Lời mở đầu
Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh dấu bằng Nghị định
48/1998/NĐ-CP về Chứng khoán và thị trường chứng khoán cùng với việc thành
lập 2 trung tâm giao dịch chứng khoán tại Hà Nội và Hồ Chí Minh. Đầu những
năm 2000 là năm vàng của những người có vốn đổ vào thị trường chứng khoán
bởi “mua gì cũng thắng” khi có những kỷ lục Vn-index. Tuy nhiên sự đầu tư ồ ạt
và thiếu hiểu biết cũng như tâm lý “ăn theo” đã khiến thị trường chứng khoán Việt
Nam thăng trầm, chao đảo thậm chí trong những năm 2009, 2010, 2011 thị trường
trở nên “lạnh ngắt”.
Thị trường chứng khoán mới nổi, hiểu biết của nhà đầu tư còn hạn chế, thị trường
thực sự cần có những nhà đầu tư chuyên nghiệp nhiều hơn, phải kể đến là Quỹ đầu
tư chứng khoán. Tuy nhiên ở Việt Nam các quỹ đầu tư thực tế chưa được quan
tâm nhiều và còn mới mẻ đối với nhiều “người đầu tư chứng khoán”. Do đó việc
tìm hiểu và tìm ra những biện pháp giúp thúc đẩy sự hình thành và phát triển của
các quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam để thị trường chứng khoán Việt Nam hoạt
động tốt và lành mạnh hơn là điều cần thiết.
Đề tài bao gồm các nội dung sau:
Phần 1: Khái quát chung về quỹ đầu tư chứng khoán
Phần 2: Hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán trên TTCK Việt Nam
Phần 3: Giải pháp thúc đẩy hình thành và nâng cao hiệu quả hoạt động của
các quỹ đầu tư chứng khoán trên TTCK Việt Nam
Phần 1 : Khái quát chung về quỹ đầu tư chứng khoán
1. Khái niệm và phân loại
Quỹ đầu tư hay còn gọi là công ty uỷ thác đầu tư là định chế tài chính thực hiện
việc huy động vốn của ngươì tiết kiệm thông qua việc bán các chứng chỉ góp vốn.
Quỹ này đặt dưới sự quản trị chuyên nghiệp và được đầu tư vào các chứng khoán
vì lợi ích của các nhà đầu tư. Những người đầu tư vào quỹ có thể là các thể nhân
hoặc các tổ chức kinh tế, nhưng đa phần là các nhà đầu tư riêng lẻ, ít am hiểu về
thị trường chứng khoán. Thực chất đây là hình thức chung vốn đầu tư giữa các cá
nhân, các tổ chức nhằm tăng tính chuyên nghiệp của việc đầu tư tạo điều kiện
giảm thiểu rủi ro và các chi phí liên quan đến quá trình đầu tư.
Phân loại:
Căn cứ vào cách thức huy động vốn.
Quỹ đầu tư dạng mở (quỹ tương hỗ):
Khác với quỹ đầu tư dạng đóng, các quỹ đầu tư dạng mở luôn phát hành thêm
những cổ phiếu mới để tăng thêm vốn và cũng sẵn lòng chuộc lại những cổ phiếu
đã phát hành. Các cổ phiếu của quỹ được bán trực tiếp cho công chúng, không qua
thị trường chứng khoán. Muốn mua cổ phiếu của quỹ đầu tư dạng mở, không phải
qua môi giới. Do đó tạo cơ hội cho bất kỳ ai cũng có thể tham gia và trở thành chủ
sở hữu của quỹ. Quỹ cho phép các nhà đầu tư bán lại chứng chỉ đầu tư cho Quỹ
bất cứ lúc nào theo giá trị tài sản ròng cùng chứng chỉ chứ không theo giá thị
trường trong một thời gian luật định.
Vì quỹ mở liên tục mua bán cổ phần nên lượng tiền trong quỹ phục vụ cho
hoạt động đầu tư sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nếu các nhà đầu tư rút vốn đồng loạt
dưới sự tác động của các yếu tố trên thị trường.
Quỹ đầu tư dạng đóng
Đây là quỹ đầu tư mà theo điều lệ quy định, thường chỉ tạo vốn qua một lần bán
chứng khoán cho công chúng. Quỹ đầu tư dạng đóng mang tính chất giống như
một công ty cổ phần thông thường có thể phát hành cổ phiếu thông thường, cổ
phiếu ưu đãi hoặc trái phiếu. Quỹ không được phát hành thêm bất kỳ một loại cổ
phiếu nào để huy động thêm vốn và cũng không mua lại các cổ phiếu đã phát
hành. Số cổ phiếu đó được mua đi bán lại trên thị trường chứng khoán cũng như
cổ phiếu của các công ty khác. Muốn mua bán cổ phiếu của quỹ đầu tư dạng đóng
này người muốn mua hoặc muốn bán phải liên hệ với môi giới và phải trả tiền hoa
hồng cho mỗi dịch vụ cũng như mua bán các loại cổ phiếu khác.
Giá thị trường cổ phiếu của quỹ đầu tư dạng đóng phụ thuộc vào lượng cung cầu
cũng như khi áp dụng đối với các loại chứng khoán khác chứ không trực tiếp liên
quan đến giá trị tài sản ròng của mỗi cổ phần.
Căn cứ vào đối tượng người tham gia quỹ.
Quỹ đầu tư tư nhân:
Là loại hình quỹ đầu tư được hình thành do một số tổ chức và cá nhân góp vốn và
thuê công ty quản lý quỹ nhằm mục đích đầu tư vốn của mình một cách có lợi nhất
và đảm bảo quản lý chặt chẽ vốn đầu tư.
Xuất phát từ nguồn vốn huy động ở một số ít tổ chức và cá nhân có quan hệ với
nhau, nên các quỹ này có thể đầu tư vào các dự án dài hạn, có tiềm năng phát
triển cao và chịu đựng được mức rủi ro lớn. Các quỹ này thường đầu tư vào chứng
khoán của những công ty này phát triển đến mức độ nhất định, họ có thể thu hồi
vốn bằng cách bán lại phần vốn góp hoặc những chứng khoán mà họ nắm giữ.
Có nhiều dạng quỹ đầu tư tư nhân trong đó có hai loại quỹ điển hình và phổ biến
trên thị trrường vốn thế giới là:
- Quỹ phòng ngừa rủi ro: Là hình thức chung vốn đầu tư, vốn của các thành viên
được góp lại với mục đích kinh doanh chứng khoán. Các quỹ phòng ngừa rủi ro
đều có chiến lược kinh doanh riêng và đầu tư vào rất nhiều các công cụ tài chính
khác nhau.
- Quỹ đầu tư mạo hiểm: Quỹ huy động vốn chủ yếu từ các tổ hợp công nghiệp lớn
và các định chế tài chính lớn. Hình thức đầu tư chủ yếu ban đầu của quỹ là đầu tư
trực tiếp. Tuy nhiên, từ những năm 80 hình thức đầu tư đã thay đổi. Việc tiến hành
đầu tư được thực hiện thông qua các nhà quản lý đầu tư tư nhân chuyên nghiệp,
người đứng thay mặt cho các nhà đầu tư là các định chế tài chính tiến hành việc
đầu tư.
Quỹ đầu tư tập thể:
Là loại quỹ mà số lượng đầu tư tham gia góp vốn đông hơn quỹ đầu tư riêng lẻ, tất
cả mọi người có thể tham gia. Đó là những người tiết kiệm, những người đầu tư
chuyên nghiệp, những người đầu tư nhỏ và phần lớn là các cá nhân- những người
không có kiến thức chuyên sâu về đầu tư. Quỹ đầu tư tập thể là những quỹ đầu tư
chuyên nghiệp. Quỹ này phát hành cổ phiếu cho các nhà đầu tư ( nếu quỹ đó là
công ty cổ phần), hoặc chứng chỉ quỹ đầu tư ( nếu quỹ đó là quỹ góp vốn chung).
Căn cứ theo mục tiêu và đối tượng đầu tư.
Quỹ đầu tư cổ phiếu:
Là quỹ đầu tư hoàn toàn vào một chủng loại cổ phiếu nhất định, như cổ phiếu
thường và cổ phiếu ưu đãi. Trong quỹ lại có thể được phân ra theo từng loại cổ
phiếu thường, ví dụ: cổ phiếu của các công ty đang tăng trưởng, cổ phiếu của các
công ty đang hoạt động trong ngành công nghiệp Tuỳ theo mục tiêu đầu tư của
mình, người đầu tư có thể chọn các quỹ đầu tư thích hợp.
Quỹ đầu tư trái phiếu.
Quỹ đầu tư trái phiếu tập trung đầu tư vào các loại trái phiếu khác nhau nhằm tạo
ra mức lợi nhuận và rủi ro có thể chấp nhận được. Các quỹ này cũng giống như
các quỹ đầu tư cổ phiếu chỉ khác về chính sách đầu tư. Một số quỹ tập trung vào
trái phiếu có mức độ tín nhiệm cao, trong khi đó một số quỹ khác lại tập trung vào
những trái phiếu có mức độ tín nhiệm được đánh giá ở mức độ khác nhau hoặc
đầu tư vào những chứng khoán nợ có rủi ro cao nhưng kỳ vọng lợi nhuận cao. Có
thể phân quỹ đầu tư trái phiếu thành các loại: Quỹ đầu tư trái phiếu chính phủ, quỹ
đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư từ trái phiếu nội địa, quỹ đầu tư từ
trái phiếu nước ngoài.
Quỹ đầu tư thị trường tiền tệ.
Quỹ đầu tư vào thị trường tiền tệ nhằm vào các công tcụ tài chính như: Tín phiếu,
thương phiếu, kỳ phiếu, hối phiếu. Sự ổn định của quỹ phụ thuộc vào thái độ ứng
xử của các nhà đầu tư, khi thị trường chứng khoán phát triển mạnh, người đầu tư
rút tiền trên thị trường tiền tệ để đầu tư vào đầu tư trên thị trường chứng khoán.
Quỹ đầu tư kết hợp.
Quỹ đầu tư kết hợp có thể kết hợp giữa cổ phiếu, trái phiếu, và các loại tài sản
khác như bất động sản…
Căn cứ và mục đích đầu tư.
Quỹ tăng trưởng:
Đầu tư vào cổ phiếu của các công ty kinh doanh thành đạt. Mục tiêu chính là tăng
giá trị của các khoản đầu tư chứ không nhằm vào dòng cổ tức thu được. Người đầu
tư vào các quỹ này quan tâm đến việc giá cổ phiếu đang lên hơn là khoản thu từ cổ
tức.
Quỹ tăng trưởng thu nhập:
Quỹ này đầu tư chủ yếu vào cổ phiếu thường có giá trị cao đồng thời có mức
cổ tức ổn định. Kiểu quỹ này muốn kết hợp cả hai yếu tố tăng vốn trung, dài
hạn và dòng thu nhập ổn định trong ngắn hạn.
Quỹ thu nhập:
Để có được thu nhập ổn định, quỹ giành phần lớn vốn để đầu tư vào trái phiếu
và cổ phiếu ưu đãi lẫn công cụ đầu tư có thu nhập thường xuyên ổn định.
Căn cứ vào cơ cấu tổ chức điều hành.
Quỹ đầu tư dạng công ty:
Theo mô hình này, quỹ đầu tư được xem là một pháp nhân đầy đủ, nhường người
góp vốn vào quỹ trở thành các cổ đông và có quyền bầu ra hội đồng quản trị quỹ.
Đây là tổ chức cao nhất trong quỹ đứng ra thuê công ty quản lý quỹ và giám sát
việc tuân thủ hoạt động của hai tổ chức này. Trong đó, ngân hàng giám sát có vai
trò bảo quản các tài sản quỹ, nhận hoặc giao chứng khoán cho quỹ khi thực hiện
lệnh giao dịch. Còn công ty quản lý có trách nhiệm cử người điều hành và sử dụng
vốn của quỹ để đầu tư vào các chứng khoán hay các tài sản sinh lợi khác. Mô hình
quỹ đầu tư tổ chức dưới dạng công ty thường được sử dụng ở các nước có thị
trường chứng khoán phát triển, tiêu biểu là thị trường Mỹ và Anh.
Quỹ đầu tư dạng tín thác:
Theo mô hình này, quỹ đầu tư không được xem là một pháp nhân đầy đủ, mà chỉ
là quỹ chung vốn giữa nhưỡng người đầu tư để thuê các chuyên gia quản lý quỹ
chuyên nghiệp đâù tư sinh lợi. Theo mô hình này, vai trò của công ty quản lý quỹ
khá nổi bật. Đó là tổ chức đứng ra thành lập và sử dụng vốn thu được thông qua
việc phát hành các chứng chỉ đầu tư để đầu tư vào những nơi có hiệu quả nhất.
Ngân hàng giám sát đóng vai trò là người bảo quản an toàn vốn và tài sản của
người đầu tư, Giám sát các hoạt động của công ty quản lý quỹ trong việc tuân thủ
điều lệ quỹ đầu tư. Mô hình quỹ đầu tư tổ chức dưới dạng tín thác được sử dụng ở
các thị trường chứng khoán mới nổi. Đặc biệt là các TTCK đang phát triển ở Châu
á.
2. Vai trò của quỹ đầu tư chứng khoán.
• Đối với các nhà đầu tư.
- Đa dạng hoá danh mục đầu tư – phân tán rủi ro
- Tăng tính chuyên nghiệp trong quản lý và đầu tư
- Giảm thiểu chi phí do lợi ích về quy mô
- Tăng tính thanh khoản cho tài sản đầu tư
- Thuận tiện cho người đầu tư
• Vai trò đối với nhà quản lý vốn.
- Nhận được nguồn vốn với chi phí huy động thấp
- Nhận được các thông tin tư vấn quản lý, marketing và tài chính
- Tiếp cận nguồn tài chính dài hạn
• Vai trò đối với nền kinh tế.
- Quỹ góp phần huy động vốn cho việc phát triển nền kinh tế nói chung và sự phát
triển của thị trường sơ cấp
- Quỹ góp phần ổn định thị trường thứ cấp.
- Quỹ góp phần phổ cập đầu tư chứng khoán, phát huy nội lực.
- Hoạt động quỹ đầu tư tăng cường khả năng huy động vốn nước ngoài
3. Lợi thế của các quỹ đầu tư.
- Sự đa dạng hóa các danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro.
- Các tổ chức quản lý quỹ có các chuyên gia thực hiện việc phân tích kinh tế vi
mô, vĩ mô và phân tích thị trường, xây dựng các danh mục đầu tư phù hợp để đạt
được mục đích của quỹ đầu tư.
- Những danh mục đầu tư lớn được quản lý chuyên nghiệp quỹ đầu tư chịu chi phí
giao dịch thấp hơn cá nhân đầu tư kể cả cá nhân đó có ký hợp đồng mua bán và
nhà môi giới có mức phí hoa hồng thấp nhất.
Ngoài những lợi thế cơ bản trên, quỹ đầu tư còn có những lợi thế khác như mang
lại cho các nhà đầu tư dịch vụ cổ đông hữu ích, mang lại tính thanh khoản cao và
an toàn trước các hành vi không công bằng.
Phần 2: Hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán trên thị
trường chứng khoán Việt Nam
1. Sự cần thiết hình thành các quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam
Trên con đường hội nhập và phát triển, Việt Nam đang đứng trước một đòi hỏi rất
lớn về vốn đầu tư xã hội trong khi thị trường tài chính thì chưa hoàn thiện còn thị
trường vốn vẫn còn sơ khai. Trong khi đó:
- Những người dân đang nắm trong tay một số lượng tiền nhàn rỗi lớn lại tỏ ra
không mấy mặn mà với việc đầu tư
- Một bộ phận rất lớn công chúng đầu tư vào bất động sản, gây nên những cơn
sốt nhà đất hoặc nếu chưa tìm được phương án đầu tư hợp lý thì đưa tiền vào tiêu
dùng.
Trong khi, nền kinh tế Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp nói riêng đang
đứng trước tình trạng thiếu vốn gay gắt. Khả năng huy động vốn của các doanh
nghiệp vẫn còn rất thấp, phương pháp huy động vốn nghèo nàn chủ yếu trông chờ
từ vốn ngân sách và các khoản tín dụng ưu đãi từ ngân hàng. Tuy nhiên, đối với
các doanh nghiệp, việc tiếp cận được với nguồn vốn ngân hàng là rất khó khăn do
cơ chế ngân hàng có những đòi hỏi hết sức khắt khe.
Chính vì vậy, việc tìm ra các giải pháp để thu hút rộng rãi công chúng tham gia
đầu tư, tăng quy mô vốn thị trường thông qua tạo lập ra các Quỹ đầu tư chứng
khoán là rất cần thiết. Sự phát triển của loại hình Quỹ đầu tư chứng khoán sẽ giúp
cho thị trường chứng khoán Việt Nam phát huy được vai trò thực sự trong việc
chuyển tiết kiệm trong nền kinh tế thành đầu tư, góp phần thúc đẩy nền kinh tế
phát triển.
Sự hiện diện của Quỹ đầu tư mang lại những lợi ích cho các thị trường tiếp nhận
nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là các thị trường mới nổi:
- Quỹ đầu tư cung cấp nguồn vốn dài hạn và ổn định giảm mức độ phụ thuộc của
người sử dụng vốn vào các nguồn tài chính có tính biến động cao như nguồn tín
dụng ngắn hạn do hệ thống ngân hàng cung cấp.
- Quỹ đầu tư là đầu tư gián tiếp nên làm giảm lo ngại của chính phủ về vấn đề sở
hữu tập trung, thâu tóm doanh nghiệp của người nước ngoài đối với các doanh
nghiệp trong nước
- Quỹ đầu tư đóng góp vào sự phát triển thị trường vốn.
- Quỹ cung cấp các phương tiện đầu tư đa dạng giúp cho việc huy động nguồn vốn
trong xã hội trở nên triệt để hơn.
- Chứng chỉ quỹ làm tăng tính thanh khoản của thị trường, giúp thu hút được các
nhà đầu tư Việt Nam mà cho đến nay chỉ quen giữ hoặc gửi tiền của mình vào các
tài khoản tiết kiệm ở ngân hàng và nhờ đó các doanh nghiệp có thể huy động vốn
một cách dễ dàng hơn. Ngoài ra, Quỹ đầu tư chứng khoán còn cung cấp cơ hội cho
nhà đầu tư vươn ra thị trường nước ngoài hoặc tái đầu tư khoản cổ tức và thặng dư
vốn vào quỹ.
- Sự hiện diện của các Quỹ đầu tư kích thích tăng trưởng đối với các doanh
nghiệp.
Trong điều kiện thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay, sự cần thiết của Quỹ
đầu tư còn thể hiện ở một số điểm sau:
- Thị trường chứng khoán Việt Nam đang ở trong giai đoạn đầu mới thành lập
trong đó hầu hết các công ty chưa đủ uy tín và sức mạnh để hấp dẫn được các nhà
đầu tư cá nhân. Do đó, khi công chúng đầu tư chưa tích cực tham gia vào thị
trường thì vai trò của các nhà đầu tư có tổ chức như công ty chứng khoán, công ty
bảo hiểm, Quỹ đầu tư… là hết sức quan trọng đối với sự ổn định của thị trường.
- Quỹ đầu tư là một phương tiện đầu tư hiệu quả đối với những người không được
trang bị những kỹ năng đầu tư chuyên nghiệp. Đồng thời, kỹ năng nghiên cứu,
phân tích đầu tư chuyên nghiệp của quỹ sẽ góp phần hướng dẫn thị trường, nâng
cao trình độ hiểu biết cũng như kỹ năng đầu tư chứng khoán của công chúng, giúp
nâng cao tính xã hội hoá của hoạt động đầu tư.
- Việc cho phép người nước ngoài đầu tư thông qua Quỹ đầu tư có thể giảm thiểu
những ảnh hưởng tiêu cực có thể phát sinh nếu mở cửa thị trường cho người nước
ngoài đầu tư trực tiếp ngay trong giai đoạn đầu.
2. Tình hình chung về sự hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán trên
TTCK Việt Nam:
Từ tháng 7/2006 tới tháng 3/2008:
Thời kỳ sôi động của hoạt động huy động quỹ đầu tư thành lập theo Luật Chứng
khoán Việt Nam khi có tới 20 quỹ đầu tư trong nước được thành lập với tổng vốn
huy động hơn 13.500 tỷ đồng (trong đó có 4 quỹ đại chúng).
Đây cũng là thời kỳ bùng nổ của TTCK Việt Nam với sự tăng trưởng thần kỳ cả
về quy mô cũng như số lượng doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa và niêm yết.
Từ tháng 3/2008 tới nay:
Cùng với suy thoái kinh tế toàn cầu, tình hình huy động quỹ trong nước của các
công ty quản lý quỹ (QLQ) gặp rất nhiều khó khăn:
• Chỉ có 3 quỹ đầu tư được thành lập trong năm 2010 với tổng số vốn huy
động 800 tỷ đồng, đưa tổng số quỹ trong nước lên con số 23. Về tính chất
nguồn vốn, 23 quỹ đầu tư trong nước chủ yếu huy động nguồn vốn nội địa,
duy nhất quỹ đầu tư thành viên của CTCP QLQ đầu tư FPT có hơn 51%
vốn góp từ NĐT nước ngoài.
• 3 năm trở lại đây, việc huy động vốn từ các nhà đầu tư (NĐT) trong nước
trở nên hết sức khó khăn do sự thiếu hụt vốn của các tổ chức nội địa, áp lực
lãi suất cao và diễn biến TTCK kém hấp dẫn. Thống kê không chính thức
cho thấy, số lượng quỹ đầu tư hoạt động tại Việt Nam khá đông đảo,
khoảng hơn 400 quỹ, trong khi quỹ thành lập trong nước còn quá nhỏ bé, cả
về số lượng và quy mô vốn quản lý. Các quỹ đầu tư vào Việt Nam, tính tới
thời điểm này, chủ yếu dưới hình thức công ty đầu tư hoặc quỹ đầu tư của
NĐT nước ngoài thành lập tại nước thứ ba là các thiên đường thuế như
Cayman Islands, Bermuda, British Virgin Island và sau đó mở tài khoản
đầu tư vào Việt Nam với tư cách một NĐT nước ngoài đầu tư gián tiếp.
• Năm 2011 Theo báo cáo của Rothschilds, hiệu quả đầu tư của các quỹ đầu
tư trong nước, nước ngoài tại Việt Nam đều cho kết quả không tốt, với
NAV giảm trung bình gần 24%, song hành với diễn biến xấu của TTCK
VN.
• Đầu năm 2012, đã có những khởi sắc đáng kể trên thị trường chứng khoán,
tuy nhiên những ngày vừa qua thị trường vẫn chưa giao dịch mạnh, và có
nhiều ý kiến cho rằng sự khởi sắc chỉ là nhất thời và năm 2012 vẫn là 1
năm đầy khó khăn của thị trường chứng khoán Việt Nam. Sự khó khăn
chung của thị trường chứng khoán làm cho hoạt động của các quỹ đầu tư
cũng vẫn gặp nhiều khó khăn.
3. Hoạt động thực tế của một số quỹ đầu tư chứng khoán trên TTCK Việt
Nam
3.1 VFMVF1(VF1)
Quỹ đầu tư chứng khoán Việt Nam (VF1) thuộc quản lý của công ty Vietfund
management, là quỹ công chúng dạng đóng đầu tiên của Việt Nam, được huy động
nguồn vốn từ cá nhân, pháp nhân trong và ngoài nước với quy mô vốn ban đầu
300 tỷ đồng trong vòng 10 ngày vào tháng 4/2004. Quỹ đầu tư VF1 được niêm yết
tại Sở Giao dịch Chứng khoán Tp. HCM từ tháng 11/2004.
Tên quỹ Quỹ đầu tư Chứng khoán Việt Nam
Tên viết tắt Quỹ đầu tư VF1
Mã giao dịch VFMVF1 (niêm yết tại HOSE)
Vốn điều lệ 1.000 tỷ đồng
Mệnh giá 10.000 đồng/đơn vị quỹ
Thời hạn hoạt động 10 năm kể từ ngày thành lập
Ngày thành lập 20/05/2004
Ngân hàng giám sát Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank)
Công ty kiểm toán Công ty PricewaterhouseCoopers (PWC)
Chính sách cổ tức
Hàng năm, dựa trên cơ sở cổ tức từ các khoản đầu tư và được
sự chấp thuận của Đại hội Thường niên.
Phí
- Phí quản lý: 2%/ NAV/ năm,
- Phí giám sát: 0,02%/ NAV/ năm (chưa bao gồm VAT
10%)
- Phí lưu ký: 0,06%/ NAV/ năm (không chịu thuế VAT)
- Thưởng hoạt động & các phí khác.
Tình hình hoạt động:
• Năm 2009, sau “cơn bão khủng hoảng” các quỹ đầu tư dường như vẫn
không thu hút được nhà đầu tư nội, khi mức tăng trưởng NAV ~ 40%, trong
khi VN-index là 48,4% ( theo khảo sát của tập đoàn đầu tư và tư vấn tài
chính LCF Rothschild ).
• Giá trị tài sản ròng (NAV) của Quỹ đầu tư VF1 tại thời điểm 31/12/2011 là
1.298,3 tỷ đồng, tương đương 12.983 đồng/chứng chỉ quỹ, giảm 38,9% so
với đầu năm. Năm 2011 thị trường chứng khoán Việt Nam tiếp tục chứng
kiến sự lao dốc của cả 2 chỉ số VN-Index (giảm 27,5%) và HNX-Index
(giảm 48,6%) đồng thời là năm thứ 2 liên tiếp VN-Index bị ảnh hưởng bởi
nhóm 4 cổ phiếu thanh khoản thấp nhưng chiếm tỷ trọng cao, trên 40% giá
trị vốn hóa thị trường. Nếu loại bỏ tác động 4 cổ phiếu thanh khoản thấp,
VN-Index giảm khoảng 37%, và nếu chỉ chọn 15 mã cổ phiếu có giá trị
vốn hóa lớn nhất trên thị trường để tính VN-Index (VN-Top15) thì năm
2011 VN-Top15 đã giảm 50,1%. Các chỉ số thị trường trong năm qua đã
phản ánh năm 2011 là một năm cực kỳ khó khăn và ảm đạm của thị trường
chứng khoán Việt Nam.
Trong năm 2011, với tình hình thị trường không mấy khả quan, chứng chỉ Quỹ
đầu tư VF1 vẫn giao dịch ở mức chiết khấu cao so với giá trị tài sản ròng/chứng
chỉ quỹ (NAV/ccq). Mức chiết khấu vẫn ở mức trung bình 45%, dao động từ
40,8% đến 49,2%.
Danh mục đầu tư:
Theo kế hoạch đặt ra đầu năm là giảm dần tỷ trọng cổ phiếu chưa niêm yết và tăng
tỷ trọng tiền mặt, tính đến ngày 31/12/2011, Quỹ đầu tư VF1 đã giảm tỷ trọng cổ
phiếu chưa niêm yết trong danh mục từ 16,8%NAV xuống 10,6%NAV và đã tăng
tỷ trọng tiền mặt từ mức 7,1%NAV thời điểm đầu năm lên 17,0%NAV vào ngày
31/12/2011.
Trong năm 2011, Quỹ đầu tư VF1 cũng đã thực hiện tinh gọn danh mục cổ phiếu
niêm yết, trong đó thanh hoán được phần lớn các cổ phiếu nhỏ, không còn cơ hội
tăng trưởng trong thời gian tới. Việc tinh gọn danh mục đã giúp Quỹ giảm tỷ trọng
cổ phiếu niêm yết trong danh mục về mức 70,4%NAV so với tỷ trọng 76,1%NAV
thời điểm đầu năm.
Kết quả hoạt động:
Năm 2011, Quỹ đầu tư VF1 ghi nhận khoản lỗ từ hoạt động đầu tư là 811,9 tỷ
đồng, trong đó lỗ từ đánh giá lại chứng khoán chưa thực hiện chiếm 95,8% và lỗ
do thực hiện bán chứng khoán sau khi điều chỉnh cổ tức nhận được chiếm 4,2%.
Lỗ ròng trong năm 2011 của Quỹ đầu tư VF1 là 827,9 tỷ đồng sau khi trừ các chi
phí hoạt động trong năm của Quỹ.
4.2 VFMVF4
Quỹ đầu tư Doanh nghiệp Hàng đầu Việt Nam (VF4), thuộc quản lý của công ty
Vietfund management, là quỹ công chúng dạng đóng thứ tư được niêm yết tại Sở Giao
dịch Chứng khoán Tp.HCM ,huy động nguồn vốn từ cá nhân, pháp nhân trong và ngoài
nước với quy mô vốn ban đầu 806,46 tỷ đồng vào tháng 1/2008. Quỹ đầu tư VF4 dự
kiến tiếp tục tăng vốn điều lệ lên 8.000 tỷ đồng trong suốt thời gian hoạt động. Quỹ đầu
tư VF4 được niêm yết tại SGDCK Tp. HCM vào tháng 06/2008.
Tên quỹ Quỹ đầu tư Doanh nghiệp Hàng đầu Việt Nam (VF4)
Tên viết tắt Quỹ đầu tư VF4
Mã giao dịch VFMVF4 ( niêm yết tại HOSE )
Vốn điều lệ 8.000 tỷ đồng
Vốn huy động lần đầu 806,46 tỷ đồng
Mệnh giá 10.000 đồng/ đơn vị quỹ
Thờihạn hoạt động 10 năm kể từ ngày thành lập
Ngày thành lập 28/02/2008
Ngân hàng giám sát Ngân hàng Hồng Kông Thượng Hải (HSBC) - CN TP. HCM
Công ty kiểm toán KPMG
Chính sách cổ tức
Hàng năm, dựa trên cơ sở cổ tức từ các khoản đầu tư và được sự chấp
thuận của Đại hội Thường niên.
Phí
- Phí quản lý: 2%/ NAV/ năm,
- Phí lưu ký: 0,06%/ NAV/ năm (không chịu thuế VAT),
- Phí giám sát: 0,02%/NAV/năm (chưa bao gồm 10%VAT),
- Thưởng hoạt động & các phí khác.
Tình hình hoạt động:
Tổng giá trị tài sản ròng (NAV) của Quỹ đầu tư VF4 tại ngày 31/12/2011 là 444,4 tỷ
đồng, tương ứng 5.510 đồng/chứng chỉ Quỹ, giảm 39,9% trong năm 2011.
Trong năm 2011, chỉ số VN-Index và HNX-Index lần lượt giảm 27,5% và 48,6%. Nếu
loại bỏ các mã cổ phiếu có thanh khoản rất thấp nhưng hiện có vốn hóa lớn chiếm tỷ
trọng tới gần 30% trong rổ tính Index, thì VN-Index đã giảm khoảng 37% trong năm
2011. Các chỉ số thị trường trong năm 2011 đã phản ánh một năm kém hiệu quả của
hầu hết các khoản đầu tư trên thị trường chứng khoán.
Từ khi thành lập của Quỹ đầu tư VF4 đến cuối năm 2011, NAV của Quỹ ghi nhận sụt
giảm 24,9% (bao gồm 2 đợt cổ tức đã chia trong năm 2009 và 2010) trong khi VN-
Index và HNX-Index giảm tương ứng 48,8% và 74,7% trong cùng kỳ.
Trong năm 2011, giá thị trường của chứng chỉ Quỹ đầu tư VF4 được giao dịch ở mức
chiết khấu so với NAV từ 28,2% đến 49,9%.
Bình quân cả năm giá chứng chỉ Quỹ đầu tư VF4 thấp hơn giá trị tài sản ròng 39,5%.
Khối lượng giao dịch chứng chỉ Quỹ đầu tư VF4 trên thị trường năm 2011 chỉ đạt
khoảng 47.000 chứng chỉ Quỹ mỗi ngày, thấp hơn 64% so với mức bình quân hơn
130.000 chứng chỉ Quỹ/ngày trong năm 2010. Thanh khoản chứng chỉ Quỹ đầu tư VF4
giảm trong năm 2011 không nằm ngoài xu hướng giảm chung của cả hai sàn giao dịch
chứng khoán, khi tổng khối lượng giao dịch trên sàn HOSE giảm gần 38%, và trên sàn
HNX giảm 14%.
Phân bổ tài sản:
Cơ cấu tài sản của Quỹ đầu tư VF4 tại thời điểm cuối năm 2011 vẫn duy trì mục tiêu cơ
bản của Quỹ là danh mục các cổ phiếu của các doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam, trong
đó phần lớn là các cổ phiếu niêm yết (chiếm gần 90%NAV), cổ phiếu chưa niêm yết chỉ
chiếm 0,9%NAV và là các cổ phiếu đang có kế hoạch niêm yết trong thời gian ngắn. Tỷ
trọng tiền mặt ở mức 9,2%NAV cao hơn so với năm 2010 (5%) chờ cơ hội giải ngân
mới khi thị trường thuận lợi.
Danh mục Quỹ đầu tư VF4 tại thời điểm 31/12/2011 bao gồm 25 cổ phiếu thuộc 10
ngành cơ bản (2010: 34 cổ phiếu thuộc 10 ngành), trong đó có sự dịch chuyển khá lớn
giữa các ngành phân bổ trong danh mục do kết quả của việc giải ngân/thanh khoản
trong năm cũng như do ảnh hưởng của biến động thị giá khác nhau trên thị trường.
Kết quả hoạt động:
Năm 2011, Quỹ đầu tư VF4 ghi nhận mức lỗ ròng 295,2 tỷ đồng sau khi trừ các chi phí.
Mức lỗ từ hoạt động đầu tư là 287,3 tỷ đồng, bao gồm các khoản lỗ chưa thực hiện
196,4 tỷ đồng do giảm giá cổ phiếu, lỗ đã thực hiện 115,1 tỷ đồng và cổ tức ghi nhận
24,2 tỷ đồng.
Lũy kế từ khi hoạt động, Quỹ đầu tư VF4 hiện đang lỗ ròng 200,7 tỷ đồng, chủ yếu là
giá trị chưa thực hiện.
Giá trị lợi nhuận của Quỹ đầu tư VF4 đã bao gồm tổng giá trị cổ tức đã chia cho cổ
đông trong năm 2009 và 2010 là 161,3 tỷ đồng.
4.3 PRUBF1
Quỹ đầu tư cân bằng Prudential (PRUBF1) là quỹ đóng do QLQ Prudential quản
lý với thời gian hoạt động 7 năm (bắt đầu từ 2006). Tổng giá trị quỹ là 500 tỷ đồng
và đầu tư chủ yếu vào trái phiếu Chính phủ, trái phiếu Chính quyền địa phương,
trái phiếu công ty và tiền gửi ngân hàng. Ngoài ra quỹ cũng đầu tư vào cổ phiếu
niêm yết và chưa niêm yết.
Cơ cấu đầu tư Quỹ PRUBF1 được xác định như sau:
• 30-100% giá trị tài sản ròng của Quỹ vào các công cụ nợ, bao gồm trái
phiếu Chính phủ, trái phiếu Chính quyền địa phương, trái phiếu công ty và
tiền gửi ngân hàng.
• 0-70% giá trị tài sản ròng của Quỹ vào cổ phiếu niêm yết và cổ phiếu chưa
niêm yết.
Bảng phân bổ danh mục đầu tư, ngày 31/12/2010
Nhóm ngành Gía trị danh mục
cổ phiếu (%)
%vn- index Mức chênh lệch so
với vn-index
Bảo hiểm 3.3 9.0 -5.7
Thông tin-viễn
thông
8.2 2.7 5.5
Dược phẩm 2.9 1.4 1.5
Hóa chất- dầu khí 12.5 7.4 5.1
Ngân hàng 8.8 8.0 0.8
Vật liệu cơ bản 14.5 9.7 4.8
Dịch vụ tài chính 6.1 14.6 -8.5
Thực phẩm 15.7 10.0 5.7
Vận tải 3.8 2.9 0.9
Bất động sản 19.7 22.8 -2.9
Ngành khác 4.5 11.7 6.8
Năm 2011, quỹ đã mất 8,8% tài sản ròng do thị trường chứng khoán xuống mạnh.
Tuy nhiên đây cũng là 1 kết quả khả quan khi vn-indexgiảm 28%.
Lỗ cơ bản trên mỗi đơn vị quỹ 766vnd. Lỗ thuần phát sinh thuộc về nhà đầu tư
~38 tỷ(Số liệu lấy trên bản báo cáo thường niên)
4.4 ACBGF
Tổng quan
Tên quỹ Quỹ đầu tư tăng trưởng ACB
Tên quỹ viết tắt ACBGF
Hình thức quỹ Quỹ công chúng dạng đóng
Quy mô huy động đợt đầu 240.08 tỷ đồng Việt Nam
Số lượng 24,008,000 Chứng chỉ Quỹ
Thời gian hoạt động 5 năm
Giá phát hành 10,050 đồng Việt Nam
Ngày phát hành/ đóng quỹ 22/04/2011 - 22/06/2011
Ngân hàng giám sát Ngân hàng Standard Chartered Bank
Công ty kiểm toán Công ty PricewaterhouseCoopers (PwC) Việt Nam
Quỹ ACBGF sẽ tập trung đầu tư vào danh mục tăng trưởng, trên cơ sở chọn lọc
đầu tư vào các cổ phiếu tăng trưởng và doanh nghiệp có lợi nhuận ổn định và tiềm
năng tăng trưởng cao.
Tiêu chí chọn lựa đầu tư bao gồm nhưng không giới hạn các yếu tố:
- Khả năng tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận, thị phần và phát triển sản phẩm của
doanh nghiệp;
- Chỉ số tài chính an toàn và hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao;
- Mô hình quản trị tiên tiến, công nghệ và kỹ thuật sản xuất hiện đại, chiến lược
kinh doanh bền vững
- Đội ngũ lãnh đạo có năng lực, uy tín, có tầm nhìn chiến lược, gắn bó lâu dài với
doanh nghiệp…
Theo bảng báo cáo kết quả hoạt động từ 30/06/2011 đến 31/12/2011, giá trị của 1
đơn vị quỹ tăng lên 10.717. Lợi nhuận trong năm ~17 tỷ, trong đó là chủ yếu lãi
tiền gửi ~18 tỷ, trừ đi một số chi phí hoạt động.
Phần 3- Đánh giá thuận lợi và khó khăn trong việc hình thành và phát
triển Quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam
1. Những thuận lợi trong việc hình thành và phát triển Quỹ đầu tư chứng
khoán tại Việt Nam:
- Nền kinh tế tăng trưởng ổn định, thu nhập của dân cư ngày càng tăng.Đây là tiền
đề quan trọng cho việc hình thành và phát triển của các Quỹ đầu tư vì một trong
những quy luật phát triển của quỹ là trong những thời kỳ nền kinh tế tăng trưởng
cao thì quỹ cũng phát triển mạnh.
- Thị trường Việt Nam vẫn còn là một thị trường đầy tiềm năng với sự ổn định
chính trị và sự tăng trưởng GDP đều đặn mặc dù gặp khủng hoảng tài chính khu
vực.
- Chính phủ Việt Nam đã có những chính sách ủng hộ Quỹ đầu tư chứng khoán.
Các bộ, ngành đã phối hợp để ban hành quy chế hoạt dộng cho sự hoạt động của
các quỹ, đặc biệt là cải cách pháp luật, chính sách ưu đãi đầu tư. Bên cạnh đó,
chính phủ đang có nhiều chính sách để thu hút nguồn vốn từ tất cả các thành phần
kinh tế cũng như các chính sách nhằm tự do hóa khả năng làm ăn và đàu tư đối với
các nhà đầu tư trong và ngoài nước
- Sự ra đời của thị trường chúng khoán Việt Nam đã giúp cho Quỹ đẩy mạnh đầu
tư vào các công ty cổ phần và giúp các Doanh nghiệp này niêm yết và giao dịch tại
Trung tâm giao dịch chứng khoán, qua đó giúp các quỹ dễ dàng lui vốn thông qua
chuyển nhượng trên thị trường chứng khoán.
- Hàng hóa chứng khoán có xu hướng ngày càng phong phú góp phần thúc đẩy sự
hình thành và phát triển của Quỹ đầu tư chứng khoán. Công tác cổ phần hóa
doanh nghiệp nhà nước đang được tiếp tục đẩy mạnh. Với việc thực hiện Luật
doanh nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi và thúc đẩy sự ra đời của nhiều công ty cổ
phần mới. Chính phủ thường xuyên phát hành trái phiếu để huy động vốn cho việc
phát triển kinh tế xã hội. Các ngân hàng thương mại đã và đang phát hành trái
phiếu huy động vốn cho hoạt động kinh doanh cũng là yếu tố góp phần làm phong
phú thêm hàng hóa cho thị trường chứng khoán Việt Nam.
Với sự thành công của đường lối đổi mới kinh tế, ngay từ những năm đầu của thập
kỷ 90, Việt Nam đã là nơi thu hút các nhà đầu tư nước ngoài và dược coi là thị
trường đầy tiềm năng. Do vậy, một số Quỹ đầu tư Việt Nam của các nước ngoài
đã sớm được thành lập và có mặt hoạt động tại Việt Nam. Điều đó đã góp phần tạo
ra một yếu tố thúc đẩy sự ra đời các Quỹ đầu tư trong nước của VIệt Nam.
2.Những khó khăn trong việc hình thành và phát triển Quỹ đầu tư chứng
khoán tại Việt Nam:
- Thách thức lớn nhất đối với các Quỹ đầu tư là tính minh bạch. Bởi vì đa số các
công ty không đáp ứng được các yêu cầu sự minh bạch, mà lại bí mật về tình hình
tài chính của họ. Ngoài ra, các công ty tham gia hoặc chuẩn bị tham gia thị trường
hiện nay hầu hết có quy mô nhỏ, cơ cấu điều hành chưa chặt chẽ và thường không
được định giad chính xác.
- Một trở ngại cho các quỹ khi đầu tư vào các công ty tư nhân là các công ty này
thường có quy mô nhỏ vì khu vực doanh nghiệp tư nhân Việt Nam còn mới mẻ.
Nhiều nước Đông Nam Á khác có các công ty tư nhân thành lập từ rất lâu, còn tại
Việt Nam doanh nghiệp tư nhân chỉ mới có từ thập niên 90 nên ngay cả các công
ty lớn thì cũng vẫn nhỏ khi so với tiêu chuẩn khu vực.
- Thị trường chứng khoán hiện tại quy mô còn nhỏ, hàng hóa chứng khoán còn ít.
Khối lượng giao dịch trên thị trường chứng khoán qua các phiên giao dịch còn
thấp, hàng hóa chưa thật phong phú. Thị trường còn trong tình trạng mất cân đối
giữa cung và cầu. Mặt khác, những diễn biến bất thường của chỉ số chứng khoán
Việt Nam có lúc tăng đến chóng mặt lúc lại sụt giảm liên tục và thị thường diễn ra
trong một thời gian dài với đồng loạt các cổ phiếu gây ra những làn sóng tâm lý
phức tạp trong người đầu tư , làm ảnh hưởng tới hoạt động của quỹ.
- Môi trường pháp lý của Việt Nam chưa rõ ràng, đặc biệt đối với các quỹ đầu tư
nước ngoài dẫn đến quá trình đầu tư vào các doanh nghiệp gặp khó khăn. Cơ sở
pháp lý cho việc hình thành và phát triển của Quỹ đầu tư chứng khoán chưa hoàn
chỉnh. Vẫn còn tồn tại những rào cản đối với Quỹ đầu tư chứng khoán trong các
văn bản pháp quy hiện hành điều chỉnh hoạt động của quỹ đầu tư cụ thể như Nghị
định 144 CP, Quyết định 05/UBCKNN, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam, Bộ luật Dân sự…
- Hiện nay, chúng ta đang thiếu đội ngũ các nhà quản lý đầu tư chuyên nghiệp.
Tại Việt Nam hiện nay chưa có đội ngũ các nhà quản lý đầu tư chuyên nghiệp
được đào tạo một cách cơ bản.
Sự hiểu biết về Quỹ đầu tư của công chúng còn nhiều hạn chế. Cho đến nay sự
hiểu biết về thị trường chứng khoán nói chung đối với công chúng còn nhiều hạn
chế và hơn nữa đối với Quỹ đầu tư càng hạn chế hơn. Một khi công chúng chưa
hiểu rõ cơ chế hoạt động và lợi ích của Quỹ thì việc lôi cuốn, thu hút họ tham gia
vào quỹ là vấn đề hết sức khó khăn.
Ngoài ra còn có các khó khăn đối với các Quỹ đầu tư như rủi ro tỷ giá, các hạn chế
trong việc đầu tư vào công ty niêm yết đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Tất cả
các quỹ đều dựa trên cơ sở đồng đô la Mỹ và được huy động từ các nhà đầu tư
quốc tế. Ngay cả khi các công ty đầu tư hoạt động tốt ở trong nước thì phần lớn
thu nhập có thể bị triệt tiêu bởi sự mất giá của đồng Việt Nam so với đồng đô la
Mỹ. Rủi ro tỷ giá hối đoái có thể được bù đắp một phần nào bằng cách đầu tư vào
các công ty có tỷ trọng thu nhập bằng đồng đô la Mỹ cao.
Tài liệu tham khảo
Giáo trình thị trường chứng khoán- HVNH 2011
Phân tích tài chính doanh nghiệp- HVNH
VnEconomy - Business & financial news - Tin tức kinh doanh & tài
vneconomy.vn/
www.Cafef.vn
taichinh.vnexpress.net/
www.stockbiz.vn/Stocks/
Vinafund
www.vinafund.com/
tinnhanhchungkhoan.vn/
VNDIRECT Online|Trading & Portfolios, Mobile Trading, Research
www. vndirect .com.vn/
CTCP Chứng khoán VNDIRECT - VND - Thông tin tổng quan
www.vinacorp.vn/stock/hnx-vnd/chung-khoan-vndirect
dantri.com.vn
www.tinmoi.vn
www.hsx.vn/
SSC - Tin giao dịch HOSE
www.ssc.gov.vn/
FPTS - Home
fpts.com.vn/
vietbao.vn/
…….