Tải bản đầy đủ (.doc) (44 trang)

báo cáo thực tập tại công ty khí VT GAS

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (242.48 KB, 44 trang )

MỞ ĐẦU
1. Lịch sử và phát triển khí hóa lỏng LPG.
Lịch sử và phát triển của khí dầu mỏ hóa lỏng thường được viết tắt LPG
( Liquified petroleum gas) gắn liền với ngành công nghiệp dầu mỏ. Một trong
những vấn đề trước đây gặp phải trong việc sản xuất xăng là sự có mặt của phân
đoạn bay hơi mạnh. Các phân đoạn này bay hơi ở áp suất khí quyển và không
thể giữ ở trạng thái lỏng. Do dễ bén lửa và bốc cháy nên chúng không có ứng
dụng trong thực tế và được đốt bỏ để tránh ô nhiễm môi trường. Những kinh
nghiệm và nghiên cứu sau này chỉ ra rằng các khí này có thể chuyển sang trạng
thái lỏng khi nén dưới một áp suất nào đó và chuyển sang trạng thái hơi khi
giảm áp. Do vậy một nguyên liệu mới ra đời, chúng có thể vận chuyển được ở
trạng thái lỏng khi ở thể hơi. Như vậy từ một khí thải vô ích qua chế biến, áp
dụng khoa học kĩ thuật chúng đã trở thành một sản phẩm có ích và đem lại nhiều
lợi nhuận.
LPG có đầy đủ ưu điểm của khí tự nhiên thêm vào đó chúng dễ dàng vận
chuyển,cước vận chuyển LPG rẻ hơn nhiều so với cước vận chuyển các loại khí
khác vì khi ngưng tụ một thể tích lỏng LPG tương đương với 270 thể tích của
hơi.
Khí hóa lỏng (propan, butan) là sản phẩm khí được hình thành trong lòng đất.
Chúng được tìm thấy trong dầu thô và cùng với cácc hydrocarbon khác trong
các giếng dầu và trong mỏ khí tự nhiên. Hỗn hợp dầu thô, LPG và khí tự nhiên
được chưng tách sau khi chúng được khai thác từ các giếng dầu trong quá trình
lọc dầu ta thu được LPG.
Khí hòa tan thoát ra khỏi dầu mỏ và được dẫn đến nhà máy chế biến khí. Dầu
mỏ đươc chuyển đến các thùng chứa, tại đó làm các công đoạn tách muối, nước
và các tạp chất cơ học, sau đó đưa sang tháp ổn định tách các cấu tử nhẹ etan,
propan, butan và 1 phần pentan. Dầu đã ổn định được dẫn đến nhà máy lọc dầu,
còn khí tách ra từ công đoạn ổn định được dùng làm nguyên liệu cho các nhà
máy chế biến khí.
Tại các nhà máy chế biến khí, các phân đoạn khí được tách riêng nhờ các
phương pháp ngưng tụ nhiệt độ thấp, hấp thụ nhiệt độ hay chưng cất nhiệt độ


thấp sau đó đem đi sử dụng cho các mục đích khác nhau.
Thông thường, LPG thương mại bao gồm ít nhất một thành phần dưới đây:
Propan thương mại: sản phẩm này chứa chủ yếu là propan còn lại là butan
hoặc là buten với tỷ lệ thấp và cũng có thể có thêm etan hoặc eten.
Butan thương mại: Chủ yếu gồm hydrocarbon C
4
, thông thường lớn nhất là n-
butan hoặc butylen-1. Cũng có thể xuất hiện propan và propylen với nồng độ
không đáng kể.
Hỗn hợp propan – butan: Hỗn hợp này được đưa ra trong một số khu vực nhất
định. Các thành phần đều do nhà sản xuất và kinh doanh địa phương quyết định
và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác. Tỷ lệ propan – butan có thể thay đổi từ
30/70 đến 50/50 và thể tích tùy theo mục đích sử dụng và điều kiện khí hậu.
2. Một số tính chất hóa lý cơ bản của LPG
2.1 Thành phần.
LPG chủ yếu bao gồm các hydrocarbon parafin, có công thức chung C
n
H
2n + 2
,
dễ hóa lỏng bằng cách nén ở nhiệt độ phòng.
Màu sắc- mùi vị.
LPG ở thể lỏng và hơi đều không màu và không mùi. Vì lí do an toàn nên
LPG được pha thêm chất tạo mùi để dễ phát hiện khi rò rỉ. Theo các tiêu chuẩn
an toàn, chất tạo mùi và nồng độ pha chế cần phải thích hợp để khi hơi LPG rò rỉ
ra với một nồng độ cho phép, các thiết bị đo có thể phát hiện và báo động
(khoảng 1/5 giới hạn cháy nổ dưới).
LPG thương mại thường được pha thêm chất tạo mùi etylmercaptan và khí
này có mùi đặc trưng, hoà tan tốt trong LPG. Không độc, không ăn mòn và có
tốc độ bay hơi gần với LPG nên có nồng độ trong LPG không đổi khi bình chứa

được sử dụng cho đến hết.
2.3 Trạng thái tồn tại.
Do chứa chủ yếu là các hydrocarbon dạng khí nên tại nhiệt độ thường áp suất
thường LPG ở thể hơi. Để thuận tiện và kinh tế trong tồn trữ và vận chuyển và
bảo quản, LPG được hóa lỏng vì một đơn vị thể tích lỏng tạo ra 250 đơn vị thể
tích khí.
LPG được hóa lỏng theo 2 phương pháp:
Nén khí ở áp suất cao sao cho lớn hơn áp suất hơi bão hòa của khí.
Làm lạnh khí tới nhiệt độ nhỏ hơn nhiệt độ sôi của hỗn hợp khí.
2.4 Nhiệt độ sôi.
Ở áp suất thường butan sôi ở –0,5
o
C, propan sôi ở –42
o
C, vì vậy tại nhiệt độ
và áp suất thường LPG hóa hơi mạnh.
2.5 Tỷ trọng.
Tỷ trọng ở thể lỏng:
Tại điều kiện 15
o
C, 760mmHg tỷ trọng của butan bằng 0,575

và của propan
bằng 0,51.
Tỷ trọng thể hơi.
Tại điều kiện 15
o
C, 760mmHg tỷ trọng của butan hơi bằng 2,01 và của propan
bằng 1,52. Như vậy ở thể tích hơi tỷ trọng của LPG xấp xỉ bằng hai lần tỷ trọng
không khí. Do đó khi rò rỉ ra ngoài LPG sẽ chìm xuống sát mặt đất điều này rất

nguy hiểm.
Áp suất hơi bão hoà.
LPG có áp suất hơi bão hoà khá cao. Nó phụ thuộc rất mạnh vào nhiệt độ môi
trường và tỷ lệ thành phần propan và butan. Với điều kiện thành phần hỗn hợp
không đổi, khi nhiệt độ tăng áp suất hơi bão hoà sẽ tăng. Ngược lại khi nhiệt độ
không đổi thì áp suất hơi bão hoà phụ thuộc vào thành phần hỗn hợp. LPG có
thành phần là 70% butan và 30% propan có áp suất hơi bão hoà là 6kg/cm
2
.
2.7 Tính giãn nở nhiệt.
Tính giãn nở nhiệt của LPG lỏng rất lớn, gấp 15÷20 lần so với nước và lớn
hơn rất bao giờ được nạp đầy. Chúng được quy định chỉ chứa từ 80÷85% dung
tích toàn bình để có không gian cho LPG lỏng giãn nở khi nhiệt độ tăng.
2.8 Giới hạn cháy nổ.
Giới hạn cháy nổ của hơi gas trong hỗn hợp không khí – gas hay trong hỗn
hợp ôxy-gas là phần trăm thể tích hơi gas để tự bắt cháy nổ. Giới hạn cháy nổ
của hơi LPG trong không khí rất hẹp, từ 1,5÷10%. Chính vì thế LPG khá an toàn
cháy nổ so với các nhiên liệu khác.
Giới hạn cháy nổ của hỗn hợp không khí-gas được trình bày trong bảng 1.
Các giá trị trong bảng chỉ là giá trị đặc trưng cho các sản phẩm thương mại.
Trong bảng 1 còn đưa ra một số giá trị giới hạn cháy nổ của các nhiên liệu khác
để so sánh.
Bảng 2.1: Giới hạn cháy của LPG và một số nhiên liệu.
TT Nhiên liệu Giới hạn cháy
dưới (%V)
Giới hạn cháy
trên (%V)
1 Propan 2,2 10
2 Butan 1,8 9
3 Khí than 4 29

4 Hydro 4 75
5 Axetylen 2,5 80
6 Xăng 0,5 7
2.9 Nhiệt trị.
LPG có nhiệt trị khá cao, mặt khác do hoá hơi nhanh nên LPG có nhiệt lượng
có ích khá lớn. Bảng 2 đưa ra nhiệt trị của LPG và một số loại nhiên liệu.
Bảng 2.2: Nhiệt trị của LPG và một số nhiên liệu.
TT Nhiên liệu Nhiệt lượng có
ích (Kcal/kg)
Nhiệt lượng toàn
phần (Kcal/kg)
1 Propan 11 000 11 900
2 Butan 10 900 10 800
3 Axetylen 11 530 11 950
4 Hydro 28 800 34 000
5 Dầu DO 34 000 10 900
6 Dầu hoả 10 400 11 100
7 Xăng 10 500 11 300
8 Than củi 7900 8050
9 Than 4200
8100
4400
8300
10 Than cốc 5800 5850
11 Củi 1800 2200
12 Điện năng 860 Kcal/KW.h
Trong đó:
- Nhiệt độ toàn phần: Tổng nhiệt lượng sinh ra trong quá trình cháy hoàn toàn
- Nhiệt lượng có ích = Nhiệt lượng toàn phần – Nhiệt lượng phải cung cấp để
hóa hơi sản phẩm phụ của phản ứng cháy (nước).

2.10 Nhiệt độ tự bắt cháy.
Nhiệt độ tự bắt cháy là nhiệt độ mà ở đó phản ứng cháy tự xảy ra đối với ỗn
hợp không khí-nhiên liệu (hoặc oxy-nhiên liệu).
Nhiệt độ bắt cháy tối thiểu phụ thuộc vào thiết bị thử, phụ thuộc vào tỷ lệ
không khí/ nhiên liệu và áp suất của hỗn hợp.
Giá trị nhiệt độ tự bắt cháy của LPG và một số nhiên liệu được trình bày ở
Bảng 3.
Bảng 2.3: Nhiệt độ tự bắt cháy của một số nhiên liệu tại áp suất khí quyển.
TT Nhiên liệu

Nhiệt độ bắt cháy tối thiểu (
o
C)
Trong không khí Trong oxy
1 Propan
400÷580 470÷575
2 Butan
410÷550 280÷550
3 Hydro
550÷590
560
4 Dầu DO
250÷340
>240
5 Xăng
280÷430
>240
6 Dầu hoả >250 >240
7 Than cốc
425÷650

>240
8 Metan
630÷750
>240
2.11 Trị soctan
LPG có trị số octan rất cao và không bị thay đổi trong thời gian dài. Do vậy
đã có rất nhiều thực nghiệm sử dụng LPG làm nhiên liệu động cơ. Tại một số
nước phát triển LPG đã được đưa vào thay thế một phần xăng. Với những ưu
điểm nổi bật LPG sẽ trở thành một nhiên liệu sạch trong tương lai.
Bảng 2.4: Trị số octan của propan và butan.
Thành phần LPG Trị số octan theo ASTM
MON (D-375) RON (D-908)
Propan 99,5 111,4
Butan 89,1 94,0
2.12 Độ nhớt
LPG có độ nhớt rất thấp, ở 20
o
C độ nhớt của LPG là 0,3 cSt. Vì thế LPG có
tính linh động rất cao, có thể rò rỉ, thẩm thấu tại những chỗ mà nước, xăng cũng
không rò rỉ được do vậy nó có thể làm hỏng đầu mỡ bôi trơn tại những vị trí
được làm kín không tốt và thoát ra ngoài môi trường.
2.13 Tính độc
LPG hoàn toàn không gây độc cho người và động vật, không gây ô nhiễm
môi trường. Tuy nhiên, do hơi gas nặng hơn không khí nên khi rò rỉ trong môi
trường kín, nó sẽ chiếm chỗ của không khí và gây ngạt. LPG còn là nhiên liệu
sạch, hàm lượng lưu huỳnh thấp (<0,02%), khi cháy chỉ tạo ra khí CO
2
và hơi
nước, lượng khí độc (SO
2

, H
2
S, CO, NO
x
) tạo ra rất nhỏ không gây ảnh hưởng
tới môi trường.
3. Các ứng dụng của LPG.
Sử dụng LPG trong dân dụng.
Trong đời sống hàng ngày LPG được sử dụng rất rộng rãi:
Sử dụng trong nấu nướng: sử dụng trong các bếp gas dân dụng, lò nướng.
Sử dụng LPG thay thế điện trong các bình đun nước nóng: Trên thế giới, việc
sử dụng bình đun nước nóng phát triển rất rộng rãi còn ở Việt Nam lượng khách
hành sử dụng loại bình đun nước dạng này còn rất khiêm tốn.
Ngoài ra còn rất nhiều ứng dụng LPG trong các hệ thống sưởi ấm nhà ở,
chiếu sáng, giặt là,…
Sử dụng LPG trong thương mại.
Việc sử dụng LPG trong thương mại cũng tương tự như trong dân dụng
nhưng ở quy mô lớn hơn:
Sử dụng LPG trong các nhà hàng: sử dụng cho các bếp công nghiệp, là
nướng, đun nước nóng.
Sử dụng LPG cho các lò nướng công nghiệp với công suất lớn.
Sử dụng LPG cho công nghiệp chế biến thực phẩm: nướng thịt, thịt hun khói,
chế biến khoai tây.
Sử dụng LPG cho các bình nước nóng trung tâm.
Sử dụng LPG trong công nghiệp.
LPG được sử dụng rộng rãi trong rất nhiều ngành công nghiệp: gia công kim
loại, hàn cắt thép, nấu và gia công thủy tinh, lò nung sản phẩm silicát, khử trùng
đồ hộp, lò đốt rác, sấy màng sơn, bản cực áp quy, đốt mặt sợi vải…
Sử dụng LPG trong nông nghiệp.
Sử dụng sấy nông sản ngũ cốc, thuốc lá, sấy chè, sấy cà phê, lò ấp trứng, đốt

cỏ, sưởi ấm nhà kính…
Sử dụng LPG trong giao thông.
LPG là một nhiên liệu lý tưởng thay xăng cho động cơ đốt trong vì trị số
octan cao, giá thành rẻ, ít gây ô nhiễm môi trường, đơn giản hóa cấu tạo động
cơ.
Nhu cầu sử dụng LPG tại Việt Nam.
Trong những năm qua thị trường LPG tại Việt Nam tăng trưởng rất nhanh
năm 1995 chỉ tiêu thụ 49.500 tấn, năm 2000 tăng lên thành 322.375 tấn, năm
2005 là 783.706 tấn, năm 2011 đạt 1.250.000 tấn. Dự báo trong 15 năm tới nhu
cầu LPG tại Việt Nam tăng trưởng mạnh và đạt 4,2 triệu tấn năm 2025. Bên
cạnh nguồn cung trong nước hiện tại và từ các nhà máy lọc dầu dự kiến đi vào
hoạt động trong giai đoạn từ nay tới 2020 sẽ đáp ứng khoảng 50% nhu cầu thì
phần còn lại vẫn phải bù đắp từ nguồn nhập khẩu.
Hiện nay ở Việt Nam có rất nhiều công ty có hệ thống phân phối khí hóa lỏng
LPG đa cấp với phạm vi hoạt động thị trường rộng mở và phục vụ nhiều nhóm
khách hàng khác nhau bao gồm những công ty lớn có tỷ lệ vốn đa số của Nhà
nước (PV GAS, PV Gas North, PV Gas South, Gas Petrolimex, Saigon
Petro…); các công ty liên doanh (VT – Gas, Thăng Long Gas…); các công ty
100% vốn nước ngoài (Shell, Total, Elf Gas…).

CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỂ CÔNG TY VT-GAS
1. Quá trình hình thành và phát triển Công ty VT-GAS
Tên tiếng việt: Công Ty TNHH Khí Hóa Lỏng Việt Nam (Công Ty VT–
GAS).
Tên tiếng anh: Viet Nam LPG Company Limited.
Văn phòng đại diện: Phòng 606, toà nhà Waseco, 10 Phổ Quang, Phường 2,
Quận Tân Bình, Thành Phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.
Kho chứa và trạm nạp: Cảng Đồng Nai, Phường Long Bình Tân, Thành Phố
Biên Hoà, Tỉnh Đồng Nai.

Công ty TNHH Khí Hóa Lỏng Việt Nam (VT-GAS) được thành lập theo Giấy
phép đầu tư số 816/GP ngày 4 tháng 3 năm 1994 của ủy ban Nhà nước về Hợp
tác và Đầu tư, nay là Bộ Kế hoạch và Đầu tư với tổng số vốn đầu tư là 15 triệu
USD gồm các bên liên doanh: Công ty CPKD Khí Hóa Lỏng Miền Nam
(PVGas-South) góp 55% cổ phần, Ủy ban Dầu khí Quốc gia Thái Lan (PTT)
góp 45% cổ phần.
Được hình thành từ hai Tập đoàn Dầu khí có uy tín và tầm cỡ quốc tế, với
công nghệ và thiết bị hiện đại, hệ thống quản lý đạt chuẩn quốc tế ISO
9001:2008, ISO 14001:2005 và OHSAS 18001:2007, VT-GAS chuyên cung cấp
sản phẩm Khí hóa lỏng LPG với chất lượng cao cho các ngành công nghiệp và
nhà hàng-khách sạn. Sản phẩm LPG gồm hỗn hợp Butan/Propan với tỷ lệ tối ưu
50%/50% cho nhiệt trị cao >11.000Kcal/kg. Với hệ thống bồn chứa trên 1000
tấn và nguồn hàng ổn định,VT-GAS luôn đáp ứng mọi nhu cầu về LPG dân
dụng, căn tin, nhà hàng và cho các ngành công nghiệp như: gốm sứ, sắt thép,
nhôm, nhựa, sơn, chế biến thực phẩm.
2. Lĩnh vực hoạt động.
Cung cấp khí hóa lỏng LPG.
Hệ thống bồn chứa công suất 2000 tấn và nguồn hàng ổn định,VT-GAS luôn
đáp ứng mọi nhu cầu về LPG dân dụng, căn tin, nhà hàng và cho các ngành công
nghiệp như: gốm sứ, sắt thép, nhôm, nhựa, sơn, chế biến thực phẩm.
Lắp Đặt Và Bảo Trì Hệ Thống LPG.
Cung cấp hệ thống bồn chứa LPG, hệ thống bình 45Kg với thiết bị của các
hãng nổi tiếng trên thế giới, đạt chuẩn quốc tế, có chứng nhận của cơ quan kiểm
định độc lập đạt độ an toàn cao.
Đội ngũ kỹ sư giàu kinh nghiệm, công nhân kỹ thuật lành nghề, VT-GAS sẵn
sàng tư vấn, thiết kế lắp đặt, bảo trì và hướng dẫn khách hàng sử dụng hệ thống
an toàn và hiệu quả.
Vận Chuyển Khí Hóa Lỏng.
Đội ngũ xe bồn và xe tải chuyên dụng, VT-GAS phục vụ giao hàng cho Quý
khách hàng mọi lúc, mọi nơi. Khối lượng LPG được chuẩn hóa qua hệ thống cân

điện tử và thiết bị đồng hồ đo đếm chính xác.
3. Thị trường hoạt động.
Từ khi thành lập đến nay công ty VT – GAS luôn không ngừng phấn đấu
hoàn thiện hệ thống quản lý, mở rộng và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh,
tăng cường sức cạnh tranh trên thị trường Việt Nam về lĩnh vực cung cấp khí
hóa lỏng LPG.
Với một đội ngũ cán bộ và công nhân viên trẻ khoẻ, nhiệt tình, hăng hái, hiện
nay công ty đang phát triển rất nhanh và ngày càng có vai trò quan trọng trên thị
trường Gas toàn miền Nam.
Hiện nay công ty đang có 6 trạm chiết nạp LPG và hàng trăm chi nhánh
phân phối sản phẩm LPG trải dài từ Nghệ An đến Miền Tây. Trong tương lai
công ty đang có kế hoạch mở rộng thị phần sản phẩm của mình lớn hơn nữa Và
để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong tương lai công ty sẽ mở
thêm các trạm chiết nạp có công suất lớn hơn.
4. Cơ cấu tổ chức của Công ty và chức năng của từng bộ phận.
4.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty.
Trong thời gian thực tập tại Công ty được sắp xếp thực tập tại phân xưởng kĩ
thuật sản xuất cùng với sự hướng dẫn của người phụ trách và sự tìm hiểu của
bản thân về công ty thì bước đầu em có những hiểu biết về cơ cấu tổ chức nhân
sự và chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận.
Hình 1.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Công ty VT –GAS.
4.2 Chức năng của từng bộ phận.
Tổng giám đốc: Là người đại diện cho công ty, có quyền quyết định và điều
hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty theo các quy định của pháp
luật nhà nước và chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động và kết quả
sản xuất kinh doanh của công ty.
Giám đốc TC – KT: Chịu trách nhiệm về lĩnh vực tài chính và sổ sách kế
toán.
Giám đốc Sản xuất: Đảm nhận trách nhiệm về lĩnh vực kỹ thuật sản xuất,
chất lượng sản phẩm và an toàn trong làm việc.

Giám đốc Kinh doanh – Kế hoạch: Phụ trách mảng kinh doanh, bán hàng,
marketing, kế hoạch tài chính hàng tháng,quý, năm nằm dưới sự quản lý của phó
tổng giám đốc.
Giám đốc hành chính – nhân sư: Có nhiệm vụ tổ chức bộ máy, nhân sự; công
tác quản lý lao động tiền lương; công tác quản lý hành chính ở Công ty.
CHƯƠNG II
DÂY CHUYỀN CHIẾT NẠP LPG TRONG CÔNG TY
VT-GAS
Công ty VT–GAS là một trạm chiết nạp LPG có sức chứa và công suất trung
bình nên hệ thống dây chuyền công nghệ của Công ty tương đối đơn giản.
Hình 2.1: Sơ đồ dây chuyền công nghệ trong Công ty VT- Gas.

Thuyết minh dây chuyền công nghệ trong Công ty VT-GAS.
Hệ thống tồn chứa, trạm bơm vận chuyển LPG , hệ thống đường ống dẫn,
bơm, hệ thống van, hệ thống đo đếm LPG.
Hệ thống dây chuyền chiết nạp LPG loại bình 12 Kg và 45 Kg.
Hệ thống máy nén khí, điện cung cấp khí nén và điện cho quá trình sản xuất
và chiết nạp nhằm đảm bảo an toàn trong quá trình vận hành.
Hệ thống báo động làm nhiệm vụ báo động khi có sự cố xảy ra. Gồm các
thiết bị báo rò gas.
Công ty
VT-GAS
Hệ thống
chứa,vận
chuyển LPG
Hệ thống
cứa hoả
Hệ thống
báo động
Hệ thống

khí nén,
Điện
Hệ thống
chiết nạp
Hệ thống cứu hoả có nhiệm vụ chữa cháy khi sự cố hoả hoạn xảy ra, nó gồm
các thiết bị bình cứu hoả, máy bơm nước, ống dẫn nước.
Dây chuyền công nghệ tại Công ty VT-GAS hoạt động theo hai bước:
Nhập LPG từ tàu biển chứa LPG vào các bồn chứa: LPG được nhập vào các
bồn chứa từ tàu biển chứa LPG bằng cách dùng bơm gắn tại tàu biển. Đường
lỏng của tàu biển được nối với đường nhập lỏng của các bồn chứa, đường hơi
của tàu biển nối với đường hồi lưu hơi của các bồn chứa, sau khi kiểm tra các
thông số như áp suất, nhiệt độ.
Xuất LPG từ bồn tới hệ thống xưởng chiết nạp: quá trình được thực hiện
bằng cách dùng bơm hút LPG từ các bồn chứa qua một loạt các van tới các hệ
thống xưởng chiết nạp được điều khiển bằng khí nén. Để đảm bảo an toàn cho
hệ thống và đảm bảo cho lưu lượng dòng gas ổn định quá trình được lắp thêm
một đường hồi lưu. Trong quá trình vận hành chiết nạp khi các máy nạp hoạt
động không đồng đều, hoặc chiết nạp còn dư thừa dẫn đến áp suất bên trong sẽ
tăng nhanh gây lên các hiện tượng mất an toàn cho hệ thống khi đó đường ống
hồi lưu sẽ dồn một phần chất lỏng về lại các bồn chứa để ổn định dòng và giảm
áp suất, đảm bảo an toàn cho cả hệ thống.
1. Hệ thống các bồn chứa và trạm bơm xuất nhập LPG.
1.1 Giới thiệu về thiết bị chính.
05 bồn chứa LPG, mã hiệu TK 01, 02, 03, 04, 05.
02 bơm LPG loại cánh quạt, mã hiệu P-01, P16.
02 bơm LPG loại li tâm nhiều tầng , mã hiệu P-02, P-03.
01 máy nén LPG loại Piston, mã hiệu C-01.
02 trạm cấp phát LPG, mái che rộng 80 m2, mã hiệu A, B công suất mỗi trạm
30 m
3

/h, cấp phát đồng thời 2 xe bồn/lần.
1.2 Bồn chứa LPG.
Chức năng.
Bồn chứa Gas với chức năng chính là tồn chứa LPG từ các phương tiện vận
tải như tàu Gas, xe bồn để cung cấp LPG cho tuyến sau. Mỗi kho có một số bể
chứa Gas với dung tích được tính toán phù hợp với việc sản xuất, tồn chứa, cung
ứng.
Dung tích chứa.
- Sức chứa 200 LPG/bồn.
- Áp suất làm việc 17,9 kg/cm
2
Cấu tạo.
Bồn làm bằng vật liệu bằng thép đặc biệt chịu áp suất cao hình trụ nằm
ngang.
Thiết kế chế tạo, lắp đặt và thử nghiệm theo TCVN 6153-6156 :1996.
Các van và phụ kiện của bồn.
Van nhập LPG.
Van xuất Gas hơi.
Van xuất Gas lỏng.
Van điều lượng tự đóng khi lưu lượng gas xuất quá giá trị cho phép (trên
đường xuất).
Van hồi lưu.
Van xả đáy.
Van an toàn.
Van xả đỉnh.
Thiết bị đo lường: áp kế, nhiệt độ lỏng, nhiệt độ hơi, thước đo mực lỏng.
Hệ thống phun nước làm mát trên đỉnh bồn.
Nguyên tắc khi hoạt động bồn chứa.
Mực chất lỏng LPG trong bồn phải được duy trì trong các giới hạn như sau:
- Khi bơm nạp LPG vào bồn thì mực bồn không được vượt quá 85% thể tích

của bồn.
- Khi chạy bơm hút LPG trong bồn thì mực trong bồn không được thấp hơn
300mm (trường hợp hết cạn LPG đã xảy ra) để tránh hơi LPG đi vào bơm. Chú
ý: khi thước đo hiển thị 300mm là trong bồn coi như đã hết lỏng.
- Khi nhập xuất LPG từ tàu biển, xe bồn và khi sử dụng 2 bồn cùng một lúc
để cấp LPG cho trạm bơm, cần phải mở các hệ thống ống, van thông áp giữa
tàu, xe bồn với bồn chứa và giữa 2 bồn chứa. tránh hiện tượng áp suất tăng cao
gây mất an toàn cho hệ thống.
1.3 Trạm bơm xuất nhập LPG.
Trong công nghiệp vận chuyển LPG người ta thường dùng bơm để tạo sự
chênh áp có rất nhiều loại bơm được sử dụng trong LPG như:
Bơm ly tâm.
Bơm tuốc bin
Bơm cánh trượt.
Tại Công ty VT–GAS LPG được vận chuyển từ bồn tới hệ thống đường nạp
sử dụng 2 loại bơm làm việc song song với nhau nhằm tăng tuổi thọ làm việc
của bơm, hệ thống có thể làm việc liên tục nếu một bơm có sự cố, dùng để dự
phòng.
2 bơm LPG loại li tâm nhiều tầng.
- Công năng: Cấp LPG cho hệ thống thiết bị xưởng chiết nạp chai.
- Chênh lệch áp suất 10 Kg/cm
2
.
- Lưu lượng dòng chảy: 25m
3
/h.
Nguyên lý hoạt động của bơm ly tâm.
Khi bơm làm việc, bánh công tác quay, các phần tử chất lỏng ở trong bánh
công tác dưới ảnh hưởng của lực ly tâm bị văng từ trong ra ngoài, chuyển động
theo các máng dẫn và đi vào ống đẩy với áp suất cao hơn, đó là quá trình đẩy

của bơm. Đồng thời, ở lối vào của bánh công tác tạo nên vùng có chân không và
dưới tác dụng của áp suất trong bể chứa lớn hơn áp suất ở lối vào của bơm, chất
lỏng ở bể hút liên tục bị đẩy vào bơm theo ống hút, đó là quá trình hút của bơm.
Quá trình hút và đẩy của bơm là quá trình liên tục, tạo nên dòng chảy liên tục
qua bơm.
Bộ phận dẫn hướng ra (thường có dạng xoắn ốc nên còn gọi là buồng xoắn
ốc) để dẫn chất lỏng từ bánh công tác ra ống đẩy được điều hòa, ổn định và còn
có tác dụng biến một phần động năng của dòng chảy thành áp năng cần thiết.
Sử dụng bơm ly tâm nhiều tầng có ưu điểm:
- Tiết kiệm điện năng.
- Thiết kế nhiều tầng cánh, máy bơm tạo ra áp lực lớn hơn.
- Máy hoạt đông êm ít tiếng ồn.
- Dễ lắp đạt và thay thế.
02 bơm LPG loại cánh gạt.
Công năng: Chuyển LPG trong hệ thống bồn.
Công suất 60 m
3
/h tại đầu hút.
Chênh lệch áp suất 4,0 Kg/cm
2
.
Nguyên lý hoạt động của bơm cánh quạt.
Khi trục quay do sức ly tâm nên cánh gạt văng ra ngoài ép sát vào vỏ bơm và
do tạo ra được áp suất chân không, chất lỏng được hút qua đường ống hút vào
giữa các cánh gạt. Mỗi cánh gạt tạo ra một lực cơ học dương có tác dụng đẩy
chất lỏng qua thân bơm và ra theo đường ống đẩy. Sự liên kết của cánh gạt với
thân bơm được duy trì bởi ba lực: Lực hướng tâm do roto quay tạo ra, cần đẩy
chuyển động giữa các cặp cánh trượt đối diện và áp lực chất lỏng qua các rãnh
tác động lên phía sau các cánh trượt.
Sử dụng bơm cánh trượt có những ưu điểm sau:

- Động cơ tiêu ít năng lượng điện và do đó tiết kiệm được điện năng cung cấp
cho bơm.
- Năng suất bơm cao, với cùng lưu lượng đầu ra như nhau nhưng ở tốc độ roto
chậm hơn có nghĩa là giảm được mài mòn, kéo dài được tuổi thọ, giảm được chi
phí bảo dưỡng.
- Các cánh trượt có thể tự động điều chỉnh mức độ ăn mòn do đó duy trì được
hiệu suất làm việc của bơm trong suốt thời gian làm việc của cánh trượt.
- Dễ dàng kiểm tra, thay thế cánh trượt trong thời gian ngắn.
1 áy nén LPG loại Piston.
- Chuyển LPG trong hệ thống bồn.
- Công suất 60 m
3
/h.
- Chênh lệch áp suất 4,0 Kg/cm
2
.
Tai đầu hút của máy nén có bình tách lỏng.
Nguyên lý hoạt động.
Không giống như bơm là được lắp đặt trong đường ống của chất lỏng và làm
việc trực tiếp với LPG, máy nén gas chuyển LPG từ bồn chứa này sang bồn
chứa khác bằng cách tạo ra sự chênh lệch áp suất hơi giữa bể cấp và bể nhận.
Máy nén sẽ hút hơi từ bể chứa của trạm và đẩy nó vào không gian chứa của bồn
trên xe. Áp suất hơi trong bể chứa tụt xuống, áp suất hơi trong thùng chứa trên
xe tăng lên. Khi sự chênh áp đạt được đủ cao thì nó đẩy LPG từ bồn trên xe qua
đường chất lỏng nối hai bình chứa và vào bồn chứa của trạm.
Bảo vệ bơm.
Mặc dù các bơm có cấu tạo bền và sẽ làm việc nhiều năm nếu bảo dưỡng
đúng định kì nhưng chúng cũng có thể bị hỏng nặng nếu chịu áp lực và các điều
kiện vận hành không đúng quy định của nhà thiết kế. Với lý do này, người ta lắp
đặt một số loại thiết bị vận hành an toàn kèm theo bảo vệ bơm.

Tại đường ống hút của bơm LPG đều có.
- Van cô lập.
- Van an toàn dòng chảy quá lớn.
- Van ngừng khẩn cấp tự động .
- Lọc bơm.
Tại đường ống đẩy của bơm đều có.
- Van cô lập.
- Van một chiều.
- Áp kế.
- Van an toàn áp suất. Đối với bơm li tâm, áp suất gán là 23.2 Kg/cm
2
(Chênh
lệch áp suất giữa đầu vào và đầu ra của van để làm van mở ra là 23.2 Kg/cm
2
).
Van này có công năng bảo vệ bơm và đường ống khi áp suất tăng cao do giãn nở
nhiệt LPG. Đối với bơm cánh gạt áp suất gán là 7,0 Kg/cm
2
còn gọi là van hồi
lưu tự động, có công năng bảo vệ bơm khi áp suất tăng cao do đầu đẩy bị đóng
đột ngột lúc bơm đang chạy hoặc do sự giãn nở nhiệt LPG.
1.4 Hệ thống van, ống dẫn LPG.
Đây là hệ thống có vai trò quan trọng trong quá trình tồn trữ, vận chuyển, cấp
phát không thể thiếu trong công nghiệp dầu khí nói chung cũng như trong quá
trình vận chuyển khí hoá lỏng LPG nói riêng.
Trong hệ thống công nghệ tại công ty VT–GAS có sử dụng các loại thiết bị
van, hệ thống ống dẫn LPG và mỗi loại van, ống dẫn đều có chức năng, vai trò
khác nhau, đuợc lắm đặt ở những vị trị khác nhau sau đây.
Ống thép với kích thước khác nhau.
Ống mềm trang bị tại khu vực: Trạm cấp phát xe bồn, Trạm bơm LPG, Cảng

nhập tàu.
Van bi: Công năng để cô lập đường ống và thiết bị.
Van ngừng khẩn cấp tự động: Van tự động đóng lại khi có báo động khẩn cấp
toàn Xưởng
Van 1 chiều: Công năng để bảo vệ bơm.
Van an toàn áp suất: Công năng để bảo vệ đường ống và thiết bị khi áp suất
LPG tăng cao do giãn nở nhiệt. Áp suất gán là 23,2 Kg/cm
2
(Van mở ra khi
chênh lệch áp suất đầu vào và đầu ra đạt 23,2 Kg/cm
2
).
Van điều áp: Công năng để duy trì áp suất LPG ổn định tới máy nạp chai.
1.5 Công nghệ đo đếm LPG.
Hệ thống đo đếm trong một phân xưởng chiết nạp gas gồm có.
Đo các thông số trong quá trình tồn chứa LPG .
Đo đếm lượng LPG trong quá trình nhập và xuất.
1.5.1 Đo các thông số trong quá trình bảo quản tồn chứa LPG.
Mục đích là đo các thông số như nhiệt độ lỏng, nhiệt độ hơi, áp suất, mức
lỏng trong bồn.
Thiết bị đo được gắn trực tiếp trên bồn chứa.
Nhiệt kế đo nhiệt độ của gas lỏng trong bồn sử dụng cặp nhiệt điện.
Áp kế chỉ áp suất của LPG trong bồn.
Việc xác định thông số nhiệt độ và áp suất là đảm bảo sự an toàn của bồn
trong quá trình tồn chứa. Về mùa hè khi nhìn vào nhiệt kế ta có thể biết tới nhiệt
độ nào thì cần phải làm mát bồn để giảm nhiệt độ dẫn tới giảm áp suất của bồn.
Tại Công ty VT-GAS để xác định LPG trong bồn người ta dùng thước đo
lỏng. Từ số đo trên thước ta có thể tính được lượng LPG tồn chứa trong bình
theo công thức đã cho. Cũng từ thông số này người ta có thể lập kế hoạch dự trữ
kinh doanh hợp lý, tính toán khả năng xuất nhập đảm bảo nguồn cung cấp cho

tuyến sau.
1.5.2 Đo lượng LPG xuất và nhập.
Do là một Công ty liên doanh hoạt động trên lĩnh vực kinh doanh và phân
phối nên việc đo đếm LPG được thực hiện hết sức chặt chẽ, tránh hiện tượng
thất thoát.
Tại công ty VT - GAS lượng LPG đều phải được xác định trước khi xuất và
nhập. Trong quá trình nhập LPG từ xe bồn vào bồn chứa lượng LPG được xác
định theo các bước như sau:
- Xe bồn đến Công ty và có người giám sát.
- Xe được đưa đi cân tại trạm cân để xác định toàn bộ tải trọng của xe trước
khi xuất nhập.
- Sau khi cân xong, tiếp tục nhập xuất LPG tại trạm xuất nhập LPG xe bồn.
- Sau khi nạp hết xe lại được đem đi cân.
Lượng LPG được nhập vào bồn = tải trọng xe trước khi nạp – tải trọng xe sau
khi nạp – chi phí hao tổn xăng.
Tại tram xuất nhập LPG xe bồn của công ty VT – GAS được trang được trang
bị 2 thiết bị đo lường khối lượng LPG nhập/ xuất (Mass Flow meter MFM)
Trạm A.
Trạm A có thể đo lường khối lượng LPG nhập hoặc xuất.
Hình 2.2: Thiết bị đo lường khối lượng LPG nhập/ xuất tại Trạm A.
Thiết bị đo lường khối lượng lắp tại trạm A bao gồm: 1 thiết bị đo khối lượng
(Coriolis Mass flow meter), 01 thiết bị hiển thị ( Nexgen ), 2 van ổn định dòng
LPG đi qua MFM ( Differential control valves ), van mở khi áp suất giữa đầu
vào và ra ≥ 20 PSIG).
Hiển thị tại thiết bị hiển thị trạm A như sau:
- Lưu lượng LPG đi qua thiết bị đo, đơn vị Kg/ phút
- Tổng khối lượng LPG nhập từ xe bồn vào bồn, đơn vị Kg
- Tổng khối lượng LPG xuất từ hệ thống bồn vào xe bồn, đơn vị Kg
Vận hành đóng mở van khi nhập / xuất LPG như sau:
- Nhập LPG: mở van MFM 2,4 / đóng van MFM 1,3.

- Xuất LPG: mở van MFM 3,1 / đóng van MFM 2,4
- Các van ¼ “ nối từ đường ống hơi và lỏng đến các Differential control
valves luôn luôn mở.
Trạm B.
Trạm B chỉ có thể đo lường khối lượng LPG xuất.
Hình 2.3: Thiết bị đo lường khối lượng LPG xuất tại Trạm B.
Thiết bị đo lường khối lượng lắp tại trạm A bao gồm: 01 meter thiết bị đo
khối lượng ( Coriolis Mass flow ), 01 thiết bị hiển thị ( Nexgen ), 01 Van ổn
định dòng LPG đi qua MFM ( Differential control valves ), van mở khi áp suất
giữa đầu vào và ra ≥ 20 PSIG).
Hiển thị thiết bị đo lường tại trạm B như sau:
- Lưu lượng LPG đi qua thiết bị, đơn vị Kg/ phút
- Tỉ trọng
- Tổng khối lượng LPG xuất từ hệ thống bồn vào xe bồn, đơn vị Kg
2. Quy trình công nghệ dây chuyền chiết nạp LPG.
2.1 Nguồn nguyên liệu.
Khí hóa lỏng LPG được lấy từ bồn chứa LPG tại nhà máy.
Thành phần:
- Hỗn hợp Butan/Propan với tỷ lệ tối ưu 50%/50% cho nhiệt trị cao >11.000
Kcal/Kg
2.2 Sơ đồ quy trình chiết nạp LPG.
Áp dụng trong dây chuyền nạp chai 12 & 45 Kg tại xưởng nạp Đồng Nai.

Hình 2.5: Sơ đồ dây chuyền chiết nạp chai LPG loại 12 Kg và 45 Kg.

×