Tải bản đầy đủ (.doc) (27 trang)

chứng khoán và phân loại chứng khoán

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (207.49 KB, 27 trang )

Chương 2 : Chứng khoán và phân loại chứng khoán
1. Chứng khoán
 Khái niệm : Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp
pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành
 Đặc điểm cơ bản của chứng khoán :
- Tính thanh khoản : Tính lỏng của tài sản, là khả năng chuyển tài sản đó
thành tiền mặt
- Tính rủi ro : Chứng khoán là các tài sản tài chính mà giá trị của nó chịu
tác động to lớn của rủi ro, bao gồm rủi ro hệ thống và rủi ro không hệ
thống
- Tính sinh lời : thu nhập đc đảm bảo bằng lợi tức và việc tăng giá của
chứng khoán trên thị trường “ Mức rủi ro càng cao thì lợi nhuận kỳ vọng
càng lớn “
- Hính thức của chứng khoán : Giấy chứng nhận, bút toán ghi sổ , file dữ
liệu….
2. Phân loại chứng khoán
Phân loại theo tính chất
Chứng khoán vốn:
 Là chứng thư xác nhận sự góp vốn và quyền sở hữu quyền vốn góp và các
quyền hợp pháp khác đối với tổ chức phát hành.
 Đại diện cho CK vốn là cổ phiếu và chứng chỉ quỹ.
Chứng chỉ quỹ đầu tư
• Khái niệm:
Chứng chỉ quỹ là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của NĐT đối với một phần
vốn góp của quỹ đại chúng
(Quỹ đại chúng là quỹ đầu tư chứng khoán hình thành từ vốn góp của NĐT, với mục
đích kiếm lợi nhuận từ việc đa dạng hóa đầu tư vào chứng khoán hoặc các dạng tài sản
đầu tư khác nhau nhằm phân tán rủi ro, trong đó NĐT không có quyền kiểm soát hàng
ngày đối với việc ra quyết định đầu tư của quỹ. Khi muốn thành lập quỹ, công ty quản lý
quỹ phải phát hành chứng chỉ quỹ, NĐT mua chứng chỉ quỹ tức là đã xác nhận sự góp
vốn của mình vào quỹ chung đó)


Bản chất của chứng chỉ quỹ đầu tư :
chứng chỉ quỹ cũng giống như cổ phiếu của một công ty: là bằng chứng xác nhận
quyền sở hữu, hưởng lợi nhuận trên phần vốn góp và đặc biệt được niêm yết trên
TTCK để mua bán giữa các NĐT .
Tuy nhiên có 3 điểm khác giữa chứng chỉ quỹ đầu tư và cổ phiếu :
Thứ nhất, cổ phiếu là phương tiện huy động vốn của một công ty kinh doanh một vài
ngành nghề cụ thể, còn chứng chỉ quỹ là phương tiện để thành lập quỹ của một quỹ
đầu tư chứng khoán, mà ngành nghề hoạt động chính là đầu tư chứng khoán. Thứ hai,
nếu người sở hữu
Cổ phiếu phổ thông có quyền biểu quyết hay quản lý công ty thì NĐT sở hữu chứng
chỉ quỹ không có quyền tương tự, mọi quyền hành đều do công ty quản lý quỹ quyết
định. Thứ ba, khi đầu tư riêng lẻ vào cổ phiếu hay trái phiếu, NĐT chủ yếu phải dựa
vào sự đánh giá của mình để ra quyết định đầu tư và theo dõi khoản đầu tư, trong khi
nếu mua chứng chỉ quỹ, những điều này sẽ do công ty quản lý quỹ thay mặt NĐT thực
hiện
Bởi vì, với ưu điểm của quỹ đầu tư chứng khoán, đa dạng hóa đầu tư - phân tán rủi ro
và lại có một đội ngũ quản lý quỹ chuyên nghiệp đứng ra đầu tư thì ít nhất, độ an toàn
và lợi nhuận kỳ vọng cũng cao hơn. NĐT sở hữu chứng chỉ quỹ có thể yên tâm làm
công việc khác, không cần phải suy tính đầu tư vào chứng khoán nào, rồi đến kỳ lấy
lợi nhuận và có thể bán chứng chỉ quỹ này cho các NĐT khác trên thị trường để thu lại
tiền mặt. Tuy nhiên, khi sở hữu chứng chỉ quỹ, NĐT đương nhiên sẽ trở thành người
đầu tư thụ động, gián tiếp vì không có quyền quyết định đầu tư và mọi rủi ro hay thành
công đều phụ thuộc vào trình độ và kinh nghiệm của người quản lý quỹ.
Một số điểm cần lưu ý khi mua chứng chỉ quỹ
- Việc mua chứng chỉ quỹ có nghĩa là NĐT đã uỷ thác cho công ty quản lý quỹ thay
mặt NĐT thực hiện quản lý và đầu tư số tiền bằng với số tiền người đầu tư đã mua
chứng chỉ quỹ. Nói một cách đơn giản, tổng giá trị chứng chỉ quỹ do một NĐT nắm
giữ thể hiện số tiền người đầu tư góp vào quỹ để thực hiện đầu tư theo mục tiêu đầu tư
chung quy định trong điều lệ quỹ.
- Cần dành thời gian tìm hiểu về công ty quản lý quỹ, bởi họ sẽ là người quản lý đồng

tiền của NĐT. Mặt khác, cần đọc và phân tích các tài liệu liên quan đến việc phát hành
chứng chỉ quỹ như điều lệ quỹ, mục tiêu đầu tư của quỹ, kinh nghiệm công ty quản lý
quỹ và ngân hàng giám sát.
-
Cân nhắc yếu tố chi phí của quỹ đầu tư và tỷ lệ chi phí/thu nhập khi quyết định mua
hoặc bán chứng chỉ quỹ trong trường hợp quỹ đã đi vào hoạt động một thời gian hoặc
có nhiều quỹ được thành lập.
- Phải biết chấp nhận rủi ro, bởi công ty quản lý quỹ không có nghĩa vụ phải cam kết
chắc chắn là hoạt động đầu tư của quỹ sẽ có lãi, mà chỉ có nghĩa vụ thực hiện tốt nhất
các hoạt động quản lý chuyên nghiệp của mình và vì lợi ích của NĐT.
- NĐT cần phải lưu ý đến một chỉ tiêu luôn luôn gắn liền với hoạt động của quỹ đầu
tư, đó là giá trị tài sản ròng trên một đơn vị chứng chỉ quỹ. Nó cho phép NĐT đánh giá
hiệu quả hoạt động của quỹ nói chung và là cơ sở cho việc xác định giá mua, bán
chứng chỉ quỹ trên thị trường.
- Mỗi chứng chỉ quỹ cũng có những ưu, nhược điểm khác nhau tùy theo chính sách
kinh doanh của công ty quản lý quỹ.

Chứng khoán nợ:
 Là loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành phải trả cho
người sở hữu chứng khoán một khoản tiền nhất định bao gồm cả gốc lẫn lãi
trong những khoản thời gian cụ thể.
 Đại diện là trái phiếu,tín phiếu.
 Đặc trưng cơ bản của trái phiếu:
- Mệnh giá
- Lãi suất cuống phiếu
- Thời gian đáo hạn
• So sánh các đặc điểm khác nhau của trái phiếu và cổ
phiếu:
Tiêu chí so
sánh

Cổ phiếu Trái phiếu
Loại chứng
khoán
Là chứng khoán vốn
vì vậy khi công ty bị
phá sản hoặc giải thể
thì cổ phiếu đưa lại
cho người sở hữu
quyền đối với phần tài
sản cuối cùng còn lại
của công ty.
Là chứng khoán hứa
nợ trung và dài hạn của
chủ thể phát hành vì
thế nếu công ty bị giải
thể hoặc phá sản thì
trước hết công ty phải
có nghĩa vụ thanh toán
cho các trái chủ
trước,sau đó mới đến
các cổ đông.
Chủ thể phát
hành
Công ty. K chỉ có công ty mà
còn có chính phủ và
chính quyền địa
phương.
Tư cách Người mua cổ phiếu
công ty là người mua
1 phần công ty và là

người chủ sở hữu
công ty.
Người mua trái phiếu
chỉ là người cho chủ
thể phát hành vay tiền
và là chủ nợ của chủ
thể phát hành trái
niệm.
Thu nhập Thu nhập của cổ
phiếu là cổ tức và phụ
thuộc vào tình hình
Thu nhập của trái
phiếu là tiền lãi và là
khoản thu cố định k
sản xuất kinh doanh
của công ty.
phụ thuộc vào tình
hình sản xuất kinh
doanh của công ty phát
hành
Mức độ rủi
ro
Chứa đựng nhiều rủi
ro
Có tính ổn định và ít
rủi ro hơn cổ phiếu
• đặc trưng của trái phiếu
 Mệnh giá trái phiếu:Là giá tri được ghi trên trái phiếu (được coi
là số vốn gốc ) và là căn cứ để xác định số lợi tức tiền vay mà
ng phát hành phải trả.

 Lãi suất danh nghĩa: xác định tỷ lệ phần trăm so với mệnh giá
trái phiếu và là căn cứ để xác định lợi tức trái phiếu.
 Thời hạn trái phiếu : là khoảng thời gian từ ngày phát hành đến
ngày nhà phát hành hoàn trả số vốn lần cuối
Chú ý: ngày mà khoản gốc trái phiếu
được thanh toán lần cuối được gọi là
ngày đáo hạn của trái phiếu
 Kỳ trả lãi : là khoảng thời gian ng phát hành trả lãi cho người
nắm giữ trái phiếu.
 Giá phát hành : là giá bán của trái phiếu vào thời điểm phát
hành.Có 3 trường hợp : giá phát hành bằng mệnh giá ( ngang
giá ) ,giá phát hành dưới mệnh giá và giá phát hành trên mệnh
giá.
• Phân loại trái phiếu:
 Phân loại trái phiếu theo người phát hành:
 Trái phiếu chính phủ và chính quyền địa phương ( cấp
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) : chính phủ phát
hành trái phiếu để đáp ứng nhu cầu chi tiêu ngân sách còn
chính quyền địa phương nhằm huy động vốn đáp ứng nhu
cầu phát triển kinh tế,văn hoá, xã hội của địa phương.
 Trái phiếu doanh nghiệp :các trái phiếu do doanh nghiệp
phát hành để tăng thêm vốn vào hoạt động kinh doanh.
 Trái phiếu của ngân hàng và các tổ chức tài chính :phát
hành trái phiếu nhằm tăng thêm vốn hoạt động.
 Phân loại trái phiếu theo lợi tức trái phiếu:
 Trái phiếu có lãi suất cố định : là loại trái phiếu mà lợi tức
được xác định theo 1 tỷ lệ % cố định theo mệnh giá.
 Trái phiếu có lãi suất biến đổi :là loại trái phiếu mà lợi tức
được trả trong các kì là khác nhau
 Trái phiếu có lãi suất bằng 0 :là loại trái phiếu người mua

k nhận được lãi nhưng được mua với giá thấp hơn mênh
giá và được hoàn trả số tiền bàng mệnh giá khi trái phiếu
đó đáo hạn.
 Phân loại trái phiếu theo mức đảm bảo thanh khoản:
 Trái phiếu bảo đảm : là loại trái phiếu mà người phát hành
dùng 1 tài sản có giá trị làm vật bảo đảm cho việc phát
hành,khi người phát hành mất khả năng thanh toán tiền lãi
hoặc trả tiền gốc thì các trái chủ có quyền bán tài sản đó để thu
hồi ssoos tiền ng phát hành còn nợ
 Trái phiếu có tài sản cầm cố : là loại trái phiếu bảo
đảm bằng việc người phát hành cầm cố 1 bất động sản
để đảm bảo việc thanh toán cho trái chủ.
 Trái phiếu bảo đảm bằng chứng khoán ký quỹ :là loại
trái phiếu được đảm bảo bằng việc người phát hành
thường là doanh nghiệp đem ký quỹ chứng khoán dễ
chuyển nhượng mà doanh nghiệp sở hữu của công ty
khác.
 Trái phiếu k đảm bảo : là loại trái phiếu phát hành k có tài sản
làm vật bảo hành mà chỉ được bảo đảm bằng chính uy tín của
người phát hành
 Phân loại dựa vào hình thức trái phiếu :
 Trái phiếu vô danh: Là trái phiếu không ghi tên người mua trên
trái phiếu và trong sổ sách của người phát hành và người nắm
giữ trái phiếu là người được hưởng quyền lợi.
 Trái phiếu ghi danh ( ghi tên ):là loại trái phiếu có ghi tên
người đầu tư trên trái phiếu và trong sổ người phát hành.
Chứng khoán phái sinh :
Quyền mua trước
-Quyền mua trước là một quyền lựa chọn mua có thời hạn rất ngắn, có khi chỉ vài
tuần. Quyền này được phát hành khi các công ty tăng vốn bằng cách phát hành

thêm các cổ phiếu thường. Quyền cho phép một cổ đông mua cổ phiếu mới phát
hành với mức giá đã ấn định trong một khoảng thời gian xác định.
-Loại quyền này thường được phát hành theo từng đợt, mỗi cổ phiếu đang lưu hành
được kèm theo một quyền. Số quyền cần để mua một cổ phiếu mới được quy định
tuỳ theo từng đợt phát hành mới.
-Giá cổ phiếu ghi trên quyền thường là thấp hơn giá hiện hành của cổ phiếu. Giá
của quyền tính bằng chênh lệch giữa giá thị trường hiện hành của cổ phần đang lưu
hành và giá mua cổ phần mới theo quyền, chia cho số lượng quyền cần có để mua
một cổ phần mới.
-Công thức:
M=(P –F) /(N+1)
Trong đó:
- M là giá trị của một quyền,
- P là giá thị trường của cổ phiếu đang lưu hành,
- F là giá thực hiện cổ phiếu mới
- N là số quyền cần có để mua một cổ phiếu mới.
Nếu không muốn thực hiện quyền, cổ đông thường có thể bán quyền trên thị
trường trong thời gian quyền chưa hết hạn. Giá quyền có thể lên xuống trong
khoảng thời gian chào bán, tuỳ thuộc biến động giá thị trường của cổ phiếu.
Ví dụ: Công ty A chào bán quyền mua cho cổ đông, giá thị trường CP A là 40
USD. Theo quy định quyền mua, cứ ứng với mỗi 5 quyền mua (ứng với 5 CP hiện
có) sẽ được mua 1 CP mới với giá 25 USD. Khi đó, để có 5 quyền mua, nhà đầu tư
phải mua 5 CP với giá 5 x 40 USD = 200 USD. Với 5 quyền mua vừa có được, nhà
đầu tư sẽ mua được 1 CP mới với giá 25 USD. Như vậy, nhà đầu tư có tất cả 6 CP
(6 CP này đều không còn quyền mua kèm theo) với tổng số tiền bỏ ra là 225 USD.
Như vậy, giá mới của mỗi CP là 225 USD/6 = 37,5 USD. Khi đó, giá 1 quyền mua
là (40 USD - 37,5 USD) = 2,5 USD.
Ngày giao dịch CP không có quyền mua kèm theo
Trong ngày giao dịch không có quyền mua, giá CP sẽ rớt xuống một mức giá trị
chính bằng giá trị của quyền mua. Tại Việt Nam, nếu tổ chức phát hành có phát

hành bổ sung CP mới thì giá CP trên thị trường sẽ được điều chỉnh ngay theo mức
giá mới của CP (cổ đông hiện hữu vẫn không bị thiệt vì phần giá trị CP cũ mất đi
cũng chính bằng giá trị của quyền mua mà họ đã nhận được trước đó).
Trường hợp có một số CP không còn quyền (do cổ đông nắm giữ CP đó đã
tách quyền mua ra để bán riêng trên thị trường) thì số CP này cũng vẫn được giao
dịch bình thường trên thị trường, nhưng sau đó khi thực hiện thủ tục thanh toán bù
trừ thì bộ phận thanh toán bù trừ chứng khoán sẽ trừ lại của người bán CP đó một
khoản tiền đúng bằng giá trị của quyền mua mà họ đã tách ra để bán riêng trên thị
trường chứng khoán.
Chứng khế
 Chứng khế hay còn gọi là giấy cam kết bán là 1 loại CK dc phát hành cùng
với trái phiếu hay cổ phiếu mà người sở hữu nó có quyền được mua 1 số
lượng chứng khoán nhất định tại 1 mức giá nhất định trong 1 khoảng thời
gian nhất định.
 Giá định trước của chứng khế thường cao hơn giá hiện tại của CP thường và
có thể có thời hạn đến vô hạn
 Ví dụ: Một công ty A có cổ phiếu thường đang lưu hành với giá 40$/1 cổ
phiếu, chứng khế phát hành cho phép người giữ nó mua cổ phiếu của công
ty A Với giá là 60$/1 cổ phiếu vào bất kỳ thời điềm nào cho đến này
31/12/2012.
 Nếu công ty A đang rất có triển vọng và người ta dự đoán đến năm 2012,
giá cổ phiếu của công ty có thể vượt mức 60$ thì chứng khế sẽ rất hấp dẫn.
Bởi vậy, người ta thường sử dụng chứng khế đi kèm với trái phiếu hoặc cổ
phiếu ưu đãi để làm cho việc chào bán lần đầu hấp dẫn hơn.
Hợp đồng kì hạn
là một thoả thuận giữa hai bên về việc mua hay bán một tài sản nào đó vào
một thời điểm định trước trong tương lai. Do vậy, trong loại hợp đồng này,
ngày kí kết và ngày giao hàng là hoàn toàn tách biệt nhau
 VD:
 Giả sử Mr. Sơn muốn mua 10000CP KLS trong vòng 1 năm tới, đồng thời

Mr. Trưởng sở hữu 10000CP KLS và anh ta muốn bán trong cùng thời gian
đó. Trưởng thoả thuận bán CPcủa Trưởng cho Sơn sau 1 năm nữa với giá là
160 tr, hợp đồng này là một hợp đồng kì hạn.
 Vì Sơn là người mua nên Sơn mong muốn giá sẽ tăng trong tương lai,
ngược lại, Trưởng muốn giá giảm. Cuối năm, giả sử giá thị trường của lô CP
lúc đó là 180tr, trong khi Trưởng có nghĩa vụ phải bán CP cho Sơn với giá
160 tr theo như cam kết trong hợp đồng nên có thể coi như Trưởng đã lỗ
20tr, còn Sơn lãi 20tr(vì Sơn có thể mua lô CP của Trưởng với giá 160tr và
bán ngay trên thị trường với giá 180tr).
 4. Hợp đồng tương lai
 Hợp đồng tương lai là một thoả thuận đòi hỏi một bên của hợp đồng sẽ mua
hoặc bán một hàng hoá nào đó tại một thời hạn xác định trong tương lai theo
một mức giá dã định trước. Chức năng kinh tế cơ bản của các thị trường hợp
đồng tương lai là cung cấp một cơ hội cho những người tham gia thị trường
để phòng ngừa rủi ro về những biến động giá bất lợi.
 Hợp đồng tương lai là những sản phẩm do các sở giao dịch tạo ra. Để tạo ra
một hợp đồng tương lai cụ thể, một sở giao dịch phải được sự chấp thuận
của CFTC, một cơ quan quản lý nhà nước. Khi đệ trình để được CFTC chấp
thuận việc tạo ra một hợp đồng tương lai, sở giao dịch phải chứng minh
được rằng hợp đồng này có một mục đích kinh tế. Trong khi có nhiều hợp
đồng tương lai được chấp thuận cho giao dịch thì không phải tất cả đều
thành công nếu không được sự quan tâm của người đầu tư.
 Trước năm 1972, chỉ có các hợp đồng tương lai liên quan tới những nông
sản truyền thống như ngũ cốc hay gia súc, thực phẩm nhập khẩu (cà phê, ca
cao và đường), hay các hàng công nghiệp, được giao dịch. Chúng được gọi
chung là các hợp đồng tương lai hàng hoá.
 Các hợp đồng tương lai dựa trên cơ sở một công cụ tài chính hay một chỉ số
tài chính được gọi là hợp đồng tương lai tài chính, bao gồm hợp đồng tương
lai chỉ số cổ phiếu; hợp đồng tương lai lãi suất; hợp đồng tương lai tiền tệ.
 Cơ chế giao dịch hợp đồng tương lai

 Một hợp đồng tương lai là một thoả thuận pháp lý chắc chắn giữa một
người mua (hoặc người bán) và một sở giao dịch có uy tín hoặc trung tâm
thanh toán của sở giao dịch đó, tại đó người mua (bán) đồng ý sẽ nhận (hoặc
giao) một mặt hàng nào đó tại một mức giá cụ thể vào lúc kết thúc của một
thời kỳ được xác định. Mức giá theo đó các bên thoả thuận giao dịch trong
tương lai được gọi là giá hợp đồng tương lai. Thời hạn được ấn định theo đó
các bên phải tiến hành giao dịch được gọi là thời hạn thanh toán hay thời hạn
giao nhận.
 Giả sử có một hợp đồng tương lai được giao dịch trên một sở giao dịch và
mặt hàng được mua hay bán đó là tài sản XYZ, thời hạn thanh toán là sau đó
3 tháng. Giả sử tiếp rằng ông A mua hợp đồng tương lai này và ông B là
người bán, mức giá mà họ đồng ý giao dịch trong tương lai là 1.000.000
VND. Vậy 1.000.000 VND đó là giá hợp đồng tương lai. Tới hạn thanh
toán, ông B sẽ giao tài sản XYZ cho ông A; ông A sẽ giao cho ông B
1.000.000 VND là giá của hợp đồng tương lai.
 Thoát khỏi một vị thế
 Đa số các hợp đồng tương lai tài chính có hạn thanh toán là vào các tháng
ba, sáu, chín và mười hai. Điều này có nghĩa là tại một thời điểm xác định
trong tháng thanh toán hợp đồng, hợp đồng sẽ ngừng giao dịch. Hợp đồng
gần nhất với thời điểm thanh toán được gọi là hợp đồng tương lai gần nhất.
Kế đó là hợp đồng tương lai được thanh toán ngay sau hợp đồng gần nhất.
Hợp đồng xa thời hạn thanh toán nhất được gọi là hợp đồng tương lai xa
nhất.
 Một bên của hợp đồng tương lai có hai lựa chọn đối với việc giải toả khỏi
một vị thế. Thứ nhất, vị thế có thể được thanh lý trước hạn thanh toán. Để
làm điều này, bên tham gia phải mở một vị thế triệt tiêu trong cùng hợp
đồng. Đối với người mua hợp đồng tương lai thì diều này có nghĩa là phải
bán cùng một lượng hợp đồng tương lai tương tự; còn đối với người bán,
nghĩa là phải mua cùng số lượng các hợp đồng tương lai tương tự.
 Phương án khác là chờ cho tới hạn thanh toán. Tại thời điểm này bên mua

một hợp đồng tương lai sẽ nhận tài sản cơ sở (công cụ tài chính, đồng tiền
hay hàng hoá thông thường) với giá đã thoả thuận; bên bán hợp đồng tương
lai sẽ thanh lý vị thế bằng việc giao hàng theo giá thoả thuận. Đối với một số
hợp đồng tương lai việc thanh toán chỉ thực hiện bằng tiền mặt, và được gọi
là các hợp đồng thanh toán bằng tiền mặt.
 So sánh giữa hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng tương hợp đồng tương lai.
 Hợp đồng tương lai, nhờ đặc tính linh hoạt của nó, đã khắc phục được những
nhược điểm của hợp đồng kỳ hạn và thường được xem là một phương thức
tốt hơn để rào chắn rủi ro trong kinh doanh. Bên cạnh những đặc điểm tương
tự như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai có những điểm khác biệt cơ bản
sau:
 1. Niêm yết trên sở giao dịch: Điểm khác biệt lớn nhất chính là tồn tại một
sở giao dịch có tổ chức đối với hợp đồng tương lai, trong khi đối với hợp
đồng kỳ hạn thì không. Sở giao dịch hợp đồng tương lai cho phép các nhà
giao dịch vô danh dược mua và bán các hợp đồng tương lai mà không phải
xác định rõ phía đối tác trong một hợp đồng cụ thể. Sở giao dịch hợp đồng
tương lai cũng tập trung vào việc giao dịch các hợp đồng tương lai cụ thể,
giúp cho các bên mua và bán có thể tìm được nhau trong một thời gian
tương đối ngắn. Ngoài ra, sở giao dịch còn tạo ra tính thanh khoản cao cho
thị trường hợp đồng tương lai, giúp cho các đối tác tham gia vào hợp đồng
tương lai thực hiện các nghĩa vụ của họ có hiệu quả hơn so với khi tham gia
vào hợp đồng kỳ hạn.
 2. Tiêu chuẩn hóa: Không giống như các hợp đồng kỳ hạn, các hợp đồng
tương lai được tiêu chuẩn hóa. Các hợp đồng kỳ hạn có thể được lập ra cho
bất kỳ loại hàng hóa nào, với bất kỳ số lượng và chất lượng như thế nào và
đối với thời hạn thanh toán bất kỳ được hai bên tham gia hợp đồng chấp
thuận. Trong khi đó, các hợp đồng tương lai niêm yết tại các sở giao dịch
quy định một số dạng hàng hóa cụ thể, với một số lượng nhất định đáp ứng
các yêu cầu tối thiểu về chất lượng và tại một thời điểm giao hàng xác đinh.
 3. Kiểm soát rủi ro thanh toán: Với việc sử dụng các hợp đồng tương lai

được niêm yết trên sở giao dịch thay vì dùng các hợp đồng kỳ hạn, hai bên
tham gia vào hợp đồng tương lai sẽ kiểm soát được rủi ro thanh toán. Trong
các giao dịch hợp đồng tương lai, cả bên mua và bên bán không hề biết ai là
"phía đối tác bên kia". Công ty thanh toán bù trừ sẽ thực hiện chức năng
trung gian trong tất cả các giao dịch. Người bán sẽ bán hợp đồng tương lai
cho công ty thanh toán bù trừ và người mua sẽ mua hợp đồng từ công ty.
Việc thực hiện các hợp đồng tương lai sẽ được đảm bảo bằng sự công bằng
và uy tín của các sở giao dịch và của các công ty thanh toán bù trừ.
 Đối với các hợp đồng kỳ hạn các khoản lỗ và lãi sẽ chỉ được thanh toán khi
hợp đồng đến hạn. Đối với các hợp đồng tương lai, những thay đổi về giá trị
của các tài khoản của các bên tham gia hợp đồng được điều chỉnh hàng ngày
theo mức giá thị trường và được ghi nhận. Bên cạnh đó, các hợp đồng tương
lai còn có một số yêu cầu ký quỹ nhất định. Như vậy, sự kết hợp giữa việc
thanh toán hàng ngày và yêu cầu ký quỹ sẽ giúp công ty thanh toán bù trừ
phòng ngừa được rủi ro thanh toán của các hợp đồng tương lai.
 4. Tính thanh khoản: Sự tồn tại của công ty thanh toán bù trừ và sự thuận lợi
của việc giao dịch qua sở khiến cho tính thanh khoản của các hợp đồng
tương lai cao hơn nhiều so với các hợp đồng kỳ hạn.
 5. Quyền lựa chọn
 5.1. Định nghĩa
 Một quyền chọn là một hợp đồng cho phép người nắm giữ nó được mua
(nếu là quyền chọn mua) hoặc được bán (nếu là quyền chọn bán) một khối
lượng nhất định hàng hóa tại một mức giá xác định và trong một thời hạn
nhất định.
 Các hàng hóa cơ sở này có thể là cổ phiếu, chỉ số cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số
trái phiếu, thương phẩm, đồng tiền hay hợp đồng tương lai:
 Một hợp đồng quyền lựa chọn bất kỳ đều bao gồm 4 đặc điểm cơ bản sau:
 1) Loại quyền (quyền chọn bán hoặc chọn mua)
 2) Tên hàng hóa cơ sở và khối lượng được mua hoặc bán theo quyền
 3) Ngày hết hạn

4) Giá thực hiện
 Người bán quyền, trao quyền cho người mua để đổi lấy một khoản tiền được
gọi là giá quyền hoặc phí quyền. Mức giá mà tại đó công cụ này có thể được
mua hoặc được bán gọi là mức giá thực hiện quyền. Ngày mà sau đó quyền
hết giá trị gọi là ngày hết hạn. Một quyền chọn Mỹ có thể được thực hiện
vào bất kỳ thời điểm nào cho đến tận ngày hết hạn và bao gồm cả ngày hết
hạn. Một quyền chọn Châu Âu chỉ có thể được thực hiện vào ngày hết hạn.
 Như vậy, những mức giá liên quan tới một quyền lựa chọn là:
 - Giá thị trường hiện hành của loại hàng hoá cơ sở.
 - Giá hàng hoá cơ sở thực hiện theo quyền.
 - Giá của bản thân quyền lựa chọn.
 Ví dụ: Cổ phiếu phổ thông XYZ đang giao địch với giá 42.000 VND/cổ
phần, và người ta dự đoán mức giá này sẽ tăng lên tới 50.000 VND trong
vòng 6 tháng tới. Giả sử quyền lựa chọn được niêm yết để giao dịch đối với
cổ phiếu XYZ, và bạn có thể mua một quyền chọn “mua XYZ do 40.000”.
Quyền này cho phép bạn mua 100 cổ phần XYZ vào bất cứ thời điểm nào
trong vòng 6 tháng tới tại mức giá 40.000 VND/cổ phần (4.000.000VND
cho 100 cổ phần). Lại giả sử giá của quyền chọn này là 400.000 VND người
bán quyền này nhận được 4.000.000 VND, đổi lại, ông ta phải sẵn sàng bán
100 cổ phần XYZ với giá 4.000.000 VND vào bất cứ lúc nào mà bạn chọn
để mua, cho tới khi quyền hết hạn. Bạn có thể thông báo với người bán về
việc bạn đòi ông ta phải giao cho bạn 100 cổ phần cơ sở để nhận 4.000.000
VND vào bất cứ lúc nào trong vòng 6 tháng đó. Buộc người bán phải tôn
trọng những điều khoản của hợp đồng quyền lựa chọn được gọi là thực hiện
quyền.
 Giả sử bạn mua quyền chọn và giá XYZ tăng lên 50.000 VND/cổ phần
trong vòng 6 tháng tới. Bạn có thể thực hiện quyền tại mức giá 40.000
VND/cổ phần và bán ra thị trường để thu lợi nhuận.
 Như vậy bạn đã bỏ ra 400.000 VND để mua quyền, nhưng đã thu lại
1.000.000 VND bằng việc mua và bán ngay 100 cổ phần XYZ. .Bạn đã có

được món lợi 600.000 VND trên một khoản đầu tư 400.000 VND, với tỷ
suất lợi nhuận là 150% trong 6 tháng.
 5.2. Các bộ phận cấu thành nên giá quyền
 Chi phí mà một người mua quyền bỏ ra trước hết là sự phản ánh giá trị nội
tại của quyền cộng thêm bất kỳ khoản phụ trội nào. Mức phụ trội cao hơn
giá trị nội tại được gọi là giá trị thời gian.
 Giá trị nội tại của quyền
 Giá trị nội tại của một quyền chọn là giá trị mà người nắm giữ quyền lựa
chọn sẽ nhận được bằng cách thực hiện quyền ngay lập tức. Do người mua
quyền không bắt buộc phải thực hiện quyền, và trong thực tế họ sẽ không
làm diều đó nếu như không thu được hiệu quả kinh tế nào từ việc thực hiện
quyền, nên giá trị nội tại của một quyền thấp nhất sẽ bằng 0.
 Đối với một quyền chọn mua, nếu giá thực hiện quyền thấp hơn giá của
chứng khoán cơ sở, quyền chọn mua đó được coi là lãi (in the money). Một
quyền chọn có mức giá thực hiện ngang bằng với giá hiện hành của chứng
khoán cơ sở được coi là hòa vốn(at the money), còn nếu thấp hơn giá hiện
hành của chứng khoán thì bị coi là lỗ (out of money). Cả hai loại quyền lỗ và
hòa vốn đều có giá trị nội tại bằng 0 bởi vì người thực hiện quyền không thu
được lãi.
 Đối với quyền chọn bán thì ngược lại, người thực hiện quyền sẽ có lãi nếu
giá thực hiện quyền cao hơn giá hiện hành của chứng khoán cơ sở và sẽ bị lỗ
nếu giá thực hiện quyền thấp hơn giá thị trường của chứng khoán cơ sở.
 Ví dụ: Với cổ phiếu cơ sở có giá 42.500 VND, quyền chọn mua có giá thực
hiện là 40.000 VND là ở vào trạng thái "có lãi". Quyền chọn mua có giá
thực hiện 45.000 VND sẽ là bị lỗ. Trái lại một quyền chọn bán XYZ 40.000
VND sẽ là có lãi khi cổ phiếu XYZ giao dịch với giá 38.000 VND. Người
nắm giữ quyền có thể mua cổ phiếu với giá 38.000 VND trên thị trường và
bán nó cho người bán quyền lấy 40.000 VND. Nhưng nếu XYZ có giá là
42.000 VND thì quyền chọn bán này là lỗ vốn. Người có quyền sẽ bị mất
tiền nếu mua XYZ trên thị trường và thực hiện quyền bán.

 Giá trị thời gian của quyền
 Giá từ thời gian của một quyền lựa chọn là khoản trội ra giữa giá của một
quyền so với giá trị nội tại của nó.
 Giá của quyền chọn mua XYZ 40.000 là 400.000 VND, với giá giao dịch
trên thị trường của XYZ là 42.000 VND. Người sở hữu quyền này có thể thu
hồi được 200.000 VND bằng cách thực hiện quyền (mua cổ phiếu với giá
4.000.000 VND) và bán ngay ra thị trường với giá 4.200.000 VNĐ. Như thế
quyền lựa chọn này có giá trị nội tại là 200.000 VND. Khoản chênh lệch
theo thời gian do đó sẽ là 400.000 VND - 200.000 VND = 200.000 VNĐ.
 Một quyền chọn bán XYZ 50.000 được bán với giá 200.000 VND, khi XYZ
đang giao dịch tại mức giá 52.000 VNĐ. Vì quyền này là lỗ vốn (giá cổ
phiếu cao hơn giá thực hiện) nên nó có giá trị nội tại bằng 0. Khoản 200.000
VND được gọi là giá trị phụ trội thuần tuý của quyền chọn.
 5.3. Các yêu tố ảnh hưởng đến giá của quyền lựa chọn
 Giá hiện hành của chứng khoán nguồn: Đối với một quyền chọn mua, nếu
giá hiện hành của chứng khoán nguồn tăng (giảm) thì giá của quyền chọn
mua tăng (giảm). Đối với một quyền chọn bán, nếu giá hiện hành của một
chứng khoán nguồn giảm (tăng) thì giá của quyến tăng (giảm).
 Giá thực hiện: Tất cả các yếu tố khác giữ nguyên, mức giá thực hiện càng
cao thì giá của một quyền chọn mua càng thấp. Đối với một quyền chọn bán
thì ngược lại: mức giá thực hiện càng cao thì giá của quyền chọn bán càng.
 Thời gian cho đến khi hết hạn: Đối với các quyền chọn Mỹ (cả quyền chọn
mua và chọn bán), tất cả các yếu tố khác giữ nguyên, thời gian cho đến khi
hết hạn càng dài thì giá của quyền càng cao, vì giá của cổ phiếu nguồn càng
có khả năng biến động để cho quyền chọn trở thành có lãi và đem lại lợi
nhuận. (Đối với các quyền chọn Châu Âu, ảnh hưởng của thời gian cho đến
khi hết hạn phụ thuộc vào việc quyền chọn là quyền chọn mua hay chọn
bán).
 Lãi suất ngắn hạn phi rủi ro trong suốt thời hạn của quyền. Giữ tất cả các
yếu tố khác không đổi, giá của một quyền chọn mua của một trái phiếu sẽ

tăng khi lãi suất ngắn hạn phi rủi ro tăng. đối với một quyền chọn bán của
trái phiếu thì ngược lại: một sự gia tăng mức lãi suất ngắn hạn phi rủi ro sẽ
làm giảm giá của một quyền chọn bán.
 Lãi suất coupon: đối với các quyền chọn của các trái phiếu, các coupon sẽ
có xu hướng làm giảm giá của quyền chọn mua bởi vì các coupon sẽ làm
cho việc nắm giữ trái phiếu trở nên hấp dẫn hơn so với nắm giữ quyền. Vì
vậy các quan chọn mua của (các trái phiếu coupon sẽ bị định giá thấp hơn so
với các quyền chọn mua của các trái phiếu không có coupon. Ngược lại, các
coupon có xu hướng làm tăng giá của các quyền chọn bán.
 Mức dao động dự đoán của các mức lãi suất trong suốt thời hạn của quyền:
Nếu mức dao động dự đoán của các mức lãi suất trong suốt thời hạn của
quyền tăng, giá của quyền cũng sẽ tăng. Lý do là mức dao động dự đoán
càng cao, được đo bằng độ lệch chuẩn hoặc phương sai của các mức lãi suất,
thì xác suất giá của chứng khoán nguồn dịch chuyển theo hướng có lợi cho
người mua chứng khoán sẽ lại càng cao.
 5.4. Chức năng kinh tế của quyền lựa chọn
 Quyền lựa chọn cho phép nhà đầu tư nâng cao được tỷ suất lợi nhuận trên
vốn đầu tư.
 Ví dụ: Trở lại ví dụ ở phần trên, giả sử giá thị trường hiện nay của cổ phiếu
XYZ là 42.000 VND/cổ phần, và bạn dự đoán sau nửa năm nữa, giá cổ
phiếu XYZ sẽ tăng mạnh, lên tới 50.000 VND. Giả sử các quyền lựa chọn có
liên quan đến giao dịch cổ phiếu XYZ được niêm yết, bạn có thể mua một
quyền chọn mua cổ phiếu XYZ với giá thực hiện quyền là 40.000VND/cổ
phần.
 Trong vòng 6 tháng giá cổ phiếu XYZ tăng lên 50.000 VND/cổ phần. Bạn
có thể buộc người bán quyền giao 100 cổ phần XYZ cho bạn với giá 40.000
VND/cổ phần, sau đó bán lại chúng trên thị trường với giá 50.000 VND/cổ
phần.
 Như vậy, trong vòng 6 tháng bạn đã thu được một khoản lợi nhuận đáng kể
là 600.000 VND trên khoản đầu tư 400.000 VND, tương đương lợi suất

150%.
 Nêu thay vì sử dụng quyền lựa chọn, bạn bỏ ra 4.200.000 VND để mua 100
cổ phần XYZ và chờ khi giá tăng tới 50.000 VND/cổ phần thì bán ra, lợi
suất của bạn chỉ là 19%.
 Quyền lựa chọn giúp nhà đầu tư phòng ngừa rủi ro
 Chức năng kinh tế quan trọng nhất của quyền lựa chọn là nhằm cung cấp
công cụ giảm thiểu rủi ro. Một người đang phải chịu rủi ro từ một sự thay
đổi giá bất lợi có thể sử dụng các quyền lựa chọn để loại trừ rủi ro đó. Một
quyền chọn mua có thể được xem như là một công cụ đảm bảo một mức giá
mua tốt (nếu giá thị trường của chứng khoán cao hơn mức giá thực hiện,
quyền sẽ giúp nhà đầu tư mua được chứng khoán tại mức giá thực hiện).
Một quyền chọn bán sẽ đảm bảo một mức giá bán tốt (việc thực hiện quyền
sẽ giúp cho nhà đầu tư bán chứng khoán ở mức giá thực hiện trong trường
hợp giá thị trường của chúng khoán thấp hơn mức giá thực hiện). Như vậy
các quyền lựa chọn có thể được xem như một công cụ phòng ngừa những sự
thay đổi giá bất lợi.
 Ví dụ: Nếu giá cổ phiếu XYZ đang là 42.000 VND/cổ phần, người sở hữu
100 cổ phần XYZ bán một quyền chọn mua XYZ với giá quyền là 400.000
VND.
 Nếu giá thị trường của XYZ giảm xuống 38.000 VND, người bán quyền sẽ
phòng ngừa được khoản lỗ do giá cổ phiếu sụt bằng khoản phí bán quyền
400.000 VND. Tuy nhiên, nếu giá XYZ tiếp tục giảm xuống dưới mức
37.000 VND/cổ phần thì người bán quyền sẽ bắt dầu phải chịu một khoản lỗ.
Như vậy khoản thu 400.000 VND từ việc bán quyền đã tạo ra một sự phòng
ngừa các bộ dối với tình trạng sụt giá cổ phiếu. Mặt khác, nếu giá quyền
tăng lên, giả sử tới 46.000 VND/cổ phần, người mua quyền sẽ thực hiện
quyền được mua và người bán quyền buộc phải giao 100 cổ phiếu với giá
thực hiện là 42.000 VND, thay vì 46.000 VND. Vậy, trong khi rào chắn rủi
ro cho tài sản của mình, người bán quyền cũng “rào chắn” luôn cả lợi nhuận
tiềm năng nữa. Nhược điểm của chiến lược này có thể khắc phục được bằng

cách, thay vì bán quyền chọn mua, ông ta có thể mua quyền chọn bán đối
với XYZ. Khi đó, nếu giá thị trường của cổ phiếu tăng lên ông ta có thể
hưởng toàn bộ lợi nhuận do việc bán tài sản của mình ra thị trường.

 Phân loại chứng khoán theo khả năng chuyển nhượng
- Chứng khoán vô danh ( không ghi tên ) : loại chứng khoán này
chuyển nhượng dễ dàng, ko cần thủ tục xác nhận của công ty
hay cơ quan công chứng. Người mua có trách nhiệm chi trả cho
người bán theo giá cả đã đc xác định.
- Chứng khoán ghi danh ( ghi tên ) : Loại chứng khoán này đc
phép chuyển nhượng nhưng nhưng phải tuân theo những quy
định pháp lí cụ thể.
 Phân loại chứng khoán theo thu nhập :
• Chứng khoán có thu nhập cố định
• Chứng khoán có thu nhập biến đổi
• Chứng khoán hỗn hợp
a, Chứng khoán có thu nhập cố định : là loại chứng khoán có quyền yêu cầu thu
nhập cố định ko phụ thuộc vào kết quả hoạt động của nhà phát hành. Nó có thế là
chứng khoán vô danh hoặc đích danh., có thể là tín phiếu, trái phiếu hoặc cổ phiếu
ưu đãi. Khi phát hành cần tuân theo những quy định pháp lí cụ thể nhằm đảm bảo
quyền lợi của nhà đầu tư.
- Khi phấn tích chứng khoán có thu nhập cố định để quyết định
đầu tư, người ta xét trên 2 khía cạnh là “ khả năng sinh lợi “ và
“ thời hạn thanh toán “
• Đặc điểm : rủi ro thấp  sự thay đổi về giá là thấp , tỉ lệ lợi tức quyết định
khả năng sinh lời của chứng khoán.
- Lợi tức đc thanh toán theo quý, kỳ hạn nửa năm hoặc 1 năm.
- Mỗi loại chứng khoán cho quy định thời hạn trả lợi tức khác
nhau
 Kỳ hạn của ck có thu nhập cố định khác nhau :

- Tín phiếu có kỳ hạn ngắn ( =< 1 năm )
- Trái phiếu trung hạn và dài hạn ( 2 – 30 năm )
- Cổ phiếu ưu đãi là vô thời hạn
 Phân loại chứng khoán có thu nhập cố định :
- Trái phiếu nhà nước
- Trái phiếu địa phương
- Trái phiếu công ty
- Trái phiếu ngân hàng và tín phiếu quĩ tiết kiệm
- Tín phiếu kho bạc
 Trái phiếu chính phủ : do chính phủ hoặc những ngành đặc biệt như giao
thông, bưu điện hay xi măng, điện…. Đc chính phủ ủy quyền phát hành.
• Tác dụng : nhằm bù đắp sự thiếu hụt của ngân sách nhà nước hoặc xd những
công trình công cộng, hoặc để giải quyết các khó khăn tài chính, là giấy
nhận nợ của chính phủ.
 Trái phiếu địa phương : là khoản vay của chính quyền địa phương với các
tổ chức cá nhân. Việc phát hành phải có sự quản lí của cơ quan nhà nước, số
tiền đc sử dụng để xây bệnh viện, trường học, đường xá….
 Trái phiếu công ty : do các công ty cổ phần hay xí nghiệp lớn phát hành đưa
vào thị trường dưới dạng phiếu nợ và đảm bảo bằng thu nhập của công ty
 Trái phiếu ngân hàng và tín phiếu quỹ tiết kiệm : tạo ra nguồ vốn cho
chính các tổ chức này hoặc các tổ chức tín dụng có liên quan
 Tín phiếu kho bạc : là những chứng khoán có thu nhập cố định có thời hạn
từ 6 tháng đến 1 năm do hệ thống kho bạc nhà nước phát hành. Độ rủi ro
thấp, tỉ lệ lợi tức thấp….
b,chứng khoán có thu nhập biến đổi
Cổ phiếu thường đại diện cho loại chứng khoán có thu nhập biến đổi. Thu nhập
gọi là cổ tức, nó biến động theo kết quả kinh doanh của công ty., công ty có thể
huy động vốn ko thời hạn, ko chịu rủi ro về chi trả lợi tức cố định như cổ phiếu ưu
đãi hay trái phiếu., song ko bị pha loãng quyền kiểm soát của các cổ đông.
c, Hình thức hỗn hợp của chứng khoán

• Vừa mang tính chất biến đổi vừa mang tính chất cố định, gồm những loại
chủ yếu sau :
 Trái phiếu công ty có khả năng chuyển đổi :

-Trái phiếu chuyển đổi là một loại trái phiếu có khả năng chuyển đổi
thành cổ phiếu công ty theo một tỉ lệ công bố trước và vào một
khoảng thời gian xác định trước. Thông thường bao giờ người phát
hành trái phiếu chuyển đổi cũng dành cho người mua quyền quyết
định có chuyển đổi sang cổ phiếu hay không. Người nắm giữ trái
phiếu chuyển đổi có quyền không chuyển sang cổ phiếu nếu tại thời
điểm chuyển đổi, công ty làm ăn không tốt.
-Trái phiếu chuyển đổi có thể được coi là sự kết hợp giữa một trái
phiếu thường và một quyền chọn mua cổ phiếu. Thông thường, trái
phiếu loại này có tỉ suất trái tức tương đối thấp so với các loại trái
phiếu khác, song bù lại, nó hứa hẹn đem lại cho nhà đầu tư lợi nhuận
lớn hơn từ khả năng mua được cổ phiếu với mức giá ưu đãi trong
tương lai. Quyền chọn mua cổ phiếu chính là giá trị gia tăng của loại
trái phiếu này, khiến nó trở thành một mặt hàng rất hấp dẫn đối với
các nhà đầu tư. Nhiều khi, công ty chưa phát hành cổ phiếu, nhưng
trái phiếu chuyển đổi của nó đã trở thành một mặt hàng được giới đầu
tư săn lùng gắt gao, đặc biệt là trong trường hợp các "bluechip" tương
lai. Từ góc độ của công ty phát hành, lợi ích chủ yếu của việc huy
động vốn từ trái phiếu chuyển đổi là việc giảm được lãi suất đi vay.

 đối với công ty phát hành:
 Lợi:
o Tạo thêm khả năng huy động vốn của công ty trên thị trường.
o Lãi suất của trái phiếu chuyển đổi thấp hơn trái phiếu thông
thường ( công ty huy động vốn cới chi phí thấp )
o Khi các trái chủ thực hiện chuyển đổi cũng có thể tác động cải

thiện cơ cấu vốn của công ty tốt hơn
 Bất lợi :
o Việc quyết định chuyển đổi làm công ty ở vào thế bị động trong
việc tổ chức vốn.
 đối với người đầu tư :
 Lợi :
o được đảm bảo 1 mức lãi cố định khi chưa chuyển đổi trái phiếu
và k phải gánh chịu rủi ro của công ty
o khả năng chuyển đổi của trái phiếu tạo cơ hội cho ng đầu tư có
thể hưởng lợi nhìu hơn khi giá cổ phiếu công ty phát hành tăng.
 Bất lợi :khi chưa chuyển đổi hoặc nếu k có cơ hội chuyển đổi thì chỉ dc
hưởng mức lợi tức với 1 lãi suất thấp hơn trái phiếu thông thường.
-Phát hành trái phiếu chuyển đổi là một cách giúp công ty tránh việc
nhà đầu tư nhìn nhận các hành động của mình theo chiều hướng tiêu
cực. Ví dụ, một công ty đã niêm yết, chọn cách tăng vốn thông qua
việc phát hành thêm cổ phiếu. Thị trường thường nhìn nhận việc này
như một tín hiệu cho thấy giá cổ phiếu của công ty đang được định giá
quá cao. Để tránh ấn tượng xấu này, công ty sẽ phát hành trái phiếu
chuyển đổi mà những người nắm giữ có thể chuyển sang cổ phiếu nếu
công ty làm ăn tốt.
Đối với nhà đầu tư khi nắm giữ TP chuyển đổi, nhà đầu tư sẽ có
được lợi thế là sự đầu tư an toàn của thị trường, thu nhập cố định và
sự tăng giá trị tiềm ẩn của thị trường vốn. Cụ thể, TP chuyển đổi hấp
dẫn nhà đầu tư ở một số đặc điểm:

1. TP chuyển đổi cũng giống TP thường, tức là cũng được thanh toán
tiền lãi với một lãi suất cố định và sẽ được mua lại với giá bằng mệnh
giá vào lúc đáo hạn. Theo nguyên tắc thì thu nhập từ lãi suất TP
thường cao hơn và chắc chắn hơn thu nhập từ cổ tức trên CP thường.
2. Người nắm giữ TP chuyển đổi có quyền ưu tiên hơn các cổ đông

nắm giữ CP thường khi công ty phá sản và bị thanh lý.
3. Giá thị trường của TP chuyển đổi sẽ có chiều hướng ổn định hơn
giá CP thường trong thời kỳ thị trường sa sút. Giá trị của TP chuyển
đổi trên thị trường sẽ được hỗ trợ bởi các lãi suất hiện hành của những
TP cạnh tranh khác.
4. Vì TP chuyển đổi có thể được chuyển thành CP thường nên giá trị
thị trường của chúng sẽ có chiều hướng tăng nếu giá CP tăng.
5. Khi TP chuyển đổi được chuyển đổi sang CP thường thì không
được coi là một sự mua bán nên sẽ không phải chịu thuế trong giao
dịch chuyển đổi.

Nhiều nhà phê bình thì cho rằng TP chuyển đổi không đưa ra được
các mức lãi suất tương ứng với sự thiếu bảo toàn vốn (những TP
không có tính chuyển đổi đưa ra các mức lãi suất cao hơn) và có xu
hướng kéo giá CP thường xuống bởi vì ảnh hưởng của sự "pha loãng"
có thể xảy ra.

Khi TP có tính chuyển đổi được phát hành mới thì bao giờ giá
chuyển đổi cũng luôn cao hơn giá thị trường hiện hành của CP
thường, điều này sẽ giúp hạn chế việc nhà đầu tư chuyển đổi TP ngay
lập tức. Những yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ chuyển đổi hoặc giá
chuyển đổi ban đầu là:
1. Giá CP tại thời điểm TP được phát hành.
2. Thu nhập dự tính của tổ chức phát hành và ảnh hưởng của nó trên
giá CP.
3. Xu hướng thị trường (TP chuyển đổi sẽ trở nên ưa chuộng đối với
các nhà đầu tư trong một thị trường CP đang lên).
4. Thời gian chuyển đổi (thời gian càng dài, tỷ lệ chuyển đổi ban đầu
càng ít thích hợp).
Vì TP chuyển đổi có thể làm "pha loãng" vốn nên các cổ đông sẽ có

quyền ưu tiên mua TP chuyển đổi được phát hành mới với giá ưu tiên
thấp hơn giá trị thị trường của TP đó. Khi TP chuyển đổi mới được
phát hành, các cổ đông hiện hữu sẽ nhận được giấy chứng nhận quyền
ưu tiên mua TP này. Người nắm giữ quyền có thể bán lại quyền này
nếu họ không sử dụng chúng để mua TP chuyển đổi.

Tuy nhiên nhà đầu tư cần lưu ý một điều là, nếu công ty phải ngưng
hoạt động bởi những tình huống như sát nhập, hợp nhất hay giải thể
thì những người nắm giữ TP chuyển đổi sẽ bị mất đặc quyền chuyển
đổi này. đó, TP sẽ được bán nếu TP không chuyển đổi thành CP
thường.


Khi nhà đầu tư mua TP có tính chuyển đổi thì phải luôn xem xét hai
giá trị đầu tư của TP này, đó là thu nhập của TP và việc chuyển đổi
TP thành CP. Giá trị chuyển đổi của TP là tổng giá trị thị trường của
CP thường mà TP có thể chuyển đổi được. Đôi khi các công ty đặt ra
những điều kiện để khuyến khích sự chuyển đổi của TP, mặc dù điều
này được biết đến như là sự chuyển đổi ép buộc nhưng thực tế các nhà
đầu tư không thể bị ép buộc để chuyển đổi. Tuy nhiên, nhà phát hành
luôn thay đổi các tình huống để khuyến khích sự chuyển đổi hơn. Một
trong những phương cách đó là thực hiện mua lại TP.

Công ty có thể mua lại TP tại mức giá và ngày mua được xác định
trước (giả định rằng TP chuyển đổi cũng có khả năng mua lại giống
như có tính chuyển đổi) và khi các điều kiện thị trường khiến cho các
trái chủ nhận thấy sự chuyển đổi TP có thể có lợi nhuận hơn là bán
chúng lại cho công ty phát hành tại giá mua lại của công ty thì lúc đó
họ sẽ thực hiện việc chuyển đổi thành CP thường.


Ví dụ, một TP chuyển đổi có mệnh giá 1.000 USD có thể được
chuyển thành CP thường tại giá 25 USD (tỷ lệ chuyển đổi là 40 đổi 1)
và TP này được mua lại ở mức giá 1.050 USD. CP thường trên thị
trường hiện đang được giao dịch ở mức giá 30 USD, bằng việc
chuyển đổi một TP mà nhà đầu tư có thể trở thành chủ sở hữu 40 CP
thường với tổng giá trị là 1.200 USD. Như vậy, trái chủ chuyển đổi
chúng thành 40 CP thường rồi bán chúng để có 1.200 USD hơn là bán
lại TP chuyển đổi này ở mức giá 1.050 USD.

×