ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐỀ TÀI (DỰ ÁN) CẤP TỈNH
NGHIÊN CỨU TỒN TRỮ HẠT GIỐNG LÚA
BẰNG TÚI YẾM KHÍ
Cơ quan chủ trì: VIỆN LÚA ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Chủ nhiệm đề tài: PGs.Ts. Dương Văn Chín
HẬU GIANG – 2011
ii
THÔNG TIN CHUNG ĐỀ TÀI
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI
1.Tên đề tài: ”Nghiên cứu tồn trữ hạt giống lúa bằng túi yếm khí”
Lĩnh vực: Nông nghiệp
2.Chủ nhiệm đề tài: PGS. TS Dương Văn Chín
3.Tổ chức chủ trì: Viện lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long
Địa chỉ: Xã Tân Thạnh, huyện Thới Lai, TP. Cần Thơ
Số điện thoại: 0710 3861954 Fax: 0710 3861457
4.Danh sách cán bộ tham gia chính :
TT Họ và Tên Học vị Chức danh Đơn vị công tác
1. Dương văn Chín Phó giáo sư Tiến sĩ Viện lúa ĐBSCL
2. Nguyễn Thị Nhiệm Thạc sĩ Nghiên cứu viên Viện lúa ĐBSCL
3. Trần Văn Hiến Thạc sĩ Nghiên cứu viên Viện lúa ĐBSCL
4. Vũ Văn Thu Thạc sĩ Nghiên cứu viên Viện lúa ĐBSCL
5. Dương Định Kỹ sư Nghiên cứu viên Viện lúa ĐBSCL
6. Trần Thị Kiều Kỹ sư Nghiên cứu viên Viện lúa ĐBSCL
7. Huỳnh Hồng Bỉ Kỹ sư Nghiên cứu viên Viện lúa ĐBSCL
5.Thời gian thực hiện đã được phê duyệt:
Năm bắt đầu : 2006 Năm kết thúc: 2008
6. Thời gian kết thúc thực tế (thời điểm nộp báo cáo kết quả): 2011
7. Kinh phí thực hiện đề tài: 120 triệu đồng
II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CỦA ĐỀ TÀI
1.Kết quả nghiên cứu:
1.1. Ý nghĩa khoa học của kết quả nghiên cứu:
Trong công tác nghiên cứu di truyền chọn giống, không phải tất cả các cơ sở
iii
nghiên cứu đều có đầy đủ các phương tiện trữ lạnh hiện đại để tồn trữ hạt của các
đời con lai phục vụ cho công tác nghiên cứu. Với phương thức tồn trữ yếm khí
có thể giúp tồn trữ được các loại hạt giống trong quá trình lai tạo, chọn lọc, nhân
giống để tạo ra các giống lúa mới. Phương thức này cũng có thể được ứng dụng
trong công tác chọn tạo giống lúa mới tại cộng đồng hoặc duy trì sự đa dạng sinh
học đối với cây lúa và các loại cây trồng lấy hạt khác.
1.2. Ý nghĩa thực tiễn và khả năng ứng dụng kết quả khoa học:
- Đối với bồi dưỡng và đào tạo:
+ Các cán bộ của Trung tâm khuyến nông tỉnh và cán bộ thuộc hai huyện Vị
Thuỷ, Phụng Hiệp sẽ được nâng cao trình độ trong quá trình tham gia thực hiện
đề tài.
+ Nông dân phối hợp thực hiện nghiên cứu sẽ nắm vững về mặt lý thuyết cũng
như thực hành kỹ thuật tồn trữ hạt giống lúa bằng túi yếm khí, sẽ vận dụng cho
việc tồn trữ hạt lúa giống tại chính gia đình mình đồng thời quảng bá cho các
nông dân lân cận để biện pháp kỹ thuật này được lan tỏa ra nhanh chóng trong
sản xuất.
- Đối với kinh tế xã hội: Nông dân được lợi nhiều vì với phương thức tồn trữ
này, hạt lúa giống sẽ được chủ động tồn trữ quanh năm và có thể được sử dụng
để gieo sạ bất cứ lúc nào. Lúa hàng hoá cũng có thể tồn trữ để chờ giá lên cao,
gia tăng thu nhập.
2. Các sản phẩm khoa học (nếu có)
(các công trình, các báo cáo khoa học đã công bố trên các tạp chí khoa học, hội
nghị khoa học trong và ngoài nước và các kết quả ứng dụng ……có liên quan
đến kết quả đề tài. Ghi rõ tên công trình,tạp chí, số tạp chí, trang, thời gian đăng;
tên báo cáo, địa điểm thời gian hội nghị; địa điểm, thời gian, kết quả ứng dụng)
iv
- Trong khuôn khổ nghiên cứu, đề tài đã viết một bài báo khoa học “ Nghiên
cứu tồn trữ hạt lúa giống bằng túi yếm khí” đăng trên Tạp chí Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn – Kỳ 1+2- Tháng 2/2006, trang 73-76.
3. Kết quả tham gia đào tạo sau đại học (nếu có)
4. Các kết quả khác (nếu có)
Bằng sáng chế hoặc giải pháp hữu ích từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ
số, ngày tháng năm cấp)
Viện lúa, ngày tháng năm 2011
Xác nhận của tổ chức chủ trì Chủ nhiệm đề tài
(Ký tên và đóng dấu)
PGS.TS. Dương Văn Chín
v
TÓM LƯỢC
Hậu Giang là một trong 13 tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu long có diện tích
sản xuất lúa thâm canh 2-3 vụ/năm và năng suất đạt được khá cao. Những giống
lúa mới chất lượng cao đã được giới thiệu vào sản xuất và diện tích trồng các
giống chất lượng cao ngày càng nhiều trong tỉnh. Tuy nhiên cũng như một số
tỉnh khác trong vùng, công nghệ hạt giống phục vụ sản xuất còn hạn chế, khiếm
khuyết. Diện tích sử dụng giống lúa cấp xác nhận hoặc tương đương chỉ đứng
thứ sáu trong tổng số 13 tỉnh thành trong vùng. Trong sản xuất hàng năm, phần
lớn nông dân tự giữ hạt giống cho chính mình hoặc trao đổi với láng giềng chung
quanh. Thông thường lúa sản xuất vụ trước đựơc sử dụng làm giống cho vụ kế
tiếp. Thực tế đó đã dẫn đến kết quả là người nông dân không chủ động được
nguồn giống sản xuất, đồng thời chất lương hạt giống sử dụng cũng không cao.
Xuất phát từ thực tế trên, đề tài: “ Nghiên cứu tồn trữ hạt giống lúa bằng túi yếm
khí” được tổ chức thực hiện nhằm mục đích chính là “ Xây dựng qui trình kỹ
thuật tồn trữ hạt lúa giống bằng túi yếm khí trong điều kiện nhiệt độ và ẩm độ
môi trường tự nhiên”. Hai mục tiêu chuyên biệt bao gồm (i) Xác định lọai túi
yếm khí Việt nam có khả năng duy trì tỷ lệ nảy mầm trên 85% sau 9 tháng tồn
trữ và (ii) Xác định các phương thức tồn trữ hạt lúa giống khả thi trong điều kiện
Hậu Giang.
Có năm nội dung nghiên cứu trong đề tài này đã được thực hiện để đảm bảo
đạt được các mục tiêu đề ra.
- Nội dung thứ nhất là: “ Nghiên cứu ảnh hưởng của các lọai bao yếm khí,
phương thức tồn trữ đến tỷ lệ nảy mầm của hạt lúa giống và quần thể côn trùng
kho vựa gây hại”.Kết quả của nghiên cứu thứ nhất cho thấy chất lượng của bao
VN1 và VN2 sản xuất tại Việt Nam với giá thành hạ vẫn cho hiệu quả tương tự
với bao Israel ngọai nhập đắt tiền. Về phương thức tồn trữ thì đã khẳng định
vi
được tồn trữ yếm khí có hiệu quả rõ rệt trong việc hạn chế mọt đục thân nhỏ
(Rhizopertha dominica) tấn công hạt giống và tỷ lệ nảy mầm vẫn duy trì ở mức
cao sau thời gian dài tồn trữ.Sau 9 tháng tồn trữ,tỷ lệ nảy mầm trung bình trong
ba lọai bao VN1, VN2 và bao Israel vẫn còn đạt 93,4%, trong khi đó trong bao
hảo khí, hạt giống hầu như chết hòan tòan và tỷ lệ nảy mầm chỉ còn 0,1%.
- Nội dung thứ thứ hai là: “ Nghiên cứu tỷ lệ nảy mầm của của hạt giống được
trữ yếm khí trong bao lớn chứa 40 kg lúa”. Kết quả nghiên cứu của nội dung này
cho thấy sau 9 tháng tồn trữ côn trùng trong bao VN 1 là 0,8 con/1 kg lúa, bao
VN2 là 1,9 con/1kg lúa và cũng gần như tương đương với bao Israel với 0,0
con/1 kg lúa. Trong khi đó trong bao tải PP hảo khí số mọt đục thân nhỏ lên đến
31,4 con/1 kg lúa. Tỷ lệ nảy mầm của hạt trong bao VN1 là 87,4% và VN2 là
89,1%, trung bình là 88,3%. Trong bao Israel, tỷ lệ nảy mầm đạt 90,5% trong khi
đó ở bao tải PP hảo khí tỷ lệ nảy mầm chỉ còn 0,2%.
- Nội dung thứ ba là: “ Nghiên cứu so sánh hiệu quả tồn trữ yếm khí lúa giống
bằng bao PE và các lọai cal nhựa khác nhau”. Kết quả nghiên cứu của nội dung
này đến thời điểm 9 tháng sau tồn trữ cho thấy lọai bao VN2 vẫn cho tỷ lệ nảy
mầm đạt 94,5%, trong khi đó trong bao tải PP hảo khí, tỷ lệ nảy mầm chỉ còn
5,3%. Các lọai chai PET, cal nhựa cứng và vặn nắp kín rất hiệu quả để tồn trữ
hạt giống. Không có côn trùng xuất hiện trong các lọai thùng cứng dùng để tồn
trữ. Tỷ lệ nảy mầm của hạt trong chai PET, cal nhựa trắng, cal nhựa xanh sau 9
tháng tồn trữ tương ứng là 95,0%; 95,9% và 96,3%.
- Nội dung thứ tư là: “Nghiên cứu ảnh hưởng của bao polyethylene VN2 với
phương thức tồn trữ yếm khí đến tỷ lệ nảy mầm hạt lúa giống tồn trữ tại nhà
nông dân”. Kết quả nghiên cứu của nội dung này cho thấy trong 40 nông dân
tham gia thí nghiệm chỉ có 37 nông dân thành công, ba nông dân thất bại do
không bảo vệ đươc mẫu thí nghiệm cho cho đến giai đọan cuối cùng. Kết quả
đến thời điểm 9 tháng sau tồn trữ cho thấy tỷ lệ nảy mầm trong bao yếm khí
vii
VN2 vẫn còn đạt 96,4 % trong khi hạt giống trong bao PP hảo khí chỉ còn 2,3%.
Cũng với các mẫu lúa đó nhưng người nông dân tự thử tỷ lệ nảy mầm thì kết quả
là bao VN2 vẫn còn nảy mầm 96,7% trong khi đó bao hảo khí chỉ còn 1.3%.
- Nội dung thứ năm là: “Nghiên cứu hiệu quả tồn trữ yếm khí của các lọai bao
polyethylene có độ dày khác nhau đến chất lượng hạt giống lúa”. Kết quả của nội
dung này cho thấy, độ dày của bao polyethylene càng mỏng thì hiệu quả tồn trữ
yếm khí càng thấp. Hai lọai bao VN 06 có độ dày 0,06mm và VN08 có độ dày
0,08mm, chỉ cho tỷ lệ nảy mầm tương ứng là 56,7% và 83,2% sau 9 tháng tồn
trữ, thấp hơn so với yêu cầu đặt ra của đề tài là tối thiểu phải đạt 85%. Số liệu
tương ứng của bao VN1 là 92,7% và bao VN2 là 94,5%. Trung bình của hai lọai
bao Việt Nam là 93,5% cao hơn so với yêu cầu đề ra là 85%. Tỷ lệ nảy mầm
trong bao Israel ở nghiên cứu này là 87%.
Tóm lại, hai lọai bao VN1 và VN2 sản xuất tại Việt Nam cho hiệu quả cao
trong việc tồn trữ hạt giống. Sau 9 tháng tồn trữ, tỷ lệ nảy mầm trung bình trong
bao VN1 là 91,2% và VN 2 là 94,1%, cao hơn so với yêu cầu của đề tài là 85%.
Chai PET, cal nhựa trắng, cal nhựa xanh đều cho hiệu quả rất tốt với tỷ lệ nảy
mầm lần lượt là 95,0% ; 95,9% và 96,3%.
viii
MỤC LỤC
trang
Trang phụ bìa
Thông tin chung về đề tài
ii
Tóm lược
v
Mục lục
viii
Bảng chú giải các chử viết tắt
xii
Danh sách hình
xiii
Danh sách bảng
xiv
MỞ ĐẦU
1
Chương I
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨ
U TRONG
VÀ NGOÀI NƯỚC
3
Chương II
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
9
2.1
Nội dung nghiên cứu
9
2.2
Phương pháp nghiên cứu
9
2.2.1
Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại bao yế
m khí,
phương th
ức tồn trữ đến tỷ lệ nảy mầm của hạ
t
lúa giống và quần thể côn trùng kho vựa gây hại.
9
2.2.2
Nghiên cứu tỷ lệ nảy mầm của hạt giống được trữ
yếm khí trong bao lớn chứa 40 kg
11
2.2.3
Nghiên cứu so sánh hiệu quả tồn trữ yế
m khí lúa
giống bằng bao PE và các loại cal nhự
a khác
nhau
12
ix
2.2.4
Nghiên cứu ảnh hưởng củ
a bao polyethylene VN2
với phương thức tồn trữ yếm khí đến tỷ lệ nảy
mầm hạt lúa giống tồn trữ tại nhà nông dân
13
2.2.5
Nghiên cứu hiệu quả tồn trữ yếm khí của các loại
bao polyethylene có độ dày khác nhau đến chất
lượng hạt giống lúa (thí nghiệm vượt kế hoạch)
14
Chương 3
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
16
3.1
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của các loại bao yếm
khí, phương thức tồn trữ đến tỷ lệ nảy mầm của hạt lúa
giống và quần thể côn trùng kho vựa gây hại
16
3.1.1
Ảnh hưởng của các nghiệm thức đến ẩm độ hạ
t
lúa giống tồn trữ
16
3.1.2
Ảnh hưởng của các nghiệm thức đến tỷ lệ nảy mầ
m.
17
3.1.3
Ảnh hưởng của các nghiệm thức đế
n côn trùng
kho vựa
18
3.2
Kết quả nghiên cứu tỷ lệ nảy mầm của hạt giống đượ
c
trữ yếm khí trong bao lớn chứa 40 kg
19
3.2.1
Ảnh hưởng của các phương cách tồn trữ đến ẩm
độ hạt
19
3.2.2
Ảnh hưởng của tồn trữ yếm khí đến mật số mọ
t
đục thân nhỏ.
20
3.2.3.
Tỷ lệ nảy mầm của hạt giống lúa chứ
a trong các
loại bao tồn trữ khác nhau
22
3.3
Kết quả nghiên cứu so sánh hiệu quả tồn trữ yế
m
khí lúa giống bằng bao PE và các loại cal nhự
a
khác nhau
23
x
3.3.1
Ảnh hưởng của các loại bao và thùng chứ
a lúa
khác nhau đến ẩm độ hạt giống
23
3.3.2
Ảnh hưởng của các loại bao và thùng chứa lúa
khác nhau đến mật số mọt đục thân nhỏ
24
3.3.3
Ảnh hưởng của các loại bao và thùng chứa lúa
khác nhau đến tỷ lệ nảy mầm của hạt giống
25
3.4
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng củ
a bao
polyethylene VN 2 với phương thức tồn trữ yế
m
khí đến tỷ lệ nảy mầm hạt lúa giống tồn trữ tạ
i
nhà nông dân
27
3.4.1
Tỷ lệ nảy mầm của hạt giống lúa tồn trữ
trong
bao yếm khí tại hộ nông dân do cán bộ
VLĐBSCL
thực hiện
27
3.4.2
Tỷ lệ nảy mầm của hạt giống lúa tồn trữ
trong
bao yếm khí tại hộ nông dân do nông dân tự thự
c
hiện
28
3.5
Kết quả nghiên cứu hiệu quả tồn trữ yếm khí củ
a
các loại bao polyethylene có độ
dày khác nhau
đến chất lượng hạt giống lúa
28
3.5.1
Ảnh hưởng của các loại bao tồn trữ đến ẩm độ
hạt giống
28
3.5.2
Tỷ lệ nảy mầm của hạt giống chịu ảnh hưởng bở
i
các nghiệm thức
30
3.6
Tỷ lệ nảy mầm của hạt giống chứa trong các loạ
i
dụng cụ khác nhau quan sát lúc 9 tháng sau tồ
n
trữ.
31
xi
3.7
Tính tóan hiệu quả kinh tế
32
3.8
Tập huấn, đào tạo, bài báo.
33
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
34
QUI TRÌNH KỸ THUẬT TỒN TRỮ HẠT GIỐNG LÚA BẰNG
TÚI YẾM KHÍ
36
TÀI LIỆU THAM KHẢO
42
PHỤ LỤC
44
Phụ lục 1. Số liệu tỉ lệ nảy mầm của hạt giống tại nhà dân
44
Phụ lục 2. Hình ảnh hoạt động đề tài
52
Bài báo “ Nghiên cứu tồn trữ hạt lúa giống bằng túi yếm khí”
xii
BẢNG CHÚ GIẢI CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT Chử viết tắt Chú giải viết tắt
1. VN 06 Bao poly-ethylene sản xuất tại Việt Nam có bề
dày 0,06 mm
2. VN 08 Bao poly-ethylene sản xuất tại Việt Nam có bề
dày 0,08 mm
3. VN1 Bao poly-ethylene sản xuất tại Việt Nam có bề
dày 0,1 mm
4. VN2 Bao poly-ethylene sản xuất tại Việt Nam có bề
dày 0,12 mm
5. PP Poly-propylene
6. STT Sau tồn trữ
7. IRRI Viện nghiên cứu Lúa Quốc tế (International Rice
Reasearch Institute)
8. VLĐBSCL Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long
xiii
DANH SÁCH HÌNH
Hình
Tựa hình Trang
1. Thí nghiệm tồn trữ giống bằng các loại bao khác nhau 52
2. Thí nghiệm về tỷ lệ nảy mầm của hạt giống trong bao yếm khí
lớn
52
3. Thí nghiệm so sánh hiệu quả tồn trữ yếm khí lúa giống bằng bao
PE và các loại cal nhựa khác nhau
53
4. Thí nghiệm tồn trữ yếm khí trong điều kiện tại nhà nông dân 54
5. Hội thảo kỹ thuật về phương pháp tồn trữ yếm khí tại Vị Thanh 55
6. Túi yếm khí Việt Nam do đề tài làm ra được bán trên thị trường 56
7. Poster túi yếm khí được trưng bày tại lễ hội Festival lúa gạo Hậu
Giang lần thứ I
57
xiv
DANH SÁCH BẢNG
Bảng Tựa bảng Trang
1
Ẩm độ của hạt lúa giống chịu ảnh hưởng bởi các nghiệm
thức
16
2 Tỷ lệ nảy mầm của hạt giống ở các nghiệm thức khác nhau. 17
3
Mật số mọt đục thân nhỏ ở các nghiệm thức tồn trữ khác
nhau.
18
4 Ẩm độ hạt trong các loại bao khác nhau. 20
5
Mật số mọt đục thân nhỏ chịu ảnh hưởng bởi các nghiệm
thức tồn trữ.
21
6
Tỷ lệ nảy mầm của hạt giống chịu ảnh hưởng bởi các
nghiệm thức
22
7
Ẩm độ hạt chịu ảnh hưởng bởi các loại bao, thùng chứa khác
nhau
23
8
Mật số mọt đục thân nhỏ chịu ảnh hưởng bởi các loại bao,
thùng chứa lúa khác nhau
25
9
Tỷ lệ nảy mầm của hạt giống chịu ảnh hưởng bởi các loại
bao, thùng chứa khác nhau
26
10 Ẩm độ hạt giống chứa trong các túi yếm khí khác nhau. 29
11
Tỷ lệ nảy mầm của hạt giống chịu ảnh hưởng bởi các
nghiệm thức
30
12
Tỷ lệ nảy mầm của hạt giống ở các loại dụng cụ chứa khác
nhau lúc 9 tháng sau tồn trữ
32
1
MỞ ĐẦU
Mục tiêu đề tài:
Mục tiêu chính:
“Xây dựng qui trình kỹ thuật tồn trữ hạt lúa giống bằng túi yếm khí trong điều
kiện nhiệt độ và ẩm độ môi trường tự nhiên”.
Mục tiêu chuyên biệt:
- Xác định loại túi yếm khí Việt Nam có khả năng duy trì tỷ lệ nảy mầm trên
85% sau 9 tháng tồn trữ.
- Xác định các phương thức tồn trữ hạt lúa giống khả thi trong điều kiện Hậu
Giang.
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng chính là lúa phục vụ làm giống gieo sạ cho vụ sau, ngoài ra túi
yếm khí còn được sử dụng để tồn trữ các loại hạt hàng hóa như lúa, bắp, các
loại hạt đậu, mè, cà phê, ca cao… để chờ giá thị trường tăng để bán giá cao,
tăng thu nhập.
Phạm vi nghiên cứu:
Trong phòng thí nghiệm, tại nhà nông dân và các cán bộ của Trung tâm
khuyến nông tỉnh và cán bộ thuộc hai huyện Vị Thuỷ, Phụng Hiệp, Thành
phố Vị Thanh.
Ý nghĩa của đề tài:
Các cán bộ của Trung tâm khuyến nông tỉnh và cán bộ thuộc hai huyện Vị
Thuỷ, Phụng Hiệp sẽ được nâng cao trình độ trong quá trình tham gia thực
hiện đề tài.
Nông dân phối hợp thực hiện nghiên cứu sẽ nắm vững về mặt lý thuyết
cũng như thực hành kỹ thuật tồn trữ hạt giống lúa bằng túi yếm khí, sẽ vận
dụng cho việc tồn trữ hạt lúa giống tại chính gia đình mình đồng thời quảng
bá cho các nông dân lân cận để biện pháp kỹ thuật này được lan tỏa ra nhanh
chóng trong sản xuất.
2
Trong công tác nghiên cứu di truyền chọn giống có thể sữ dụng phương
pháp tồn trữ yếm khí để tồn trữ các loại hạt giống trong quá trình lai tạo, chọn
lọc, nhân giống để tạo ra các giống lúa mới. Phương thức này cũng có thể
được ứng dụng trong công tác chọn tạo giống lúa mới tại cộng đồng hoặc duy
trì sự đa dạng sinh học đối với cây lúa và các loại cây trồng lấy hạt khác.
Nông dân được lợi nhiều khi tham gia đề tài này vì với phương thức tồn
trữ này, hạt lúa giống sẽ được chủ động tồn trữ quanh năm và có thể được sử
dụng để gieo sạ bất cứ lúc nào. Lúa hàng hoá cũng có thể tồn trữ để chờ giá
lên cao, gia tăng thu nhập cho người nông dân.
3
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGÒAI NƯỚC
Vào thời cổ đại tại vùng Trung cận đông, người dân đã biết cách chôn hạt
ngũ cốc dưới đất. Họ đã đi đến kết luận rằng chôn dưới đất khô ráo, ít tiếp xúc
với không khí thì hạt ít bị hư hỏng và tồn trữ được lâu hơn, đảm bảo nguồn
lương thực dự trữ cho cuộc sống của họ. Vào thời kỳ thế chiến thứ hai, tại
Argentina những bồn chứa hạt được thiết kế đóng kín, phân nửa nổi lên mặt
đất và phân nửa chôn sâu dưới lòng đất. Với hệ thống này thời gian tồn trữ hạt
được kéo dài hơn. Vào những năm 50 của thế kỷ trước, một đề án tồn trữ yếm
khí hạt lương thực dự trữ đã thành công tại đảo Cyprus và hạt được giữ trong
vòng vài ba năm với chất lượng tốt. Sau đó mô hình được tổ chức thực hiện
thành công trên diện rộng đối với nguồn lương thực dự trữ quốc gia tại Kenya
vào những năm 90.
Haogen Plast Project Ltd. (1970) và nhà quản lý xuất khẩu là ông Tom De
Bruin đã có một dự án nghiên cứu phát triển để kinh doanh các sản phẩm
dụng cụ chứa có tính chất yếm khí. Grain Pro Inc. là một tổ chức của Mỹ đã
tổ chức chuyển giao công nghệ này đến các nước đang phát triển châu Á và
châu Phi và tiến bộ kỹ thuật này đã tích cực tham gia chương trình an ninh
lương thực của nhiều nước. Hiện nay Grain Pro. Inc. đã hợp tác chặt chẽ với
Viện lúa quốc tế IRRI để chuyển giao tiến bộ kỹ thuật này đến các nước trồng
lúa châu Á. Tuy nhiên giá bán của lọai bao này rất đắt với hiện nay (2010)
khỏang 1,6 đến 2 USD một túi và thuế nhập khẩu là 45% cộng thêm tiền
chuyên chở từ Israel về. Do đó vấn đề nghiên cứu tìm ra lọai bao phù hợp, rẽ
tiền trong điều kiện Việt Nam là cần thiết.
Có một cán bộ của VLĐBSCL trong thời gian tham gia hội nghị tại IRRI từ
ngày 29/11/2004 đến 3/12/2004 đã nhận thấy rằng đây là tiến bộ kỹ thuật quí
báu có thể giúp nông dân Việt Nam tồn trữ hạt giống lúa dài hạn, tồn trữ lúa
hàng hóa để chờ thời điểm lúa tăng giá cao để bán thu lợi nhuận cao. Ngoài
4
ra, tiến bộ kỹ thuật này cũng có thể áp dụng để tồn trữ các loại hạt khác như :
cà phê, bắp, đậu v.v
Hệ thống tồn trữ yếm khí là hệ thống chứa hạt vào một túi (hoặc thùng)
yếm khí mà túi này ngăn chặn sự di chuyển dưỡng khí (oxygen) và hơi nước
giữa môi trường bên ngoài và túi hạt đang tồn trữ. Viện lúa quốc tế IRRI đang
nổ lực để nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật trữ giống lúa bằng túi IRRI
Super Bag được sản xuất bởi công ty Grain Pro tại Israel cho nông dân vùng
sâu, vùng xa ở châu Á. Một số đặc tính cơ bản của túi chuẩn này là : Kích
thước 75 cm x 135 cm, trọng lượng 100 gram/m
2
, bề dày 0,078 mm, độ xuyên
thấm của oxygen trong điều kiện khô ở nhiệt độ 23
o
C là 55 ml/ m
2
/ngày; độ
xuyên thấm của hơi nước trong điều kiện ẩm độ tương đối của không khí 90%
và ở nhiệt độ 38
o
C là 8 gram/m
2
/ngày; nhiệt độ sử dụng trong khoảng từ âm
18
o
C đến 95
o
C. Ẩm độ của hạt trong túi yếm khí không thay đổi nhiều giữa
mùa mưa và mùa khô trong khi hạt chứa trong bao tải thông thường có ẩm độ
biến động đến 3%. Mật số côn trùng giảm và hạt duy trì sự sống với tỷ lệ nảy
mầm cao từ 5 đến 12 tháng (Richman, 2004). Kích thước của hệ thống có thể
từ 3 lít đến 300 tấn. Hệ thống có thể được sử dụng cho lúa, bắp, cà phê, ca
cao, đậu và các lọai hạt khác. Hệ thống tồn trữ yếm khí giúp cải thiện độ sống
của hạt (tăng tỷ lệ nảy mầm, tăng chất lượng nông sản bởi vì nó duy trì ẩm độ
ban đầu, giảm tác hại của côn trùng trong kho mà không cần dùng đến thuốc
sát trùng. Hạt giống có tỷ lệ nảy mầm cao và lúa thương phẩm duy trì chất
lượng gạo tốt.
Kỹ thuật tồn trữ bằng túi yếm khí với những vật liệu ít bị ảnh hưởng hoặc
phân hủy dưới ánh sáng mặt trời đã được thí nghiệm tại Sri Lanka vào cuối
những năm 80 của thế kỷ trước (Donahaye và ctv, 1991). Kỹ thuật tồn trữ
bằng túi yếm khí đã được đánh giá đầy đủ tại Philippines và được áp dụng
thành công ở vùng sâu, vùng xa thuộc quốc gia này và một số nơi khác trên
thế giới như là một phương tiện ít tốn kém thay thế các cơ sở tập trung hiện
đại đắt tiền (Alvindia và ctv, 1994). Trong quá trình tồn trữ bằng kỹ thuật này
5
làm cho lượng oxygen giảm nhanh chóng và côn trùng không còn đủ oxygen
để hô hấp nên bị tổn thương nghiêm trọng hoặc chết (Navarro và Donahaye,
1998).
Tại Việt Nam, một thí nghiệm đã được tiến hành tại Trung tâm giống
Bạc Liêu, sử dụng hai giống lúa địa phương và hai giống lúa cao sản. Hai
giống lúa mùa được sử dụng để nghiên cứu là giống Tài Nguyên và giống
Một Bụi Đỏ. Hai giống lúa cao sản tham gia nghiên cứu là Jasmine 85 và OM
2717. Hạt giống của 4 giống lúa này được trữ trong bao yếm khí và đặt tại
kho chứa lúa của Trung tâm giống Bạc Liêu. Ẩm độ trước khi bắt đầu thí
nghiệm biến thiên từ 11,3 đến 13,6%. Có hai kiểu tồn trữ là tồn trữ hảo khí và
tồn trữ trong bao yếm khí Super Bag từ Viện lúa quốc tế IRRI. Các bao thí
nghiệm được đặt trên kệ gỗ và được bảo vệ bằng lưới kim lọai để chống chim,
chuột. Mẫu hạt ban đầu được lấy mẫu vào tháng 2 năm 2005 và cũng lấy mẫu
sau 8 tháng tồn trữ để phân tích các chỉ tiêu. Kết quả nghiên cứu cho thấy bao
Super Bag đã ngăn chặn một cách hiệu quả sự trao đổi ẩm độ giữa môi trường
không khí bên ngoài và mẻ hạt lúa bên trong. Có một sự gia tăng nhẹ khoảng
1,2% trong bao yếm khí. Điều này có thể là do sự hô hấp của hạt và của côn
trùng Ngược lại, ẩm độ hạt ở trong bao đối chứng hảo khí thì gia tăng trung
bình khỏang 4,7% và ẩm độ cuối cùng sau 8 tháng tồn trữ biến thiên từ 16,5
đến 18,2%, chủ yếu là do sự trao đổi ẩm độ với môi trường không khí bên
ngòai. Bao Super Bag cũng làm giảm mật số côn trùng xuống còn khoảng 1
con/1 kg lúa mặc dù không sử dụng bất cứ một lọai thuốc sát trùng nào. Trong
khi đó ở bao hảo khí là 53 con côn trùng/1 kg lúa. Tỷ lệ nảy mầm trong những
bao đối chứng giảm xuống chỉ còn ở mức 43% đối với hai giống lúa mùa và
chỉ còn 6% đối với hai giống lúa cao sản. Trong khi đó, trong bao yếm khí tỷ
lệ nảy mầm vẫn còn ở mức 90% đối với giống Một Bụi Đỏ và 99% đối với
giống Jasmine và trung bình là 96%.
Sau 8 tháng tồn trữ, tỷ lệ gạo xay chà cũng giảm 2,9% ở bao tồn trữ hảo khí
so với hạt khi bắt đầu tồn trữ. Trong khi đó, mẫu hạt trong bao yếm khí thì
6
giảm ít hơn và chỉ ở mức 0,76%. Như vậy kỹ thuật tồn trữ yếm khí đã gia
tăng tỷ lê xay chà khỏang 2,14%. Đặc biệt tồn trữ yếm khí làm gia tăng tỷ lệ
gạo nguyên là rất rõ ràng. Trong bao hảo khí, tỷ lệ gạo nguyên đã giảm 37,1
% điểm trong khi đó trong bao yếm khí thì số liệu này chỉ là 1,2 % so với mẫu
gạo ban đầu trước khi bắt đầu thí nghiệm. Điều đó dẫn đến kết quả là tồn trử
yếm khí làm gia tăng 35,9% điểm so với tồn trữ hảo khí. Trong cách tồn trữ
hảo khí, hạt lúa trải qua quá trình khô và ẩm luân phiên tùy thuộc vào ẩm độ
và nhiệt độ không khí bên ngòai và dẫn đến hạt gạo bể nhỏ cũng như hạt gạo
bể to gia tăng. Kết luận từ nghiên cứu này đã minh chứng rằng tồn trữ yếm
khí là một kỹ thuật đơn giản, dễ áp dụng giúp giữ tỷ lệ nảy mầm cao của hạt
giống, giữ côn trùng kho vựa gây hại ở mức thấp và giữ tỷ lệ gạo nguyên cao
khi xay chà đối với lúa hàng hóa (Diệp Chấn Beng và ctv, 2006).
Viện lúa đồng bằng sông Cửu long đã nổ lực thực hiện nghiên cứu để tìm
ra loại bao polyethylene giá rẽ nhưng có hiệu quả tương đương bao IRRI.
Viện lúa ĐBSCL đã hợp tác với Sở Nông nghiệp &PTNT TP Cần Thơ trong
giai đoạn 2005-2006 để nghiên cứu vấn đề này. Qua một năm thí nghiệm về
tồn trữ lúa giống yếm khí bằng túi nhựa dẽo polyethylene đặc biệt nhập khẩu
từ Israel có bề dày 0,078 mm, trên 90 nông dân tại 8 quận huyện thuộc TP
Cần Thơ đã đạt được kết quả khả quan. Trong 90 nông dân tham gia thí
nghiệm, chỉ có 80 nông dân tổ chức thí nghiệm thành công, đạt tỷ lệ 88,9%.
Mười nông dân thất bại chủ yếu là do không bảo quản tốt các mẫu thí nghiệm,
để chuột cắn phá các túi yếm khí làm cho túi không còn phát huy tác dụng
yếm khí và trở thành túi chứa như bao tải thông thường. Trữ lúa giống bằng
bao tải thông thường, hảo khí theo tập quán của nông dân chỉ duy trì được tỷ
lệ nảy mầm 53,77% sau 6 tháng tồn trữ, không đạt yêu cầu của các cấp giống
phục vụ việc nhân giống là tối thiểu phải đạt 80%. Đến tháng thứ 12, phần lớn
các hạt đều chết và tỷ lệ nảy mầm chỉ còn 1,98%. Trữ hạt lúa giống bằng túi
yếm khí cho kết quả rất khả quan. Sau 6 tháng tồn trữ, tỷ lệ nẩy mầm đạt
95,55% và sau 12 tháng tồn trữ tỷ lệ nảy mầm vẫn còn đạt 86,43 % và hạt
7
giống sau một năm tồn trữ yếm khí vẫn có thể phục vụ sản xuất bình thường
(> 80) (Chín, 2006) Tại phòng thí nghiệm thuộc bộ môn Cơ cấu cây trồng,
một bao IRRI Super Bag chuẩn chứa 20 kg lúa giống OMCS 2000 tồn trữ
yếm khí và không sử dụng hóa chất vẫn còn giữ được tỷ lệ nảy mầm 85,75%
sau 1 năm 2 tháng 3 ngày (Chín và Kiều, 2009).
Phương thức tồn trữ yếm khí cũng đã được nghiên cứu ứng dụng thành
công trên các lọai hạt khác. Các lọai hạt như ca cao, cà phê khi tồn trữ yếm
khí thì duy trì được chất lượng thương phẩm như ban đầu. Tại vùng Makassar
thuộc Indonesia, tồn trữ yếm khí hạt ca cao có trọng lượng 6,7 tấn với ẩm độ
ban đầu là 7,3% và ẩm độ tương đối của không khí là 70%. Kết quả đo đếm
sau tồn trữ yếm khí cho thấy chỉ sau 5,5 ngày tồn trữ, lượng dưỡng khí
(oxygen) trong bao đã giảm xuống chỉ còn 0,3%. Côn trùng không tồn tại
trong bao yếm khí (Jonfia-Essien, 2010).Tại Việt Nam, nghiên cứu tồn trữ
yếm khí trên hạt ngô, đậu nành, đậu xanh cũng đã được tiến hành. Kết quả
trên hạt đậu xanh tỏ ra triển vọng nhất. Đối với đậu xanh sau 3 và 6 tháng bảo
quản, hạt vẫn còn giữ sức nảy mầm trên 90% ở tất cả các nghiệm thức kể cả
đối chứng. Đến tháng thứ 9, tất cả 3 nghiệm thức bảo quản yếm khí đều vẫn
duy trì được tỷ lệ nảy mầm cao (93,3-95,8%) và khác biệt có ý nghĩa thống kê
so với đối chứng hảo khí (86,7%). Hạt đậu xanh duy trì sự sống lâu nhất so
với bắp và đậu nành. Tỷ lệ nảy mầm trung bình sau 3; 6 và 9 tháng bảo quản
là : 96,3%; 97,9% và 92,7%. Số liệu tương ứng đối với hạt bắp là 94,2%;
73,2% và 7,7% và đối với đậu nành là 81,1%; 15,3% và 2,9% (Dương Văn
Chín, 2006).
Về khía cạnh kinh tế của kỹ thuật tồn trữ yếm khí cũng đã có tư liệu đề cập
đến. Trong năm 2008, Trung tâm giống của tỉnh Hậu Giang đã trữ yếm khí 80
tấn lúa giống. Chi phí tồn trữ yếm khí là 213 đồng/1 kg và lãi suất ngân hàng
để đầu tư mua lúa giống là 675 đồng/kg trong 9 tháng. Tổng chi phí là 888
đồng/1 kg lúa. Giá lúa giống mà Trung tâm bán ra vào tháng 11-12 năm 2008
chênh lệch 3000 đồng/1 kg so với giá mua vào lúc thu hoạch lúa Đông Xuân
8
2007-2008 vào tháng 2-3 năm 2008. Trung tâm lời được 2.112 đồng/kg và
tổng cộng tiền lời từ 80 tấn lúa giống là 168,96 triệu đồng (Dương Văn Chín
và Nguyễn Văn Ngẫu, 2009).
9
CHƯƠNG II
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Nội dung nghiên cứu:
2.1.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại bao yếm khí, phương thức tồn trữ
đến tỷ lệ nảy mầm của hạt lúa giống và quần thể côn trùng kho vựa gây hại.
2.1.2. Nghiên cứu tỷ lệ nảy mầm của hạt giống được trữ yếm khí trong bao
lớn chứa 40 kg.
2.1.3. Nghiên cứu so sánh hiệu quả tồn trữ yếm khí lúa giống bằng bao PE và
các loại cal nhựa khác nhau.
2.1.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của bao polyethylene VN2 với phương thức tồn
trữ yếm khí đến tỷ lệ nảy mầm hạt lúa giống tồn trữ tại nhà nông dân (Thí
nghiệm diện rộng trực tiếp trên hộ nông dân tại tỉnh Hậu Giang).
2.1.5. Nghiên cứu hiệu quả tồn trữ yếm khí của các loại bao polyethylene có
độ dày khác nhau đến chất lượng hạt giống lúa (Thí nghiệm vượt kế hoạch)
2.2. Phương pháp nghiên cứu:
2.2.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại bao yếm khí, phương thức tồn
trữ đến tỷ lệ nảy mầm của hạt lúa giống và quần thể côn trùng kho vựa gây
hại.
Vật liệu:
Ba loại bao nghiên cứu có kích thước 18 cm x 38 cm bao gồm: Bao VN1
có bề dày 0,1 mm, bao VN 2 có bề dày 0,12mm và bao Israel có bề dày 0,078
mm. Mỗi bao chứa 1 kg lúa giống. Bao VN1 và VN2 do các xí nghiệp tại Việt
Nam sản xuất theo công nghệ của Viện Lúa ĐBSCL.
Hạt của giống lúa OM 2395 được sử dụng. Nguồn giống được mua từ nông
dân Bùi Thị Nga sản xuất trong lô 10 B thuộc Viện lúa ĐBSCL. Lô lúa giống
được kiểm nghiệm đạt tiêu chuẩn giống xác nhận vào ngày 28/2/2006. Ẩm
độ của mẻ hạt giống ngay trước khi bắt đầu thí nghiệm là 12,4% và tỷ lệ nảy
mầm là 89,8%. Các vật liệu khác bao gồm: máy đo ẩm độ hạt hiệu Brix, dĩa
petry thủy tinh có đường kính 12 cm và giấy lọc vàng đường kính 12 cm dùng
10
để thử tỷ lệ nảy mầm. Thử tỷ lệ nảy mầm 100 hạt trên 1 dĩa perty cho mỗi bao
nghiệm thức 1 kg lúa giống. Liều lượng thuốc sát trùng Basudin (10%
diazinon) là 1 gram cho 1 kg lúa giống và Silicagel là 5 gram cho 1 kg lúa
giống.
Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
Thí nghiệm được tiến hành tại Phòng thí nghiệm Cơ cấu cây trồng thuộc
Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long (VLĐBSCL). Ngày bắt đầu tồn trữ yếm
khí là 20 tháng 3 năm 2006 và kết thúc ngày 20 tháng 3 năm 2007.
Phương pháp:
Kiểu bố trí thí nghiệm là lô phụ với 3 lần lập lại. Ba nghiệm thức trong ô
lớn là [M1] Bao VN 1, [M2] Bao VN 2 và [M3] Bao Israel. Bốn nghiệm thức
trong ô nhỏ là 4 phương thức tồn trữ gồm: [S1] Hảo khí (tồn trữ theo tập quán
nông dân, bao để mở không cột trong suốt quá trình thí nghiệm); [S2] Yếm
khí (cột thật chặt miệng bao bằng dây cao su đàn hồi); [S3] Yếm khí +
Basudin (cột thật chặt miệng bao chứa basudin bên trong bằng dây cao su đàn
hồi) và [S4] Yếm khí + Basudin + Silicagel (cột thật chặt miệng bao chứa cả
hai thành phần là Basudin và Silicagel bằng dây cao su đàn hồi). Có tổng
cộng 144 bao, mỗi bao chứa 1 kg lúa giống, tham gia thí nghiệm. Sau mỗi 3
tháng, 36 bao được mở ra và lấy mẫu để đo đếm các chỉ tiêu. Tất cả các bao
lúa thí nghiệm đều được chứa trong củi đóng bằng lưới kim loại lổ nhỏ (0,6
cm) để chống chuột gây hại.
Các chỉ tiêu theo dõi:
Bao gồm ẩm độ hạt lúa giống, tỷ lệ nảy mầm, mật số côn trùng vào các thời
điểm 3,6,9 và 12 tháng sau khi tồn trữ. Một loài côn trùng được tập trung
quan sát là con mọt đục thân nhỏ (Rhizopertha dominica Fabricius) Số liệu
được phân tích thống kê và so sánh theo LSD (5%) bằng phần mềm
IRRISTAT 5.0.
11
2.2.2. Nghiên cứu tỷ lệ nảy mầm của hạt giống được trữ yếm khí trong bao
lớn chứa 40 kg
Vật liệu:
Các loại bao để sử dụng là bao Israel có kích thước rộng 75 cm, dài 135 cm
và bề dày 0,078 mm. Bao VN 1 rộng 60 cm, dài 110 cm và dày 0,1 mm. Bao
VN 2 có kích thước rộng 60 cm, dài 110 cm và dày 0,12 mm.
Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
Thí nghiệm được tiến hành tại Phòng thí nghiệm thuộc bộ môn Cơ cấu cây
trồng VLĐBSCL. Ngày bắt đầu tồn trữ yếm khí là 16 tháng 3 năm 2006 và
kết thúc thí nghiệm vào ngày 16 tháng 3 năm 2007.
Phương pháp:
Hạt lúa giống OM 2395 với ẩm độ ban đầu là 12,8 % và tỷ lệ nảy mầm ban
đầu là 91,6% được sử dụng. Tổng cộng số lượng hạt giống sử dụng là 280 kg,
được đựng trong 7 bao, mỗi bao 40 kg. Ngoại trừ bao PP hảo khí, tất cả các
bao polyethylene(PE) yếm khí đều được lồng vào một bao PP có kích thước
60 cm x 110 cm để làm giá đỡ trong quá trình tồn trữ. Tất cả các bao PE được
cột thật chặt bằng dây cao su đàn hồi sau khi đổ đầy 40 kg lúa giống. Một bao
tải PP (hảo khí đối chứng) chứa 40 kg đựơc dùng để lấy mẫu trong cả hai giai
đoạn là 9 tháng và 12 tháng sau khi tồn trữ. Hai bao Israel được trữ yếm khí
mỗi bao 40 kg nhằm đo đếm các chỉ tiêu ở hai giai đoạn là 9 tháng và 12
tháng sau tồn trữ. Tuơng tự như vậy có 2 bao VN1, mỗi bao chứa 40 kg lúa
trong điều kiện yếm khí và hai bao VN 2 cũng chứa lúa tương tự. Các phương
tiện nghiên cứu khác như máy đo ẩm độ hạt, dĩa petry và giấy thấm để thử tỷ
lệ nảy mầm thì tương tự như thí nghiệm 2.2.1
Các chỉ tiêu theo dõi:
Tất cả các chỉ tiêu khi đến thời điểm quan sát đều được đo đếm 20 lần lập
lại để đủ số mẫu cho phân tích “t” test. Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm: Tỷ lệ
nảy mầm (%), ẩm độ hạt (%), mật số côn trùng (số con/1 kg lúa) 1 ngày trước
khi tồn trữ; tỷ lệ nảy mầm (%), ẩm độ hạt (%), mật số côn trùng (số con/1 kg