Tải bản đầy đủ (.docx) (58 trang)

phân tích tác động của thuế giá trị gia tăng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (334.53 KB, 58 trang )

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ
THUẾ GTGT VÀ QUẢN LÝ THUẾ GTGT
1.1. Thuế giá trị gia tăng
1.1.1. Lịch sử ra đời và phát triển của thuế GTGT [7, tr56]
Cách đây gần 60 năm, vào năm 1954, nước Pháp áp dụng thí điểm một
loại thuế mà người Pháp gọi là Taxe Sur La Valeur Ajou tesee (viết tắt là
TVA), còn người Mỹ gọi là Value Added Tax (viết tắt là VAT) dịch ra Tiếng
Việt là thuế trị giá tăng thêm hay thuế giá trị gia tăng, có người còn gọi là
thuế doanh thu có khấu trừ ở khâu trước. Chỉ một năm sau, TAV đã áp dụng
chính thức tại Pháp để thay thế thuế sản xuất và một vài sắc thuế gián thu
khác. Ngày nay, các quốc gia thuộc khối Liên minh châu Âu (EU) và một số
cường quốc kinh tế phát triển (như Đức, Nhật, Canada) đã chính thức thực
thi thuế TVA tại đất nước mình. Thuế GTGT ngày nay đã được áp dụng ở
trên 130 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Tại Việt Nam, vào ngày 05-07-1993, theo quyết định số 486TC/QĐ/BTC
của Bộ tài chính, thực hiện thí điểm thuế GTGT ở một số doanh nghiệp quốc
doanh thuộc các ngành có quá trình chuyển từ sản xuất đến tiêu dùng
thường xuyên phải trải qua nhiều công đoạn (như sản xuất xi măng, sản
xuất sợi, dệt, sản xuất đường). Có tất cả 11 doanh nghiệp đăng kí và thực
hiện thí điểm. Tiếp theo, Nhà nước liên tục thực hiện cải cách thuế bước 1
(1990-1996) và cải cải cách thuế bước 2.
Sau một thời gian tổ chức triển khai thực hiện luật thuế GTGT, tại kỳ
họp Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ 11 dự thảo luật thuế GTGT đã được thông
qua. Dưới sự chỉ đạo của chính phủ, các ban soạn thảo đã tích cực chuẩn bị
các văn bản hướng dẫn thi hành luật thuế. Đến ngày 31-12-1998 (trước
ngày luật thuế GTGT có hiệu lực thi hành) về cơ bản đã có đủ các văn bản
hướng dẫn thực hiện luật thuế này. Ngày 1-1-1999 tại Việt Nam, luật thuế
GTGT chính thức được áp dụng trên toàn quốc theo Nghị định
số18/1998/NĐ-CP ngày 11-5-98 và thông tư số 89/1998/TT-BTC. Và cho
1
tới hôm nay, luật thuế GTGT ngày càng hoàn thiện hơn để phù hợp với sự


vận động và phát triển cuả nền kinh tế thị trường, tương đồng với hệ thống
thuế trong khu vực và trên thế giới, góp phần đẩy mạnh việc mở rộng hợp
tác kinh tế và thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
1.1.2. Khái niệm và bản chất của thuế GTGT
1.1.2.1. Khái niệm của thuế GTGT
Theo quy định của Luật thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12, ban
hành năm 2008 thì thuế giá trị gia tăng (thuế GTGT) là thuế tính trên giá
trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất,
lưu thông đến tiêu dùng.
Thuế giá trị gia tăng có nguồn gốc từ thuế doanh thu, được nghiên cứu
và áp dụng nhằm khắc phục những hạn chế của thuế doanh thu. Đây là một
loại thuế doanh thu đánh vào mỗi giai đoạn sản xuất, lưu thông sản phẩm
hàng hóa, từ khi còn là khâu nguyên liệu thô sơ cho đến sản phẩm hoàn
thành, và cuối cùng là giai đoạn tiêu dùng. Chính vì vậy mà chúng ta còn
gọi là thuế doanh thu có khấu trừ số thuế đã nộp ở giai đoạn trước. Thuế
giá trị gia tăng được cộng vào giá bán hàng hóa, dịch vụ, và do người tiêu
dùng chịu khi mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ.
1.1.2.2. Bản chất của thuế GTGT [7, tr57]
Thuế GTGT là thuế gián thu, được tính trên giá trị tăng thêm của hàng
hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
Do thuế GTGT được tính trên phần giá trị tăng thêm nên dù hàng hóa được
mua đi bán lại kiểu gì, dù bán cho người tiêu dùng cuối cùng hay vòng vo
qua nhiều thang, nhiều nấc thì kết quả cuối cùng Nhà nước vẫn thu được
một khoản thuế cố định, đó chính là số thuế của toàn bộ giá trị hàng hóa
mà người tiêu dùng cuối cùng phải trả. Tức là thuế GTGT đánh trên hành vi
tiêu dùng, còn các cơ sở sản xuất, kinh doanh với tư cách là những nhà
trung gian nên không phải là người chịu thuế. Vì vậy, có thể nói bản chất
của thuế GTGT là thuế tiêu dùng đánh vào người tiêu dùng cuối cùng.
2
Cũng do thuế GTGT được tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch

vụ nên ĐTNT phải là các cơ sở sản xuất, kinh doanh đã bỏ thêm chi phí vào
làm giá cả của hàng hóa, dịch vụ tăng lên. Tuy nhiên, phần thuế mà họ nộp
vào NSNN thực chất lại là do người tiêu dùng đã thanh toán trong giá cả,
tức là người tiêu dùng mới là người chịu thuế. Lúc này các cơ sở sản xuất,
kinh doanh đóng vai trò là người thu hộ thuế cho Nhà nước và là người nộp
hộ thuế cho người tiêu dùng, là một mắt xích trong hệ thống thu thuế. Vì
vậy, thuế GTGT là một loại thuế gián thu, điều tiết vào thu nhập của người
tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ một cách gián tiếp, thông qua giá cả.
Thuế GTGT có tính xã hội hóa cao, đòi hỏi người tiêu dùng phải có ý
thức trong việc chấp hành nghĩa vụ nộp thuế và góp phần kiểm soát chống
thất thu cho NSNN. Đặc biệt là đối với ĐTNT trong việc tự khai, tính thuế và
nộp thuế GTGT như ở nước ta hiện nay dò hỏi nhân dân phải có tinh thần
tự giác cao và ý thức chấp hành nghĩa vụ nộp thuế tốt.
1.1.3. Đặc trưng của thuế GTGT [7, 57]
- Thuế GTGT xuất phát từ nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, nhằm đáp ứng nhu
cầu huy động ngân sách ngày càng lớn của Nhà nước. Thuế GTGT là nguồn
động viện quan trọng, kịp thời và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu NSNN.
Thuế GTGT được tính và thu vào từng khâu, từng giai đoạn của quá trình
sản xuất, kinh doan nên làm tăng nguồn thu cho NSNN.
- Thuế GTGT có phạm vi điều chỉnh rất rộng, áp dụng cho hầu hết các hàng
hóa, dịch vụ sử dụng trong sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng trong tất cả
các ngành nghề, ở tất cả các giai đoạn.
- Thuế GTGT là một loại thuế gián thu, nó là yếu tố cầu thành trong giá cả
hàng hóa, dịch vụ nhằm động viên một phần thu nhập thông qua sự đóng
góp của người tiêu dùng khi họ sử dụng hàng hóa, dịch vụ đó. Thuế GTGT
được tính trong giá bán nên người chịu thuế ít có cảm giác mình bị Nhà
nước đánh thuế, do đó ít gây ra những phản ứng từ phía người chịu thuế.
3
- Thuế GTGT thường có ít thuế suất, giúp việc áp dụng trở nên đơn giản, dễ
dàng và chính xác hơn.

- Thuế GTGT có tính trung lập kinh tế cao, vì về cơ bản không can thiệp sâu
vào mục tiêu khuyến khính hay hạn chế sản xuất, kinh doanh dịch vụ, tiêu
dùng, theo ngành nghề cụ thể; không gây phức tạp trong việc xem xét từng
mặt hàng, ngành nghề có thuế suất chênh lệch nhau nhiều.
- Thuế GTGT là sắc thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn không trùng lặp. Thuế
GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh
nhưng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của mỗi giai đoạn. Tổng số thuế
thu được của tất cả các giai đoạn đúng bằng số thuế tính trên giá bán cho
người tiêu dùng cuối cùng.
- Thuế GTGT là loại thuế gián thu mà đối tượng nộp thuế GTGT là người cung
ứng hàng hóa, dịch vụ, còn người chịu thuế là người tiêu dùng cuối cùng.
Thuế GTGT là một khoản tiền được cộng vào giá bán hàng hóa, dịch vụ mà
người mua phải trả khi mua hàng.
- Thuế GTGT có tính chất lũy thoái so với thu nhập. Thuế GTGT đánh vào
hàng hóa, dịch vụ, người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ là người phải trả
khoản thuế đó, không phân biệt thu nhập cao hay thấp đều phải trả số thuế
như nhau.
- Bên cạnh đó thuế GTGT có thuộc tính lãnh thổ quốc gia. Đối tượng chịu thuế
là người tiêu dùng trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.
1.1.4. Vai trò của thuế giá trị gia tăng [7, tr59]
Trong nền kinh tế hiện đại, thuế không chỉ là công cụ thu ngân sách mà
còn là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý, điều
tiết vĩ mô nền kinh tế. Trong đó, thuế giá trị gia tăng là một khoản thu
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số thu ngân sách của Nhà nước, do đó thuế
GTGT có vai trò rất to lớn, tác động đến mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã
hội. Có thể khái quát vai trò đó thành 3 vai trò cơ bản như sau:
- Thứ nhất, thuế GTGT là nguồn thu quan trọng của NSNN.
Thuế GTGT là công cụ tập trung, huy động đầy đủ, kịp thời nguồn thu
cho NSNN. Thuế GTGT tập trung thu ngay từ khâu đầu (sản xuất hoặc nhập
4

khẩu) nên đảm bảo nguồn thu cho NSSNN, hạn chế thất thu. Thuế GTGT
được tính và thu theo từng khâu từng giai đoạn của quá trình SX, KD nên
làm tăng nguồn thu và đảm bảo kịp thời cho NSNN. Việc khấu trừ thuế
GTGT được thực hiện căn cứ trên hóa đơn mua hàng đã thúc đẩy người
mua phải đòi hỏi người bán xuất hóa đơn, ghi đúng doanh thu với giá trị
thực của hoạt động mua bán, góp phần khắc phục được tình trạng thông
đồng giữa người mua và người bán để trốn lậu thuế, giảm thất thu cho
NSNN.
- Thứ hai, thuế GTGT là công cụ điều tiết vĩ mô và vi mô nền kinh tế
+ Thuế GTGT điều tiết sản xuất và tiêu dùng. Luật thuế GTGT quy định
đánh thuế hoặc không đánh thuế, đánh thuế với thuế suất cao hay thấp vào
từng mặt hàng cụ thể, thông qua đó mà tác động và làm thay đổi mối quan
hệ cung, cầu trên thị trường, tác động đến việc lựa chọn những hàng hóa,
dịch vụ để SX, KD và tiêu dùng, nhằm góp phần thực hiện điều tiết vĩ mô nền
kinh tế. Thuế GTGT khuyến khích hoạt động đầu tư mở rộng SX. Trong hoạt
động đầu tư TSCĐ, toàn bộ số thuế GTGT mà DN phải trả khi mua sắm TSCĐ
sẽ được Nhà nước cho khấu trừ hoặc hoàn lại. Còn khi nhập khẩu máy móc
thiết bị, phương tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ
và vật tư xây dựng thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập
khẩu tạo TSCĐ cho DN thì DN cũng không phải nộp thuế GTGT. Đồng thời
việc thuế GTGT không đánh vào vốn đầu tư đã làm cho giá thành các công
trình đầu tư trong nước giảm rất nhiều. Do đó, thuế GTGT đã góp phần
khuyến khích đầu tư đổi mới công nghệ, thúc đẩy phát triển SX, KD và lưu
thông hàng hóa.
+ Thuế GTGT khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, góp phần
bảo hộ SX trong nước. Hàng hóa xuất khẩu được áp dụng thuế suất thuế
GTGT là 0%, số thuế GTGT đầu vào mà DN đã nộp thì sẽ được Nhà nước cho
khấu trừ hoặc hoàn lại, vì vậy nó là động lực khuyến khích SX các mặt hàng
xuất khẩu, tăng cường sự hợp tác thương mại giữa Việt Nam với các nước
5

trên thế giới. Thuế GTGT tạo điều kiện cho hàng hóa xuất khẩu có thể cạnh
tranh dễ dàng hơn trên thị trường quốc tế mở rộng thị trường tiêu thụ sản
phẩm, giải quyết nhu cầu lao động trong xã hội.
+ Thuế GTGT khuyến khích tăng hiệu quả sản xuất. Trong nền kinh tế thị
trường, giá cả hàng hóa được bán ra phụ thuộc vào yếu tố cung cầu, nó
phải được người tiêu dùng chấp nhận, người SX khó có thể thay đổi giá cả
theo ý của mình. Do đó việc Nhà nước đánh thuế sẽ làm giảm doanh thu
thuần của DN nếu DN không cố gắng nâng cao hiệu quả SX để giảm bớt chi
phí. Điều đó đã thúc đẩy các DN phải luôn luôn cải tiến kỹ thuật, nâng cao
năng suất, thúc đẩy nền sản xuất phát triển.
+ Thuế GTGT thúc đẩy các DN thực hiện chế độ hạch toán, kế toán, phát
triển quan hệ thanh toán. Việc DN được phép khấu trừ thuế GTGT của hàng
hóa, dịch vụ mua vào cùng với việc thực hiện hoàn thuế GTGT cua Nhà
nước đã khuyến khích các DN tự giác ghi chép, quản lý, sử dụng hóa đơn,
chứng từ, thúc đẩy việc hoàn thiện công tác hạch toán, kế toán tại đơn vị.
Ngoài ra, thuế GTGT góp phần phát triển quan hệ thanh toán. Việc thuế
GTGT đòi hỏi những DN có hàng hóa xuất khẩu phải thanh toán qua ngân
hàng thì mới được hoàn thuế đã thúc đẩy các DN thực hiện thanh toán qua
hệ thống ngân hàng, góp phần phát triển hệ thống thanh toán.
- Thứ ba, thuế GTGT là công cụ kiểm soát các hoạt động SX, KD.
Vai trò này hình thành ngay trong quá trình tổ chức thực hiện Luật thuế
GTGT. Để thu được thuế và đảm bảo thực hiện đúngluật thuế, cơ quan thuế
và các cơ quan hữu quan phải bằng mọi biện pháp nắm vững số lượng, quy
mô và tình hình hoạt động của các cơ sở SX, KD. Từ đó mà cơ quan thuế sẽ
phát hiện ra những việc làm sai trái, vi phạm pháp luật của các cá nhân, tổ
chức SX, KD, cũng như phát hiện ra những khó khăn mà các cơ sở gặp phải
để giúp đỡ họ tìm biện pháo tháo gỡ. Thuế GTGT còn thúc đẩy việc mua bán
hàng hóa sử dụng hóa đơn, chứng từ hợp lệ, tạo điều kiện thuận lợi cho
việc kiểm tra, kiểm soát các hoạt động SX, KD. Như vậy, qua công tác quản
6

lý thuế có thể kiểm tra, kiểm soát toàn diện các mặt hoạt động của các cơ
sở kinh tế, đảm bảo thực hiện tốt công tác quản lý Nhà nước.
1.1.5. Nội dung cơ bản về thuế giá trị gia tăng ở nước ta
1.1.5.1. Đối tượng chịu thuế
Theo quy định tại Điều 3 Luật thuế GTGT: “Hàng hóa, dịch vụ sử dụng
cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế
giá trị gia tăng, trừ các đối tượng quy định tại Điều 5 của Luật này”.
1.1.5.2. Người nộp thuế
Theo quy định tại Điều 4 Luật thuế GTGT: “Người nộp thuế giá trị gia
tăng là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế
giá trị gia tăng và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế giá trị
gia tăng”.
1.1.5.3. Đối tượng không chịu thuế
Đối tượng không chịu thuế GTGT: gồm 25 loại hàng hóa, dịch vụ được
quy định tại Điều 5, Luật thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12.
1.1.5.4. Căn cứ tính thuế
Theo quy định tại Điều 6 Luật thuế GTGT: “Căn cứ tính thuế giá trị gia
tăng là giá tính thuế và thuế suất”.
a. Giá tính thuế
Điều 7 Luật thuế GTGT quy định :
- Đối với hàng hoá, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra là giá bán
chưa có thuế giá trị gia tăng. Đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ
đặc biệt là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa có thuế giá trị
gia tăng
- Đối với hàng hóa nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuế nhập
khẩu (nếu có), cộng với thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có). Giá nhập tại cửa
khẩu được xác định theo quy định về giá tính thuế hàng nhập khẩu;
- Đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi, tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng cho
là giá tính thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương
đương tại thời điểm phát sinh các hoạt động này.

7
- Đối với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền cho thuê chưa có thuế giá trị
gia tăng.
- Đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp, trả chậm là giá tính theo
giá bán trả một lần chưa có thuế giá trị gia tăng của hàng hoá đó, không
bao gồm khoản lãi trả góp, lãi trả chậm.
- Đối với gia công hàng hoá là giá gia công chưa có thuế giá trị gia tăng.
- Đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt là giá trị công trình, hạng mục công
trình hay phần công việc thực hiện bàn giao chưa có thuế giá trị gia tăng.
Trường hợp xây dựng, lắp đặt không bao thầu nguyên vật liệu, máy móc,
thiết bị thì giá tính thuế là giá trị xây dựng, lắp đặt không bao gồm giá trị
nguyên vật liệu và máy móc, thiết bị.
- Đối với hoạt động kinh doanh bất động sản là giá bán bất động sản chưa có
thuế giá trị gia tăng, trừ giá chuyển quyền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất
phải nộp ngân sách nhà nước.
- Đối với hoạt động đại lý, môi giới mua bán hàng hoá và dịch vụ hưởng hoa
hồng là tiền hoa hồng thu được từ các hoạt động này chưa có thuế giá trị
gia tăng.
b. Thuế suất
- Mức thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, vận tải
quốc tế và hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng quy định tại
Điều 5 của Luật này khi xuất khẩu, trừ các trường hợp chuyển giao công
nghệ, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ ra nước ngoài; dịch vụ tái bảo
hiểm ra nước ngoài; dịch vụ cấp tín dụng, chuyển nhượng vốn, dịch vụ tài
chính phái sinh; dịch vụ bưu chính, viễn thông; sản phẩm xuất khẩu là tài
nguyên, khoáng sản khai thác chưa qua chế biến.
- Mức thuế suất 5% áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ sau đây:
+ Nước sạch phục vụ sản xuất và sinh hoạt.
+ Phân bón; quặng để sản xuất phân bón; thuốc phòng trừ sâu bệnh và
chất kích thích tăng trưởng vật nuôi, cây trồng.

+ Thức ăn gia súc, gia cầm và thức ăn cho vật nuôi khác.
8
+ Dịch vụ đào đắp, nạo vét kênh, mương, ao hồ phục vụ sản xuất nông
nghiệp; nuôi trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng; sơ chế, bảo
quản sản phẩm nông nghiệp.
+ Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản chưa qua chế biến, trừ sản
phẩm quy định tại khoản 1 Điều 5 của Luật này.
+ Mủ cao su sơ chế; nhựa thông sơ chế; lưới, dây giềng và sợi để đan lưới
đánh cá.
+ Thực phẩm tươi sống; lâm sản chưa qua chế biến, trừ gỗ, măng và sản
phẩm quy định tại khoản 1 Điều 5 của Luật này.
+ Đường; phụ phẩm trong sản xuất đường, bao gồm gỉ đường, bã mía, bã
bùn.
+ Sản phẩm bằng đay, cói, tre, nứa, lá, rơm, vỏ dừa, sọ dừa, bèo tây và các
sản phẩm thủ công khác sản xuất bằng nguyên liệu tận dụng từ nông
nghiệp; bông sơ chế; giấy in báo.
+ Máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, bao
gồm máy cày, máy bừa, máy cấy, máy gieo hạt, máy tuốt lúa, máy gặt, máy
gặt đập liên hợp, máy thu hoạch sản phẩm nông nghiệp, máy hoặc bình
bơm thuốc trừ sâu.
+ Thiết bị, dụng cụ y tế; bông, băng vệ sinh y tế; thuốc phòng bệnh, chữa
bệnh; sản phẩm hóa dược, dược liệu là nguyên liệu sản xuất thuốc chữa
bệnh, thuốc phòng bệnh.
+ Giáo cụ dùng để giảng dạy và học tập, bao gồm các loại mô hình, hình
vẽ, bảng, phấn, thước kẻ, com-pa và các loại thiết bị, dụng cụ chuyên dùng
cho giảng dạy, nghiên cứu, thí nghiệm khoa học.
+ Hoạt động văn hoá, triển lãm, thể dục, thể thao; biểu diễn nghệ thuật;
sản xuất phim; nhập khẩu, phát hành và chiếu phim.
+ Đồ chơi cho trẻ em; sách các loại, trừ sách quy định tại khoản 15 Điều 5
của Luật này.

+ Dịch vụ khoa học, công nghệ theo quy định của Luật khoa học và công
nghệ.
- Mức thuế suất 10% áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ không quy định tại
khoản 1 và khoản 2 Điều này.
1.1.5.5. Phương pháp tính thuế
9
Theo quy định tại Điều 9 Luật thuế GTGT: “Phương pháp tính thuế giá
trị gia tăng gồm phương pháp khấu trừ thuế giá trị gia tăng và phương
pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng”.
a. Phương pháp khấu trừ thuế
- Đối tượng áp dụng: Phương pháp khấu trừ thuế áp dụng đối với cơ sở kinh
doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định
của pháp luật về kế toán, hoá đơn, chứng từ và đăng ký nộp thuế theo
phương pháp khấu trừ thuế.
- Công thức tính thuế hoàn chỉnh:
Số thuế GTGT
phải nộp
=
Số thuế GTGT
đầu ra
-
Số thuế GTGT đầu vào
được khấu trừ
Trong đó:
+ Số thuế GTGT đầu ra = giá tính thuế x thuế suất
+ Thuế GTGT đầu vào bằng tổng số thuế GTGT ghi trên hoá đơn GTGT mua
hàng hóa, dịch vụ (bao gồm cả tài sản cố định) dùng cho sản xuất, kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT, số thuế GTGT ghi trên chứng từ
nộp thuế của hàng hoá nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho
phía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài chính áp dụng đối với các tổ

chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước
ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam.
b. Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng
- Đối tượng áp dụng: Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT áp dụng đối với
các đối tượng sau đây:
+ Cá nhân, hộ kinh doanh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ
chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật.
+ Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh không theo Luật Đầu tư và các
tổ chức khác không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán,
hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật.
+ Hoạt động kinh doanh mua bán, vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ.
- Công thức tính thuế hoàn chỉnh:
10
Số thuế GTGT
phải nộp
=
GTGT của hàng hoá,
dịch vụ chịu thuế bán
ra
x
Thuế suất áp dụng đối
với hàng hoá, dịch vụ đó.
Trong đó:
GTGT của
hàng hoá, dịch
vụ chịu thuế bán
ra
=
Giá thanh toán của
hàng hoá, dịch vụ bán

ra
-
Giá thanh toán của
hàng hoá, dịch vụ mua
vào tương ứng.
1.1.5.6. Khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào
Theo quy định tại Điều 12 Luật thuế GTGT thì:
- Cơ sở kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ
thuế được khấu trừ thuế GTGT đầu vào như sau:
+ Thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng được khấu trừ toàn bộ.
+ Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ sử dụng đồng thời cho sản
xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế thì chỉ
được khấu trừ số thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá, dịch vụ sử
dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng.
Trường hợp thuế giá trị gia tăng đầu vào của tài sản cố định sử dụng đồng
thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng
và không chịu thuế giá trị gia tăng thì được khấu trừ toàn bộ.
+ Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ bán cho tổ chức, cá nhân sử
dụng nguồn vốn viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại được khấu trừ
toàn bộ.
+ Thuế GTGT đầu vào phát sinh trong tháng nào được kê khai, khấu trừ khi
xác định số thuế phải nộp của tháng đó. Trường hợp cơ sở kinh doanh phát
hiện số thuế giá trị gia tăng đầu vào khi kê khai, khấu trừ bị sai sót thì được
kê khai, khấu trừ bổ sung; thời gian để kê khai, bổ sung tối đa là sáu tháng,
kể từ thời điểm phát sinh sai sót.
- Điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào được quy định như sau:
+ Có hoá đơn giá trị gia tăng mua hàng hoá, dịch vụ hoặc chứng từ nộp
thuế giá trị gia tăng ở khâu nhập khẩu.
11

+ Có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa, dịch vụ mua
vào, trừ hàng hoá, dịch vụ mua từng lần có giá trị dưới hai mươi triệu
đồng.
+ Đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu, ngoài các điều kiện quy định trên
còn phải có hợp đồng ký kết với bên nước ngoài về việc bán, gia công hàng
hoá, cung ứng dịch vụ, hoá đơn bán hàng hoá, dịch vụ, chứng từ thanh toán
qua ngân hàng, tờ khai hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu. Việc thanh
toán tiền hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu dưới hình thức thanh toán bù trừ
giữa hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu với hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu, trả nợ
thay Nhà nước được coi là thanh toán qua ngân hàng.
1.1.5.7. Các trường hợp hoàn thuế
Theo quy định tại Điều 13 Luật thuế GTGT, các trường hợp hoàn thuế
gồm:
- Cơ sở kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ
thuế được hoàn thuế giá trị gia tăng nếu trong ba tháng liên tục trở lên có
số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết. Trường hợp cơ sở
kinh doanh đã đăng ký nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu
trừ có dự án đầu tư mới, đang trong giai đoạn đầu tư có số thuế giá trị gia
tăng của hàng hoá, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư mà chưa được
khấu trừ hết và có số thuế còn lại từ hai trăm triệu đồng trở lên thì được
hoàn thuế giá trị gia tăng.
- Cơ sở kinh doanh trong tháng có hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu nếu có số
thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ từ hai trăm triệu đồng
trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng theo tháng.
- Cơ sở kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ
thuế được hoàn thuế giá trị gia tăng khi chuyển đổi sở hữu, chuyển đổi
doanh nghiệp, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản, chấm dứt
hoạt động có số thuế giá trị gia tăng nộp thừa hoặc số thuế giá trị gia tăng
đầu vào chưa được khấu trừ hết.
- Cơ sở kinh doanh có quyết định hoàn thuế giá trị gia tăng của cơ quan có

thẩm quyền theo quy định của pháp luật và trường hợp hoàn thuế giá trị
12
gia tăng theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên.
1.1.5.8. Các quy định về hóa đơn, chứng từ
Theo quy định tại Điều 14 Luật thuế GTGT, việc mua bán hàng hóa, dịch
vụ phải có hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật và các quy định
sau đây:
- Cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế sử dụng hóa
đơn giá trị gia tăng; hoá đơn phải được ghi đầy đủ, đúng nội dung quy
định, bao gồm cả khoản phụ thu, phí thu thêm (nếu có). Trường hợp bán
hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng mà trên hóa đơn giá trị gia
tăng không ghi khoản thuế giá trị gia tăng thì thuế giá trị gia tăng đầu ra
được xác định bằng giá thanh toán ghi trên hóa đơn nhân với thuế suất
thuế giá trị gia tăng.
- Cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia
tăng sử dụng hoá đơn bán hàng.
- Đối với các loại tem, vé là chứng từ thanh toán in sẵn giá thanh toán thì giá
thanh toán tem, vé đó đã bao gồm thuế giá trị gia tăng.
1.2. Nội dung quản lý thuế giá trị gia tăng
1.2.1. Sự cần thiết và khái niệm của quản lý thuế GTGT [6, tr63]
Thuế là phạm trù kinh tế khách quan luôn gắn liền với nhà nước. Khi
Nhà nước xuất hiện làm phát sinh các nhu cầu chi tiêu, để thoả mãn các
nhu cầu chi tiêu, nhà nước sử dụng quyền lực chính trị để tham gia vào việc
phân phối một phần sản phẩm xã hội bằng cách đặt ra chế độ thuế khoá
buộc các thành viên trong xã hội phải đóng góp phương thức động viên tài
chính đầu tiên trong lịch sử đó là thuế.
Như vậy, thuế được sinh ra từ nhà nước, tồn tại dựa vào quyền lực nhà
nước và nhằm thoả mãn phần lớn các nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Bởi
vậy, ngay từ khi thuế ra đời, việc quản lý thuế đã trở thành hoạt động tất

yếu của nhà nước. Quan hệ thu nộp thuế không chỉ là quan hệ quyền lực và
nghĩa vụ mà nó còn là quan hệ lợi ích phát sinh giữa nhà nước với các tổ
13
chức, cá nhân trong xã hội. Vì vậy, thu nộp thuế bao giờ cũng là quan hệ
khá phức tạp.
Hoạt động thu thuế của nhà nước còn nhằm mục đích hiện thực hóa các
mục tiêu của hệ thống chính sách thuế như: tác động đến thiết lập và điều
chỉnh cơ cấu nền kinh tế, điều tiết hoạt động sản xuất kinh doanh, hướng
dẫn tiêu dùng và điều hoà thu nhập dân cư đảm bảo mục tiêu công bằng xã
hội. Tầm quan trọng và tính chất đặc biệt của thuế, nên các nhà nước luôn
luôn phải tìm ra phươngthức quản lý sao cho có hiệu quả nhất để nhằm đạt
được mục tiêu và phát huy tối đa vai trò của thuế trong đời sống thực tiễn.
Nếu nhà nước không quản lý thuế hoặc quản lý kém hiệu quả đều gây ra
những hệ quả xấu cho nhà nước và cho toàn xã hội.
Từ những phân tích nêu trên, chúng ta có thể hiểu Quản lý thuế như
sau:
Quản lý thuế là khâu tổ chức, phân công trách nhiệm cho các bộ phận
trong cơ quan thuế, xác lập mối quan hệ phối hợp giữa các bộ phận một
cách hữu hiệu trong việc thực thi các chính sách thuế để ngày một nâng cao
chất lượng cũng như hiệu quả thu cho ngân sách nhà nước, góp phần
khuyến khích sản xuất, kinh doanh phát triển, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,
nâng cao ý thức nộp thuế cho đối tượng nộp thuế và phải coi đó như bổn
phận và trách nhiệm của đối tượng nộp thuế.
Khi đó, quản lý thuế GTGT được hiểu là hoạt động của cơ quan thuế
nhằm mục đích chủ yếu là đảm bảo nguồn thu thuế GTGT cho NSNN, góp
phần phát huy vai trò của luật thuế GTGT.
Do điều kiện kinh tế xã hội khác nhau nên thuế GTGT được áp dụng ở
các quốc gia cũng có những đặc điểm khác nhau, vì vậy công tác quản lý
thu thuế GTGT ở mỗi nước có những đặc điểm riêng phù hợp với điều kiện
ở nước đó. Ngay cả công tác quản lý thu thuế GTGT trong mỗi quốc gia ở

các cấp cũng có sự khác nhau tùy thuộc vào chức năng, nhiệm vụ và quyền
hạn của mỗi bộ phận, mỗi cấp.
14
Quản lý kê khai thuế
Quản lý hóa đơn chứng từ
Xử lý tờ khai, chứng từ và xác định, ấn định số thuế phải nộp
Quản lý việc nộp thuế
của ĐTNT
Quản lý hồ sơ ĐTNT
Xử lý quyết toán thuế
Xử lý hoàn thuế và
kiểm tra thuế
Tuyên truyền và phổ biến kê khai nộp thuế
Quản lý đăng ký thuế
Quản lý nợ thuế
Trong quản lý thuế GTGT, Cục thuế, Chi cục thuế phải phối hợp chặt chẽ
với các cơ quan hữu quan như: Kho bạc, Hải quan, Uỷ ban nhân dân, Sở kế
hoạch đầu tư để đảm bảo quản lý triệt để và phát triển nguồn thu.
1.2.2. Quy trình, nội dung quản lý thuế GTGT
Quy trình quản lý thuế GTGT được ban hành nhằm hướng dẫn các bộ
phận tại Chi cục thuế thực hiện và phối hợp thực hiện các công việc quản lý
thuế GTGT đối với các ĐTNT; đảm bảo công khai, minh bạch trong quá trình
quản lý, tính thuế theo đúng các quy định của Luật Quản lý thuế, các Luật
thuế, các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật.
Sơ đồ 1.1: Quy trình quản lý thuế GTGT
15
(Nguồn: ISO Tổng Cục thuế Việt Nam)
 Nội dung quản lý thuế GTGT:
- Tuyên truyền, phổ biến kê khai nộp thuế: Đây là bước đầu tiên và cũng là
bước xuyên suốt trong quá trình quản lý thuế GTGT. Mục đích của bước này

là giúp ĐTNT hiểu rõ hơn về quyền hạn và nghĩa vụ của mình. Từ đó, nâng
cao ý thức tự giác và trách nhiệm trong quá trình kê khai và nộp thuế GTGT.
- Quản lý đăng ký thuế: Chi cục thuế tiếp nhận hồ sơ đăng ký thuế của ĐTNT,
xem xét và quyết định cấp mã số thuế cho NTT trên địa bàn. Công tác này sẽ
giúp cho Chi cục thuế quản lý được số lượng ĐTNT cũng như dễ dàng trong
việc quản lý tình trạng hoạt động sản xuất kinh doanh đối với người nộp
thuế thuộc phạm vi quản lý của Chi cục Thuế.
16
- Quản lý kê khai thuế: Chi cục thuế trực tiếp tiếp nhận hồ sơ khai thuế GTGT
bao gồm tờ khai thuế GTGT và các tài liệu liên quan làm căn cứ để người
nộp thuế khai thuế, tính thuế với cơ quan thuế.
- Quản lý hóa đơn, chứng từ: Hoá đơn, chứng từ là căn cứ để các doanh
nghiệp kê khai thuế, khấu trừ thuế, hoàn thuế GTGT, là căn cứ để hạch toán
vào chi phí hợp lý khi xác định thuế thu nhập doanh nghiệp, là căn cứ để
thực hiện quyết toán thuế, vì vậy, công tác quản lý hoá đơn, chứng từ chính
là cơ sở cho sự thành công của các Luật thuế GTGT.
- Xử lý tờ khai, chứng từ và xác định, ấn định số thuế phải nộp: Quy định rõ
việc xử lý tờ khai, chứng từ của tổ chức, cá nhân nộp thuế nhằm đảm bảo số
thuế phải nộp và việc nộp thuế theo đúng quy định của pháp luật, đồng thời
đảm bảo công bằng đối với tất cả các tổ chức, cá nhân nộp thuế.
- Quản lý việc nộp thuế của ĐTNT: Công tác quản lý việc nộp thuế của ĐTNT
có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả của các công tác trên, vì nó thể hiện số
thực nộp vào NSNN, từ đó khẳng định hiệu quả công tác của Chi cục thuế là
cao hay thấp.
- Quản lý nợ thuế: Quy định cụ thể các nghiệp vụ, công việc, thời gian thực
hiện và mối quan hệ giữa các bộ phận trong cơ quan thuế trong công tác
quản lý thu nợ thuế nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý của Chi cục
thuế.
- Xử lý hoàn thuế và kiểm tra thuế:
+ Xử lý hoàn thuế: Xác định cụ thể nội dung và trình tự công việc cơ quan

thuế, công chức thuế thực hiện giải quyết hoàn thuế theo quy định của Luật
Quản lý thuế; Nhằm hướng dẫn người nộp thuế thực hiện đúng các thủ tục
hành chính và các quy định của pháp luật thuế, Luật Quản lý thuế về hoàn
thuế; Cơ quan thuế thực hiện kiểm tra hồ sơ theo trình tự và nội dung quy
định.
+ Kiểm tra thuế: Quy định nội dung, trình tự các bước của Quy trình kiểm
tra thuế nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế, phát hiện, ngăn
chặn và xử lý kịp thời các hành vi gian lận, trốn thuế; đồng thời nâng cao
17
tính tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế trong việc thực hiện tính
thuế, kê khai thuế và nộp thuế.
- Xử lý quyết toán thuế: Mục đích của việc xử lý quyết toán thuế là nhằm truy
thu số thuế mà tổ chức cá nhân còn phải nộp, nhằm đảm bảo nguồn thu
ngân sách nhà nước và tạo ra sự công bằng giữa các đối tượng nộp thuế.
- Quản lý hồ sơ ĐTNT: Sau khi thực hiện thu thuế GTGT, các hồ sơ của ĐTNT
sẽ được lưu trữ tại Chi cục, thực hiện tốt việc quản lý hồ sơ của ĐTNT sẽ
đảm bảo việc quản lý các đối tượng nộp thuế vào những năm tiếp theo.
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu thuế GTGT
1.3.1. Các yếu tố khách quan
- Chính sách thuế GTGT và các chính sách khác của Nhà nước
Các cơ quan thuế thực hiện công tác quản lý thuế GTGT trên cơ sở các
chính sách quản lý của Nhà nước, việc thực hiện các chính sách đó có được
thuận lợi hay không phụ thuộc rất nhiều vào bản thân các chính sách đó.
Nếu Nhà nước xây dựng các chính sách đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện thì
công tác quản lý sẽ được thuận lợi, ngược lại nếu các chính sách đó quá
phức tạp thì sẽ gây khó khăn trong quá trình quản lý, thậm chí tạo nhiều ké
hở để kẻ xấu lợi dụng chiếm đoạt tiền thuế của Nhà nước. Ngoài các chính
sách về thuế, các chính sách quản lý khác của Nhà nước cũng ảnh hưởng
rất lớn đến công tác quản lý thuế GTGT.
Các quy định, chính sách quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế bằng

pháp luật hay các chính sách phân cấp quản lý thu của Trung ương đều ảnh
hưởng đến công tác quản lý thuế GTGT một cách gián tiếp hoặc trực tiếp.
Việc phân cấp quản lý thu nếu không phù hợp với khả năng của từng cấp,
từng bộ phận sẽ gây khó khăn, làm giảm hiệu quả trong công tác quản lý.
Có những trường hợp, việc phân cấp quản lý vượt quá năng lực nên các bộ
phận không hoàn thành được nhiệm vụ, tuy nhiên nếu phân cấp dưới năng
lực thì sẽ gây nên sự trì trệ, không phát huy hết hiệu quả trong công tác.
Các chính sách phát triển kinh tế như chính sách thu hút đầu tư nước
ngoài, chính sách khuyến khích phát triển sản xuất, kinh doanh, thủ tục
18
hành chính, môi trường kinh doanh và môi trường đầu tư nếu không phù
hợp với điều kiện kinh tế xã hội sẽ hạn chế nền kinh tế phát triển, làm giảm
nguồn thu cho NSNN.
- Đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước
Bản chất của thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng
hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình SX, lưu thông đến tiêu dùng. Vì vậy,
thuế GTGT là sự thể chế hóa của các chính sách mà Đảng, Nhà nước đề ra,
được quy định nhằm phục vụ chính sách phát triển kinh tế và chính sách
thuế. Xuất phát từ mục đích này mà việc thực thi pháp luật thuế GTGT chịu
ảnh hưởng không nhỏ bởi đường lối, chính sách phát tiển kinh tế - xã hội
của Nhà nước.
- Điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất kỹ thuật
Thuế GTGT là sắc thuế của nền kinh tế phát triển. Khi nền kinh tế phát
triển ổn định thì hàng hóa cũng thường xuyên ổn định, vì thế sẽ đảm bảo
cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh của xã hội phát triển, giá cả ở khâu
sau luôn cao hơn khâu trước, khi đó thuế GTGT đầu ra luôn lớn hơn đầu
vào, tạo nguồn thu lớn và ổn định cho NSNN, giảm các trường hợp khấu
trừ thuế, hoàn thuế.
Một nền kinh tế phát triển không chỉ làm tăng nguồn thu cho NSNN mà
còn tạo ra điều kiện phát triển công nghệ, cải tiến trang bị kỹ thuật Cơ sở

vật chất kĩ thuật phát triển sẽ làm giảm thời gian và chi phí trong công tác
quản lý, nâng cao hiệu quả quản lý. Trình độ khoa học kỹ thuật, sự hỗ trợ
của các phương tiện kỹ thuật hiện đại và trình độ ứng dụng khoa học kỹ
thuật trong công tác quản lý thuế GTGT. Đặc biệt, việc áp dụng công nghệ
tin học vào quản lý sẽ giúp cho cơ quan thuế quản lý chặt chẽ doanh số, tình
hình hoạt động và chấp hành nghĩa vụ nộp thuế cho ĐTNT, hạn chế được
tình trạng gian lận, trốn thuế. Việc nối mạng vi tính trong toàn ngành thuế
sẽ rút ngắn thời gian chuyển phát tài liệu, số liệu trong phạm vi cả nước
làm tăng hiệu quả công tác quản lý thuế. Cấp trên có thể theo dõi tình hình
19
hoạt động của cấp dưới dễ dàng, nhanh chóng để kịp thời đưa ra biện pháp
khắc phục khó khăn và uốn nắn cho sự sai sót cho cấp dưới
Các yếu tố ảnh hưởng đến nền kinh tế như cơ cấu của nền kinh tế, tính
ổn định trong hoạt động SX, KD của các ĐTNT cũng ảnh hưởng lớn đến kết
quả thu thuế GTGT. Nếu các yếu tố đó không thuận lợi thì nền kinh tế sẽ
không phát triển được thậm chí có thể bị suy yếu, vì vậy làm giảm nguồn
thu cho NSNN.
- Tình hình kế toán, tài chính, quan hệ thanh toán.
Công tác hạch toán, kế toán và quản lý, sử dụng hóa đơn, chứng từ ảnh
hưởng rất lớn đến công tác quản lý thuế GTGT. Bởi vì hóa đơn, chứng từ là
căn cứ pháp lý thực hiện kê khai, tính thuế GTGT, do đó việc ghi chép sổ sách
kế toán đầy đủ, thống nhất, sử dụng hóa đơn, chứng từ đúng quy định sẽ
tạo điều kiện thu thuế đầy đủ, tránh nhầm lẫn, chống thất thu thuế, giúp
cho quy trình tự kê khai, tự tính thuế của đơn vị giảm sai sót, hạn chế được
tình trạng gian lận. Việc thực hiện chế độ hóa đơn, chứng từ trong toàn bộ
nền kinh tế quốc dân có thể coi là điều kiện tiên quyết để thực hiện thuế
GTGT, vì muốn xác định được GTGT của hàng hóa, dịch vụ thì DN phải thực
hiện ghi chép đầy đủ để xác định được đầu ra, đầu vào và phải có đầy đủ
hóa đơn, chứng từ để xác minh số liệu đó.
Trình độ phát triển của quan hệ thanh toán trong nền kinh tế cũng ảnh

hưởng đến công tác quản lý thuế GTGT. Việc thanh toán bằng tiền mặt như
hiện nay đang gây khó khăn, chậm trễ cho công tác thu thuế, nếu hình thức
thanh toán không dùng tiền mặt phát triển thì việc nộp thuế sẽ đơn giản và
hiệu quả hơn nhiều. Khi đó, ĐTNT có thể nộp thuế vào Kho bạc Nhà nước
thông qua các ngân hàng, còn cán bộ quản lý thuế sẽ dễ dàng xác định được
các hoạt động cũng như doanh thu và chi phí của ĐTNT thông qua hệ thống
tài khoản của họ ở ngân hàng, điều đó sẽ làm giảm thời gian thu ngân sách,
tránh được tình trạng chây ỳ của ĐTNT, hạn chế được tình trạng thất thu
do bỏ sót khi tính thuế và gian lận trong kê khai tính thuế của ĐTNT.
- Sự hiểu biết của người dân về thuế GTGT
20
Trình độ nhận thức về thuế GTGT cũng như ý thức chấp hành luật thuế
của dân cư và các thành phần kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản
lý thuế GTGT. Bất kỳ công việc gì nếu không có sự ủng hộ của người đân thì
không thể thành công được, muốn được nhân dân ủng hộ và có ý thức chấp
hành chính sách, chế độ đó thì trước hết phải làm họ hiểu. Nếu nhân dân
không hiểu hoặc luôn tìm cách để gian lận, trốn lậu thuế thì công tác quản
lý thuế sẽ gặp rất nhiều khó khăn.
Ý thức của nhân dân phụ thuộc vào các chính sách tuyên truyền, giáo
dục của những người làm công tác quản lý, nếu Nhà nước có những chính
sách thích đáng để khuyến khích nhân dân tự giác chấp hành nghĩa vụ nộp
thuế thì công tác quản lý thuế chắc chắn sẽ đạt hiệu quả cao. Do đó, các lĩnh
vực giáo dục đào tạo, văn hóa thông tin, y tế, an ninh chính trị và trật tự an
toàn xã hội cũng ảnh hưởng đáng kể đến công tác quản lý thuế GTGT. Công
tác giáo dục đào tạo, văn hóa thông tin nếu phát triển sẽ góp phần nâng
cao công tác tuyên truyền, giáo dục kiến thức về thuế, nâng cao ý thức chấp
hành nghĩa vụ nộp thuế của nhân dân. Công tác an ninh chính trị và trật tự
an toàn xã hội nếu được thực hiện tốt, cũng sẽ góp phần giúp cho ĐTNT
thuận lợi hơn trong hoạt động SX, KD, từ đó tăng nguồn thu cho NSNN
1.3.2. Các yếu tố chủ quan

- Tổ chức bộ máy quản lý
Công tác tổ chức bộ máy quản lý có vai trò rất quan trọng trong công
tác quản lý thuế GTGT. Dù có chính sách đúng đắn, hợp lý nhưng việc tổ
chức bộ máy quản lý không phù hợp với trình độ chuyên môn, bộ máy tổ
chức chồng chéo thì công tác quản lý không thể đạt hiệu quả cao được. Do
đó công tác quản lý thuế đòi hỏi cơ quan thuế phải luôn luôn kiện toàn bộ
máy tổ chức quản lý thuế GTGT.
- Nhân lực:
Nhân lực là yếu tố quyết định trong mọi hoạt động, trên mọi lĩnh vực.
Nếu đội ngũ nhân lực không đủ khả năng về trình độ, thể lực thì không thể
hoàn thành được nhiệm vụ được giao. Do đó, trình độ chuyên môn nghiệp
21
vụ của cán bộ ngành thuế có vai trò quyết định đến thành công trong việc
thực hiện luật thuế GTGT, đó là yếu tố hết sức quan trọng. Nếu người quản
lý mà không nắm vững các quy định, chính sách, quy trình nghiệp vụ thì
công tác quản lý không thể đạt kết quả cao. Cán bộ thuế phải là người trực
tiếp phổ biến, hướng dẫn cho nhân dân, ĐTNT về các chính sách, quy định
về thuế để mọi người hiểu và chấp hành đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế thì công
tác quản lý thuế mới có thể đạt hiệu quả cao.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ GTGT
TẠI CHI CỤC THUẾ KRÔNG PA
2.1. Giới thiệu khái quát về Chi cục thuế huyện Krông Pa
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển Chi cục thuế Huyện Krông Pa
2.1.1.1. Về vị trí địa lý và tình hình kinh tế huyện Krông Pa
Huyện Krông Pa được thành lập theo Quyết định số 178-CP ngày 23-4-
1979 của Hội đồng Chính phủ, trên cơ sở chia tách từ phần đất phía đông
của huyện Ayun Pa với diện tích: 1628,14 km
2
, dân số: 69.204 người (số liệu
thống kê năm 2008).

- Vị trí địa lý: Krông Pa là một huyện nằm ở phía tây nam tỉnh Gia Lai. Huyện
lỵ là thị trấn Phú Túc.
• Bắc giáp: huyện Ia Pa; huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.
• Nam giáp: huyện Ea Kar, tỉnh Đăk Lăk.
• Đông giáp: huyện Sơn Hòa, Sông Hinh, tỉnh Phú Yên.
• Tây giáp: huyện Ea Hleo, Krông Năng, tỉnh Đăk Lăk; thị xã Ayun Pa.
22
- Đơn vị hành chính cấp xã, trị trấn: 14 (1 thị trấn, 13 xã).
• Thị trấn: Phú Túc.
• Các xã: Uar, Ia Rsiơm, Ia Rmok, Chư Rcăm, Ia Dreh, Krông Năng, Ia Rsai,
Chư Drăng, Ia Mlah, Chư Gu, Đất Bằng, Phú Cần, Chư Ngọc.
- Tổng quan kinh tế - văn hoá - xã hội: trong những năm qua, trên địa bàn
huyện Krông Pa, nhiều công trình đã được đầu tư xây dựng. Dọc theo quốc
lộ 25, từ đèo Tô Na đến cầu Kà Lúi là hàng loạt công trình đang giai đoạn
thi công nước rút. Ngay dưới chân đèo Tô Na, phía Bắc là công trình thủy
điện Đak Sông 3 cùng khu du lịch sinh thái đã được khởi công xây dựng,
quốc lộ 25 (đoạn qua huyện Krông Pa) đang trong giai đoạn nâng cấp. Tại
trung tâm thị trấn Phú Túc, công trình chợ Phú Túc - trung tâm kinh tế,
thương mại của huyện đã hoàn thành và đưa vào sử dụng vào cuối năm
2010. Công trình thủy lợi Mláh được khởi công năm 2005 với vốn đầu tư
hơn 700 tỷ đồng, các kênh mương chính đã hoàn thành, công trình đang
tập trung xây dựng các tuyến kênh nội đồng, chuẩn bị tưới tiêu cho 5.300
ha đất nông nghiệp và phục vụ nước sinh hoạt cho hơn 30.000 dân của
5/14 xã, thị trấn của huyện. Công trình cầu Phú Cần (cầu Bung) đang trong
giai đoạn được đầu tư khởi công xây dựng với tổng kinh phí khoảng 60 tỷ
đồng nhằm phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đi lại của bà con
đồng bào các xã phía Nam sông Ba. Cùng với việc đẩy mạnh hoạt động xây
dựng cơ bản, những năm qua, huyện Krông Pa đã tập trung chuyển đổi cơ
cấu cây trồng vật nuôi, hình thành các vùng sản xuất lúa, màu có hiệu quả
cao, chú trọng cả ba hình thức thâm canh, luân canh và xen canh các loại

cây nông nghiệp như lúa, bắp, mè, mì, thuốc lá Huyện đã quy hoạch
chuyển đổi diện tích canh tác kém hiệu quả để xây dựng vùng lúa năng
suất, chất lượng, hiệu quả cao nhằm tăng giá trị trên một đơn vị diện tích
gieo trồng. Song song với phát triển sản xuất nông nghiệp, huyện còn tập
trung phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nhằm tăng tỷ
trọng công nghiệp, tạo điều kiện cho các ngành, nghề công nghiệp, tiểu thủ
23
công nghiệp trên địa bàn mở rộng và phát triển nhanh như: Ngành sản
xuất vật liệu xây dựng, các nghề sản xuất đồ mộc xây dựng, tạo việc làm và
tăng thu nhập cho hàng ngàn lao động mỗi năm, đưa giá trị sản xuất công
nghiệp của huyện tăng nhanh. Việc huy động nguồn lực cho đầu tư xây
dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cũng quan tâm, tạo được diện mạo
mới trong bộ mặt nông thôn. Trên địa bàn ngày càng có nhiều công trình
thiết yếu phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Trong giai đoạn 2005 - 2010,
tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 13,75%/năm, cơ cấu kinh kế
chuyển dịch đúng hướng với tỷ trọng công nghiệp - xây dựng tăng từ
17,22% năm 2005 lên 23,15% năm 2010, thu ngân sách tăng bình quân
trên 25%/năm. Bên cạnh đó, sự nghiệp giáo dục được đầu tư mạnh, tăng về
quy mô trường lớp và chất lượng dạy học; sự nghiệp y tế từng bước đáp
ứng được yêu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân; tỷ lệ hộ nghèo giảm từ
39,9% năm 2005 xuống còn 21,3% năm 2010. Quốc phòng - an ninh, trật tự
an toàn xã hội được giữ vững. Với đà phát triển đã tạo ra, trong giai đoạn
2010 - 2015, nền kinh tế huyện Krông Pa đang hướng tới mục tiêu phát
triển nhanh và bền vững trong giai đoạn 2010 - 2015, cụ thể: Tốc độ tăng
trưởng kinh tế bình quân đạt 13%/năm, tỷ trọng ngành công nghiệp - xây
dựng chiếm 27,6%, thương mại dịch vụ chiếm 32%, nông - lâm nghiệp
chiếm 40,4%, thu nhập bình quân đầu người đạt 9 triệu đồng/năm. Đảm
bảo quốc phòng - an ninh và trật tự an toàn xã hội…
2.1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của chi cục
Được thành lập năm 1990 theo Quyết định số 315 TC/QĐ-TCCB của Bộ

trưởng Bộ Tài chính về việc quyết định thành lập Chi cục thuế Nhà nước,
trên cơ sở sát nhập Phòng thuế Công thương nghiệp, bộ phận quản lý thu
thuế Nông nghiệp và thu Quốc doanh thuộc Ban tài chính giá cả. Từ buổi
đầu thành lập cho đến nay Chi cục thuế Krông Pa đã không ngừng lớn
mạnh về mọi mặt. Đặc biệt là việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và cơ sở vật
24
chất kỹ thuật, trang thiết bị phục vụ cho công tác quản lý thu, góp phần
không nhỏ vào việc phát triển kinh tế xã hội của huyện, của tỉnh và xây
dựng ngành lớn mạnh không ngừng.
Ngày đầu khi mới thành lập, tổng số cán bộ, công nhân viên Chi cục
thuế Huyện Krông Pa chỉ có 8 người trong đó chỉ có 5 cán bộ, công nhân
viên có kinh nghiệm trong công tác, số còn lại là các cán bộ trẻ vừa mới ra
trường chưa am hiểu công việc. Cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị
phương tiện làm việc còn đơn giản, thiếu thốn, chật chội, công tác quản lý
thu nói chung còn mang tính truyền thống thủ công, đơn giản, với các
nguồn thu nhỏ lẻ, phân tán… Nhưng với sự nổ lực phấn đấu của cán bộ,
công nhân viên trong Chi cục và được sự chỉ đạo giúp đỡ của Cục thuế tỉnh
Gia Lai, quy mô của Chi cục ngày càng được mở rộng, số lượng, chất lượng
lao động ngày một tăng. Tính đến 31/12/2013 tổng số cán bộ công nhân
viên của Chi cục thuế Huyện Krông Pa là 24 cán bộ, công nhân viên trong đó
có 19 nam, 5 nữ. Cơ sở vật chất hiện đại, trụ sở làm việc xây mới năm 2010
trên diện tích 2.000m2, đầy đủ các phòng ban, hội trường lớn, hệ thống an
ninh, giám sát hiện đại, đồng bộ.
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của chi cục thuế huyện Krông Pa
Chi cục thuế huyện Krông Pa được giao cho thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ sau:
- Hướng dẫn, chỉ đạo công tác quản lý thu ngân sách. Chi cục thuế có nhiệm
vụ hướng dẫn, chỉ đạo việc tổ chức thực hiện công tác quản lý thu thuế và
thu khác trên địa bàn Huyện theo đúng luật, pháp lệnh, các văn bản quy
định, hướng dẫn của các cơ quan Nhà nước cấp trên, đảm bảo hoàn thành

và hoàn thành vượt mức kế hoạch thu ngân sách được giao.
- Tổ chức thu thuế, phí và lệ phí. Chi cục thuế cũng phải tổ chức thu thuế, phí
và lệ phí đối với các đối tượng do Chi cục trực tiếp quản lý. Hướng dẫn các
cơ sở SX, KD thực hiện chế độ đăng kí, kê khai nộp thuế, lập hồ sơ xin miễn,
giảm thuế, xin hoàn thuế theo đúng quy định của pháp luật về thuế. Nếu cơ
25

×