ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ xa xưa, thuốc nam đã gắn liền với cuộc sống của các gia đình
người dân Việt Nam, thuốc nam được sử dụng rộng rải để chữa hầu hết các
căn bệnh trước khi tây y thâm nhập và phát triển ở nước ta, trong quá trình
phát triển đất nước, cũng như sự phát triển của y học Việt Nam, nhân dân
ta đã đúc kết được nhiều bài thuốc quý, phát hiện ra nhiều cây thuốc cạnh
nhà chữa bệnh có tác dụng tốt, người dân đã có nhiều kinh nghiệm quý báo
trong việc sử dụng nó, đó là hệ thống y Dược học cổ truyền lúc bấy giờ. Y
dược học cổ truyền (YDHCT) là hệ thống y dược duy nhất, có vai trò và
tiềm năng rất lớn trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân
trong suốt hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước[7].
Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà Nước đã có các Nghị quyết, chỉ
thị, chỉ đạo Ngành y tế phối hợp với các ngành, các tổ chức xã hội nghiên
cứu, bảo tồn và phát triển YDHCT, kết hợp YDHCT với Y học hiện đại
(YHHĐ) nhằm xây dựng nền y dược học Việt Nam hiện đại, khoa học, dân
tộc và đại chúng, đưa công tác YDHCT có vị trí trong việc chăm sóc sức
khỏe nhân dân trong hệ thống ngành y tế [7].
Việc phát triển YDHCT được ngành y tế quan tâm, khám chữa bệnh
bằng YDHCT là một bộ phận không thể thiếu của các đơn vị y tế, các đơn
vị y tế có trách nhiệm truyên truyền hướng dẫn nhân dân trong việc trồng
và sử dụng thuốc Nam chữa các bệnh thông thường tại nhà, phải có vườn
thuốc nam mẫu tại đơn vị mình và tỉ lệ lượt khám bệnh bằng YDHCT phải
đạt từ 20% trở lên giai đoạn 2001-2010 và 30% trở lên giai đoạn 2011-
2020 trên tổng số lượt khám bệnh tại cơ sở [4],[6].
1
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của đất nước, mạng lưới y tế cũng
có bước phát triển vượt bật, các cơ sở hành nghề y dược tư nhân mọc lên
khắp địa bàn, tạo điều kiện thuận hơn cho việc khám chữa bệnh cho nhân
dân với các mặt hàng thuốc đa dạng, trang thiết bị hiện đại, kỷ thuật tiên
tiến thì việc tuyên truyền vận động nhân dân trồng và sử dụng thuốc nam
rất kém hiệu quả. và cũng từ đó, các kinh nghiệm sử dụng các cây thuốc
quanh nhà dùng để chữa các bệnh thông thường không còn được quan tâm,
các kinh nghiệm sử dụng dần mai một. Để tìm hiểu thực trạng vấn đề trên,
chúng tôi thực hiện đề tài: Nghiên cứu tình hình sử dụng cây thuốc để chữa
các bệnh thông thường của người dân huyện Long Mỹ, với các mục tiêu:
1.Xác định tỉ lệ người dân sử dụng cây thuốc chữa các bệnh thông
thường tại nhà.
2. Xác định tỉ lệ người dân có kiến thức tốt về sử dụng cây thuốc để
chữa bệnh thông thường.
3. Tìm hiểu một số cây thuốc sẳn có thông dụng tại hộ gia đình và
một số yếu tố liên quan đến kiến thức về sử dụng cây thuốc của người dân.
2
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Lịch sử về sử dụng cây thuốc
1.1.1. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, công tác nghiên cứu về cây thuốc được tiến hành từ rất
sớm, gắn liền với tên tuổi của các danh y nổi tiếng như: Tuệ Tĩnh hay
Nguyễn Bá Tĩnh (thế kỹ XIV). Ông còn để lại tài liệu “Nam dược trị nam
nhân’’. Về việc chữa trị ông chú trọng việc phòng bệnh hơn chữa bệnh,
ngoài việc sử dụng thuốc nam để phục vụ rộng rải mọi tầng lớp nhân dân,
ông đã vận dụng trung y một cách sáng tạo vào hoàn cảnh Việt Nam. Ông
còn viết sách bằng chử nôm cho mọi người dễ nhớ, dễ hiểu, có thể tự học
thuốc và học cách chữa bệnh bằng các dược liệu có sẳn. Tuệ Tỉnh là người
có công rất lớn trong việc mở rộng y học đại chúng, nêu cao tinh thần dân
tộc độc lập và ý thức tự lực cánh sinh. Vì những công trạng trên, nên được
nhân dân tôn ông là tổ sư của ngành dược Việt Nam [35].
Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác (1721-1792) là một danh y nổi
tiếng, ông chú trọng đến 3 vấn đề là y đức, thuốc nam và phương pháp
chữa bệnh. Ông chủ trương dùng những phương pháp chữa bệnh đơn giản
để có thể phổ biến rộng rãi, chú trọng đến những phương pháp không dùng
thuốc như xông hơi, chăm cứu. Ông chuyển sang dùng thuốc nam và thu
thập những kinh nghiệm dùng thuốc trong nhân dân để làm ra những bài
thuốc mới có giá trị hơn. Ông đã biên soạn trong 26 năm bộ sách thuốc
“Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh” gồm 28 tập, 68 quyển, ông được nhân
dân tôn là ông tổ của Ngành y Việt Nam [35].
3
1.1.2. Trên thế giới:
Từ 2000 năm trước đã có một nền y học uyên bác, được truyền lại
bằng các tài liệu có giá trị. “Bản thảo” của Thần Nông được xem là y văn
cổ xưa nhất của Trung Hoa và của cả thế giới. Ông cũng được nhân dân tôn
vinh là chúa tể của nền Y dược học cổ truyền Trung Quốc. Lý Thời Trân
(1518-1593) là một nhà dược học rất uyên bác, ông đã có những công trình
nghiên cứu rất đáng khâm phục và có giá trị đến ngày nay. Trong bản thảo
cương mục ông đã nghiên cứu 1871 vị thuốc trong đó có 1074 về thực vật,
ông còn nhiều công trình nghiên cứu, siêu tầm về dược liệu làm phong phú
thêm cho kho tàng thảo dược của Trung Quốc[35].
Thời kỳ Pháp thuộc, các nhà nghiên cứu Phương Tây như Crévost,
Pétélot đã xuất bản bộ “Catalogue des produits de L’Indochine” (1928-
1935) và bộ “Les plantes de médicinales du Cambodge, du Laos et du
Vietnam”, gồm 4 tập đã thống kê 1482 vị thuốc thảo mọc trên ba nước
Đông Dương.
1.2.Các thuật ngữ:
Thuốc đông y (bao gồm cả thuốc nam và thuốc bắc) là những vị
thuốc theo kinh nghiệm của ông cha ta, có tác dụng chữa bệnh tốt, dễ kiếm,
lại rẻ tiền, việc sử dụng tương đối dễ dàng, nhưng việc sử dụng chỉ mới
dựa vào kinh nghiệm, phần lớn chưa được giải thích bằng cơ sở khoa học
hiện đại[23].
Thuốc nam là những dược liệu có sẳn tại nước ta được người việt ta
dùng làm thuốc gọi là thuốc nam.
Thuốc bắc là những dược liệu được người phương bắc như Trung
Quốc chế biến dùng làm thuốc và du nhập vào nước ta được các cụ gọi là
thuốc bắc, tuy nhiên, không phải thuốc nào từ Trung Quốc cũng là thuốc
4
bắc như: đương quy, bạch truật, hoàng kỳ…là thuốc bắc, còn như penicillin
là thuốc tây nhập từ Trung Quốc [23].
Có người gọi thuốc nam là thuốc sản xuất trong nước ta, thực sự ta
cũng lại chia ra thuốc sản xuất trong nước ra thuốc tây bào chế ở Việt Nam
và thuốc nam thực sự. Thuốc nam theo định nghĩa ở trên được nhân dân ở
một số nơi ở miền nam gọi là thuốc vườn, vì có thể kiếm quanh vườn[23].
Thuốc tây có nguồn gốc tổng hợp, bán tổng hợp được sản xuất trên
dây truyền công nghệ hiện đại, được du nhập vào nước ta vào thế kỹ 18,
đầu thế kỹ 19 từ các nước phương tây nên gọi là thuốc tây.
1.3. Sự phổ biến của cây thuốc ở Việt Nam:
Ở nước ta, lĩnh vực y học nhân dân rất rộng lớn, những kinh nghiệm
sử dụng cây con làm thuốc nằm rải rác trong nhân dân, nhiều thuốc có tác
dụng chữa bệnh rõ rệt mà ta chưa chứng minh, giải thích được bằng khoa
học hiện đại. Phương châm kết hợp đông y và tây y của Đảng và của
Ngành đề ra đòi hỏi chúng tác phải vừa áp dụng những kinh nghiệm chữa
bệnh của ông cha bằng thuốc nam, vừa tiến hành nghiên cứu; điều quan
trọng là phải biết phân biệt kinh nghiệm thưc sự và kinh nghiệm đã bị
xuyên tạc, thần bí hóa. Một đặc điểm của thuốc nam hiện nay là tên gọi các
vị thuốc, cây thuốc chưa thống nhất, cùng một cây nhưng mỗi nơi gọi một
tên khác nên cũng gây khó khăn trong việc tìm hiểu, nghiên cứu cũng như
vận động mọi người trồng và sử dụng.
Việc nghiên cứu thuốc nam cũng rất khó khăn, không chỉ riêng ở
nước ta do điều kiện nghiên cứu còn hạn chế, mà còn chung đối với nhiều
nước trên thế giới có nền khoa học tiên tiến, vì đối tượng nghiên cứu là
những cây thuốc, động vật làm thuốc là những sinh vật còn chứa đựng
nhiều bí mật chưa được khám phá, Vì vậy bên cạnh các loại thuốc được
5
biết rõ cấu tạo, cơ chế tác dụng thì còn rất nhiều thuốc được nhân dân tiếp
tục sử dụng theo kinh nghiệm cổ truyền mà người ta thường gọi là y học
nhân dân[23].
1.4. Một số thành tựu của công tác y dược học cổ truyền Viêt Nam.
Kiên trì thực hiện đường lối của Đảng, Nhà Nước, Ngành y tế đã đạt
được một số thành tựu trên các mặt như kế thừa, đào tạo cán bộ, nghiên
cứu khoa học, phòng bệnh, chữa bệnh, sản xuất thuốc, nuôi trồng dược liệu
góp phần quan trọng vào sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân,
xây dựng nền y tế, y học nước nhà và nâng cao vị thế của YDHCT Việt
Nam trên thế giới [8][9][12].
YDHCT có vị trí trong việc chăm sóc sức khỏe nhân dân, có hệ
thống tổ chức từ trung ương đến các địa phương. Đến năm 2003, cả nước
có 5 viện nghiên cứu, 46 bệnh viện YHCT cấp tỉnh; có khoa hoặc tổ YHCT
ở 80% viện, bệnh viện YHHĐ cấp quận, huyện; 30% trạm y tế xã có hoạt
động khám chữa bệnh bằng YHCT; có trên 10000 cơ sở YDHCT tư nhân.
Đã đào tạo được đội ngũ thầy thuốc YHCT và kết hợp YDHCT với
YDHHĐ gồm 35 tiến sĩ, 100 thạc sĩ, 100 bác sĩ chuyên khoa cấp 2; 500
bác sĩ chuyên khoa cấp 1; 2000 bác sĩ YHCT; 5000 cán bộ YDHCT[7].
Công tác xã hội hóa về YDHCT cũng được đẩy mạnh, Ngành y tế
phối hợp với Hội đông y tổ chức tuyên truyền và vận động nhân dân trồng,
sử dụng những cây thuốc có sẳn ở địa phương, những bài thuốc đơn giản
để phòng và chữa một số bệnh thông thường, không những góp phần tích
cực thực hiện chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Hàng
năm, tuy số cơ sở YDHCT còn ít, nhưng lượng bệnh nhân đến khám và
điều trị ngày một nhiều. Có khoảng 30% số bệnh nhân trong cả nước được
khám và điều trị bằng YHCT nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng còn nhiều
6
khó khăn. YHCT đã góp phần thực hiện chính sách xã hội và công bằng xã
hội trong chăm sóc sức khỏe nhân dân[7].
Công tác YDHCT được thực hiện trên nguyên tắc cơ bản là kế thừa
và phát triển nền YDHCT dân tộc[36]. Đã tổ chức kế thừa được nhiều bài
thuốc hay, cây thuốc quý của các lương y trên mọi miền đất nước. Nhiều
địa phương như: Lạng Sơn, Thanh Hóa, Sóc Trăng, Thái Nguyên … đã sưu
tầm và lưu lại hàng ngàn cây thuốc, bài thuốc theo kinh nghiệm của đồng
bào các dân tộc ít người, tổ chức nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu kết
hợp, từng bước phát huy được tiềm năng của YDHCT phục vụ cho công
tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Hợp tác quốc tế cũng ngày
càng được mở rộng, uy tính của các phương pháp chữa bệnh của YHCT
Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế, hiện tại Việt Nam
có quan hệ hợp tác về YHCT với hơn 40 nước [7].
1.5. Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà Nước về YDHCT
Quan điểm của Hồ Chủ Tịch về xây dựng nền y tế nước ta là nền y tế
nhân dân. Bác nói “ Xây dựng một nền y học của ta”thể hiện quan điểm rất
sâu sắc về nền y học mang bản sắc Việt Nam, bản sắc nhân dân; xuất phát
từ nhân dân, của dân, vì dân. Quan điểm đó còn được Hồ Chủ tịch chỉ rõ
“…xây dựng một nền y tế thích hợp với nhu cầu của nhân dân ta, y học
cũng phải dựa trên nguyên tắc; Khoa học, dân tộc và đại chúng”[15].
Chỉ thị 226/CT-TW của Ban Bí Thư Trung ương Đảng cộng sản Việt
Nam khóa IV (1976) đã nêu: “ ….y tế theo đúng hướng y học dự phòng,
kết hợp YHHĐ với YHCT dân tộc, dựa vào quần chúng, lấy tự lực là chính
đồng thời tranh thủ sự viện trợ và mở rộng hợp tác quốc tế”. Nghị quyết
Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986), Nghị quyết đại hội
Đảng cộng sản Việt Nam lần thức VII (1991) đều chỉ đạo: Phát triển các
7
hoạt động y tế bằng khả năng của nhà nước và của nhân dân, theo hướng
dự phòng là chính, kết hợp y học hiện đại với YHCT dân tộc”[15].
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992,
Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân Việt Nam là những văn bản pháp lý cao
nhất cũng đã đề cập đến những quan điểm chỉ đạo về phát triển và kết hợp
YDHCT với YDHHĐ. Hiện nay, Đảng và Nhà nước đề ra năm quan điểm
cho công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân để tập trung chỉ đạo
thực hiện. Trong đó có quan điểm thức ba đề cập về YDHCT: “ Thực hiện
chức năng chăm sóc sức khỏe toàn diện; gắn phòng bệnh với chữa bệnh,
phục hồi chức năng và luyện tập thể dục thể thao nâng cao sức khỏe. Phát
triển đồng thời y tế phổ cập và y tế chuyên sâu; kết hợp Đông y và Tây
y”[15].
Trong năm quan điểm của Đảng và của Nhà Nước thì quan điểm thứ
ba thể hiện sự coi trọng lĩnh vực đông y, cây thuốc của Việt Nam, sự kết
hợp Đông y và Tây y trong quan điểm của Đảng là không thay đổi[2]. Kết
hợp YHHĐ với YHCT dân tộc là lồng ghép, phối hợp giữa các xu hướng
khác nhau về y học trong nước ta. Đó là sự kết hợp giữa ưu điểm của nền
YHHĐ và nền YHCT dân tộc, sự soi sáng cho nhau cả về lý luận khoa học,
thực tiễn và kinh nghiệm trong công tác khám chữa bệnh, phòng bệnh,
phục hồi chức năng và dược. YHCT là một di sản quí của dân tộc cần
được bảo vệ, phát huy và phát triển. Triển khai mạnh mẽ việc nghiên
cứu ứng dụng và hiện đại hóa YHCT kết hợp với YHHĐ, nhưng không
làm mất đi bản sắc của YHCT Việt Nam. Nền y học Việt Nam sau năm
1945 là nền y học tổng hợp cả YHHĐ với YHCT dân tộc ta vẫn gọi là Tây
y và Đông Y [15].
8
Thực tiển cho thấy nền YDHCT của nước ta rất phong phú, đa dạng
và có giá trị lâu dài về nhiều mặt mà chúng ta cần phải kế thừa và phát
triển[7]. Đảng và Nhà Nước rất coi trọng việc phát triển nền Đông Y Việt
Nam, Từ năm 2003 Thủ Tướng Chính Phủ có quyết định số 222/2003/QĐ-
TTg ngày 3/11/2003 về ban hành chiến lược phát triển y Dược học cổ
truyền giai đoạn đến năm 2010, cần khuyến khích đầu tư và phát triển y
học cổ truyền bằng các chính sách ưu đãi của Nhà nước trong việc nuôi
trồng, chế biến và sử dụng đông y ở nông thôn. Cần có kế hoạch khôi phục
lại vườn thuốc nam và chữa bệnh thông thường bằng thuốc nam, chăm cứu,
xoa bóp tại các Trạm y tế và thôn bản[19]. Tuy nhiên sự phát triển chưa
tương xứng với tiềm năng vốn có và yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Đến năm 2008 Trung Ương ban hành chỉ thị phát triển nền Đông Y Việt
Nam và Hội Đông y trong tình hình mới để nâng cao vị trí vai trò của nền
Đông y Việt Nam[3].
Gần đây nhất Chính Phủ phê duyệt chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm
sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến
năm 2030. Trong đó đề ra nhiệm vụ triển khai thực hiện có hiệu quả chính
sách quốc gia về y dược học cổ truyền và kế hoạch hành động về phát triển
y, dược cổ truyền Việt Nam đến năm 2020; đẩy mạnh sản xuất thuốc đông
y, thuốc từ dược liệu và dược liệu. Củng cố hệ thống tổ chức y dược cổ
truyền từ trung ương đến địa phương, phát triển các bệnh viện y dược cổ
truyền tại các tỉnh với quy mô hợp lý; nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt
động của các khoa y học cổ truyền tại các bệnh viện đa khoa tỉnh, huyện;
tăng cường hoạt động y học cổ truyền tại các trạm y tế.
Tại tỉnh Hậu Giang, các cấp lãnh đạo cũng rất quan tâm đến công tác
YDHCT, Ủy ban Nhân Dân tỉnh có quyết định phê duyệt kế hoạch nâng
9
cao năng lực hệ thống y học cổ truyền tỉnh hậu Giang đến năm 2020. Để từ
đó có chính sách ưu đãi xây dựng các các cơ sở sản xuất thuốc đông y,
thuốc từ dược liệu, khuyến khích phát triển thị trường dược liệu, thuốc
đông y, thuốc từ dược liệu để đáp ứng tốt nhu cầu khám và chữa bệnh bằng
y học cổ truyền, khuyến khích nguyên cứu, ứng dụng thuốc nam, thuốc dân
gian, thuốc gia truyền để đưa vào ứng dụng trong công tác khám, chữa
bệnh cho nhân dân.[42]
Từ những chính sách trên cần xây dựng quy trình kỹ thuật điều trị
bằng y dược cổ truyền và quy trình điều trị kết hợp y học cổ truyền với y
học hiện đại đối với một số chứng bệnh. Ban hành phác đồ điều trị bằng y
dược cổ truyền đối với một số bệnh mà y dược cổ truyền có khả năng điều
trị đạt kết quả tốt. Tiêu chuẩn hóa thuốc bán thành phẩm và thuốc thành
phẩm y học cổ truyền; tăng cường công tác quản lý thị trường thuốc đông
y, thuốc từ dược liệu và dược liệu[11].
Song song với những quan điểm, chính sách chỉ đạo, chính phủ đề ra
nhiều nhóm giải pháp để thực hiện chiến lược phát triển YDHCT. Trong đó
các giải pháp về phát triển dược liệu và thuốc YHCT, xã hội hóa, đa dạng
hóa các loại hình dịch vụ trong lĩnh vực YDHCT có liên quan trực tiếp đến
việc sử dụng cây thuốc của nhân dân ở cộng đồng, như đẩy mạnh việc
trồng cây làm thuốc ở các cơ sở của Ngành y tế, các địa phương và từng
gia đình để tăng cường nguồn thuốc tự túc phục vụ phòng và chữa bệnh,
đồng thời phát triển nuôi trồng tập trung với quy nô lớn. Phối hợp với các
hội Đông y tổ chức tập huấn, tuyên truyền trên các phương tiện truyền
thông đại chúng, nhằm vận động, khuyến khích nhân dân trồng và sử dụng
thuốc nam sẳn có ở địa phương để tự phòng và chữa một số bệnh thông
thường tại cộng đồng, thực hiện thầy thuốc tại chổ, thuốc tại vườn [3],[7].
10
1.6. Các công trình nghiên cứu về cây thuốc.
Bằng những kinh nghiệm dân gian của những người làm nghề thuốc
của mỗi dân tộc, mỗi địa phương, những tri thức về cây thuốc được lưu
truyền từ đời này sang đời khác, thế hệ nối tiếp thế hệ, dần dần các các bài
thuốc có tính độc đáo và trở nên thông dụng trong việc chăm sóc sức khỏe
cho cộng đồng. Tuy nhiên vấn đề bảo tồn cây thuốc còn gặp rất nhiều khó
khăn như đô thị hóa, kinh tế thị trường…và sự suy giảm về nguyền tài
nguyên cây thuốc là điều không tránh khỏi. Mặc khác, những tri thức dân
gian đang bị mai một dần do những ông lang già và mất đi, họ mang theo
những kiến thức quý báo về cây thuốc. Đồng thời, thế hệ trẻ ít người tiếp
thu những kiên thức cổ truyền mà họ học theo cái mới, cái hiện đại khiến
cho những cây thuốc quý, những bài thuốc hay bị quên lãng.
Trong nước, gần đây có nhiều đề tài nghiên cứu liên quan khám chữa
bệnh bằng y học cổ truyền, nghiên cứu thống kê các cây con dùng làm
thuốc trong cộng đồng dân cư ở các vùng miền khác nhau, nhằm phục vụ
cho công tác bảo tồn những cây thuốc quý, bảo tồn vốn tri thức bản địa của
các dân tộc sống trên mọi miền đất nước việt nam, những tri thức dân gian
trong việc chữa bệnh của nhiều địa phương, nhiều dân tộc rất đặc biệt và
phong phú. Một nghiên cứu tại xã Thạch Giám, Huyện Tương Dương , tỉnh
Nghệ An cho thấy 99 loài chiếm 42,48% số cây làm thuốc có ở vườn nhà,
nương rẫy, bản làng và 34 loài chiến 14,72% số cây làm thuốc có ở gần
môi trường nước như khe suối, bờ ruộng và thống kê thành phần các cây
thuốc nam được trồng ở vườn nhà, trạm y tế, nơi công cộng; những kinh
nghiệm sử dụng cây thuốc nam của cộng đồng địa phương[30].
Một nghiên cứu khác về cây thuốc ở Rừng đặc dụng Yên Tử-Quảng
Ninh về tính đa dạng thành phần loài cây gồm 69 họ, 131 chi và 143 loài
11
với 6 dạng sống và sự đa dạng về bộ phận sử dụng với 10 bộ phận ở khu
vực nghiên cứu[27].
Một Nghiên cứu năm 2008, cho thấy tỉ lệ người dân khám chữa bệnh
bằng YHCT tại các trạm y tế tại huyện Long Mỹ là 22,4%, điều đó cho
thấy người dân vẫn còn quan tâm đến việc chăm sóc sức khỏe bằng
YDHCT dân tộc [39].
Một nghiên cứu khác về hoạt động chăm sóc sức khỏe của một trạm
y tế xã, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình được công bố, việc lựa chọn dịch
vụ khám chữa bệnh của người dân thì ngoài việc điều trị tại các cơ sở y tế
với YHHĐ thì vẫn còn một bộ phận người dân tự chăm sóc và điều trị bệnh
tại nhà là 30,8%, trong đó tự chăm sóc sức khỏe và điều trị bệnh bằng
thuốc nam là 8,6%[18].
1.7.Mô tả đặc điểm của 10 cây thuốc thông dụng:
Mười cây thuốc thông dụng có tên khoa học và các đặc điểm mô tả
như sau:[1][5][23].
1.7.1. Húng Chanh(Tần Dày Lá).
Có tên khoa học là Coleus aromaticus thuộc họ hoa môi Lamiaceae
Húng chanh là một loại cỏ, gốc gỗ có thể cao 25-75 cm. Thân mọc
đứng, có long. Lá có cuống, mọc đối hình bầu dục trông như mọng nước, là
dài 7-10 cm, rộng 4-6cm, mép khía tai bèo, mặt trên có long đơn, đầu mang
hạch, trong, bóng, mặt dưới lá có nhiều long bài tiết, gân nổi rõ. Hoa màu
tía, nhỏ, mọc thành cụm hoa.
Húng chanh được trồng khắp nơi ở Việt Nam để lấy lá, có mùi thơm
dễ chịu như mùi chanh, vị trước thơm sau hắc, mát, thường được dùng làm
gia vị.
12
1.7.2. Nghệ:
Nghệ có tên khoa học là Curcuma longa L. họ gừng Zingiberaceae.
Nghệ là một loài cây cỏ cao 0,6 đến 1 mét. Thân rể thành củ hình trụ
hoặc hơi dẹt, khi bẻ hoặc cắt ngang có màu vàng cam sẩm. lá hình trái xoan
thon nhọn ở hai đầu, hai mặt điều nhẵn dài tới 45cm, rộng tới 18cm, cuốn
lá có bẹ, cụm hoa mọc từ giữa các lá trên thành hình nón rộng, cánh hoa
ngoài màu xanh lục vàng chia thành 3 thùy, thùy trên to hơn, quả nang có 3
ngăn, mở bằng 3 van. Hạt có áo hạt.
Nghệ được trồng khắp nơi trong nước để làm gia vị và làm thuốc.
1.7.3. Cỏ Nhọ Nồi:
Cỏ nhọ nồi có tên khoa học là Eclipta alba thuộc họ cúc Asteraceae.
Cỏ nhọ nồi là loài cỏ mọc thẳng đứng có thể cao đến 80cm, thân có
long cứng. Lá mọc đối có long ở hai mặt dài 2-8cm, rộng 5-15mm. Cụm
hoa hình đầu màu trắng ở kẽ lá hoặc đầu cành. Quả quế 3 cạch, hoặc dẹt,
có cánh dài 3mm, rộng 1,5mm.
Cỏ nhọ nồi mọc hoang khắp nơi ở nước ta.
1.7.4. Lô Hội
Lô hội có tên khoa học là Aloe sp thuộc họ hành tỏi Liliaceae.
Lô hội là một loài cây có thân hóa gỗ, ngắn, to thô. Lá không cuống
mọc thành vành rất sít nhau, dày mẫm, hình 3 cạnh, mép dầy, mép có răng
cưa thô cứng và thưa dài 30-50cm, rộng 5-10cm, day 1-2 cm ở phía cuốn,
Cụm hoa dài chừng 1m, mọc thành chùm dài mang hoa màu vàng xanh lục
nhạt, lúc đầu mọc đứng, sau rũ xuống, dài 3-4cm.
Lô hội được trồng nhiều nơi làm cảnh.
13
1.7.5. Vong Nem:
Có tên khoa học là Erythrina orientalis thuộc học cánh bướm
Fabaceae
Cây cao từ 15-20m, mọc khắp nơi, thân có gai ngắn, lá gồm 3 lá
chét dài 20-30cm, lá chét màu xanh và bóng, lá chét giữa phình rộng lớn
hơn chiều dài, dài 10-15cm, hai lá chét hai bên dài hơn chiều rộng, hình 3
cạnh. Hoa màu đỏ tươi tụ họp thành 1-3 chùm đầy. Quả giáp dài 15-30cm,
đen hơi hẹp lại ở giữa các hạt, trong mỗi quả có 5-6 hạt, hình thận màu đỏ
hoặc nâu.
Cây mọc hoang và được trồng khắp nơi ở nước ta để làm hàng rào
hoặc lấy lá ăn và làm cảnh.
1.7.6. Mơ Tam Thể:
Tên khoa học là Paederia tomemtosa thuộc họ cà phê Rubiaceae
Cây là một thứ dây leo, lá mọc đối hình trứng hay mác dài, gốc lá
tròn hay hình tim, cuống lá dài. Hoa tím nhạt, tràng hình ống mọc thành
xim kép ở kẻ lá hay đầu cành. Quả hình cầu có đài tồn tại màu vàng nâu và
bóng.
Cây này mọc hoang ở những hàng rào và nhiều nơi trong nước ta,
thường chỉ hái lá tươi khi dùng đến.
1.7.7. Lá lốt:
Tên khoa học là Piper lolot thuộc họ hồ tiêu Piperaceae.
Lá lốt là loại cây mềm, mọc cao tới 1m, thân hơi có long, lá hình
trứng rộng, phía gốc hình tim, đầu lá nhọn, phiến lá dài 13cm, rộng 8,5cm,
mặt trên nhẵn, mặt dưới hơi có lông ở gân, cuống lá dài chừng 2,5cm. Cụm
hoa mọc thành bông, bông cái dài chừng 1cm, cuốn dài 1cm. Cây mọc
14
hoang hoặc được trồng ở nhiều nơi, thường nhân dân trồng lấy lá làm gia vị
hay làm thuốc, lá hái quanh năm.
1.7.8. Gừng:
Tên khoa học là Zingiber officinale thuộc họ gừng Zingiberaceae
Gừng là loài cây nhỏ sống lâu năm, cao 0,6 đến 1m. Thân rể mẫm
lên thành củ, lâu dần thành xơ. Lá mọc so le, không cuống, có bẹ, hình mác
dài 15-20cm, rộng chừng 2cm, mặt bóng nhẵn, gân giữa hơi trắng nhạt và
vò có mùi thơm. Cụm hoa thành bông mọc sít nhau, mép cánh hoa màu
tím, nhị cũng tím. Loài gừng trồng ít ra hoa.
Gừng được trồng ở khắp nơi trong nước để lấy củ ăn và làm thuốc.
1.7.9. Cau:
Tên khoa học là Areca catechu thuộc họ cau dừa Arecaceae
Cây cau là cây có thân mọc thẳng đứng, cao chừng 15-20m, đường
kính từ 10-15cm. Toàn thân không có lá mà có nhiều vết lá củ mọc, chỉ có
ở ngọn có một chùm lá to, rộng xẻ lông chim. Lá có bẹ to, mo ở bông mo
sớm rụng. Trong cụm hoa, hoa đực ở trên hoa cái ở dưới. quả hình trứng to
bằng quả trứng gà. Quả bì có sợi, hạt có nội nhũ xếp cuốn. Hạt hơi hình
nón cụt, đầu tròn giữa đáy hơi lõm, màu nâu nhạt, vị chát.
Được trồng ở khắp nơi để lấy quả ăn trầu.
1.7.10. Muồng Trâu:
Tên khoa học là Cassia alata thuộc họ vang Caesalpiniaceae.
Muồng trâu là một nhỡ, cao chừng 1,5m. lá có kích thước lớn gồm
một cuống 3 cạnh, hơi có dìa, dài 30-40cm, có 8-14 đôi lá chét mọc đối.
Cụm hoa mọc thành bông nhiều hoa ở kẻ lá, dài tới 30-40cm , hoa màu
vàng nâu nhạt. Quả giáp, dẹt, dài 8-16cm, rộng 15-17mm, có 2 dìa suốt dọc
quả. Trong quả có tới 60 hạt, hình quả trám.
15
Ở Việt Nam cây này mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi, nhiều
nhất là ở miền Nam.
1.8. Tình hình kinh tế-xã hội và y tế huyện Long mỹ:
1.8.1. Dân Số -Kinh tế -Xã Hội
Long mỹ là một trong hai huyện lớn của tỉnh Hậu giang, diện tích tự
nhiên 398,48 km
2
, trong đó đất nông nghiệp chiếm 35.368 ha. Năm 2012,
tổng số hộ là 39.642, với dân số trung bình là 158.052 người. Long mỹ còn
là nơi có nhiều đồng bào dân tộc Khmer và Hoa sinh sống. Vì vậy, trình
độ dân trí và kiến thức về y tế của người dân không đồng đều. Tỉ lệ hộ
nghèo 15,19%, tỉ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế khoảng
54%. Năm 2012, Long mỹ có 15 đơn vị hành chính xã, thị trấn, với 94 ấp.
Cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông nghiệp. Nhìn chung đời sống nhân dân còn
nhiều khó khăn. Hiện tại, nhân lực y tế ở huyện Long mỹ còn thiếu và yếu
do phải bổ sung, điều chỉnh người mới cho các xã mới chia tách. Tỷ lệ trạm
y tế xã có bác sĩ là 73,33% (Bình quân của tỉnh là 71,62%), nữ hộ sinh
trung học và/hoặc y sĩ sản nhi là 100%. Các chương trình y tế quốc gia, các
chương trình y tế địa phương đều được thực hiện đạt chỉ tiêu đề ra [40].
1.8.2.Công tác khám chữa bệnh bằng YHCT và sử dụng cây thuốc:
Công tác YDHCT được Tỉnh Ủy, UBND tỉnh quan tâm chỉ đạo, thể
hiện trong kế hoạch thực hiện chương trình hành động của Tỉnh Ủy về
công tác y tế đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 đã đề ra nhiều
mục tiêu, giải pháp nhằm nghiên cứu bảo tồn, kế thừa và phát triển
YDHCT như;[41]
-Củng cố và phát triển hoạt động y học cổ truyền ở các bệnh viện đa
khoa tuyến tỉnh, tuyến huyện, ở các bệnh viện phải có khoa y học cổ
truyền. Các Trạm y tế xã, phường, thị trấn có cán bộ chuyên trách hoặc
16
kiêm nhiệm khám chữa bệnh cho nhân dân bằng y học cổ truyền. Hoàn
thành việc xây dựng mới và đưa vào sử dụng bệnh viện y học cổ truyền 50
giường vào năm 2015 và đạt 100 giường vào năm 2020.
-Đẩy mạnh việc nghiên cứu bảo tồn, kế thừa và phát triển y dược học
cổ truyền thành một chuyên ngành khoa học, mở rộng vùng nuôi trồng
nghuyên liệu làm thuốc.
-Nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội Đông y tỉnh, quy hoạch, đào
tạo nguồn nhân lực làm công tác y học cổ truyền.
Tại Huyện Long Mỹ về lĩnh vực YDHCT, đã thành lập được hội
Đông Y từ năm 2011 với hơn 50 thành viên, là những người có tâm huyết
với lĩnh vực YDHCT nhưng hoạt động chưa hiệu quả, việc vận động nhân
dân sử dụng các cây thuốc để chữa bệnh chưa được tuyên truyền thường
xuyên cũng như khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe bằng YHCT chưa
được đẫy mạnh.
Nhằm nâng cao hiệu quả và đa dạng hóa các loại hình chăm sóc sức
khỏe nhân dân, Đảng, Nhà nước, Bộ y tế đã khuyến khích phát triển mạng
lưới y học cổ truyền. Trong đó chú trọng đến việc xây dựng vườn thuốc
nam để tuyên truyền giới thiệu về cây thuốc nam tại các cơ sở khám chữa
bệnh. Thực hiện theo 10 chuẩn quốc gia về y tế xã giai đoạn 2001-2010,
Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011-2020[4],[6]. Một số tác giả
nghiên cứu trong các năm qua các hầu hết các Trạm y tế có vườn thuốc
nam mẫu với trên 40 cây thuộc 9 nhóm bệnh thường gặp đạt theo quy
định[9],[14],[31]. Ngoài ra, Trạm y tế có cán bộ chuyên khoa YHCT được
trang bị đầy đủ kiên thức, dụng cụ và các bài thuốc để hướng dẫn nhân dân
thực hiện. Các cây thuốc thường được trồng và giới thiệu tại các Trạm y tế
là những loại cây thường gặp như: sã, tía tô, gừng, rẽ quạt, quyết dụ, húng
17
chanh…những loại cây này rất có hiệu quả với các chứng bệnh thông
thường, So với khám chữa bệnh bằng tây y, thì chữa bằng đông y, cây
thuốc có rất nhiều ưu điểm, cây dễ trồng, dễ kiếm và thường được dùng
như các loại rau, trái cây, gia vị. Việc xây dựng vườn thuốc nam mẫu có ý
nghĩa vô cùng to lớn, không chỉ giới thiệu về cây thuốc nam và cách sử
dụng mà còn khuyến khích người dân trồng các loại cây này trong vườn
nhà mình để chữa các bệnh thông thường khi cần mà còn tạo cảnh quan
xanh, sạch, đẹp.
Công tác Truyền thông giáo dục sức khỏe tại các cơ sở y tế trên địa
bàn thời gian qua được đẩy mạnh, nhằm tuyên truyền giáo dục nhân dân
thực hiện các biện pháp nâng cao sức khỏe. Tuy nhiên, chưa chú trọng đến
việc tuyên truyền đến với người dân việc trồng và sử dụng thuốc nam để
chữa các bệnh thông thường tại nhà. Việc trồng và sử dụng cây thuốc hiện
nay trong nhân dân chỉ dựa vào thông tin từ các phương tiện thông tin đại
chúng và hơn nữa là chỉ truyền miệng, chỉ hay giới thiệu qua lại giữa các
người dân với nhau, nên sự hiểu biết của người dân về tác dụng, công dụng
của các cây thuốc quanh vườn cũng chưa nhiều, chưa tạo ra được phong
trào, ý thức tốt trong nhân trồng và sử dụng thuốc nam chữa bệnh, Tuy vậy,
việc sử dụng cây thuốc chữa bệnh được đẩy mạnh tại các nơi thờ tự trên địa
bàn, việc sử dụng các cây thuốc tại địa phương để chữa bệnh cho người
dân trong vùng được thực hiện rất nhiều và được người dân tín nhiệm.
Những cây thuốc thông thường là những loại sẳn có tại địa bàn, có
thể được nhân dân trồng hoặc mọc hoang ở vườn nhà, bờ ruộng. Tên cây,
tác dụng điều trị theo kinh nghiệm sử dụng trong nhân dân và có đối chiếu
với tài liệu về cây thuốc và vị thuốc Việt Nam [23] và danh mục thuốc thiết
18
yếu lần V phần về cây thuốc, vị thuốc YHCT và tên thông dụng của cây
thuốc, vị thuốc YHCT[5].
Trong năm 2012, toàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 417.604 lượt
khám chữa bệnh bằng YHCT tại các cơ sở y tế , đạt 15,27% trong tổng số
lượt khám bệnh chung của tỉnh, trong đó điều trị nội trú là 3.166 lượt[28].
Tại Huyện Long Mỹ, thực hiện được 94.513 lượt khám chữa bệnh
bằng YHCT cơ sở y tế, đạt 16,75% trong tổng số lượt khám bệnh chung
của huyện.
19
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu:
Người dân từ 18 tuổi trở lên trong địa bàn huyện Long Mỹ.
2.1.2. Tiêu chuẩn chọn mẫu:
Người được chọn phải từ 18 tuổi trở lên.
Có khả năng tiếp xúc và trả lời các câu hỏi.
Đại diện hộ gia đình.
2.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ:
-Người có tình trạng sức khỏe không cho phép trả lời các câu hỏi của
người phỏng vấn
-Cán bộ y tế.
2.1.4. Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
Địa điểm nghiên cứu tại các xã, thị trấn của huyện Long Mỹ, thời
gian tiến hành điều tra từ tháng 9 năm 2013 đến tháng 12 năm 2013.
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu:
Theo phương pháp nghiên cứu quan sát mô tả cắt ngang[20],[22]
2.2.2. Cỡ mẫu:
Cở mẫu phỏng vấn người dân được tính theo công thức[22]:
Z
2
(1-α/2).pq
x SE
Trong đó:
20
e
2
n=
n : là cở mẫu tối thiểu cần nghiên cứu
Tương ứng với khoảng tin cậy 95%, có Z
2
(1-α/2)
=1,96
P: là tỉ lệ người dân có kiến thức tốt về tác dụng trị bệnh của
cây thuốc ước tính 70%.
e: sai số ước lượng được chọn bằng 0,05,
Hệ số thiết kế được chọn là SE=2
Tứ đó n= 330 hộ
Dự phòng tình trạng các không tham gia phỏng vấn, tôi lấy thêm 5%
hộ gia đình nữa nên số hộ cần phỏng vấn là 347, làm tròn 350 hộ.
2.2.3.Chọn mẫu nghiên cứu:
- Chọn mẫu 2 giai đoạn:
+Giai đoạn 1: chọn xã và chọn ấp nghiên cứu
Chọn 4 xã trong tổng số 15 xã của huyện Long Mỹ, bằng phương
pháp chọn mẫu ngẫu nhiên. Tại mỗi xã chọn 2 ấp bằng phương pháp ngẫu
nhiên.
+Giai đoạn 2: Chọn hộ gia đình điều tra
Chọn 44 hộ ở mỗi ấp bằng phương pháp ngẫu nhiên
- Sơ đồ các bước chọn mẫu như sau:
2.2.4 Nội dung nghiên cứu
2.2.4.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu:
21
15 xã, thị trấn của huyện Long Mỹ
4 xã, thị trấn
2 ấp / xã, thị trấn
44 hộ / ấp
-Tính: tần suất và tỉ lệ
+Giới tính: tần suất và tỉ lệ
+Tuổi: tần suất và tỉ lệ
+Trình độ học vấn: tần suất và tỉ lệ
+Kinh tế gia đình: tần suất và tỉ lệ
2.2.4 2. Cách xử trí khi bị bệnh:
-Gia đình có bệnh trong 3 tháng qua
-Tên bệnh
-Cách xử trí khi bị bệnh.
-Mức độ thường xuyên sử dụng cây thuốc để trị bệnh.
2.2.4.3. Kiến thức về cây thuốc chữa bệnh thông thường:
*Kiến thức về những cây thuốc: Biết hoặc không biết tên của 40 cây
thuốc thông thường.
*Kiến thức về tác dụng trị bệnh của những cây thuốc thông thường:
Biết hoặc không biết tác dụng trị bệnh của 10 cây thuốc thông thường.
-Kiến thức chung về sử dụng cây thuốc trị bệnh: 75%
+Tốt ≥ 8, kể tác dụng được từ 8 cây thuốc trị bệnh.
+Chưa tốt ≤ 7, kể tác dụng được từ ≤ 7 cây thuốc trị bệnh
-Mối liên quan đến kiến thức người dân sử dụng cây thuốc trị bệnh
+Sự liên quan giữa kiến thức sử dụng cây thuốc và giới tính.
+Sự liên quan giữa kiến thức sử dụng cây thuốc và tuổi.
+Sự liên quan giữa kiên thức sử dụng cây thuốc với trình độ học vấn.
+Sự liên quan giữa kiến thức sử dụng cây thuốc và kinh tế gia đình.
2.2.4.4. Tìm hiểu một số cây thuốc sẳn có thông dụng tại hộ gia đình
Cây thuốc hiện có quanh nhà được xác định bằng phương pháp quan
sát và dùng bảng kiểm với 40 cây thuốc để đánh giá.
22
2.2.5. Định nghĩa các biến số nghiên cứu:
2.2.5.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu:
-Giới tính: Nam, Nữ
-Cơ cấu nhóm tuổi từ 18 trở lên được chia ra làm các nhóm như sau:
+Từ 18-29
+ Từ 30-39
+Từ 40-49
+Từ 50-59
+Từ 60 trở lên
-Trình độ học vấn: Chia làm 3 nhóm sau:
+Dưới cấp II
+ Cấp II
+ Trên cấp II
-Kinh tế gia đình:
+Hộ nghèo: Đạt tiêu chuẩn nghèo theo quy định của pháp luật,
có sổ hộ nghèo do địa phương cấp cho gia đình
+Hộ cận nghèo: xác định là hộ cận nghèo khi hộ gia đình
không được xét vào hộ nghèo; nhà tạm tre, lá
+Hộ không nghèo: số còn lại
2.2.5.2. Cách xử trí khi bị bệnh:
-Gia đình có bệnh trong 3 tháng qua trước khi điều tra. Trường hợp
bệnh khi có triệu chứng mà bản thân đối tượng nhận biết, xác nhận bất
thường và tự khai báo hoặc được xác nhận, khai báo bởi các thành viên
trong gia đình
+Có + Không
-Tên bệnh (Theo lời kể chủ quan của người được phỏng vấn)
23
-Cách thức xử trí khi bị bệnh.
+Không điều trị gì
+Điều trị thuốc tây
+Điều trị thuốc Đông y
+Điều trị bằng thuốc tây và thuốc Đông y
+Sử dụng cây thuốc để điều trị
-Mức độ thường xuyên sử dụng cây thuốc để trị bệnh (ở những người
có sử dụng cây thuốc để trị bệnh)
+Thường xuyên ( Mỗi ngày trong thời gian bệnh)
+Thỉnh thoảng ( có sử dụng nhưng ít hoặc rất ít)
+Không bao giờ (chưa dùng cây thuốc để chữa bệnh lần nào)
2.2.5.3. Kiến thức về cây thuốc chữa bệnh thông thường:
Dựa vào danh mục thuốc thiết yếu lần V của Bộ Y tế ban hành và
sách những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của GS Đổ Tất Lợi để làm căn
cứ xác định tên cây thuốc thông thường và tác dụng điều trị của các cây
thuốc nghiên cứu[5],[23].
Bệnh hay ốm đau được định nghĩa là tình trạng bất thường về sức
khỏe kéo dài ít nhất từ nữa ngày đến một ngày, những bệnh thông thường
là những bệnh người dân thường mắc phải tại địa phương, người dân có thể
tự điều trị tại nhà. Mức độ bệnh sẽ quyết định sự lựa chọn cách thức chữa
bệnh của người dân. Khi bệnh nhẹ như cảm cúm, nhức đầu thông thường
thì người dân có thể chọn cách giải quyết là tư mua thuốc điều trị hoặc
dụng các cây thuốc thông thường sẳn có tại vườn nhà để điều trị mà chưa
cần đến sự can thiệp của thầy thuốc.
24
Cây thuốc ở quanh nhà là những cây thuốc có thể được trộng hoặc
mọc hoang quanh vườn, nhà, mé mương, bờ ruộng gần nơi sinh sống của
gia đình
*Kiến thức về những cây thuốc: Biết hoặc không biết tên của 40 cây
thuốc thông thường sau đây; Tính tần suất và tỉ lệ.
-Nhóm cây thuốc ho, cảm:
+Cây húng chanh (hay rau tần dầy lá)
+Cỏ mần trầu
+Cây tía tô
+Cây sã
+Cây hẹ
+Chanh
+Cây kinh giới
+Cây đinh lăng
+Cây thuốc giòi
-Nhóm cây thuốc thuộc đường tiêu hóa-kiết lỵ
+Cây nghệ
+Cây riềng
+Cây gừng
+Cây cau
+Mơ tam thể
+Cây ổi
+Cây lô hội
+Cây muồng trâu
+Cây so đũa
+Cây cơm cháy (cây thuốc mọi)
25