonina ở Việt Nam
dựa trên cơ sở thông tin di truyền của loài (Evans et al., 1999;
Morales and Melnick, 1998; Tosi et al., 2000) và một số đặc điểm
khác trong Bernstein, 1970.
Vấn đề phân loại họ phụ voọc ở Việt Nam cho tới nay cũng còn
nhiều tranh luận. Số lượng các loài trong các giống chưa được các
nhà phân loại học thống nhất một cách tuyệt đối. Theo những tài
liệu mới nhất hiện nay tác giả nhất trí rằng ở Việt Nam hiện nay họ
phụ voọc có 4 giống: Trachypithecus, Pigathrix, Presbytis và
Rhinopithecus với 11 loài.
Giống chà vá (Pygathrix E´. Geoffroy Saint-Hilaire, 1812) được
các nhà thú học nghiên cứu và phân tích khá kỹ. Theo Brandon-
Jones et al. (2004) giống này ở Việt Nam có hai loài là chà vá chân
đỏ và chà vá chân đen, trong đó loài chà vá chân đỏ có hai phân loài
là chà vá chân đỏ (P. nemaeus nemaeus) và chà vá chân xám (P.
nemaeus cinerea). Tuy nhiên theo tài liệu mới nhất (Groves 2001,
2005) và phân tích di truyền thì loài chà vá chân đỏ và chà vá chân
xám được coi là hai loài riêng biệt trong tài liệu này.
Giống voọc mũi hếch (Genus Rhinopithecus Milne-Edwards,

1872) được các tác giả Groves (1970) and Brandon-Jones (1984,
1996) coi như phân loài của Pygathrix nhưng qua một số đặc điểm
hình thái và số liệu di truyền cho thấy giống Rhinopithecus và giống
Pygathrix là hai giống khác biệt nhau và cũng đồng quan điểm v
ới
Groves (2001).
Đặng Huy Huỳnh và các cộng sự
14
Giống Trachypithecus ở Việt Nam tuy đã được nhiều nhà khoa
học nghiên cứu tương đối kỹ nhưng cũng còn một số vấn đề cần bàn
luận. Trước đây một số nhà phân loại (Grovves, 2001, Brandon-
Jones, 1995, 1996) cho rằng giống Trachypithecus ở Việt Nam là
giống Pygathrix hay Semnopithecus. Thực tế những giống này có
những đặc điểm hình thái rất giống nhau. Về mức độ loài hay phân
loài trong giống Trachypithecus cũng có nhiều quan điểm khác
nhau, cụ thể có bao nhiêu loài, bao nhiêu phân loài. Trên cơ sở
những đặc điểm hình thái rất khó phân loại. Ngày nay những
phương pháp phân tích ADN và di truyền phân tử đã được áp dụng
trong phân loại nhưng những sự thống nhất vẫn chỉ là tương đối.
Trachypithecus germaini (Schlegal, 1876) được các số liệu về
phân tử ủng hộ mạnh cho việc xếp ở bậc loài riêng biệt. Mặc dù
khoảng cách di truyền không lớn (3%) giữa T. germaini và T.
cristatus, nhưng cũng tương đương với khoảng cách di truyền giữa
hai loài T. cristatus và T. auratus (3,1%). Trước đây, các quần thể
voọc bạc ở Đông Nam Á đều được xếp vào loài T. cristatus
(Raffles, 1921). Groves (2001) đã nâng phân loài T. cristatus
germaini ở phía bắc vùng phân bố của T. cristatus lên thành loài
riêng biệt là T. germaini, gồm hai phân loài T. g. germaini (Milne -
Edwards, 1876) và T. g. caudalis (Dao, 1977). Phân bố của T. g.
caudalis được cho rằng ở miền Trung Việt Nam, nhưng từ khi mô tả

đến nay không có tài liệu nào nhắc tới sự phân bố của phân loài này.
Brandon - Jones et.al. (2004) đã đổi T. cristatus (Raffles, 1921)
thành T. villosus (griffith, 1821) với 3 phân loài: T. v. villosus
(Griffith, 1821), thay cho T. cristatus cũ ở phía nam, T. v. germaini
(Schlegal, 1876) phân bố ở Thái Lan, Cămpuchia và tây Việt Nam.
Loài T. v. margarita (Eliot, 1909) phân bố ở Thái Lan, Cămpuchia
và nam Việt Nam, tuy nhiên chưa thấy tác giả nào mô tả hình thái
phân biệt hai phân loài sau, nên hiện nay voọc bạc ở Việt Nam vẫn
được coi là loài T. germaini (Milne-Edwards, 1876) như trong tài
liệu phân loại của Groves (2001). Hiện nay cũng có tài liệu (Sách
Đỏ Việt Nam, 2007) sử dụng tên loài là T. villosus chung cho cả 3
phân loài theo Brandon - Jones et. al (2004).
Theo hệ thống phân loại của Brandon - Jones (2004) loài T.
barbei (Blyth, 1847) có 3 phân loài: T. barbei barbei (Blyth, 1847),
T. barbei argenteus, (Kloss, 1919) và T. barbei holotephreus
(Anderson 1879). Quần thể voọc xám ở Việt Nam trước đây vẫn
Chương I: BỘ LINH TRƯỞNG - PRIMATES LINNAEUS, 1758

15
được coi là T. phayrei (blyth, 1847) và chỉ những năm gần đây mới
được ghi nhận là phân loài T. phayrei crepusculus (Elliot 1909) và
tên đồng vật là Presbytis crepusculus Elliot, 1909; Presbytis c.
wroughtoni Elliot, 1909 và Presbytis crepusculus Kloss, 1919,
thuộc nhóm voọc obscurus và Brandon - Jones et. al. (2004) đã gộp
chúng vào tên T. barbei holotephreus (Anderson 1879). Như vậy
theo những phân tích ở trên loài voọc xám ở Việt Nam có thể coi ở
mức độ loài T. barbei (Blyth, 1847) vì chỉ có một phân loài phân bố
ở Việt Nam. Hơn nữa cũng chưa có cơ sở chắc chắn cho rằng sự
khác biệt di truyền của 3 taxon trong loài chỉ ở mức độ phân loài.
Cần có thêm những nghiên cứu sâu về di truyền của loài này.

Trachypithecus francoisi (Pousagues, 1898) gồm 3 phân loài T. f.
francoisi (Pousagues, 1898), T. f. policephalus (Trouerssart, 1911)
và T. f. leucocephalus Tan, 1955, trong đó hai phân loài đầu phân
bố ở Việt Nam và phân loài cuối phân bố ở Trung Quốc. Trên cơ sở
phân tích di truyền thấy rằng khoảng cách di truyền giữa T. f.
francoisi (Pousagues, 1898), T. f. policephalus (Trouerssart, 1911)
trên cơ sở gen cytochrome b là rất thấp, nhưng Roos (2000) và
Groves (2001) vẫn xếp T. p. policephalus ở mức độ loài riêng biệt.
Brandon - Jones et. al. (2004) đã xếp loài voọc đen tuyển T. f.
ebenus (Brandon - Jones, 1995) ở mức độ phân loài. Tuy nhiên
Groves (2005) cho voọc đen tuyền ở Việt Nam là một loài riêng
biệt. Căn cứ vào cây phát sinh chủng loại và những đặc điểm hình
thái của loài có thể coi đây là một loài riêng biệt. Tuy nhiên cần có
thêm những nghiên cứu sâu hơn về mặt di truyền để khẳng định.
Trachypithecus delacouri (Osgood, 1932) thể hiện là một loài
riêng biệt vì khoảng cách di truyền của chúng so với các loài và
phân loài khác trong nhóm francoisi là cao (3,1%) (Đặng Tất Thế
et. al. (2004). Osgood (1932) đã xếp voọc mông trắng là một loài
riêng biệt ngay từ khi mô tả lần đầu. Nhưng phần lớn các tài liệu
khác ghi nhận voọc mông trắng ở Việt Nam là phân loài của T.
francoisi. Gần đây nhiều tác giả đã nhất trí xếp voọc mông trắng là
loài riêng biệt (Brandon - Jones et. al., 2004).
Trachypithecus hatinhensis (Dao, 1970) có giá trị là loài riêng
biệt rõ nét nhất trong nhóm francoisi. Có khoảng cách di truyền l
ớn
nhất so với tất cả các loài trong nhóm (5,3%) (Đặng Tất Thế et. al.
Đặng Huy Huỳnh và các cộng sự
16
2004). Gần đây hầu hết các nhà nghiên cứu thừa nhận đây là một
loài riêng biệt.

Nhóm vượn ở Việt Nam cũng gặp rất nhiều ý kiến khác nhau
trong phân loại. Phần lớn các nhà phân loại xếp các loài vượn ở
Việt Nam vào giống Hylobates. Một số tác giả như Thomas
Geissman (1994) xếp các loài vượn này vào giống Nomascus. Sau
đó một số công trình nghiên cứu cũng xếp các loài vượn ở Việt
Nam vào giống Nomascus. Theo hệ thống phân loại mới của Colin
Groves (Primates Taxonomy, 2001) thì các loài vượn phân bố ở
Việt Nam được xếp vào giống Hylobates và giống phụ Nomascus.
Brandon - Jones et. al. (2004) xếp nhóm vượn ở Việt Nam vào giống
Nomascus. Căn cứ vào những dẫn liệu trên thì hiện nay ở Việt Nam
ghi nhận được 1 giống Nomascus (Miller, 1933) với 5 loài và phân
loài đó là vượn đen tuyền - Nomascus concolor concolor (Harlan,
1826), vượn hải nam - N. sp. cf. nasutus nasutus (Khnkel
d''Hercularis, 1884), vượn má trắng - N. leucogenys leucogenys
(Ogilby, 1840), vượn má hung N. leucogenys siki (Delacour, 1951)
và vượn má vàng - Nomascus gabriellae (Thomas, 1909).
2. Tổng quan về thú linh trưởng ở Việt Nam
2.1. Tình hình nghiên cứu thú linh trưởng
Tình hình nghiên cứu thú linh trưởng ở Việt Nam phát triển rất
nhanh theo từng thời kỳ và được bắt đầu rất sớm song song với
những nghiên cứu về đa dạng sinh vật nói chung và nhóm thú nói
riêng. Những nghiên cứu đó được bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX, đầu
thế kỷ XX và chủ yếu do những tác giả nước ngoài thực hiện. Các
nhà khoa học Việt Nam bắt đầu nghiên cứu đa dạng sinh vật trong
đó có nhóm thú linh trưởng từ những năm 60 trở lại đây. Có thể tóm
lược tình hình nghiên cứu thú linh trưởng vào 3 thời kỳ như sau: (1)
trước năm 1954, (2) từ 1954 tới 1975 và (3) từ 1976 tới nay.
Thời kỳ thứ nhất: trước 1954, những nghiên cứu về nhóm thú
linh trưởng ở Việt Nam chủ yếu do những ng
ười nước ngoài thực

hiện như: Milne-Edwards 1867-1874; Morice, 1875; A. Billet,
1896-1898; Bountant, 1900-1906; de Poursagues, 1904; Trouessart
L. L., 1911; Dolman, 1912; H. Osgood, 1932; R. Bourret, 1942; J.
Delacour, 1940; v.v. Trong những công trình đó, các tác giả đề cập
Chương I: BỘ LINH TRƯỞNG - PRIMATES LINNAEUS, 1758

17
đến đa dạng sinh vật ở Việt Nam và Đông Dương. Một số tác giả có
những công trình chuyên khảo về thú linh trưởng như: Trouessart L.
L., 1911; Dolman, 1912; H. Osgood, 1932; R. Bourret, 1942; J.
Delacour, 1940. Phần lớn các mẫu thu được trong những nghiên
cứu đã được lưu giữ và bảo quản tại các bảo tàng Pari, Chicago và
Luân Đôn.
Thời kỳ thứ hai (1954-1975): Sau năm 1954, Việt Nam đã hoàn
toàn giải phóng khỏi thực dân pháp. Những nghiên cứu khoa học về
đa dạng sinh vật được những người Việt Nam thực hiện. Từ những
năm 1957-1960, phần lớn những nghiên cứu được triển khai trên
phạm vi hẹp và chủ yếu phục vụ cho công tác giảng dạy trong các
trường đại học. Trong những năm 60 của thế kỷ XX, đã bắt đầu
quan tâm tới công tác nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh vật. Công
việc đó được thể hiện bằng quyết định thành lập Vườn quốc gia đầu
tiên (Cúc Phương) vào năm 1962 nhằm bảo tồn đa dạng sinh vật nói
chung và loài linh trưởng quý hiếm và đặc hữu là loài voọc quần đùi
(Trachypithecus delacouri). Bắt đầu từ thời gian này, những nghiên
cứu về sinh học được triển khai sâu rộng hơn. Người Việt Nam đầu
tiên có những công trình nghiên cứu về linh trưởng là GS. Đào Văn
Tiến. Ông đã có nhiều công trình nghiên cứu sâu về nhóm thú linh
trưởng và có nhiều phát hiện mới về nhóm này (Đào Văn Tiến,
1960, 1970). Sau đó, những nhà nghiên cứu Việt Nam khác như: Võ
Quí, Lê Hiền Hào (1960), Đặng Huy Huỳnh, Đỗ Ngọc Quang

(1962), Cao Văn Sung, Hà Đình Đức, Phạm Trọng ảnh, Bùi Kính,
Trần Hồng Việt (1964) bắt đầu nghiên cứu về nhóm thú này.
Thời kỳ thứ 3 (sau 1975): Từ năm 1975, Việt Nam hoàn toàn
giải phóng khỏi cuộc chiến tranh xâm lược do đế quốc Mỹ gây ra
và đây cũng là thời kỳ những nghiên cứu về sinh học được triển
khai mạnh mẽ trong đó có những nghiên cứu sâu về nhóm linh
trưởng. Những kết quả nghiên cứu được thể hiện trong các công
trình: Đào Văn Tiến 1983, 1985, 1989; Lê Xuân Cảnh 1992, 1994,
1997, 1998, 2000, 2008; Nguyễn Xuân Đặng 1998, 2000; Phạm
Nhật 1993, 1994, 1995, 1998, 2000, G. V. Kuznetsov, 2006, Đặng
Ngọc Cần, 2008.
Ngoài ra còn rất nhiều công trình của các nhà khoa học trong và
ngoài nước tiến hành nghiên cứu nhóm thú linh trưởng ở Việt Nam
trên từng vùng và địa phương và cũng là những tư liệu quý về sinh
Đặng Huy Huỳnh và các cộng sự
18
học, sinh thái các loài thú linh trưởng. Trên cơ sở đó đã có một loài
voọc chân xám mới cho khoa học được phát hiện (Pygathrix
cinerea) và một loài voọc đen tuyền được phát hiện lại tại Việt Nam
(Trachypithecus ebenus).
2.2. Đặc điểm hình thái phân loại
Đặc điểm hình thái của nhóm thú linh trưởng rất đa dạng. Trên cơ
sở điều tra và các tài liệu đã công bố dựa vào hệ thống phân loại đã
được phân tích thì ở Việt Nam hiện có 3 họ, 6 giống và 22 loài. Họ
cu li có màu sắc và kích thước khác biệt rất rõ ràng so với những họ
khác và các loài trong họ có trọng lượng nhỏ nhất 0,45-1kg. Họ khỉ
có đa dạng hình thái lớn nhất và tập trung vào phân họ voọc. Phân
họ khỉ chỉ có 1 giống nên đặc điểm hình thái không đa dạng nhiều
so với phân họ voọc. Họ vượn cũng không có sự khác biệt nhiều
trong hình thái phân loại nên có nhiều phức tạp trong việc phân loại

tới loài hoặc phân loài.
Đặc trưng của nhóm động vật này là tứ chi rất phát triển, bàn
chân, bàn tay đều có ngón, các ngón có móng nên rất thích hợp cho
cuộc sống leo trèo.
Về mặt phân loại học cho đến nay còn rất nhiều quan điểm khác
nhau. Theo Sokolov, 1973 bộ linh trưởng có 11 họ, 53 giống và 192
loài, nhưng theo Groves, 1992 trong bộ linh trưởng có 14 họ, 57
giống và 234 loài và trong tài liệu phân loại năm 2001 Groves xác
định có 14 họ, 65 giống và 351 loài.
Ở Việt Nam, hiện nay hệ thống phân loại cũng chưa thực sự
thống nhất. Theo cuốn Danh lục động vật có ba họ, 14 loài và 22
phân loài, nhưng trong cuốn Sách Đỏ Việt Nam thấy có 18 loài
chưa kể đến phân loài. Trong cuốn Động vật chí Việt Nam (2008)
có 20 loài và phân loài linh truởng được mô tả thuộc 6 giống và 3
họ và trong cuốn Danh lục các loài thú hoang dã Việt Nam có 22
loài và phân loài được mô tả thuộc 6 giống và 3 họ. Hiện nay tác giả
đã nghiên cứu và sử dụng tổng hợp các tài liệu cho phù hợp với cấu
trúc khu hệ linh trưởng ở Việt Nam.
Cấu trúc răng của nhóm cu li là: (i2/2, c1/1, pm
3
/2, m
3
/3) x
2 = 34
Cấu trúc răng của các nhóm khác là: (i2/2, c1/1, pm
2
/2, m
3
/3) x
2 = 32

Chương I: BỘ LINH TRƯỞNG - PRIMATES LINNAEUS, 1758

19
Trong đó i-răng cửa, c-răng nanh, pm-răng trước hàm, m-răng
hàm
Tình trạng của tất cả các loài trong bộ linh trưởng đều có nguy
cơ bị nguy hiểm vì chúng bị săn lùng một cách ráo riết làm thuốc,
làm thức ăn và buôn bán. Hơn nữa, chúng cạnh tranh thức ăn với
con người.
Bảng 2. Các thuật ngữ và ký hiệu thường được dùng trong phân loại
thú linh trưởng
TT Đặc điểm Ký hiệu Cách đo
1 Chiều dài
thân và đầu
L Dùng thước dây đo từ mũi dọc
theo sống lưng đến đốt cùng
của cột sống
2 Chiều dài
đuôi
T Từ phần dưới sát hậu môn đến
đốt cuối cùng của xương đuôi
(không kể lông)
3 Chiều dài bàn
chân sau
HF Đo từ gót tới mút ngón chân dài
nhất (không kể móng)
4 Chiều dài tai A Đo từ khe trước giữa vành tai
tới chỏm vành tai
5 Trọng lượng
cơ thể

W Cân khi con vật còn tươi
6 Dài hộp sọ LON Đo từ xương mõm tới hết sọ
dùng thước palme
7 Rộng hộp sọ SW Đo phần rộng nhất của hộp sọ
8 Rộng gò má Z Khoảng cách rộng nhất bờ
ngoài của gò má
9 Dài khẩu con
cái
B Từ bờ hố xương cánh tới mút
trước xương khẩu con cái
10 Eo gian ổ mắt CIO Khoảng cách bờ trong chỗ hẹp
nhất của 2 hố mắt
11 Eo sau ổ mắt CAO Khoảng cách thắt của phần trán
ngay sau ổ mắt
Các số đo được tính bằng milimét (mm), trọng lượng được tính
bằng kilôgam (kg).
Đặng Huy Huỳnh và các cộng sự
20
2.3. Đặc trưng phân bố của thú linh trưởng ở Việt Nam
Thú linh trưởng có phạm vi phân bố rộng khắp Việt Nam từ Bắc tới
Nam (Từ Lạng Sơn tới Cà Mau). Một số loài chỉ phân bố ở phía
Nam như: khỉ đuôi dài (Macaca fascicularis), voọc bạc
(Trachypithecus germaini), vượn má vàng (Nomascus gabriellai),
trong khi đó một số; loài lại chỉ phân bố ở miền Bắc như: voọc mũi
hếch (Rhinopithecus avunculus), voọc đen má trắng
(Trachypithecus francoisi), voọc đầu trắng (Trachypithecus
poliocephalus), voọc quần đùi (Trachypithecus delacouri), vượn
đen đông bắc (Nomascus sp. cf. nasutus nasutus), và có những loài
chỉ phân bố ở miền trung như voọc gáy trắng (Trachypithecus
hatinhensis).

Bảng 3. Đặc trưng phân bố các loài thú linh trưởng ở Việt Nam
TT Tên loài Khu vực phân bố
I Họ Cu li - Loridae
ĐB TB BTB NTB NB ĐH
1 Cu li nhỏ Nycticebus
pygmaeus Bonhote 1907
+ + + + +
2 Cu li lớn Nycticebus
bengalensis (Lacepede,1800)
+ + + + +
II Họ Khỉ - Cercopithecidae

3 Khỉ đuôi lợn Macaca leonina
(Blyth, 1863)
+ + + +
4 Khỉ vàng Macaca mulatta
(Zimmermann 1780)
+ + + +
5 Khỉ cộc Macaca arctoides
(I. Geoffroy 1831)
+ + + +
6 Khỉ mốc Macaca assamensis
(M’Clelland 1840)
+ +
7 Khỉ đuôi dài Macaca fascicularis
(Wroughton 1815)
+
8 Voọc bạc Trachypithecus
germaini (Milne-Edwards,
1876)

+
Chương I: BỘ LINH TRƯỞNG - PRIMATES LINNAEUS, 1758

21
9 Voọc đen má trắng
Trachypithecus francoisi
(Pausargues 1898)
+ + +
10 Voọc đen tuyền
Trachypithecus ebenus
Brandon-Jones, 1995
+
11 Voọc đầu trắng
Trachypithecus poliocephalus
(Trouessart, 1911)
+ +
12 Voọc mông trắng
Trachypithecus delacouri
(Osgood, 1932)
+ +
13 Voọc gáy trắng
Trachypithecus hatinhensis
(Dao, 1970)
+ +
14 Voọc xám Trachypithecus
barbei (Anderson, 1879)
+
15 Voọc mũi hếch
Rhinopithecus avunculus
Dollman, 1912

+ +
16 Chà vá chân đỏ Pygathrix
nemaeus Linnaeus, 1771
+
17 Chà vá chân đen Pygathri
x
nigripes Milne-Edwards, 1871
+
18 Chà vá chân xám Pygathrix
cinerea Nadler, 1997
+ +
III Họ vượn - Hylobatidae

19 Vượn đen tuyền Nomascus
concolor concolor (Harlan,
1826)
+ +
20 Vượn đen đông bắc Nomascus
sp. cf. nasutus nasutus (Kunkel
d'Hercularis, 1884)
+
21 Vượn đen má trắng
Nomascus leucogenys
leucogenys (Ogilby, 1840)
+
Đặng Huy Huỳnh và các cộng sự
22
22 Vượn đen má hung
Nomascus leucogenys siki
(Delacour, 1951)

+
23 Vượn đen má vàng Nomascus
gabriellae (Thomas, 1909)
+ +
Chú giải: ĐB-Đông Bắc, TB-Tây Bắc, BTB-Bắc Trung bộ; NTB-Nam
Trung bộ và Tây Nguyên, NB-Nam Bộ, ĐH- Đặc hữu.
2.4. Giá trị nguồn lợi thú linh trưởng
Giá trị nguồn lợi thú linh trưởng là rất lớn được thể hiện trong một
số lĩnh vực như giá trị khoa học, giá trị sinh thái, giá trị nguồn gen,
giá trị kinh tế v.v.
Các loài thú linh trưởng có vai trò rất lớn trong những nghiên
cứu y sinh học. Chúng là những đối tượng được nuôi để nghiên cứu
trong y học, để thử nghiệm những loại vắc xin mới trước khi đưa ra
sử dụng cho con người. Hơn nữa đây là nhóm thú có lịch sử phát
triển và tiến hoá gần với loài người nên việc nghiên cứu chúng giúp
chúng ta hiểu rõ hơn lịch sử phát triển của loài người.
Thú linh trưởng cũng như những nhóm sinh vật khác là thành
phần và yếu tố quan trọng của hệ sinh thái. Cuộc sống của các loài
trong nhóm gắn liền với hiện trạng của rừng và là một mắt xích
quan trọng trong chuỗi thức ăn tự nhiên. Phần lớn các loài linh
trưởng ăn thức ăn là thực vật: cành, lá non và hoa quả. Đến lượt
mình chúng có thể là mồi ngon của các loài chim và thú ăn thịt
khác. Chúng góp phần chuyển hoá năng lượng trong hệ sinh thái,
phát tán các loài thực vật trong khi chuyển động và kiếm ăn. Trong
các loài thú linh trưởng nhóm vượn là nhóm sống chủ yếu trong các
khu rừng nguyên sinh vì vậy chúng có thể là vật chỉ thị cho sự giàu
có khu rừng. Chính vì vậy nếu khu rừng nào mà trước
đây là khu
vực phân bố của các loài vượn mà hiện nay không còn có sự phân
bố của chúng thì khu rừng đó được coi như đã bị tàn phá nặng nề.

Thú linh trưởng Việt Nam có nhiều nguồn gen quý hiếm và đặc
hữu. Cho tới nay 22/23 loài linh trưởng Việt Nam được mô tả trong
Sách Đỏ IUCN, 2006. Tất cả các loài được đưa vào Nghị định
32/CP năm 2006 của Chính Phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam và trong các phụ lục I và II c
ủa CITES. Ngoài các yếu tố
Chương I: BỘ LINH TRƯỞNG - PRIMATES LINNAEUS, 1758

23
Ấn Độ - Malaya và yếu tố Trung Hoa yếu tố đặc hữu có ý nghĩa to
lớn trong việc bảo vệ các nguồn gen. Có tới 12/22 loài là đặc hữu
hẹp và đặc hữu Đông Dương như: Cu li nhỏ (Nycticebus pigmaeus),
voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri), voọc đầu trắng
(T.poliocephalus), voọc gáy trắng (T. hatinhensis), voọc đen tuyền
(T. ebenus), voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus), chà vá chân
nâu (Pygathrix nemaeus), chà vá chân đen (P. nigripes), chà vá
chân xám (P. cinerea), vượn siki (Nomascus siki), vượn đen tuyền
(N. concolor), vượn má hung (N. gabriellae).
Thú linh trưởng có giá trị kinh tế rất cao. Từ xa xưa tại một số
địa phương miền núi, thú rừng được coi là nguồn thực phẩm và
nguồn thu nhập chính từ các loài động vật hoang dã trong đó nhóm
thú linh trưởng chiếm tỷ lệ rất lớn. Một số cộng đồng dân tộc tại
Nghệ An, Quảng Bình trước đây có nghề khỉ ép, thợ săn sấy và ép
những con khỉ săn được dùng làm thức ăn lâu dài và đen bán cho một
số người để nấu cao kiếm tiền. Khỉ còn là nguồn xuất khẩu có giá trị
cao. Công ty nuôi khỉ NAFOVANY hàng năm được phép xuất trên
7.000 con khỉ đuôi dài đi các nước như Mỹ, Nhật Bản, Canada v.v.
đem lại lợi nhuận cực lớn cho sự phát triển của Công ty.
Chính vì những giá trị lớn của nhóm thú linh trưởng nên tình
trạng của tất cả các loài trong bộ linh trưởng đều có nguy cơ bị nguy

hiểm vì chúng bị săn lùng một cách ráo riết làm thuốc, làm thức ăn
và buôn bán. Hơn nữa chúng cạnh tranh thức ăn với con người.
Cần thiết phải có những biện pháp bảo vệ hữu hiệu để những loài
trong bộ linh trưởng khỏi bị diệt vong.
3. Đặc điểm một số loài thú linh trưởng
Họ cu li - Loricidae Gray, 1821: 289
Hiện nay có 8 giống ở Đông Nam Châu Á và Châu Phi, trong
đó có 2 giống ở Đông Nam Á. Tại Việt Nam có 1 giống: Nycticebus.
Đặc điểm của nhóm này là chuyển động rất chậm chạp. Ở Việt Nam
có hai loài Nycticebus bengalensis và Nycticebus pygmaeus.
1. Cu li lớn Nycticebus bengalensis (Lacepede,1800)
Synonym: Nycticebus javanicus Geoffroy E., 1812
Nycticebus caucang (Boddaert, 1785)
Đặng Huy Huỳnh và các cộng sự
24
Nycticebus cinereus Milne-Edwards, 1867
Tên khác: Cu li lớn, cù lần, chỉ gió, xấu hổ (Việt), linh kè, nà
nhún (Tày, Nùng), mong lì (Mường), lình lom (Thái).
Đặc điểm hình thái: Đầu tròn, trên đỉnh đầu có sọc màu nâu
sẫm. Lưng có màu xám hay vàng nhạt, đầu và chi có màu sáng hơn
lưng. Mắt trố to được bao quanh bởi những vòng lông màu nâu đỏ
và có những vệt dài màu nâu nhạt chạy tới đỉnh đầu. Từ hai gốc tai
có vệt lông màu nâu nhạt chạy lên đỉnh đầu và liên kết với nhau.
Dải lông màu nâu sẫm chạy dọc từ trên đỉnh đầu theo sống lưng
xuống phía dưới. Lông mịn màng, có màu vàng đỏ cũng có thể có
màu vàng nhạt hoặc màu xám. Ngực thường có màu xám tro. Bụng
màu hơi vàng nhạt. Hông và chân sau có màu đỏ hoe. Ngón tay trỏ
nhỏ, ngón chân thứ hai có vuốt, các ngón khác có ống. Răng hàm
thứ nhất lớn hơn răng hàm thứ hai. Kích thước cỡ nhỏ. Dài thân
thường nhỏ hơn 380mm. Dài đuôi khoảng 16-30mm, Dài bàn chân

sau: 53-72mm, Cao tai: 19-23mm, Sọ lớn nhất có chiều dài: 61,0-
64,6mm (54-67mm). Trọng lượng cơ thể thường đạt từ 1-2kg. Số
nhiễm sắc thể 2n=50-52.
Sinh học, sinh thái: Con đực và con cái trưởng thành sau 21
tháng (Weisenseel, 1995). Thời gian mang thai 191 ngày (Izard,
1988). Khoảng cách giữa các lần sinh từ 12-18 tháng (Nash, 1993).
Cuộc sống kéo dài khoảng 20 năm (Parker, 1990). Thức ăn chủ yếu
là quả cây: 50%, các loài động vật: 30%, đặc biệt là các loài côn
trùng (Beader, 1987).
Đây là loài hoạt động về ban đêm. Chúng thường hoạt động rất tích
cực vào khoảng thời gian từ 9-12 giờ đêm. Sau 4 giờ sáng chúng tìm
đường về các hốc cây nơi chúng làm tổ để trú ẩn. Ban ngày ngủ trên
cây cuộn tròn, mặt cúi vào trong lòng. Chúng thường làm tổ trên các
hốc cây. Cuộc sống leo trèo nên khả năng chuyển cành trên các cây kể
cả những cây lớn đều rất tốt. Loài cu li lớn di chuyển chậm chạp,
chúng di chuyển nhanh hơn khi bắt mồi. Sống đơn độc hoặc thành
nhóm 3-4 cá thể. Khu vực sống chủ yếu là các khu rừng. Rừng tre nứa,
rừng nguyên sinh, cây bụi, các khu vườn thứ sinh (Đào Văn Tiến,
1961). Chúng thích các vị trí trên đỉnh núi hoặc đỉnh giông có thể cao
tới 1300m so với mực nước biển (Payne, 1985).

×