1
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ
“Nghiên cứu hoàn thiện phƣơng pháp tính và xây
dựng quy trình tính chỉ số phát triển con ngƣời (HDI)
ở Việt Nam”
TỔNG THUẬT CÁC TÀI LIỆU TRONG
NƢỚC ĐỀ CẬP TỚI TÍNH HDI
CN. Hoàng Thị Kim Chi
Chuyên viên Vụ Hợp tác quốc tế
Tổng cục Thống kê
HÀ NỘI, 6 - 2008
2
MỤC LỤC
Nội dung
Trang
Phần I: Đặt vấn đề
3
Phần II: Điểm qua các nghiên cứu phát triển con ngƣời ở
Việt Nam
4
1.
Một số bài giới bài giới thiệu và hƣớng dẫn
4
2.
Một số Hội thảo, lớp tập huấn có đại diện Việt Nam dự
6
3.
Một số công trình nghiên cứu ứng dụng HDI
7
4.
Một số kết quả về phƣơng pháp tính các chỉ số
9
5.
So sánh quốc tế
16
Phần III: Một số kết luận và khuyến nghị
20
1.
Kết luận
20
2.
Khuyến nghị
21
Phụ lục: Tóm tắt các tài liệu có nội dung đƣa vào tổng luận
23
Tài liệu tham khảo khác
34
3
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Cho tới nay, nhiều ngƣời, kể cả các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch
định chính sách, các học giả, đều đã ít nhiều hiểu biết về tầm quan trọng của
Chỉ số phát triển con ngƣời trong việc đề ra các chính sách phát triển, phân
tích, đánh giá về chất lƣợng cuộc sống, chất lƣợng dân số, so sánh quốc tế
trình độ phát triển của đất nƣớc ta với các nƣớc khác trong cộng đồng quốc
tế, thậm chí so sánh các vấn đề phát triển giữa tỉnh nọ với tỉnh kia, giữa các
vùng, các địa phƣơng với nhau.
Xuất phát từ công dụng, tính cấp thiết của Chỉ số phát triển con ngƣời
HDI, việc tính toán chỉ số này ở nƣớc ta đã đƣợc triển khai dƣới các góc độ
và nhiệm vụ khác nhau, đã có lúc rộ lên nhƣ một “phong trào”. Song cho tới
nay, từ thực tiễn, và với một cách nhìn khách quan, thẳng thắn, thì có thể nói
rằng, việc tính toán vẫn chƣa đi vào nền nếp, quy củ, vẫn chƣa đều khắp, và
có thể nói là còn thiếu tính chủ động.
Vậy thì lý do tại sao? Có phải do thiếu thông tin số liệu? Làm thế nào
để khắc phục đƣợc tình trạng này? Cứ với điều kiện thông tin số liệu hiện có
nhƣ ngày nay, thì có thể tính toán HDI đƣợc không?
Mục đích của bài này là muốn đóng góp một phần ý kiến và quan
điểm vào giải quyết vấn đề đã nêu, dựa trên phƣơng châm: mạnh dạn; không
cầu toàn; nhƣng phải theo đúng phƣơng pháp luận do Liên hợp quốc đề ra để
đảm bảo tính so sánh quốc tế (tính chất này đã đƣợc quy định trong Luật
thống kê); và đảm bảo tính thống nhất từ trung ƣơng tới địa phƣơng để có
thể so sánh đƣợc giữa các địa phƣơng với nhau theo cả không gian lẫn thời
gian; việc hoàn thiện sẽ đƣợc tiến hành thực hiện dần dần với quá trình tiếp
tục nghiên cứu các cơ sở lý thuyết và phƣơng pháp luận.
4
PHẦN II: ĐIỂM QUA CÁC NGHIÊN CỨU PHÁT
TRIỂN CON NGƢỜI Ở VIỆT NAM
1- MỘT SỐ BÀI GIỚI THIỆU VÀ HƢỚNG DẪN
Khi HDR đầu tiên của UNDP đƣợc công bố về HDI 1990, thì trên Tạp
chí Thống kê số 3/91 cũng xuất hiện ngay bài viết giới thiệu “Chỉ số phát
triển con ngƣời HDI” của tác giả Hoàng Tích Giang thể hiện sự nhậy bén
của các nhà thống kê nƣớc ta đối với những vấn đề mới trong lĩnh vực này.
Bài này giới thiệu sơ qua về HDI với tƣ cách là một chỉ số để xếp hạng các
nƣớc theo chất lƣợng cuộc sống của ngƣời dân chứ không phải là khối lƣợng
GNP bình quân đầu ngƣời mà trƣớc đó ngƣời ta vẫn thƣờng coi là thành
công hay thất bại của sự điều hành nền kinh tế. Thu nhập cao chƣa hẳn trùng
khớp với phát triển con ngƣời cao. Và tác giả đã phê phán so sánh sự phát
triển giữa các nƣớc chỉ thông qua GNP và khuyến cáo HDI cần đƣợc hoàn
chỉnh thêm vì nó chƣa phân biệt đƣợc nông thôn và thành thị, nam và nữ,
giàu và nghèo.
Tạp chí Thống kê số 2/93 công bố bài viết “Phƣơng pháp tính chỉ số
HDI để đánh giá trình độ phát triển của một quốc gia” của tác giả PGS. PTS
Phạm Ngọc Kiểm có giới thiệu sâu hơn về cách tính HDI và dẫn chứng ví dụ
cụ thể việc UNDP tính HDI cho nƣớc ta. Nếu theo GNP bình quân đầu
ngƣời thì Việt Nam thuộc nhóm nƣớc chậm phát triển, nhƣng theo HDI thì
lại không nhƣ vậy, vì Việt Nam có đƣờng lối đúng đắn về chăm sóc y tế và
sức khoẻ, trình độ dân trí, chính sách xã hội,
Tạp chí Thông tin khoa học Thống kê số 2/97 công bố bài “Giới thiệu
phƣơng pháp tính chỉ số phát triển nguồn nhân lực HDI” của tác giả Phạm
Sơn, ngoài giới thiệu sâu còn đƣa lý thuyết và ví dụ tính toán cụ thể HDI.
5
Ngoài ra, tác giả Phạm Sơn đã giới thiệu “Phƣơng pháp tính chỉ số
liên quan đến giới (GDI) và chỉ số đo vai trò của giới (GEM)” liên tục trong
tạp chí Thông tin khoa học Thống kê các số 6/97 và 1/98.
Năm 1996, việc tính HDI đƣợc đƣa vào giáo trình đại học, nhƣng chỉ
là mục nhỏ giới thiệu công thức tính trong Chƣơng “Phƣơng pháp so sánh và
đánh giá trình độ phát triển kinh tế - xã hội” (Giáo trình phân tích kinh tế -
xã hội và lập trình, Phạm Ngọc Kiểm, Nhà xuất bản Giáo dục, 1996).
Năm 1997, PTS. Nguyễn Quán đã cho ra mắt công trình tuyển chọn
và giới thiệu "Chỉ tiêu và Chỉ số Phát triển con ngƣời" (Nhà xuất bản Thống
kê, Hà Nội - 1 - 1995) của UNDP, với phần giải thích đầy đủ, chi tiết hơn,
phân tích kỹ hơn, việc tính toán không dừng ở ví dụ minh hoạ mà đã là kết
quả cụ thể của 165 quốc gia. Ấn phẩm nhiều nghìn bản này tiêu thụ nhanh,
chứng tỏ đƣợc quan tâm nhiều, và đƣợc các nhà chuyên môn đánh giá cao.
Năm 1999, Trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân cũng đƣa vấn đề tính
toán HDI vào giáo trình giảng dạy dƣới dạng một phần nhỏ trong Chƣơng
Thống kê mức sống dân cƣ, nhằm giới thiệu phƣơng pháp và công thức tính
(Thống kê kinh tế, Trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân, Bộ môn Lý thuyết
thống kê, Chủ biên: Tô Phi Phƣợng, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội, 1999).
Năm 2000, Khoa Thống kê trƣờng Đại học kinh tế quốc dân cũng đƣa
vấn đề tính HDI vào giáo trình của khoa và chỉ giới thiệu công thức tính
(Thống kê kinh tế, trƣờng Đai học Kinh tế quốc dân, Khoa Thống kê, bộ
môn Thống kê kinh tế, Chủ biên: Phan Công Nghĩa, NXB Thống kê, Hà
Nội, 2000).
6
2- MỘT SỐ HỘI THẢO, LỚP TẬP HUẤN CÓ ĐẠI DIỆN VIỆT
NAM THAM DỰ
Từ 20 đến 31.5.2002, Tổng cục Thống kê (TCTK) phối hợp cùng
Viện Thống kê châu Á - Thái Bình Dƣơng (SIAP) tổ chức tại Hà Nội một
lớp tập huấn soạn thảo Báo cáo Phát triển con ngƣời Quốc gia (NHDR -
National Human Development Report) với sự tham gia của 38 chuyên viên
và lãnh đạo các đơn vị trực thuộc TCTK, UNDP và các cơ quan khác nhằm
bổ trợ kiến thức về HDI cho mọi ngƣời. Các chuyên đề đƣợc tập huấn là:
Các khái niệm về Phát triển con ngƣời;
Báo cáo Phát triển con ngƣời của UNDP;
Báo cáo quốc gia về Phát triển con ngƣời (NHDR);
Cơ sở thống kê của HDR;
Xây dựng các bảng biểu trong HDR;
HDI: phƣơng pháp tính toán và ví dụ minh hoạ;
Những vấn đề khác có liên quan tới HDI và HDR.
Từ 7 - 9.8.2002, SIAP đã tổ chức Hội thảo quốc tế tại Băng-cốc, mời
đại diện Thống kê các nƣớc ASEAN, trong đó có Việt Nam, để xem xét tình
hình thu thập số liệu phục vụ soạn thảo NHDR ở mỗi nƣớc.
Từ 27 - 29.10.2002, SIAP tổ chức Hội thảo quốc tế tại Tô-ki-ô, mời
Lãnh đạo cơ quan Thống kê các nƣớc khu vực ESCAP, trong đó có Việt
Nam, để xem xét những vƣớng mắc, khó khăn của từng quốc gia trong việc
soạn thảo NHDR ở nƣớc mình.
Năm 2001, Ban Khoa giáo Trung ƣơng có Chƣơng trình cấp Nhà
nƣớc KX - 05 nghiên cứu về vấn đề phát triển nguồn nhân lực nƣớc ta phục
vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc, trong đó có đề tài cấp
Nhà nƣớc KX - 05 - 05 nghiên cứu về việc tính toán HDI. Trong khuôn khổ
đề tài này, tháng 10.2002, hai đợt tập huấn nghiệp vụ và hội thảo tại Hà Nội
7
và TP. Hồ Chí Minh đƣợc tổ chức với sự tham dự của gần 350 ngƣời, gồm
cán bộ lãnh đạo tỉnh, thành phố, Cục Thống kê, nhiều chuyên gia đầu ngành
thống kê, giáo dục, y tế, tuyên huấn của các tỉnh, thành phố, kể cả một số
cán bộ cấp huyện, chứng tỏ vấn đề tính HDI, tầm quan trọng của nó trong đề
ra chính sách, đã đƣợc phổ cập khá rộng rãi trên phạm vi toàn quốc.
3- MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG HDI
Với sự giúp đỡ về mặt kỹ thuật, chuyên môn cũng nhƣ về mặt tài
chính của UNDP, Việt Nam cũng đã xây dựng đƣợc 2 NHDR: năm 1998 với
chủ đề "Mở rộng lựa chọn cho ngƣời nghèo nông thôn", đây có thể coi là sự
thử nghiệm do các chuyên gia UNDP tại Hà Nội thực hiện, nhằm làm cơ sở
cho xây dựng NHDR quy mô đầy đủ hơn. NHDR năm 2001 với chủ đề "Đổi
mới và sự nghiệp Phát triển con ngƣời" là công trình Báo cáo quốc gia về
phát triển con ngƣời đầu tiên của Việt Nam do chính ngƣời Việt Nam tự xây
dựng, đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ viết lời tựa, có tiếng vang lớn và đƣợc các
nhà chuyên môn trên thế giới đánh giá cao, đƣợc UNDP trao giải thƣởng.
Trong khuôn khổ đề tài cấp Nhà nƣớc KX - 05 - 05 nghiên cứu về
việc tính toán HDI, đã có ba ấn phẩm đƣợc công bố [1. PGS. TS. Đặng Quốc
Bảo, TS. Trƣơng Thị Thuý Hằng (Đồng chủ biên): "Chỉ số phát triển kinh tế
trong HDI – Cách tiếp cận và một số kết quả nghiên cứu" (Sách chuyên
khảo), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2005; *** 2. PGS. TS.
Đặng Quốc Bảo, TS. Trƣơng Thị Thuý Hằng (Đồng chủ biên): "Chỉ số tuổi
thọ trong HDI – Một số vấn đề thực tiễn Việt Nam" (Sách chuyên khảo),
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2005; *** PGS. TS. Đặng Quốc
Bảo, TS. Đặng Thị Thanh Huyền (Đồng chủ biên): "Chỉ số phát triển giáo
dục trong HDI – cách tiếp cận và một số kết quả nghiên cứu" (Sách chuyên
khảo), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2005]. Thực ra đây là tập
hợp những báo cáo chuyên đề của các tác giả, những nhà nghiên cứu, nhà
quản lý và hoạt động thực tiễn tham gia nghiên cứu đề tài KX.05.05 có liên
quan tới khía cạnh kinh tế, chăm sóc sức khoẻ và giáo dục trong HDI.
8
Thành công lớn nhất của đề tài KX.05.05 là đã dấy lên phong trào
rộng khắp toàn quốc các công trình tính HDI cho địa phương tỉnh/thành
phố, thậm chí cả cấp huyện, với những báo cáo phân tích, so sánh mang
nhiều ý nghĩa thiết thực. Đó cũng là dịp để các chuyên viên địa phương
nâng cao nhận thức của mình về một vấn đề mới của thế giới áp dụng ở
nước ta, và được thực hành trong điều kiện cụ thể của các địa phương.
Tuy nhiều mặt tích cực không thể phủ nhận được, dẫu sao những ấn
phẩm trên phần lớn chỉ nêu về mặt lý thuyết, còn điều kiện áp dụng thì ít
được đề cập. Những tài liệu ấy nặng về giới thiệu khái niệm, chỉ số tổng hợp
mới, mà còn ít sự phân tích điểm yếu, điểm mạnh, chưa vạch ra hướng vận
dụng vào bối cảnh cụ thể, điều kiện số liệu cụ thể của nước ta. Ngoài ra, các
vấn đề về thống kê phục vụ Báo cáo phát triển con người, nguồn thông tin,
quy trình tính toán và đường đi của thông tin hầu như chưa được đề cập tới,
kể cả chưa hề có các phần đánh giá độ tin cậy của số liệu cũng như khả
năng đảm bảo thông tin.
Để làm rõ hơn khía cạnh lý luận và ứng dụng HDI trong hoàn cảnh
thực trạng của số liệu thống kê nƣớc ta, góp phần vào công tác chuẩn bị soạn
thảo Báo cáo Phát triển con ngƣời của Việt Nam tại TCTK, nơi mà Ban chỉ
đạo đã đƣợc thành lập, tuy rằng các hoạt động cụ thể còn chƣa đƣợc tiến
hành nhiều, Viện nghiên cứu khoa học thống kê phối hợp với Vụ Tổng hợp
và Thông tin triển khai đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu ứng dụng
phƣơng pháp tính Chỉ số phát triển con ngƣời (HDI) theo thực trạng số liệu
của Việt Nam" (chủ nhiệm: CN. Nguyễn Văn Phẩm), và đề tài đó đƣợc
Trung tâm Thông tin tƣ liệu Khoa học và Công nghệ Quốc gia - Bộ Khoa
học và Công nghệ cấp Giấy Chứng nhận số 4503/KQNC chứng nhận Đăng
ký kết quả đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ, số đăng ký Báo cáo:
2003-98-168/KQ.
9
Tiếp theo, năm 2003, Trung tâm Thông tin khoa học thống kê đã xây
dựng chuyên đề tổng luận “Các Chỉ số phát triển con ngƣời và thực tế tính
HDI ở Việt Nam" (CN. Nguyễn Thái Hà) điểm lại một số công trình nghiên
cứu trong nƣớc liên quan tới HDI, có nhận xét, kết luận và kiến nghị.
Năm 2006, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam cho ra đời ấn phẩm thứ
hai (thực ra là phần I của Báo cáo quốc gia 2006 về Phát triển con ngƣời
Việt Nam, tiếp theo Báo cáo đầu tiên năm 2001) với tên gọi "Phát triển con
ngƣời Việt Nam 1999 - 2004: Những thay đổi và xu hƣớng chủ yếu", trình
bày kỹ lƣỡng những phƣơng pháp và tính toán cũng nhƣ số liệu chi tiết về
các Chỉ số phát triển con ngƣời HDI, Chỉ số nghèo khổ tổng hợp HPI, và chỉ
số phát triển giới GDI, đồng thời tính lại kết quả cho năm 1999.
4- MỘT SỐ KẾT QUẢ VỀ PHƢƠNG PHÁP TÍNH CÁC CHỈ SỐ
4.1. PHƢƠNG PHÁP TÍNH CHỈ SỐ GIÁO DỤC (I
giáo dục
)
Công thức tính chỉ số giáo dục là:
I
giáo dục
= (2/3) I
biết chữ
+ (1/3) I
nhập học
Trong đó: I
nhập học
là chỉ số nhập học tổng hợp các cấp giáo dục;
I
biết chữ
là chỉ số biết chữ của ngƣời lớn từ 15 tuổi trở lên;
Công thức trên cho thấy trọng số của tỷ lệ ngƣời lớn biết chữ chiếm 2,
và tỷ lệ nhập học chiếm 1 trong tổng số 3 phần của chỉ số giáo dục.
X
nhập học
thực
- X
nhập học
min
I
nhập học
=
X
nhập học
max
- X
nhập học
min
10
Với:
X
nhập học
max
là mức độ tối đa của tỷ lệ nhập học tổng hợp;
X
nhập học
min
là mức độ tối thiểu của tỷ lệ nhập học tổng hợp;
X
nhập học
thực
là mức độ thực tế của tỷ lệ nhập học tổng hợp.
X
biết chữ
thực
- X
biết chữ
min
I
biết chữ
=
X
biết chữ
max
- X
biết chữ
min
Với:
I
biết chữ
là chỉ số của thành phần tỷ lệ ngƣời lớn biết chữ;
X
biết chữ
max
là mức độ tối đa tỷ lệ ngƣời lớn biết chữ (= 100);
X
biết chữ
min
là mức tối thiểu tỷ lệ ngƣời lớn biết chữ (= 0);
X
biết chữ
thực
là mức độ thực tế của tỷ lệ ngƣời lớn biết chữ.
4.2. PHƢƠNG PHÁP TÍNH CHỈ SỐ THU NHẬP (I
GDP
)
Công thức tính chỉ số thu nhập nhƣ sau:
Log(X
GDP
thực
) – Log(X
GDP
min
)
I
GDP
=
Log(X
GDP
max
) – Log(X
GDP
min
)
Với:
I
GDP
là chỉ số thu nhập;
X
GDP
max
là mức tối đa của GDP bình quân đầu ngƣời;
X
GDP
min
là mức tối thiểu của GDP bình quân đầu ngƣời;
X
GDP
thực
là mức độ thực tế của GDP bình quân đầu ngƣời;
Log
là phép toán lô-ga-rit cơ số 10.
4.3. PHƢƠNG PHÁP TÍNH CHỈ SỐ TUỔI THỌ (I
tuổi thọ
)
X
tuổi
thực
- X
tuổi
min
I
tuổi thọ
=
X
tuổi
max
- X
tuổi
min
11
Trong đó: X
tuổi
thực
- là tuổi thọ trung bình thực tế;
X
tuổi
max
- là tuổi thọ trung bình tối đa (= 85);
X
tuổi
min
- là tuổi thọ trung bình tối thiểu (= 25);
4.4. PHƢƠNG PHÁP TÍNH HDI
HDI = (I
tuổi thọ
+ I
giáo dục
+ I
GDP
) / 3
HDRO qui định giá trị biên nhƣ sau:
Chỉ tiêu thành phần
Đơn vị tính
Giá trị tối đa
Giá trị tối thiểu
Tuổi thọ chung của dân số
năm
85
25
Tuổi thọ của nữ
năm
87,5
27,5
Tuổi thọ của nam
năm
82,5
22,5
Tỷ lệ ngƣời lớn biết chữ
%
100
0
Tỷ lệ nhập học tổng hợp
%
100
0
GDP bình quân đầu ngƣời
USD-PPP
40000
100
4.5. MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ PHƢƠNG PHÁP LUẬN ĐÃ
NGHIÊN CỨU
Khi nghiên cứu đề tài KX.05.05, Ban khoa giáo Trung ƣơng đã có văn
bản khuyến nghị các tỉnh thực hiện tính toán HDI cho địa phƣơng mình. Do
vậy hầu hết các tỉnh thành phố đều xây dựng đề án, và các công trình đã
đƣợc thực hiện. Một vấn đề nảy sinh là sự thống nhất, hiểu biết phƣơng pháp
và cách thức tiến hành giữa các tỉnh, thành phố không đồng đều, có khi chƣa
tuân thủ đúng phƣơng pháp luận đề ra.
12
Trong phƣơng pháp tính HDI của tỉnh Quảng Ngãi [Tổng cục Thống
kê. Viện Khoa học Thống kê. Tổng luận “Các Chỉ số phát triển con người và
thực tế tính Chỉ số phát triển con người ở Việt Nam. Tác giả Nguyễn Thái
Hà. Trung tâm Thông tin. Hà Nội 2003. Trang 18], An Giang [Uỷ ban Nhân
dân tỉnh An Giang. Sở Khoa học và Công nghệ. Báo cáo kết quả đề tài
“Nghiên cứu, đo đạc, phân tích Chỉ số phát triển con người An Giang năm
2002”. Chủ nhiệm đề tài: Trần Thanh Tâm, P. Giám đốc Sở Khoa học và
Công nghệ An Giang. An Giang, 7 – 2004. Trang 47] khi tính chỉ số giáo
dục, các nhà nghiên cứu của tỉnh đã sử dụng tỷ lệ đi học là tỷ lệ giữa số học
sinh phổ thông cấp I, cấp II, cấp III chia cho dân số lứa tuổi từ 6 - 17. Điều
này trái với phƣơng pháp luận chính thống của Liên hợp quốc đề ra: tỷ lệ đi
học là tỷ số giữa số học sinh phổ thông các cấp và cao đẳng, đại học (kể cả
các loại hình giáo dục khác tƣơng đƣơng) chia cho dân số lứa tuổi từ 6 - 24.
Đối với công trình nghiên cứu của Sở Khoa học – Công nghệ Hải
Dƣơng [Uỷ ban Nhân dân tỉnh Hải Dương. Sở Khoa học và Công nghệ. Báo
cáo kết quả nghiên cứu đề tài “Điều tra Chỉ số phát triển con người tỉnh Hải
Dương (HDI) góp phần cùng nghiên cứu với Chương trỡnh Nhà nước về
Chỉ số phát triển con người Việt Nam được công bố vào năm 2004”. Chủ
nhiệm đề tài: TS. Hà Bạch Đằng, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ. Hải
Dương 3 – 2005. Trang 12], vấn đề lại khác. Trong tính toán chỉ số giáo dục,
tỷ lệ ngƣời lớn biết chữ lại không theo chuẩn mực phƣơng pháp luận nói
chung ở Việt Nam và của thế giới. Theo định nghĩa, tỷ lệ ngƣời lớn biết chữ
là tỷ số giữa số dân từ 15 tuổi trở lên (đƣợc gọi là ngƣời lớn) biết đọc, biết
viết và hiểu đƣợc các câu thông dụng trên sách báo, chia cho tổng số dân
cũng từ 15 tuổi trở lên. Nhƣng khi tính HDI của Hải Dƣơng, các nhà nghiên
cứu địa phƣơng lại sử dụng và tính toán tỷ lệ này bằng cách lấy dân số biết
chữ trong độ tuổi 15 – 55 chia cho tổng số dân độ tuổi tƣơng ứng (15 – 55).
Về mặt phƣơng pháp luận, đã có tƣ tƣởng đề xuất cải tiến lại phƣơng
pháp tính HDI bằng cách, ngoài 3 chỉ số thành phần là các chỉ số tuổi thọ,
GDP bình quân đầu ngƣời và giáo dục, một số nhà nghiên cứu muốn bổ
13
sung thêm một thành phần nữa là chỉ số an toàn xã hội [Tổng cục Thống kê.
Viện Khoa học Thống kê. Tổng luận “Các Chỉ số phát triển con người và
thực tế tính Chỉ số phát triển con người ở Việt Nam. Tác giả Nguyễn Thái
Hà. Trung tâm Thông tin. Hà Nội 2003. Trang 19]. Tƣ tƣởng này đƣợc hình
thành trên cơ sở ý kiến cho rằng liệu chỉ 3 chỉ số thành phần đã nêu có thể
hiện hết cho mức độ phát triển con ngƣời hay không. Nếu học vấn cao, sức
khoẻ dồi dào, mức sống đầy đủ, sung túc là những nội dung thúc đẩy phát
triển, nhƣng còn tội phạm và tệ nạn xã hội thì sao. Tội phạm và tệ nạn xã hội
là những yếu tố kìm hãm sự phát triển. HDI hiện hành chỉ thể hiện khía cạnh
tích cực chứ chƣa đề cập đến khía cạnh tiêu cực. Thực tế nƣớc ta cho thấy
một số tỉnh, thành phố có HDI cao thì lại chính là những địa phƣơng có
nhiều tội phạm, tệ nạn và các hiện tƣợng tiêu cực xã hội khác.
Xuất phát từ tử tƣởng này, trong quá trình nghiên cứu đề tài
KX.05.05, một số học giả đề nghị đƣa thêm thành phần "sự lành mạnh xã
hội", hay còn gọi là "sự an toàn xã hội" (xét theo góc độ tội phạm và tệ nạn
xã hội) vào HDI, và khi đó HDI sẽ gồm 4 chỉ số thành phần, với trọng số của
mỗi thành phần ngang nhau bằng 1/4:
HDI* = [(1/4)I
1
+ (1/4)I
2
+ (1/4)I
3
+ (1/4)I
4
]
Trong đó: HDI* - Chỉ số phát triển con ngƣời gồm 4 thành phần;
I
1
- Chỉ số tuổi thọ;
I
2
- Chỉ số mức sống;
I
3
- Chỉ số giáo dục;
I
4
- Chỉ số an toàn xã hội.
Việc xác định I
1
, I
2
, I
3
giống nhƣ trong HDI hiện hành. Để tính chỉ số
I
4
cần phải tính tỷ lệ số ngƣời phạm pháp, mắc các tệ nạn, tiêu cực xã hội
(các tỷ lệ này đều tính trên 100.000 dân). Số liệu thống kê về tội phạm và tệ
14
nạn xã hội có thể gồm các loại số liệu sau: Số tội phạm các loại; Số gái mại
dâm; Số ngƣời nghiện ma tuý; Số ngƣời nhiếm HIV; …
Thực tế cho thấy nhiều số liệu tội phạm và tệ nạn, tiêu cực xã hội
chƣa thể thống kê đƣợc, do vậy, theo các tác giả đề xuất thì có thể chọn loại
tệ nạn phổ biến nhất mà đã thống kê đƣợc (cụ thể tệ nạn nghiện hút ma tuý).
Theo tác giả đề xuất, trƣớc hết xác định Chỉ số nghiện hút ma tuý:
I
matuý
= (X
thực
- X
min
) / (X
max
- X
min
)
Với:
I
matuý
- chỉ số nghiện hút ma tuý;
X
thực
- số ngƣời thực tế nghiện ma tuý trên 100.000 dân;
X
max
- số ngƣời tối đa nghiện ma tuý trên 100.000 dân (X
max
= 2.000);
X
min
- số ngƣời tối thiểu nghiện ma tuý trên 100.000 dân (X
min
= 0);
Tiếp theo, xác định Chỉ số an toàn xã hội:
I
ATXH
= 1 - I
matuý
(= I
4
)
Trong đó I
ATXH
là chỉ số an toàn xã hội, tức I
4
trong công thức HDI*.
Nhƣ vậy, theo quan điểm nêu trên của tác giả thì khi cả xã hội không
có ai bị nghiện hút thì I
matuý
= 0 và dẫn đến I
ATXH
= I
4
= 1; khi xã hội có số
ngƣời nghiện hút nhiều nhất, tức I
matuý
= (2000/100000) = 2%, thì I
ATXH
= I
4
= 1 - 0,02 = 0,98, tức là 98%.
15
Tƣ tƣởng đề xuất một chỉ tiêu HDI* về việc đƣa thêm yếu tố an toàn
xã hội vào HDI là tích cực, muốn thâu tóm thêm một số khía cạnh có ý
nghĩa trong phát triển con ngƣời và tính toán HDI. Song có những nguyên
nhân mà tƣ tƣởng này chƣa đƣợc áp dụng:
Thứ nhất, nếu ta tính theo công thức mới HDI*, mà thế giới lại không
tính, kết quả HDI* sẽ khó có khả năng trở thành hữu hiệu trong phân tích và
so sánh quốc tế.
Thứ hai, phƣơng pháp này còn có những vấn đề phải nghiên cứu làm
rõ thêm, ví dụ khi tính chỉ số phản ánh mức an toàn xã hội, các tác giả mới
chỉ chọn 1 thành tố là tỷ lệ số ngƣời nghiện ma tuý, biện lý do là thống kê có
sẵn để bỏ qua các thành tố khác nhƣ tội phạm, mại dâm, …. Nhƣng chƣa
chứng minh đƣợc thành tố số ngƣời nghiện ma tuý đủ đại diện cho lĩnh vực
an toàn xã hội. Vả lại, giả sử rằng ta còn thống kê đƣợc cả số ngƣời mại
dâm, số vụ phạm tội, thì khi đó sẽ tính toán chỉ số phản ánh an toàn xã hội ra
sao, có giống nhƣ khi xác định chỉ số giáo dục với 2 thành tố là tỷ lệ nhập
học ác cấp giáo dục và tỷ lệ ngƣời lớn biết chữ hay không, …
Thứ ba, con số 2.000 ngƣời mắc nghiện là con số cực đại tính trên
100.000 dân chƣa đảm bảo độ tin cậy có tính khoa học, mà chỉ dựa vào cảm
tính khi quan sát đƣợc trong những năm vừa qua ở nƣớc ta thấy đó là con số
lớn nhất. Cần phải có các nghiên cứu có tính chất khoa học chắc chắn để
khẳng định con số cực đại này.
Công trình "Phát triển con ngƣời Việt Nam 1999 – 2004” của Viện
Khoa học xã hội Việt Nam với sự tài trợ kỹ thuật và tài chính của UNDP do
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 2006 đã sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ
dân số từ 10 tuổi trở lên biết chữ để thay thế cho tỷ lệ ngƣời lớn từ 15 tuổi
trở lên biết chữ. Sự khác biệt này dẫn tới HDI của Việt Nam năm 2004 tăng
lên tới 0,731 (so với 0,691 nếu tính đúng theo chuẩn Liên hợp quốc là sử
16
dụng tỷ lệ ngƣời lớn từ 15 tuổi trở lên biết chữ) và hoàn toàn không đảm bảo
tính so sánh quốc tế nhƣ Luật thống kê đã quy định.
5- SO SÁNH QUỐC TẾ
5.1. VỀ PHƢƠNG PHÁP LUẬN
Xuất phát từ ý nghĩa và công dụng thực tế của HDI, theo khuyến nghị
của UNDP, ngoài chỉ số HDI và các chỉ số đồng hành do UNDP tính cho tất
cả các quốc gia và châu lục, nhóm nƣớc, khối nƣớc, hầu hết các quốc gia
trên thế giới đều tự tính toán HDI và soạn thảo Báo cáo phát triển con ngƣời
cho mình và các lãnh thổ trực thuộc nhƣ tỉnh, huyện,
Không hy vọng so sánh hết hoạt động này với tất cả các quốc gia trên
thế giới, ở đây chỉ lấy ví dụ một vài nƣớc, nhƣ In-đô-nê-xi-a và Pa-pua Niu
Ghi-nê để thấy sự đa dạng và phong phú trong phƣơng pháp luận của họ khi
vận dụng phƣơng pháp luận chuẩn của UNDP.
Báo cáo phát triển con ngƣời In-đô-nê-xi-a năm 2001 đã tính, xếp
hạng HDI, HPI, GDI, GEM cho toàn bộ 26 tỉnh và 295 quận, huyện của
quốc đảo này, và tính toán đƣợc thực hiện trên cơ sở số liệu 2 năm 1996 và
1999 để thấy động thái cũng nhƣ thay đổi thứ hạng của từng địa phƣơng qua
các năm.
Một số đặc điểm đang lƣu ý là: do không có GDP theo sức mua tƣơng
đƣơng đến tất cả các quận huyện, các học giả In-đô-nê-xi-a sử dụng tiêu
dùng thực tế bình quân đầu ngƣời đã điều chỉnh để tính, và theo nội tệ
(Rupiah); khi tính chỉ số giáo dục, ngoài tỷ lệ ngƣời lớn biết chữ, ngƣời ta
không dùng tỷ lệ nhập học tổng hợp, mà lại dùng số năm đi học bình quân,
giống nhƣ phƣơng pháp luận cũ mà UNDP đã thực hiện trƣớc năm 1995.
17
Báo cáo phát triển con ngƣời Pa-pua Niu Ghi-nê năm 1998 đã tính,
xếp hạng HDI, GDI, GEM, HPI (với tên gọi Chỉ số bần cùng con ngƣời -
Human Deprivation Index) cho toàn bộ 25 tỉnh, và việc tính toán đƣợc thực
hiện trên cơ sở số liệu năm 1996. Khi tính chỉ số thu nhập, các nhà chuyên
môn Pa-pua Niu Ghi-nê không sử dụng GDP đầu ngƣời, mà dùng chỉ tiêu
Thu nhập thực tế trong nƣớc theo yếu tố bình quân đầu ngƣời, tính theo nội
tệ (Kina).
5.2. SO SÁNH KẾT QUẢ TÍNH TOÁN CỦA VIỆT NAM VỚI MỘT
SỐ NƢỚC KHU VỰC VÀ THẾ GIỚI
Không hy vọng so sánh kết quả tính toán của nƣớc ta với tất cả các
quốc gia và lãnh thổ trên thế giới, ở đây việc so sánh chỉ đƣợc tiến hành giữa
Việt nam với một số nƣớc Đông Nam Á (ASEAN) và khu vực lân cận, thêm
3 nƣớc đứng đầu và đứng cuối thế giới về xếp hạng HDI.
HDI của từng quốc gia đƣợc UNDP tính hàng năm và công bố trong
Báo cáo phát triển con ngƣời toàn cầu với mỗi năm một chủ đề. Trong Báo
cáo Phát triển con ngƣời 2004 với chủ đề “Tự do văn hoá trong một thế giới
đa dạng ngày nay” trên cơ sở tính theo số liệu của các quốc gia năm 2002.
Theo đó, HDI của nƣớc ta đạt 0,691, kết quả của bình quân giản đơn ba
thành phần là Chỉ số tuổi thọ (0,733); Chỉ số giáo dục (0,815); Chỉ số thu
nhập (0,523), đứng thứ 112 về HDI và thứ 114 về thu nhập bình quân đầu
ngƣời trên tổng số 177 nƣớc.
Để tính toán ra kết quả này, UNDP đã sử dụng các số liệu thống kê về
Tỷ lệ ngƣời lớn biết chữ theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm
1999 (90,2%), tỷ lệ đi học các cấp giáo dục (64%) và tuổi thọ bình quân tại
lúc sinh (69,0) lấy từ nguồn ƣớc tính của Tổ chức Văn hoá Giáo dục Liên
hợp Quốc (UNESCO), GDP thực tế bình quân đầu ngƣời theo sức mua
tƣơng đƣơng đô-la Mỹ (2.300 USD/ngƣời) lấy từ Ngân hàng thế giới.
18
Có thể thấy kết quả chung về HDI của một số quốc gia hàng đầu, hàng
cuối và một số nƣớc cùng khu vực cũng nhƣ lân cận đối với nƣớc ta đƣợc
UNDP công bố trong Báo cáo phát triển con ngƣời toàn cầu 2004:
Xếp
hạng
HDI
Quốc gia, lãnh thổ
Tuổi thọ
bình
quân
(năm)
Tỷ lệ
ngƣời
lớn biết
chữ (%)
Tỷ lệ đi
học các
cấp (%)
GDP đầu
ngƣời
(USD-
PPP)
Chỉ số
tuổi thọ
Chỉ số
giáo
dục
Chỉ số
thu
nhập
HDI
Xếp
hạng
GDP
1
Na-uy
78,9
99,0
98,0
36.600
0,90
0,99
0,99
0,956
2
2
Thuỵ Điển
80,0
99,0
114,0
26.050
0,92
0,99
0,93
0,946
21
3
Ô-xtrây-li-a
79,1
99,0
113,0
28.260
0,90
0,99
0,94
0,946
12
25
Xinh-ga-po
78,0
92,5
87,0
24.040
0,88
0,95
0,87
0,902
30
33
Bru-nei
76,2
93,9
73,0
19.210
0,85
0,87
0,88
0,867
28
59
Ma-lai-xi-a
73,0
88,7
70,0
9.120
0,80
0,83
0,75
0,793
57
76
Thái Lan
69,1
92,6
73,0
7.010
0,74
0,86
0,71
0,768
67
83
Phi-lip-pin
69,8
92,6
81,0
4.170
0,75
0,89
0,62
0,753
105
94
Trung Quốc
70,9
90,9
68,0
4.580
0,76
0,83
0,64
0,745
99
111
In-đô-nê-xi-a
66,6
87,9
65,0
3.230
0,69
0,80
0,58
0,692
113
112
Việt Nam
69,0
90,3
64,0
2.300
0,73
0,82
0,52
0,691
114
127
Ấn Độ
63,7
61,3
55,0
2.670
0,64
0,59
0,55
0,595
117
130
Cam-pu-chia
57,4
69,4
59,0
2.060
0,54
0,66
0,50
0,568
131
132
Mi-an-ma
57,2
85,3
48,0
1.027
0,54
0,73
0,39
0,551
158
135
Lào
54,3
66,4
59,0
1.720
0,49
0,64
0,47
0,534
137
175
Buôc-ki-na Pha-sô
45,8
12,8
22,0
1.100
0,35
0,16
0,40
0,302
155
176
Ni-giê
46,0
17,1
19,0
800
0,35
0,18
0,35
0,292
168
177
Xiê-ra Lê-ôn
34,3
36,0
45,0
520
0,16
0,39
0,28
0,273
176
Theo xếp hạng GDP đầu ngƣời thì nƣớc ta đứng thứ 114 (năm trƣớc
đứng thứ 130), và đã vƣợt lên trên thứ bậc 117 của Ấn-độ (năm trƣớc xếp
thứ 115), có thể nói đây là một bƣớc lớn trên con đƣờng phát triển kinh tế
của nƣớc ta.
Xét theo năm Báo cáo, HDI nƣớc ta tăng lên vững chắc và liên tục:
Năm
1985
1990
1995
1999
2001
2002
2003
2004
2005
HDI
0,582
0,603
0,649
0,664
0,682
0,686
0,688
0,691
0,704
Xếp hạng
120
110
101
109
112
112
108
Số nƣớc
174
174
162
173
175
177
177
19
Kết quả đó thực ra vẫn chƣa phản ánh đúng thực chất mà chúng ta đạt
đƣợc. Theo số liệu thống kê đƣợc công bố trong “Những kết quả chủ yếu
của cuộc điều tra biến động dân số và kế hoach hoá gia đình 1/4/2002) thì
tuổi thọ bình quân tại lúc sinh của nƣớc ta là 71,3. Dựa vào phƣơng pháp của
UNDP tính lại, thì đúng ra Chỉ số tuổi thọ của Việt Nam phải là 0,772, cao
hơn nhiều so với con số do UNDP tính. Và Tỷ lệ ngƣời lớn biết chữ năm
2002 của nƣớc ta đã cao hơn chứ không phải con số từ TĐTDS năm 1999.
Ngay trong Báo cáo Phát triển con ngƣời toàn cầu 2003 (trên cơ sở số liệu
năm 2001) cũng đã sử dụng tỷ lệ ngƣời lớn biết chữ của Việt Nam là 92,7%.
Nếu cứ dùng con số này thì Chỉ số tri thức của nƣớc ta phải là 0,831. Nhƣ
vậy HDI của nƣớc ta thực chất là 0,709, xếp hạng 107 trên 177 nƣớc (tƣơng
đƣơng với U-dơ-bê-ki-xtan, sát ngay sau Xi-ri và đứng ngay trƣớc An-giê-ri,
tức là Việt Nam đứng trên 70 nƣớc, một sự tiến bộ rất đáng tự hào).
Theo mục tiêu Chiến lƣợc phát triển dân số Việt Nam 2001 – 2010
phấn đấu đƣa HDI nƣớc ta lên mức 0,700 - 0,750 vào năm 2010, thì từ năm
2003, mục tiêu này đã bắt đầu bƣớc vào ngƣỡng cửa hoàn thành.
Theo các nhà chuyên môn đánh giá, muốn tăng HDI lên thêm 0,010,
thì thƣờng phải tăng GDP bình quân đầu ngƣời lên 18%, tăng tuổi thọ trung
bình lên thêm 1,8 năm và tăng tỷ lệ đi học các cấp lên thêm 3%. Qua đó có
thể nhận thấy rằng càng phát triển lên mức cao hơn, thì càng gặp khó khăn
hơn trong việc nâng cao thêm Chỉ số phát triển con ngƣời.
20
PHẦN III: MỘT SỐ KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1- KẾT LUẬN:
Sau khi công trình đầu tiên của UNDP ra đời năm 1990 thì tại nƣớc ta
đã xuất hiện ngay một số tài liệu viết về phát triển con ngƣời và chỉ số HDI,
chứng tỏ sự nhanh nhậy của các nhà nghiên cứu và khoa học Việt Nam, và
chứng tỏ HDI đã lan toả tới chúng ta, khi mà đất nƣớc đi theo con đƣờng
Đổi mới do Đảng vạch ra và lãnh đạo, mở cửa nền kinh tế, chủ động hội
nhập quốc tế, xây dựng nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa.
HDI có nhiều công dụng thiết thực, và có ý nghĩa quan trọng trong bối
cảnh hiện đại. Với tính cấp thiết ấy, hiện nay nhiều tỉnh, thành phố đã bắt
đầu tính toán HDI cho mình. Nhƣng việc tính toán ấy chủ yếu có tính thử
nghiệm, không thƣờng xuyên về thời gian, không đồng đều và thiếu nhất
quán, thiếu thống nhất giữa các địa phƣơng, có thể nói là còn mang tính tự
phát. Các kết quả thu đƣợc khó có thể so sánh với nhau, lý do là thiếu nguồn
số liệu thích hợp và thiếu phƣơng pháp gián tiếp để ƣớc lƣợng số liệu cần
thiết, kiến thức về HDI chƣa thống nhất.
Tất cả các công trình nghiên cứu HDI trong nƣớc đều đã khẳng định
mục tiêu phát triển con ngƣời của Liên hợp quốc không mâu thuẫn với
đƣờng lối phát triển, chính sách Đổi mới của dân tộc ta do Đảng Cộng sản
Việt Nam khởi xƣớng và lãnh đạo, phù hợp với phƣơng châm dân giàu,
nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Hầu hết các khuyến nghị của các công trình nghiên cứu đều tập trung
xoay quanh đề nghị Nhà nƣớc (trung ƣơng và địa phƣơng) hàng năm công
bố Báo cáo quốc gia về phát triển con ngƣời Việt Nam, trƣớc mắt cần công
bố chỉ số HDI trên các ấn phẩm hoặc phƣơng tiện thông tin đại chúng.
21
Nhiều cán bộ địa phƣơng thông qua các đợt nghiên cứu, tập huấn, đã
nâng cao thêm đƣợc nhiều kiến thức cơ bản về một lĩnh vực mới của thế giới
áp dụng vào hoàn cảnh cụ thể của nƣớc ta, và đã đủ năng lực để có thể tiếp
cận, sẵn sàng tính toán thƣờng xuyên chỉ số này.
Cơ quan trung ƣơng mới chỉ tính đƣợc HDI, HPI, GDI theo số liệu
năm 1999 của toàn quốc, tất cả các tỉnh, thành phố trong Báo cáo phát triển
con ngƣời Việt Nam năm 2001, song chƣa tính đƣợc cho các năm khác, và
các chỉ số đồng hành khác, và công việc chƣa có tính thƣờng xuyên, định kỳ.
Hiện nay HDI đã chính thức đƣợc Chính phủ phê chuẩn là một trong
những chỉ tiêu trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia do TCTK tính toán
và công bố. Nhƣng thực tế vẫn chƣa đƣợc thực hiện.
Về phƣơng pháp luận, bản thân phƣơng pháp tính toán HDI cũng luôn
đƣợc UNDP và HDRO hoàn thiện, bổ sung cho phù hợp với hoàn cảnh mới
và thực chất của nguồn số liệu, đáp ứng tốt hơn các yêu cầu và thực tiễn
cuộc sống (ví dụ sự thay đổi trong phƣơng pháp tính chỉ số giáo dục, chỉ số
thu nhập; bổ sung thêm các chỉ số GDI, HPI, GEM, TAI).
2- KIẾN NGHỊ:
Do công dụng thiết thực và tầm quan trọng của HDI trên nhiều
phƣơng diện, HDI cần phải đƣợc tính toán thƣờng xuyên ở cấp quốc gia, cấp
vùng lãnh thổ, cấp tỉnh, thành phố và thậm chí có thể cấp thấp hơn nữa.
Do cơ sở số liệu thống kê hiện nay ở cấp quốc gia, nhất là cấp địa
phƣơng, còn chƣa có đủ để tính toán HDI, trong khi thống kê trực tiếp phục
vụ việc tính toán HDI và các chỉ số thành phần của HDI ở các cấp còn thiếu
22
nhiều, còn khác biệt về phạm vi, quan niệm, nên cần tăng cƣờng nghiên cứu
các phƣơng pháp gián tiếp để có đủ số liệu cho tính toán HDI các cấp.
Cần có hƣớng dẫn chính thức từ cơ quan trung ƣơng có trách nhiệm
trong việc tính toán chỉ số HDI cho các địa phƣơng, kể cả về phƣơng diện
phƣơng pháp luận và chất lƣợng, phạm vi, để thống nhất số liệu và phƣơng
pháp tính HDI cũng nhƣ các chỉ số thành phần của HDI ở các tỉnh, thành
phố, các địa phƣơng, mới đảm bảo có tác dụng đối chiếu, so sánh.
Nhà nƣớc cần chính thức thành lập một cơ quan đảm trách xây dựng
Báo cáo quốc gia về phát triển con ngƣời (có thể trực thuộc TCTK).
Trong khi chƣa có cơ quan đảm trách xây dựng Báo cáo quốc gia về
phát triển con ngƣời, thì TCTK là cơ quan công bố số liệu chính thức của
nƣớc ta, cần tính toán và đƣa các số liệu về HDI vào Niên giám thống kê
hàng năm.
Cần đƣa vấn đề phát triển con ngƣời và tính HDI, cũng nhƣ các chỉ số
đồng hành khác nhƣ GDI, GEM, HPI, TAI vào các giáo trình đại học với
nội dung đầy đủ và sâu sắc hơn.
Khi sử dụng kết quả các công trình tính toán của UNDP về các chỉ số
liên quan đến phát triển con ngƣời, cần lƣu ý tới độ chính xác của số liệu,
nhất là đối với những trƣờng hợp số liệu mà UNDP sử dụng không thống
nhất với số liệu thống kê chính thức mà ngành Thống kê nƣớc ta đã công bố.
- Hà Nội, tháng 6 năm 2008 -
23
PHỤ LỤC
TÓM TẮT TÀI LIỆU CÓ NỘI DUNG ĐƢA VÀO
TỔNG LUẬN
1. Cơ quan Báo cáo phát triển con ngƣời Liên hợp quốc. Chỉ tiêu và Chỉ
số Phát triển con ngƣời. Nguyễn Quán tuyển chọn và giới thiệu. Nhà
xuất bản Thống kê. Hà Nội-1-1995.
Đây là công trình đầu tiên ở nƣớc ta dƣới dạng sƣu tập và tuyển chọn trong
một cuốn sách liên quan tới vấn đề phát triển con ngƣời, gắn với quan điểm
phát triển của Đảng và Nhà nƣớc ta, là nguồn thông tin gợi ra những công
trình nghiên cứu sâu hơn về sau đối với HDI.
Mục đích: giới thiệu cho các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách và đông
đảo ngƣời quan tâm về quá trình hình thành Báo cáo phát triển con ngƣời và
cách tính HDI của Liên hợp quốc, ý nghĩa và tầm quan trọng của HDI.
Nội dung và kết quả: trình bày rõ nét khái quát về phát triển con ngƣời trên
thế giới, tính nhân văn của khái niệm, thực trạng của thế giới trên lăng kính
phát triển con ngƣời; giới thiệu các chỉ tiêu liên quan tới phát triển con
ngƣời và vấn đề phân tích chúng; giải thích sơ lƣợc nội dung, phƣơng pháp
tính một số chỉ tiêu thống kê và tiêu chí phân nhóm các quốc gia; đặc biệt
công trình đã giới thiệu các thống kê của từng quốc gia trên thế giới liên
quan đến phát triển con ngƣời, xếp hạng các quốc gia theo HDI và có phân
tích, so sánh.
2. PGS. TS. Đặng Quốc Bảo, TS. Trƣơng Thị Thuý Hằng (Đồng chủ
biên). Chỉ số phát triển kinh tế trong HDI – Cách tiếp cận và một số kết
quả nghiên cứu (Sách chuyên khảo). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.
Hà Nội – 2005.
Cuốn sách này đƣợc hình thành trên cơ sở tƣ liệu và kết quả nghiên cứu của
đề tài KX.05.05 "Nghiên cứu, phân tích các chỉ số phát triển con ngƣời
24
(HDI) của ngƣời Việt Nam giai đoạn 2001 – 2005” (thuộc chƣơng trình
khoa học công nghệ cấp nhà nƣớc giai đoạn 2001 – 2005: “Phát triển Văn
hoá, Con ngƣời và nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá”) với sự cộng tác của một số nhà nghiên cứu, chuyên gia, nhà quản lý và
hoạt động thực tiễn.
Đây là tập hợp những báo cáo chuyên đề của các tác giả tham gia nghiên
cứu đề tài KX.05.05 liên quan tới khía cạnh kinh tế trong HDI, với các vấn
đề:
- Chặng đƣờng phát triển tƣ duy về con ngƣời và phát triển kinh tế – xã hội
từ chỉ số tăng trƣởng GDP đến chỉ số HDI, với quan điểm ngày nay thuần
tuý tăng trƣởng kinh tế không còn là thƣớc đo duy nhất của phát triển xã hội,
mà phải là HDI. (PGS.TS. Đặng Quốc Bảo; TS. Trương Thị Thuý Hằng);
- Vai trò của nhân tố kinh tế trong phát triển con ngƣời và HDI (TS. Trương
Thị Thuý Hằng);
- GDP và sử dụng GDP trong tính toán HDI, tƣơng quan giữa phát triển kinh
tế và phát triển con ngƣời ở 61 tỉnh, thành phố của nƣớc ta (TS. Trương Thị
Thuý Hằng);
- Các phƣơng pháp tính chuyển GDP từ nội tệ sang đô la Mỹ, trong đó nhấn
mạnh phƣơng pháp tính GDP theo sức mua tƣơng đƣơng (PPP) trên thế giới
và ở Việt nam (CN. Nguyễn Văn Phẩm);
- Tính toán Tổng sản phẩm vùng (GRP – Gross Regional Product), một vấn
đề còn đang có nhiều bàn cãi ở nƣớc ta (TS. Nguyễn Văn Chỉnh);
- Tính toán GDP cấp địa phƣơng (CN. Nguyễn Văn Phẩm);
- Một phƣơng pháp tính gián tiếp GDP của Quận, Huyện dựa vào thu nhập
của dân cƣ (TS. Đỗ Thịnh);
- Kinh nghiệm thực tiễn tính toán GDP ở một số địa phƣơng nƣớc ta và thế
giới của các nhà nghiên cứu ở địa phƣơng với Phụ lục chỉ số kinh tế của các
tỉnh, thành phố.
3. PGS. TS. Đặng Quốc Bảo, TS. Trƣơng Thị Thuý Hằng (Đồng chủ
biên). Chỉ số tuổi thọ trong HDI – Một số vấn đề thực tiễn Việt Nam
(Sách chuyên khảo). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Hà Nội – 2005.
Cuốn sách này chọn lọc và giới thiệu một số kết quả thuộc các chuyên đề
nghiên cứu và tính toán chỉ tiêu tuổi thọ trung bình liên quan tới HDI ở cấp
toàn quốc, tỉnh, thành phố và cấp huyện, quận ở nƣớc ta cũng nhƣ kinh
nghiệm của một số nƣớc trên thế giới liên quan tới khía cạnh tuổi thọ trong
25
HDI với mục đích góp thêm tƣ liệu làm sáng tỏ hơn phƣơng pháp luận và kỹ
thuật tính toán HDI trong hoàn cảnh đặc thù Việt Nam, phục vụ công cuộc
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc, phục vụ yêu cầu chủ động hội nhập
kinh tế quốc tế của nƣớc ta. Tài liệu này đƣợc biên soạn trong quá trình thực
hiện đề tài KX.05.05 "Nghiên cứu, phân tích các chỉ số phát triển con ngƣời
(HDI) của ngƣời Việt Nam giai đoạn 2001 – 2005” (thuộc chƣơng trình
khoa học công nghệ cấp nhà nƣớc giai đoạn 2001 – 2005: “Phát triển Văn
hoá, Con ngƣời và nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá”) với sự cộng tác của một số nhà nghiên cứu, chuyên gia, nhà quản lý và
hoạt động thực tiễn. Kết quả cụ thể trình bày trong tài liệu này bao gồm ba
phần:
Những vấn đề lý luận chung:
- Tổng quan về chỉ số tuổi thọ là chuyên đề nghiên cứu ý nghĩa và cách tính
chỉ số tuổi thọ trong Báo cáo phát triển con ngƣời, đặc biệt là đi sâu vào một
số phƣơng pháp xác định tuổi hy vọng sống trung bình tại lúc sinh, và đã đề
xuất cách tính chỉ số tuổi thọ trong hoàn cảnh Việt Nam. (PGS.TS. Đặng
Quốc Bảo; TS. Trương Thị Thuý Hằng);
- Phƣơng pháp xây dựng bảng sống và tính tuổi thọ trung bình của dân số
đƣợc sử dụng ở Liên hợp quốc và các nƣớc là chuyên đề đề cập tới lý thuyết
chung và quá trình xây dựng bảng sống cụ thể ở Việt Nam, nhấn mạnh tới
việc tính toán tuổi thọ trung bình cho các tỉnh và thành phố - một vấn đề rất
quan trọng cho việc tính toán HDI ở cấp tỉnh và các địa phƣơng (TS. Đoàn
Minh Lộc; CN. Nguyễn Văn Phái);
- Phƣơng pháp gián tiếp tính tuổi sống dân số – một chuyên đề rất bức thiết
trong bối cảnh các địa phƣơng chƣa thể lập đƣợc bảng sống hàng năm để
xác định tuổi hy vọng sống bình quân tại lúc sinh, do đó phải sử dụng các
phƣơng pháp gián tiếp. Có 2 phƣơng pháp đƣợc đề xuất:
a. Phƣơng pháp đề cập đến việc xác định tuổi hy vọng sống tại lúc sinh
thông qua phƣơng trình hồi quy đơn theo tuổi trung vị, và đã dẫn chứng kết
quả minh hoạ cho 61 tỉnh, thành phố ở nƣớc ta (TS. Đỗ Thịnh);
b. Phƣơng pháp tính tuổi thọ trung bình theo phƣơng trình hồi quy bội với 2
yếu tố là Tỷ lệ trẻ em chết dƣới 1 tuổi (IMR – Infant Mortality Rate) và Tỷ
lệ dân số 65 tuổi trở lên, với minh hoạ kết quả đƣợc so sánh, đối chiếu với số
liệu đã công bố chính thức (PGS.TS. Nguyễn Đình Cử);
Kinh nghiệm thực tiễn đo đạc chỉ số tuổi thọ của một số địa phƣơng
Việt Nam và một số nƣớc trên thế giới: đã trình bày tƣơng quan giữa