Tải bản đầy đủ (.doc) (33 trang)

những giải pháp nhằm khắc phục những vấn đề của công tác sau cổ phần hoá

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (281.51 KB, 33 trang )

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
Đất nước ta hiện nay đang thực hiện công cuộc đổi mới mà Đảng và Nhà nước
đã đề ra từ Đại hội Đảng lần thứ VI(1986). Trong công cuộc đổi mới này, vấn đề
phát triển một nền Kinh tế thị trường với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế
theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong đó kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo
là một mục tiêu hết sức quan trọng. Thực tế cho thấy, qua gần 16 năm phát triển
kinh tế theo đường lối này, nền kinh tế thị trường nước ta đã bước đầu thu được
nhiều thành tựu rất đáng khích lệ. Tuy nhiên, nền kinh tế của chúng ta vẫn còn là
một nền kinh tế thị trường ở dạng sơ khai và trước mắt còn phải đối mặt với rất
nhiều khó khăn và thử thách.
Một trong những khó khăn, bất ổn mà chúng ta cần phải nói tới đó là sự yếu
kém của khu vực kinh tế Nhà nước nói chung mà nói riêng là là hệ thống các
doanh nghiệp Nhà nước(DNNN). Có thể nói trong điều kiện cơ chế quản lý thay
đổi, khi hiệu quả sản xuất kinh doanh trở thành yếu tố sống còn của mỗi doanh
nghiệp thì các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế Nhà nước đã thực sự bộc lộ
những yếu kém của mình như: công nghệ lạc hậu, tài sản manh mún, cơ chế quản
lý cứng nhắc, trình độ quản lý thấp kém, tinh thần người lao động sa sút Nói
chung phần lớn các doanh nghiệp Nhà nước đều lâm vào tình trạng khủng hoảng,
trì trệ, làm ăn cầm chừng.
Nhận thức được điều đó, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã có
nhiều biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Khu vực kinh tế Nhà nước
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
như cổ phần hoá một bộ phận DNNN, sắp xếp lại các DNNN, giải thề các doanh
nghiệp làm ăn không hiệu quả trong đó cổ phần hoá được coi là giải pháp hàng
đầu, có khả năng mang lại lợi ích hài hoà cho Nhà nước cũng như nhiều bộ phận
xã hội khác.
Chính vì vậy việc nghiên cứu về cổ phần hoá trong thời điểm hiện nay tuy
không phải là mới mẻ nhưng lại rất cần thiết, đặc biệt là đối với những sinh viên
ngành Kinh tế. Thông qua việc tìm hiều nội dung của chính sách cổ phần hoá và


các vấn đề có liên quan, chúng ta sẽ có những đánh giá khách quan hơn về những
hiệu quả cũng như những khó khăn hạn chế của cổ phần hoá, từ đó có thể đưa ra
một số giải pháp nhằm tháo gỡ những hạn chế đó.
Với lý do đó, mặc dù trình độ bản thân còn nhiều hạn chế, nên tôi xin mạnh dạn
đưa ra một số quan điểm về vấn đề cổ phần hoá doanh nghiệp hiện nay.
CHƯƠNG I : Lý luận chung về cổ phần hoá và sự cần thiết phải tiến hành cổ
phần hoá ở Việt Nam.
CHƯƠNG II : Sự hình thành, phát triển và cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của
Công ty Cổ phần giầy Hà nội.
CHƯƠNG III : Những vấn đề tồn tại sau khi cổ phần hoá doanh nghiệp nhà
nước
CHƯƠNG IV : Một số giải pháp nhằm
Trước khi bắt đầu vào nội dung chính, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành
nhất tới cô giáo đã hướng dẫn, chỉ bảo giúp tôi có thể hoàn thành đề tài này. Cuối
cùng, do bài viết còn nhiều sai sót và hạn chế, tôi rất mong các thầy cô và các bạn
sinh viên giúp đỡ và góp ý.
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Xin chân thành cảm ơn !
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CỔ PHẦN HOÁ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI TIẾN
HÀNH CỔ PHẦN HOÁ Ở VIỆT NAM.
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CỔ PHẦN HOÁ CÁC DNNN Ở VIỆT NAM
1. Quan niệm về cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước
Chúng ta có thể hiểu, cổ phần hoá là việc chuyển đổi các loại hình doanh
nghiệp không phải công ty cổ phần sang hoạt động theo quy chế của công ty cổ
phần.
Từ quan niệm trên, kết hợp với điều kiện cụ thể ở nước ta, có thể đưa ra khái
niệm cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là việc chuyển doanh nghiệp mà chủ
sở hữu là Nhà nước (doanh nghiệp đơn sở hữu) thành công ty cổ phần (doanh

nghiệp đa sở hữu), chuyển doanh nghiệp từ chỗ hoạt động theo Luật doanh
nghiệp Nhà nước sang hoạt động theo các quy định về công ty cổ phần trong
Luật Doanh nghiệp.
Khái niệm cổ phần hoá doanh nghiệp đã được điều tra có 6 đặc trưng nổi bật:
- Doanh nghiệp cổ phần hoá đăng ký hoạt động dưới hình thức pháp lý là
công ty cổ phần, hoạt động theo luật doanh nhgiệp, chứ không phải theo luật
doanh nghiệp Nhà nước chế định các doanh nghiệp Nhà nước.
- Sở hữu đa dạng: nếu Nhà nước nắm giữ đa số cổ phần, không có cá nhân
nào được phép sở hữu hơn 5% tổng số cổ phần và không một tổ chức nào
được sở hưũ trên 10% tổng số cổ phần; nếu Nhà nước năm ít hơn số cổ phần
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chi phối thì mỗi cá nhân chỉ được phép nắm tối đa 10% và mỗi tổ chức chỉ
được phép sở hữu tối đa 20%.
- Cổ phần đước bán theo giá do Ban định giá tài sản xác định. Phương pháp
đấu thầu cạnh tranh không được sử dụng.
- Người lao động và người quản lý thường là các chủ sở hữu lớn hoặc ít nhất
là được sở hữu một số lượng cổ phần nhất định.
- Nhà nước thường giữ lại một phần cổ phần, rất ít trường hợp Nhà nước là cổ
đông lớn hoặc không có cổ phần.
- Các bên thứ ba thường sở hữu một số lượng cổ phần, nhưng rất ít khi là
người sở hữu chính.
Từ nghị quyết của Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành TW Đảng khoá
VII(6/1992), tiếp theo đó là quyết định số 202/CT(6/1992) của Chủ tịch Hội đồng
Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ), rồi tới các nghị định số 28/CP(7/5/1996),
25/CP(23/7/1997) và nghị định 44/CP(29/6/1998), cổ phần hoá luôn được Đảng và
Nhà nước xác định là việc chuyển các DNNN thành các Công ty cổ phần nhằm
thực hiện các mục tiêu:
• Chuyển một phần sở hữu Nhà nước sang sở hữu hỗn hợp
• Huy động vốn của toàn xã hội

• Tạo điều kiện để người lao động trở thành người chủ thực sự trong doanh
nghiệp
• Thay đổi phương thức quản lý trong doanh nghiệp
Như vậy có thể thấy so với các nước đã và đang tiến hành CPH trên thế giới,
ở nước ta, chủ trương CPH DNNN lại xuất phát từ đường lối kinh tế và đặc điểm
kinh tế xã hội trong giai đoạn hiện nay: chúng ta đang bố trí lại cơ cấu kinh tế và
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chuyển đổi cơ chế quản lý cho phù hợp với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần,
vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản của Nhà nước. Đó là đặc điểm lớn nhất
chi phối, quyết định mục đích nội dung và phương thức CPH DNNN. Vì vậy về
thực chất CPH ở nước ta là nhằm sắp xếp lại DNNN cho hợp lý và hiệu quả, còn
việc chuyển đổi sở hữu của Nhà nước thành sở hữu của các cổ đông trong công ty
cổ phần chỉ là một trong những phương tiện quan trọng để thực hiện mục đích trên.
2. MỤC TIÊU CỔ PHẦN HOÁ
Theo điều 2 - NĐ 44/CP, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước nhằm những mục
tiêu sau:
 Huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức
xã hội trong và ngoài nước để đầu tư đổi mới công nghệ, tạo thêm công ăn
việc làm, phát triển doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh, thay đổi cơ cấu
doanh nghiệp nhà nước.
 Tạo điều kiện để người lao động trong doanh nghiệp có cổ phần và những
người đã góp vốn được làm chủ thực sự, thay đổi phương thức quản lý doanh
nghiệp tạo động lực thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, tăng tài
sản nhà nước, nâng cao thu nhập của người lao động, góp phần tăng trưởng
kinh tế của đất nước.
3. Nội dung cổ phần hoá
Với mục tiêu như trên, tiến trình CPH đã dành được sự quan tâm đặc biệt của
Đảng, Chính phủ và các ban ngành, chính quyền địa phương. Trong suốt gần 10
năm thực hiện, nhiều văn bản pháp qui quy định chi tiết nội dung cổ phần hoá

DNNN đã được ban hành nhằm đưa công tác CPH phù hợp với từng giai đoạn.
Đặc biệt Nghị định 44/CP(29/6/1998) của Chính phủ quy định chi tiết nội dung
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CPH bao gồm: đối tượng cổ phần hoá, hình thức cổ phần hoá, xác định giá trị
doanh nghiệp, đối tượng mua cổ phần và phân tích đánh giá thực trạng doanh
nghiệp.
a) Về đối tượng cổ phần hoá:
Xuất phát từ thể chế chính trị, lịch sử, để phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện
kinh tế nước ta, đối tượng thực hiện cổ phần hoá là những DNNN hội tụ đủ 3 điều
kiện : có quy mô vừa và nhỏ ; không thuộc diện Nhà nước giữ 100% vốn đầu tư ;
có phương án kinh doanh hiệu quả hoặc tuy trước mắt có khó khăn nhưng triền
vọng tốt.
Trong 3 điều kiện này, điều kiện thứ 2 ( doanh nghiệp không thuộc diện Nhà
nước giữ 100% vốn đầu tư ) được coi là quan trọng nhất bởi những DNNN giữ
100% vốn đầu tư là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước , là đòn bẩy kinh tế, đảm
bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định, theo đúng định hướng XHCN.
b) Về lựa chọn hình thức tiến hành:
Theo quy định thì có 4 hình thức CPH , Ban cổ phần hoá sẽ lựa chọn một hình
thức phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp và người lao động. Các hình
thức đó là: giữ nguyên giá trị thuộc vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát
hành cổ phiếu thu hút thêm vốn để phát triển doanh nghiệp ; bán một phần giá trị
thuộc vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp ; tách một bộ phận của doanh
nghiệp để cổ phần hoá ; bán toàn bộ giá trị hiện có thuộc vốn Nhà nước tại doanh
nghiệp để chuyển thành công ty cổ phần.
c) Trên cơ sở đã lựa chọn hình thức CPH, khâu tiếp theo đó là xác định giá trị
doanh nghiệp:
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đây là một khâu quan trọng và thường chiếm nhiều thời gian, công sức nhất

trong quá trình CPH. Có 2 nguyên tắc xác định giá trị doanh nghiệp được đưa ra,
đó là:
Giá trị thực tế là giá toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm cổ
phần hoá mà người mua, người bán cổ phần đều chấp nhận được. Người mua và
người bán cổ phần sẽ thoả thuận theo nguyên tắc tự nguyện, đôi bên cùng có lợi.
Tại các nước có nền kinh tế phát triển, thoả thuận này diễn ra trên thị trường chứng
khoán, còn ở nước ta thoả thuận có thể diễn ra thông qua các công ty môi giới,
kiểm toán( đã diễn ra trên thị trường chứng khoán nhưng chưa phổ biến). Trên cơ
sở xác định được giá trị thực tế của doanh nghiệp, giá trị thực tế phần vốn Nhà
nước tại doanh nghiệp sẽ là phần còn lại của giá trị thực tế sau khi đã trừ đi các
khoản nợ phải trả.
Cơ sở xác định giá trị thực tế của doanh nghiệp đó là số liệu trong sổ sách kế
toán của doanh nghiệp tại thời điểm CPH và giá trị thực tế của tài sản tại doanh
nghiệp được xác định trên cơ sở hiện trạng về phẩm chất, tính năng kỹ thuật, nhu
cầu sử dụng của người mua tài sản và giá thị trường tại thời điểm CPH. Nguyên
tắc này được đặt ra để đảm bảo tính khách quan trong việc xác định giá trị doanh
nghiệp.
Thực tế việc CPH các doanh nghiệp cho thấy, các doanh nghiệp đăng ký CPH
thường có xu hướng định thấp giá trị doanh nghiệp, thông qua việc khai báo không
chính xác như khai thấp giá trị TSCĐ của doanh nghiệp, khai không đúng lượng
vốn…từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến việc định giá trị doanh nghiệp và gây thiệt hại
cho Nhà nước. Ngược lại, hiện tượng cơ quan kiểm toán định giá cao hơn giá trị
thực của doanh nghiệp lại có thể làm thiệt hại cho người mua cổ phần.
d) Về việc xác định đối tượng mua cổ phần và cơ cấu phân chia cổ phần:
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Các đối tượng được phép mua cổ phần đó là: các tổ chức kinh tế, tổ chức xã
hội, công dân Việt Nam, người nước ngoài định cư ở Việt Nam trong đó có cán bộ
công nhân viên tại các DNNN là đối tượng được ưu tiên mua cổ phần.
Về số lượng cổ phần được mua có quy định như sau:

 Loại doanh nghiệp mà Nhà nước giữ cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt:
Một pháp nhân được mua không quá 10%, một cá nhân được mua không
quá 5% tổng số cổ phần của doanh nghiệp.
 Loại doanh nghiệp mà Nhà nước không nắm cổ phần chi phối, cổ phần
đặc biệt: Một pháp nhân được mua không quá 20%, một cá nhân được
mua không quá 10% tổng số cổ phần của doanh nghiệp.
 Loại DNNN không tham gia cổ phần: không hạn chế số lượng cổ phần
lần đầu mỗi pháp nhân và cá nhân được mua nhưng phải đảm bảo số cổ
đông tối thiểu theo đúng quy định của Luật Doanh nghiệp.
Trên đây là mức quy định cụ thể về đối tượng mua cũng như mức mua cổ phần,
tuy nhiên nghị định 44/CP đã có sự điều chỉnh nhằm khuyến khích việc mua cổ
phần. Cụ thể là mọi người mua cổ phần sẽ được vay một cổ phiếu khi mua một cổ
phiếu bằng tiền mặt. Với người lao động, họ sẽ được Nhà nước bán cổ phần với
mức giá thấp hơn 30% so với giá bán cho các đối tượng khác, mỗi năm làm việc tại
doanh nghiệp được mua tối đa 10 cổ phần. Đối với người lao động nghèo trong
doanh nghiệp cổ phần hoá, ngoài việc được mua cổ phần ưu đãi họ còn được hoãn
trả tiền mua cổ phần trong 3 năm đầu mà vẫn được hưởng cổ tức, số tiền này sẽ trả
dần trong 10 năm không phải trả lãi.
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
II. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG DNNN VÀ SỰ CẦN
THIẾT PHẢI TIẾN HÀNH CPH Ở VIỆT NAM
1.Tình hình hoạt động của các DNNN tại Việt Nam hiện nay
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường
định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, khu vực Kinh tế Nhà nước phải giữ vai trò
chủ đạo nhằm chi phối nền kinh tế quốc dân cũng như giúp đỡ các thành phần kinh
tế khác. Song trên thực tế, hiệu quả hoạt động của khu vực Kinh tế Nhà nước nói
chung và hệ thống DNNN nói riêng còn tồn tại rất nhiều yếu kém.
Trên địa bàn cả nước hiện nay, chúng ta có khoảng 5800 DNNN nắm giữ 88%
tổng số vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế nhưng hiệu quả kinh doanh rất

thấp. Chỉ có trên 40% DNNN là hoạt động có hiệu quả, trong đó thực sự làm ăn có
lãi và lâu dài chỉ chiếm dưới 30%. Trên thực tế, DNNN nộp ngân sách chiếm 80-
85% tổng doanh thu, nhưng nếu trừ khấu hao cơ bản và thuế gián thu thì DNNN
chỉ đóng góp được trên 30% ngân sách Nhà nước. Đặc biệt nếu tính đủ chi phí và
TSCĐ, đất tính theo giá thị trường thì các DNNN hoàn toàn không tạo ra được tích
luỹ.
Đánh giá thực lực các DNNN trên 3 mặt: vốn- công nghệ-trình độ quản lý, có
thể thấy:
Vốn: Các doanh nghiệp luôn trong trạng thái đói vốn. Tình trạng doanh nghiệp
phải ngừng hoạt động do thiếu vốn kinh doanh đã xuất hiện. Tình trạng doanh
nghiệp không có vốn và không đủ khả năng huy động vốn để đổi mới công nghệ
được coi là phổ biến. Trong khi đó, hiệu quả sử dụng vốn thấp kém, thất thoát vốn
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
của Nhà nước ngày càng trầm trọng. Năm 1998 chỉ tính riêng số nợ khó đòi và lỗ
luỹ kế của các DNNN đã lên đến 5.005 tỷ đồng . Theo Tổng cục Quản lý vốn và tài
sản Nhà nước tại doanh nghiệp , trong số hơn 5800 DNNN, chỉ 40,4% được đánh
giá là hoạt động có hiệu quả (bảo toàn được vốn, trả được nợ, nộp đủ thuế, trả
lương cho người lao động và có lãi) ; 44% số doanh nghiệp hoạt động chưa có hiệu
quả, khó khăn tạm thời ; còn 15,6% số doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả.
Tổng cộng, có tới trên 59,6% DNNN hoạt động kém hiệu quả.
Công nghệ: Công nghệ của các DNNN lạc hậu so với trình độ chung của khu
vực và của thế giới (thường từ 2-3 thế hệ, cá biệt có công nghệ lạc hậu tới 5-6 thế
hệ), 76% máy móc thiết bị thuộc thế hệ những năm 50-60 và chủ yếu do Liên Xô
cũ và các nước Đông Âu cung cấp. Hiện nay có đến 54,3% DNNN trung ương và
74% DNNN địa phương còn sản xuất ở trình độ thủ công, hiệu quả sử dụng trang
thiết bị bình quân dưới 50% công suất. Đó chính là nguyên nhân làm cho khả năng
cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường nội địa cũng như quốc tế hết sức
thấp kém. Điều này thực sự là một nguy cơ đối với các doanh nghiệp Nhà nước và
với nền kinh tế trong quá trình hội nhập vào đời sống kinh tế khu vực và thế giới.

Trình độ, năng lực và bản lĩnh quản lý còn thấp so với yêu cầu. Ta thấy rằng,
ở các doanh nghiệp Nhà nước, quyền sở hữu không gắn với quyền quản lý vốn và
tài sản. Mặt khác, do những nguyên nhân lịch sử, do ảnh hưởng của cơ chế kế
hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp, các doanh nghiệp Nhà nước có số lượng lao
động lớn, cơ cấu lao động bất hợp lý, đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế vừa thừa, vừa
thiếu, vừa yếu. Bên cạnh trách nhiệm về kinh tế, mối doanh nghiệp còn phải đảm
trách nhiều chức năng xã hội nữa.
Từ tình hình trên, có thể thấy khu vực kinh tế Nhà nước không phải là điểm
sáng như chúng ta mong đợi, đặc biệt nó vẫn chưa thực sự thể hiện tốt vai trò chủ
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đạo vủa mình. Do đó vấn đề đặt ra hiện nay là cần phải có một loạt những giải
pháp tiến hành đồng bộ. Trong đó, CPH DNNN là một trong những biện pháp
được Đảng và Nhà nước đặt lên vị trí then chốt, hàng đầu.
2. Sự cần thiết phải tiến hành CPH doanh nghiệp Nhà nước
Xuất phát từ thực tế nêu trên, thực hiện CPH là một nhiệm vụ rất cần thiết và
quan trọng trong quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam, CPH sẽ giải quyết được các
vấn đề sau:
 Thứ nhất: Thực hiện CPH là để giải quyết mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất và
lực lượng sản xuất. CPH góp phần thực hiện chủ trương đa dạng hoá các hình thức
sở hữu. Trước đây chúng ta xây dựng một cách cứng nhắc chế độ công hữu, thể
hiện ở một số lượng quá lớn các DNNN mà không nhận thấy quan hệ sản xuất này
không phù hợp với lực lượng sản xuất còn nhiều yếu kém, lạc hậu. Vì vậy CPH sẽ
giải quyết được mâu thuẫn này, giúp lực lượng sản xuất phát triển.
 Thứ hai: Thực hiện CPH nhằm xã hội hoá lực lượng sản xuất, thu hút thêm
nguồn lực sản xuất. Khi thực hiện CPH , người lao động sẽ gắn bó , có trách nhiệm
với công việc hơn, họ trở thành người chủ thực sự của doanh nghiệp. Ngoài ra,
phương thức quản lý được thay đổi, doanh nghiệp sẽ trở nên năng động, tự chủ hơn
trong sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả sản xuất.
 Thứ ba: Bên cạnh đó, CPH là một yếu tố thúc đẩy sự hình thành và phát triển

thị trường chứng khoán, đưa nền kinh tế hội nhập với kinh tế khu vực và trên thế
giới.
 Thứ tư: Thực hiện CPH là một trong những giải pháp quan trọng nhằm huy
động các nguồn lực trong và ngoài nước vào phát triển kinh tế. Với việc huy động
được các nguồn lực, các công ty cổ phần có điều kiện mở rộng sản xuất kinh
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
doanh, đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao được khả năng cạnh tranh trên thị
trường, tạo cơ sở để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
 Thứ năm: Cổ phần hoá tác động tích cực đến đổi mới quản lý ở cả tầm vĩ mô và
vi mô. Chuyển từ DNNN sang công ty cổ phần không những chỉ là sự thay đổi về
sở hữu, mà còn là sự thay đổi căn bản trong công tác quản lý ở cả phạm vi doanh
nghiệp và ở cả phạm vi nền kinh tế quốc dân.
 Thứ sáu: Cổ phần hoá là một giải pháp quan trọng để cơ cấu lại nền kinh tế
trong quá trình đổi mới.
Như vậy, đứng trước thực trạng hoạt động yếu kém của hệ thống DNNN, CPH với
những ưu điểm và mục tiêu của mình đã chứng tỏ đó là một chủ trương đúng đắn,
phù hợp với quá trình đổi mới, phù hợp với giai đoạn quá độ đi lên CHXH ở nước
ta.
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG II
SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY
QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN GIẦY HÀ NỘI.
1. Sự hình thành và phát triển của Công ty cổ phần giầy Hà nội
Cùng với quá trình phát triển và đổi mới kinh tế của Nhà nước ta thì việc đổi
mới các doanh nghiệp Nhà nước là một trong những chính sách cơ bản trong quá
trình cải cách cổ phần hoá các doanh ngiệp Nhà nước là hướng đi cơ bản nhằm sắp
xếp đổi mới doanh nghiệp. Công ty giầy da Hà nội được cổ phần hoá thành Công
ty cổ phần giầy Hà nội theo quyết định số 5652/QĐ - UB ngày 30/12/19 , với số

vốn điều lệ của công ty là 5.8 tỷ đồng. Thay đổi hìh thức sở hữu, từ sở hữu Nhà
nước nay trở thành sở hữu cổ đông.
Tiền thân của Công ty cổ phần giầy Hà nội.là một phân xưởng Giầy (phân
xưởng lao động xã hội chủ nghĩa đầu tiên) của xí nghiệp X40 (thuộc Bộ quốc
phòng). Ngày 20/9/1968 phân xưởng được tách ra và thành lập xí nghiệp Giầy da
Hà nội, sản xuất chủ yếu phục vụ cho quốc phòng ( cho cục quân nhu và cục quân
khí ). Năm 1972 Xí nghiệp Giầy da Hà nội mà sau này gọi là Công ty Giầy da Hà
nội chuyển hướng sản xuất phục vụ cho ba đối tượng là:
 Xã hội.
 Quốc phòng.
 Dân dụng.
Ngày 1/1/1999 Công ty Giầy da Hà nội chính thức cổ phần hoá và đổi tên thành
Công ty cổ phần Giầy Hà nội
Tên Tiếng việt của công ty : Công ty cổ phần Giầy Hà nội.
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tên Quốc tế của công ty : Hanoi shoes join stock company.
Tên Viết tắt của công ty : HASJOCO.
Trụ sở giao dịch: Km 6 - Đường Nguyễn Trãi – Thanh xuân – Hà nội.
Công ty cổ phần Giầy Hà nội được phép kinh doanh một số ngành nghề sau:
- Sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu các sản phẩm giầy dép các loại, túi,
cặp, găng tay,mũ, bạt, đệm…
- Xuất nhập khẩu các thiết bị, công cụ dụng cụ, nguyênvật liệu, hoá chất phục
vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của công ty và các đơn vị ngành nghề khác.
- Sản xuất kinh doanh một số thiết bị, công cụ dụng cụ, nguyên vật liệu, bán
thành phẩm…phục vụ cho nhu cầu của công ty và nhu cầu của thị trường.
- Liên doanh, liên kết, hợp tác với các đơn vị kinh tế trong nước và ngoài
nước để tổ chức sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm, cho thuê văn phòng, cửa
hàng trưng bầy bán hàng hoá.
- Mua bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán theo quy định của Nhà nước

và theo các pháp lệnh về chứng khoán.
Công ty có tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập sử dụng con dấu riêng, hoạt
động theo điều lệ của công ty và theo Luật doanh nghiệp.
Hiện nay công ty chủ yếu thực hiệ các hợp đồng gia công với các công ty nước
ngoài như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan và các nước EU. Cùng với những khó
khăn chung của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là thị trường cạnh tranh khốc
liệt, thiếu vốn, thiếu công nghệ hiện đại, đặc biệt là thiếu đội ngũ cán bộ quản lý có
trình độ cao.
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chỉ tiêu 1999 2000 2001 2002
- Lao động gián tiếp.
+ Đại học
+ Trung cấp
+ Cấp III
- Lao động trực tiếp
9,57
3,15
3,58
2,94
90,53
9,61
3,2
3,81
2,6
90,39
9,6
3,21
3,83
2,56

90,4
9,69
3,18
3,82
2,69
90,31
Bên cạnh đó công ty còn có những khó khăn riêng như là hiện nay công ty
không còn có sự giúp đỡ và tạo điều kiện về vốn của Nhà nước vì vậy phải tự huy
động vốn bằng nhiều con đường khác nhau. Tuy nhiên, cùng với sự cố gắng của
hội đồng quản trị, ban giám đốc và các thành viên của công ty đang tạo cho mình
những bước đi vững chắc trong sản xuất kinh doanh và tổ chức quản lý.
2. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và sản xuất của Công ty cổ phần
giầy Hà nội
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty cổ phần giầy Hà nội.
Hội đồng quản
trị
Ban kiểm soát
Chủ
tịch
HĐQT
Các thành
viên HĐQT
Phó chủ
tịch
HĐQT,
Gián đốc
điều hành
Phòng

tổ chức
Phòn
g ytế
Phòng
bảo
vệ
Phòn
g kỹ
thuật
Phòng
kế
hoạch
Khối
SX -
KD
Phân
xưởngS
XKD
phụ
Phân
xưởng
SXKD
chính
Phòng
đời sống
Phòng
tài
vụ
Phòng
cung

ứng
Phó giám đốc sản
xuất và kỹ thuật
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Hội đồng quản trị : là cơ quan quản lý có toàn quyền nhân danh công ty để
quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi
của công ty trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của đại
hội cổ đông
- Giám đốc : là người điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày của
công ty, chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị về việc thực
hiện quyền và nhiệm vụ được giao.
- Các phó giám đốc : thay mặt giám đốc điều hành hoạt động sản xuất kinh
doanh khi giấm đốc đi vắng, trực tiếp phụ trách cá mảng
công việc cụ thể.
- Ban kiểm soát : chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị về những sai phạm
gây thiệt hại cho công ty trong khi thực hiện nhiệm vụ.
- Các phòng ban : mỗi phòng ban nghiệp vụ có một chức năng, nhiệm vụ
riêng nhưng đều có mối quan hệ mật thiết với nhau, chịu sự
chỉ đạo trực tiếp của giám đốc.
a) Cơ cấu tổ chức sản xuất của Công ty cổ phần giầy Hà nội.
Ban giám đốc
PX

điện
PX
cắt
PX
may
I

PX
may
II
PX
may
III
PX
thái
PX
ý
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đứng đầu là ban giám đốc giữ vai trò lãnh đạo chung của công ty chịu trách
nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Giúp giám đốc còn
có hai phó giám đốc: phó giám đốc sản xuất và phó giám đốc kỹ thuật.
Đứng đầu các phân xưởng là các quản đốc phân xưởng, các quản đốc lãnh đạo
phân xưởng và chịu trách nhiệm trước giám đốc về kết quả hoạt động sản xuất kinh
của phân xưởng.
Quy trình công nghệ sản xuất Giầy của công ty là vừa sản xuât theo kiểu song
song, vừa theo kiểu liên tục. Các nguyên liệu khác nhau được xử lý theo các bước
công nghệ khác nhau để cuối cùng kết hợp lại cho ra một sản phẩm hoàn chỉnh.
Vải, cao su, hoá chất
Bồi vảI
Cắt mũ giầy
Chặt bán thành phẩm
May mũ giầy
Gò, ép, sấy hoàn chỉnh
Đóng hộp, gián màu
Nhập kho thành phẩm
18

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Để bảo đảm chất lượng sản phẩm và cao hơn nữa là uy tín của công ty trên
thương trường, tất cả các sản phẩm trước khi nhập kho đều phải được kiểm tra chất
lượng kỹ càng để loại đi những sản phẩm chưa đạt tiêu chuẩn.
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG III
NHỮNG VẤN ĐỀ TỒN TẠI SAU KHI CỔ PHẦN HOÁ DOANH
NGHIỆP NHÀ NƯỚC.
1. CÔNG TÁC XÂY DỰNG CƠ CHẾ,
CHÍNH SÁCH CỔ PHẦN HOÁ
Tốc độ xây dựng chính sách chưa đi kịp với tình hình thực tế.
Thực tiễn cho thấy nghị định 28 sau một thời gian đi vào thực tiễn đã bộc lộ
những nội dung chưa theo kịp tiến trình, hơn thế còn quá cứng nhắc trong xử lý
những vấn đề phát sinh làm chậm trễ tốc độ cổ phần hoá tại nhiều doanh nghiệp.
Yêu cầu sửa đổi, bổ sung nghị định 28 mang tính chất cấp thiết, gắn liền với việc
đẩy nhanh tốc độ cổ phần hoá. Song việc tiến hành lại rất chậm: năm 1997 chỉ sửa
đổi nội dung thẩm quyền quyết định chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty
cổ phần (Nghị định 25/CP ngày 26/03/1997) và phải đến tháng 6 năm 1998 mới có
sự thay đổi hoàn toàn bằng nghị định 44. Nghị định44/CP đã khắc được rất nhiều
hạn chế của nghị định28/CP. Sự thay đổi của nó thể hiện trên những điểm sau:
+ Mở rộng chủ thể được phép mua cổ phần:
Điều 3-NĐ 44/CP qui định: “Các tổ chức kinh tế, xã hội, công dân Việt Nam,
người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài định cư tại Việt Nam đều
có quyền mua cổ phần ở các doanh nghiệp cổ phần hoá”.
Như vậy, việc qui định người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài ở
Việt Nam có quyền mua cổ phiếu là một điểm mới so với NĐ 28/CP. Đây là một
qui định phù hợp với tình hình thực tại. Mấy năm trở lại đây những người Việt
Nam ở nước ngoài đang có xu hướng đầu tư về trong nước, hơn nữa cơ chế mở cửa
20

Website: Email : Tel : 0918.775.368
của nhà nước cũng thu hút nhiều người nước ngoài đến định cư tại Việt Nam. Đây
là một nguồn đầu tư lớn mà ta cần phải khai thác. Nghị định 44/CP đã qui định vấn
đề này, nó góp phần làm cho khả năng cổ phần hoá được mở rộng.
+ Hình thức cổ phần hoá:
Nghị định 44/CP đã qui định thêm một hình thức đó là: “Bán toàn bộ giá trị
hiện có thuộc vốn nhà nước tại doanh nghiệp để chuyển thành công ty cổ phần”
(Khoản 4 - điều 7). Nghĩa là ở hình thức này nhà nước không tham gia cổ phần ở
công ty cổ phần. Đây là một sự thay đổi rất táo bạo, một nhận thức mới của nhà
nước ta.
+ Quyền được mua cổ phiếu cũng được qui định một cách cụ thể hơn, rõ ràng
hơn.
+ Việc sử dụng tiền bán cổ phiếu thuộc sở hữu nhà nước được qui định tại điều
9. Qui định này đã phần nào làm cho mục tiêu của việc cổ phần hoá được thực thi
trên thực tế, tạo tâm lý yên tâm cho người lao động khi doanh nghiệp nhà nước cổ
phần hoá.
+ Những ưu đãi đối với người lao động thay đổi. Điều 11 - NĐ 28/CP qui định:
“Người lao động trong doanh nghiệp cổ phần hoá được nhà nước cấp một số cổ
phiếu tuỳ theo thâm niên công tác và chất lượng công tác của từng người. Và trị
giá cổ phiếu cấp cho mỗi người không quá 6 tháng lương cấp bậc, chức vụ theo
thang bảng lương nhà nước ban hành”. Còn điều 14-NĐ 44/CP lại qui định: “Nhà
nước bán với giá ưu đãi cho người lao động tuỳ theo năm công tác của từng người.
Một năm làm việc cho nhà nước được mua tối đa 10 cổ phần với mức giảm
giá30% so với các đối tượng khác. Tổng giá trị ưu đãi cho người lao động không
quá 20% giá trị vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Những doanh nghiệp có vốn tự
tích luỹ từ 40% giá trị doanh nghiệp trở lên thì tổng giá trị ưu đãi cho người lao
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
động không quá 30% giá trị vốn nhà nước tại doanh nghiệp”. Qui định này có phần
thực tế hơn, công bằng hơn.

+ Việc tổ chức thực hiện cũng được qui định một cách rộng rãi hơn, chi tiết
hơn. Thẩm quyền của các Tổng công ty được xác lập. Thành lập các Tổng công ty
với quy mô lớn, hoạt động rộng khắp cũng là một trong những giải pháp để thay
đổi bộ mặt doanh nghiệp nhà nước. Qui định thẩm quyền của Tổng công ty nhà
nước trong việc lựa chọn và quyết định doanh nghiệp cổ phần hoá, quyết định giá
trị doanh nghiệp đã làm cho việc cổ phần hoá được xúc tiến một cách nhanh chóng
hơn.
+ Thời hạn cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cũng được rút ngắn một
cách rõ rệt từ 15 ngày qui định trong khoản 2 điều 16 nghị định 28/CP còn 7 ngày
(Khoản 2 điều 16 nghị định 44/CP).
Cùng với việc cổ phần hoá sẽ đưa công ty cải thiện được kết quả hoạt động trên
hai khu vực. Thứ nhất, phân chia lợi nhuận, người chủ mới sẽ có su hướng tăng
tính hiệu quả và lợi nhuận của doanh nghiệp. Thứ hai, việc thoát khỏi những hạn
chế của doanh nghiệp Nhà nước về lương, quản lý có thể tạo ra người lao động có
chất lượng cao.
Công ty cổ phần có thể giúp cải thiện tình hình đó là khả năng chủ động. Nhờ
được giải phóng khỏi những kiểm soát hành chính và các mục tiêu chính trị, các
nhà quả lý công ty cổ phần được tự do theo đuổi mục tiêu và dành nhiều thời gian
cho những gì thực sự quan trọng làm sao đưa công ty phát triển và có lợi nhuận
cao.
Như vậy, từ NĐ 28/CP đến NĐ 44/CP là cả một sự thay đổi lớn, ảnh hưởng
mạnh mẽ đến kết quả của công tác cổ phần hoá. Cụ thể, đến hết năm 1997, cả nước
mới có 18 doanh nghiệp chuyển thành công ty cổ phần nhưng tính đến ngày
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
31/12/1998 đã có thêm 98 doanh nghiệp nhà nước chuyển sang công ty cổ phần.
Dù vậy khi triển khai trên thực tế NĐ 44 cũng đã bộc lộ không ít những hạn chế.
Những hạn chế của NĐ 44 được thể hiện ở những điểm sau:
- Một số nội dung cơ chế, chính sách chưa thực sự bám sát đời sống doanh
nghiệp.

+ Vấn đề khống chế mức mua cổ phần theo giá ưu đãi của các cán bộ quản
lý doanh nghiệp không quá mức bình quân của người lao động trong
doanh nghiệp. Qui định này chưa khuyến khích cán bộ quản lý trong
doanh nghiệp mua cổ phần, đồng thời tạo ra sự không bình đẳng giữa
người lao động lâu năm đang giữ các chức vụ lãnh đạo trong doanh
nghiệp với lao động phổ thông mới vào nghề.
+ Vấn đề bán cổ phần cho người nước ngoài tuy trên thực tế đã phát sinh
nhu cầu nhưng chưa có hướng dẫn cụ thể dù là thí điểm (hiện tại mới
trong dự thảo) nên hạn chế rất nhiều việc huy động vốn từ nước ngoài.
- Công tác tuyên truyền phổ biến các chính sách mới cho người lao động chưa
được đẩy mạnh. Qua khảo sát thăm dò một số doanh nghiệp ngay tại Hà Nội vào
tháng 9 năm 1998 của cơ quan chức năng thì việc tiếp cận và hiểu rõ những tinh
thần, nội dung mới trong chính sách cổ phần hoá còn rất chậm, có trường hợp chưa
hiểu rõ nội dung mới.
- Thiếu một hệ thống hỗ trợ, tư vấn cho các doanh nghiệp thực hiện cổ phần
hoá. Công ty cổ phần đối với nước ta là một dạng công ty mới mẻ hơn nữa doanh
nghiệp nhà nước đang từ sự bảo trợ của nhà nước chuyển sang kinh doanh một
cách độc lập, chịu sự chi phối của nền kinh tế thị trường sẽ gặp phải những vướng
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
mắc. Thiếu đi sự hỗ trợ, tư vấn của các cấp có thẩm quyền sẽ là một khó khăn lớn
cho tâm lý của những doanh nghiệp chuẩn bị cổ phần hoá.
- Thiếu đi một hệ thống văn bản pháp quy có tính pháp lý cao như luật, pháp
lệnh về cổ phần hoá. Tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là một giải
pháp mang tính chất triệt để nhất, cương quyết nhất. Do đó rất cần phải có văn bản
pháp lý cao làm cơ sở vững chắc cho việc triển khai thực hiện.
2. CÔNG TÁC TỔ CHỨC BỘ MÁY CHỈ
ĐẠO
Cổ phần hoá là một giải pháp quan trọng trong quá trình đổi mới doanh nghiệp
nhà nước ở Việt Nam và là một nội dung của chương trình tổng thể đổi mới doanh

nghiệp nhà nước. Xuất phát từ quan điểm đó công tác tổ chức bộ máy chỉ đạo thực
hiện cổ phần hoá năm qua đã được kiện toàn lại. Ban đổi mới quản lý doanh
nghiệp TW do Phó Thủ tướng Ngô Xuân Lộc làm trưởng ban được qui định rõ
chức năng nhiệm vụ để ban có đủ khả năng chỉ đạo công tác đổi mới doanh nghiệp.
Sau khi được kiện toàn công tác chỉ đạo thực hiện cổ phần hoá đã có nhiều khởi
sắc. Quy trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước đã được đổi mới theo hướng
giảm bớt các khâu, các thủ tục không cần thiết để đảm bảo một đề án cổ phần hoá
được hoàn thành trong thời gian từ 4 - 5 tháng so với bình quân 27 tháng.
Công tác triển khai thực hiện cổ phần hoá tại các địa phương cũng được đẩy
mạnh. Nhiều bộ, địa phương trên cơ sở triển khai công tác sắp xếp, phân loại
doanh nghiệp nhà nước hiện có bước đầu đã lựa chọn đăng ký với Chính phủ các
doanh nghiệp nhà nước có thể cổ phần hoá trong năm 1998. Tính đến 11/1998 cả
nước đã có trên 250 doanh nghiệp nhà nước đăng ký thực hiện cổ phần hoá.
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đến hết năm 1998, các địa phương cơ bản hoàn thành việc phân loại và lập đề
án sắp xếp doanh nghiệp nhà nước. Hiện tại hai thành phố lớn là Hà Nội và thành
phố Hố Chí Minh đã hoàn thành việc phê duyệt đề án và đã xác định được số
doanh nghiệp nhà nước chuyển sang công ty cổ phần đến năm 2000.
Tuy nhiên, trên thực tế công tác này đã gặp phải không ít những khó khăn.
Một là, việc tổ chức thực hiện cổ phần hoá chưa đồng đều và rộng khắp. Công
tác tổ chức thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước thời gian qua và ngay cả
trong năm 1998 tiến hành không đồng đều giữa các ngành, địa phương và các tổng
công ty nhà nước. Đến nay còn nhiều bộ, ngành và địa phương chưa có doanh
nghiệp nhà nước chuyển thành công ty cổ phần, thậm chí chưa hoàn thành việc
đăng ký danh sách doanh nghiệp nhà nước tiến hành cổ phần hoá.
Hai là, đội ngũ cán bộ chỉ đạo đổi mới doanh nghiệp nhà nước chưa đáp ứng
được yêu cầu đặt ra. Số lượng cán bộ kiêm nhiệm còn nhiều nên chưa chú trọng,
thiếu chủ động và kiên quyết trong tổ chức triển khai và đẩy nhanh cổ phần hoá.
Thực tế cho thấy trong những điều kiện tương tự, thậm chí trong những điều kiện

còn khó khăn hơn, nơi nào được cấp uỷ, chính quyền quan tâm chỉ đạo thì nơi đó
triển khai tốt và ngược lại.
Ba là, công tác giám sát và đôn đốc của ban chỉ đạo TW đối với công tác cổ
phần hoá ở các cấp cơ sở chưa có sự khen thưởng động viên cũng như kỷ luật kịp
thời.
Bốn là, công tác phối hợp giữa các cấp chưa nhịp nhàng dẫn đến thiếu thống
nhất trong triển khai cổ phần hoá ở các địa phương. Việc xác định giá trị doanh
nghiệp là một khó khăn lớn đối với các cơ quan có thẩm quyền. Hơn nữa, việc tính
tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh bình quân 3 năm trước khi cổ phần hoá thì
rất khó đánh giá được sát sao tình hình thực tế của doanh nghiệp. Chính vì tính
25

×